Trong các năm tới, doanh nghiệp nên tiếp tục đẩy mạnh phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả để nâng cao hơn tỷ lệ vốn chủ sở hữu so với nợ phải trả để tăng tài tr[r]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP MÔN: PHÂN TÍCH BÁO
CÁO TÀI CHÍNH
(LỚP TÍN CHỈ : PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH 4)
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH CẤU TRÚC TÀI CHÍNH
CÔNG TY HANOIMILK
DANH SÁCH THÀNH VIÊN:
Hà nội, 9/2014
Trang 21 Tổng quan ngành sữa Việt Nam và vị thế của Hanoimilk
1.1 Thị trường sữa Việt Nam
Trong một phân tích mới đây, CTCP Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) đã đưa ra những đánh giá khái quát về thị trường sữa Việt Nam Theo đó, ngành sữa là một trong những ngành có tính ổn định cao, ít bị tác động bởi chu kỳ kinh tế Trong nhiều năm trở lại đây, nhu cầu sử dụng sữa tại Việt Nam tăng lên đáng kể Theo Thống kê từ Hiệp hội Thức ăn gia súc Việt Nam, nhu cầu sữa tươi nguyên liệu tăng khoảng 61% , từ 500 triệu lít (năm 2010) lên đến 805 triệu lít (năm 2015) Ngành sữa Việt Nam trong những năm qua luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng nhanh và
tỷ suất lợi nhuận cao Tính đến tháng 3/2013, tăng trưởng sản lượng của sản phẩm chế biến từ sữa tăng 19% so với năm trước, và tăng trưởng 22% về doanh thu
Các nhà chuyên môn cũng đánh giá rằng tiềm năng phát triển của thị trường sữa tại Việt Namvẫn còn rất lớn: mức tăng dân số cao khoảng 1.2%/năm, tỷ lệ tăng trưởng GDP 6-8%/năm, thu nhập bình quân đầu người tăng 14.2%/năm, kết hợp với xu thế cải thiện thiện sức khỏe và tầm vóc của người Việt Nam khiến cho nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm sữa luôn giữ mức tăng trưởng cao Năm 2010, trung bình mỗi người Việt Nam tiêu thụ khoảng 15 lít sữa/năm Dự báo đến năm
2020, con số này sẽ tăng gần gấp đôi, lên đến 28 lít sữa/năm/người
Cùng với tiềm năng phát triển tô lớn, ngành sữa Việt Nam cũng đồng thời phải đối mặt với
rất nhiều thách thức đến từ nguồn cung cấp nguyên liệu sữa trong nước còn hạn chế về cả chất lượng và số lượng: sản xuất sữa nguyên liệu từ đàn gia súc trong nước chỉ mới đáp ứng được
khoảng 20-30% tổng mức tiêu thụ sữa Ở Việt Nam, chỉ có 5% của tổng số bò sữa được nuôi tập trung ở trang trại, phần còn lại được nuôi dưỡng bởi các hộ gia đình ở quy mô nhỏ lẻ, không đảmbảo đạt chuẩn về chất lượng Từ đó dẫn đến thực trạng là ngành sữa Việt Nam vẫn còn bị phụ thuộc nhiều vào nguồn và giá nguyên liệu ngoại nhập
Mặt khác, từ sau khi gia nhập WTO, doanh nghiệp sữa Việt Nam chịu sức ép cạnh tranh ngày một gia tăng do việc giảm thuế cho sữa ngoại nhập theo chính sách cắt giảm thuế quan của
Việt Nam khi thực hiện các cam kết Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung trong Khu vựcMậu dịch Tự do ASEAN (cam kết CEPT/AFTA) và cam kết với Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Tâm lý “sính ngoại” của người Việt cũng tác động tiêu cực đến số lượng tiêu thụ các sảnphẩm sữa Việt Nam Hiện nay, các sản phẩm sữa trong nước chỉ chiếm 30% thị phần nội địa
Trang 3Vấn đề chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm cũng ảnh hưởng lớn đến tâm lý người tiêu
dùng Do thiếu tiêu chí đánh giá cộng với quy trình kiểm định chất lượng sữa lỏng lẻo, nhiều loại
sữa không rõ bao bì nhãn mác vẫn được bày bán một cách công khai Vụ việc như sữa có
Melamine, sữa có chất lượng thấp hơn so với công bố…, khiến cho các hoạt động tiêu thụ sữa gặp khó khăn, ảnh hưởng đáng kể tới các doanh nghiệp sản xuất sữa
1.2 Định vị công ty Hanoimilk trên thị trường
Được thành lập năm 2001 và chính thức đi vào hoạt động năm 2003, Công ty cổ phần sữa HàNội (Hanoimilk) đã lớn mạnh và dần trở thành doanh nghiệp hàng đầu của ngành công nghiệp chế biến sữa, dần chiếm lĩnh được thị trường và chiếm được lòng tin của người tiêu dùng với những sản phẩm sữa mang nhãn hiệu Izzi, Yotuti, Sữa tươi Hanoimilk 100% Nhãn hiệu sữa IZZI là một nhãn hiệu quen thuộc ở thị trường miền Bắc nhờ vào chiến lược quảng bá đầy sáng tạo Trong lĩnh vực thương hiệu, IZZI sử dụng giải pháp Brand Mascot trước cả Vinamilk Thời
kỳ 2001-2008, Hanoimilk luôn đứng trong top 3 các công ty sữa của Việt Nam
Con Bò sữa IZZI lẽ ra sẽ là bước đột phá trong thị trường có mức tăng trưởng chung 15% mỗi năm Tuy nhiên, cuối năm 2008, “cơn bão” melamine tràn vào Việt Nam, Hanoimilk bị công bố thông tin sai lệch về việc các sản phẩn sữa của công ty nhiễm Melamine, làm người tiêu dùng không dám sử dụng các sản phẩm của công ty khiến doanh thu sụt giảm, sản phẩm bị thu hồi hàng loạt Mặc dù sau đó Bộ Y tế đã đưa ra các thông tin “minh oan” cho công ty nhưng Hanoimilk đã mất một phần lớn thị và lòng tin của người tiêu dùng và tay các đối thủ khác Tuy nhiên, bên cạnh đó, sự thất bại của Hanoimilk còn có một nguyên nhân lớn xuất phát từ việc công ty đầu tư dàn trải, thiếu trọng tâm và đầu tư không hiệu quả Theo số liệu năm 2009, ngoài ngành nghề kinh doanh chính, Hanoimilk còn rót một lượng lớn vốn vào:
Tư vấn đầu tư nông, công nghiệp; xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp; Kinh doanh bất động sản, khách sạn, nhà hàng, siêu thị; Kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp; Kinh doanh, nuôi trồng, chế biến thuỷ sản; Đào tạo công nhân kỹ thuật hệ Trung cấp và Cao đẳng
- Mua bán xuất khẩu đồ dùng cá nhân và gia đình, vật phẩm quản cáo, tranh ảnh, đồ chơi (trừđồ chơi có hại cho giáo dục nhân cách, sức khỏe của trẻ em hoặc ảnh hưởng tới an ninh, trật tự
an toàn xã hội), máy móc thiết bị văn phòng, văn phòng phẩm; Đại lý mua; Đại lý bán, ký gửi hàng hoá
Trang 4Chính vì một lượng lớn tiền đầu tư của công ty đổ vào các lĩnh vực phát triển nóng như bất động sản, nhà hàng xây dựng, mà khi thị trường bất động sản của Việt Nam lâm vào khủng hoảng, các khoản đầu tư này cũng trở thành những khoản lỗ lớn, khiến công ty liên tục báo lãi
âm hàng chục quý liên tiếp Cổ phiếu của công ty trượt giá liên tiếp và dừng lại ở mức
4000VNĐ/CP trong suốt một thời gian dài
2 Cấu trúc tài chính của Hanoimilk
2.1 Thời kỳ 2007 – 2011
Tình hình quy mô tài sản của Hanoimilk biến động không nhiều trong khoảng thời gian từ
2008 đến 2010 Cụ thể, quy mô tài sản năm 2009 tăng 5 tỷ đồng so với 2008; đến năm 2010, giá trị tổng tài sản tăng so với năm 2009 là 5 tỷ, tương đương 2.58% (Tuy nhiên, nếu so sánh với giátrị tại thời điểm trước “cơn bão Melamine”, tổng tài sản của công ty đã có sự sụt giảm mạnh Tổng tài sản tại thời điểm cuối năm 2007 là 272 tỷ đồng, tại 31/12/2008 chỉ còn 208 tỷ, sang năm 2010 là 218 tỷ) Cơ cấu và quy mô các khoản mục trong tổng tài sản cũng có sự biến động
rõ rệt:
- Tài sản ngắn hạn:
Nếu trong thời kỳ 2007, cơ cấuTSNH/Tổng TS là 50% thì đến năm 2008, quy mô và cơ cấu TSNH của HNM đã giảm mạnh và tăng chậm trở lại vào năm 2009, 2010: Năm 2007,TSNH của công ty là 134.104.834.245, đến năm 2008, TSNH của công ty chỉ còn
83.633.898.441, chiếm 30,68% tổng TS, con số này tăng lên 99.860.250.959 vào năm
2009 (tương đương 47,99% tổng TS) và đạt 114.394.685.614 vào năm 2010 ( 52,30% tổng TS) (Xem bảng số liệu) Các khoản mục trong TSNH đều có sự biến động mạnh:
o Tiền và các khoản tương đương tiền của năm 2008 giảm 80% so với năm 2007 (tương đương một lượng sụt giảm là 12 tỷ đồng), sau đó lại tăng mạnh trở lại vào năm 2009, đạt mức 15 tỷ đồng và đến năm 2010 đạt 18 tỷ đồng Sở dĩ có sự sụt giảm tiền vào năm 2008 là do công ty đã phải chi một lượng lớn tiền mặt để thu hồi các sản phẩm bị gắn mác chứa Melamine Điều này cũng dẫn đến giá trị HTK trong công ty ở mức cao vào cùng năm 2008 (97 tỷ đồng)
o Các khoản phải thu ngắn hạn cũng cho thấy sự giảm mạnh vào năm 2008 và tăng dần trở lại vào 2 năm sau Trong đó, giảm mạnh nhất là khoản ứng trước cho
Trang 5người bán Tỷ lệ Nợ phải thu của công ty là tương đối thấp đối với một doanh nghiệp sản xuất Xét trong mối quan hệ Doanh thu – Nợ phải thu, ta thấy có mâu thuẫn giữa mức tăng nợ phải thu khách hàng và mức giảm doanh thu trong năm
2009, điều này xuất phát từ việc công ty phải bán tháo hàng tồn kho từ năm 2008 với giá rẻ
o Đặc biệt, từ sau 2007, khoản mục đầu tư tài chính ngắn hạn chỉ còn chiếm một tỷ trọng vô cùng nhỏ, cho thấy công ty đã phải bán một lượng lớn các đầu tư ngắn hạn của mình để trang trải cho tình hình kinh doanh không hiệu quả và thua lỗ nặng trong những năm đó Một nguyên nhân khác cũng là do giá của các cổ phiếu
do công ty nắm giữ bị mất giá do tác động của khủng hoảng
o Khoản mục hàng tồn kho có quy mô và tỷ trọng lớn trong TSNH cho thấy công tyđang bị ứ đọng một lượng vốn lớn Việc chi phí nguyên vật liệu đầu vào tăng nhanh trong thời điểm này cũng khiến công ty càng gặp khó khăn Thêm vào đó, viêc một doanh nghiệp sản xuất sữa, vốn là một mặt hàng có hạn sử dụng ngắn, cóvòng quay hàng tồn kho và số ngày lưu kho lớn cũng tạo ra nguy cơ sản phẩm hỏng khi còn đang trong kho (dẫn đến việc bán tháo sản phẩm nói trên) Dòng tiền vào từ hoạt động sản xuất kinh doanh trong 3 năm này nhỏ, cho thấy công ty đang gặp khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm (nguyên nhân từ việc uy tín của công ty bị tổn hại nặng nề, gây mất lòng tin của người tiêu dùng)
- Tài sản dài hạn:
o Quy mô của TSCĐ của công ty liên tục giảm trong 3 năm 2008-2010, kết hợp việc xem xét Thuyết minh báo cáo tài chính, cho thấy công ty đã phải bán và cầm
cố một phần Tài sản cố định của mình để trang trải nợ nần
o Các khoản đầu tư tài chính dài hạn sau khi sụt giảm 50% vào năm 2008 cũng đã hoàn toàn biến mất trên BCTC của công ty vào năm 2009, 2010
Từ các phân tích trên, có thể rút ra kết luận: thời kỳ 2008-2010 là thời kỳ HNM lâm vào khủng
hoảng với các dấu hiệu: tình hình sản xuất kinh doanh lâm vào bế tắc, hàng hóa sản xuất không thể tiêu thụ, công ty phải bán tài sản để trang trải nợ nần
Về Nguồn Vốn của HNM:
Trang 6Tỷ suất tự tài trợ của HNM là tương đối cao, tỷ lệ qua các năm đều trên 50% chứng tỏ công ty ít phải phụ thuộc vào nguồn nợ vay bên ngoài.
Xét về khoản mục Nợ phải trả, năm 2009, nợ phải trả của công ty giảm 31% so với 2008
Nguyên nhân bởi trong năm 2009, hoạt động chủ yếu của công ty là giải quyết HTK năm ngoái, sản xuất thành phẩm nhưng không tăng quy mô doanh nghiệp lên (không mua sắm thêm TSCĐ hay vật tư) Đến năm 2010, tỷ suất nợ tăng so với 2009 với mức tăng lên đến 50,54% Nguyên nhân là do trong năm 2010 công ty đã vay thế chấp ngắn hạn để mua NVL dự phòng tăng giá, đầu tư mở rộng phất triển thị trường phía Nam
Về tỷ suất tự tài trợ, năm 2009 VCSH tăng 19,28% do công ty đã huy động thêm vốn góp của cổ đông, tăng vốn điều lệ từ 100 tỷ lên 125 tỷ) Năm 2010, tỷ suất tự tài trợ giảm còn 60,28% do tình hình kinh doanh kém hiệu quả, doanh nghiệp báo lỗ lũy kế lên đến hơn 21 tỷ đồng
2.2 Thời kỳ 2011 – hiện tại
2.2.1 Cấu trúc tài sản
Phân tích tình hình tài sản - Công ty Hanoimilk
Số tuyệt đối Tỷ trọng Số tuyệt đối Tỷ trọng Số tuyệt đối Tỷ trọng
Tiền và các khoản tương
đương tiền
3,934,860,041 1.84% 5,044,444,366 2.36% 2,238,560,090 0.98%
Các khoản đầu tư tài
chính ngắn hạn
31,335,000 0.01% 31,335,000 0.01% 115,200,000 0.05%
Các khoản phải thu ngắn
hạn
59,182,796,249 27.66% 67,330,953,150 31.48% 84,039,040,544 36.90%
Dự phòng phải thu ngắn
hạn khó đòi
(1,998,409,224) -0.93% -2,866,353,327 -1.34% (4,641,558,543) -2.04%
Các khoản phải thu dài
hạn
Trang 7Tài sản cố định 86,853,755,528 40.59% 48,753,669,059 22.79% 72,500,534,135 31.84%
Bất động sản đầu tư
Các khoản đầu tư tài
chính dài hạn
750,000,000 0.35% 27,000,000,000 12.62% 27,000,000,000 11.86%
Lợi thế thương mại
%
227,732,009,926 100.00
%
Chỉ tiêu
A-TÀI SẢN NGẮN HẠN
Bất động sản đầu tư
Các khoản đầu tư tài chính
Lợi thế thương mại
Tài sản dài hạn khác
Trang 8Về tỷ trọng tài sản, năm 2011 và 2012 là hai năm HNM có tỷ trọng TSNH/TTS là ở ngưỡng 60% TTS, với giá trị TSNH biến động tăng từ 122 đến128 tỷ đồng Đến năm 2013, TSNH của công ty giảm cả về tỷ trọng và quy mô, xuống còn 117,4 tỷ đồng (51,55% TTS)
59-Cụ thể, qua bảng số liệu về phân tích tình hình tài sản của công ty sữa Hanoimilk ta thấy:
- Về Tài sản ngắn hạn:
o Về chỉ tiêu các khoản đầu tư tài chính, đây là một hoạt động quan trọng của doanhnghiệp trong nền kinh tế thi trường nhằm phát huy hết mọi tiểm năng sẵn có cũngnhư những lợi thế của doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả kinh doanh khẳng địnhvị thế của mình Xét về đầu tư tài chính ngắn hạn trong doanh nghiệp sữahanoimilk, sau khi sụt giảm mạnh và duy trì ở lượng giá trị không đang kể (31triệu đồng trong khoảng thời gian từ 2008-2012), năm 2013 khoản mục này có sựtăng trở lại, lên 115,200,000 đồng (toàn bộ là vào công ty Sông Đà 9), tăng gần4,5 lần Nguyên nhân chủ yếu của sự gia tăng này là từ phía giai đoạn này thịtrường chững khoán có nhiều biến chuyển phục hồi, giá cổ phiếu của công tySông Đà 9 tăng, nhờ đó HNM đánh giá giảm khoản Dự phòng giảm giá, khôngphải từ nguyên nhân HNM dư thừa vốn để tái đầu tư tài chính
o Về các khoản phải thu trong doanh nghiệp có nhiều loại trong đó theo như bảng
phân tích trên các khoản phải thu dài hạn đối với công ty sữa hanoimilk là không
có nên ta chỉ chú trọng xem xét các khoản phải thu ngắn hạn Các khoản phải thu
ngắn hạn năm 2013 so với các năm 2011 và 2012 đề tăng đáng kể Cụ thể so vớinăm 2011 khoản mục này tăng gần 25 tỷ chiếm tới 42% còn so với năm 2012khoản mục này tăng 16,708,087,394 đồng chiếm 24.81% Trong cơ cấu khoảnmục phải thu ngắn hạn này chủ yếu là phải thu khách hàng và tiển đặt trước chongười bán những khoản mục còn lại chiếm tỷ trọng rất nhỏ thường không đáng
kể Điều này cho thấy công ty đang nới lỏng chính sách tín dụng, cho phép muahàng trả chậm nhằm thu hút khách hàng và đẩy mạnh tiêu thụ (do vậy Lợi nhuậngộp về bán hàng của công ty đã tăng liên tục trong 3 năm 2011 – 2013) Tuynhiên, xét thấy lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh của công ty vẫnđang âm trong khoảng thời gian này, cho thấy công ty vẫn chưa khôi phục đượctình hình kinh doanh và cẩn xem xét đến các rủi ro khó thu hồi tiền,
Trang 9o Về hàng tồn kho, tỷ lệ HTK trong 2 năm 2011 và 2012 vẫn giữ ở mức 23-24%TTS (trị giá vào khoảng 50 tỷ đồng) Tuy nhiên, đến năm 2013, khoản mục này
đã một lượng mạnh tới 32 tỷ đồng, xuống còn 18 tỷ, chỉ chiếm 8,02% TTS Kếthợp với việc doanh thu bán hàng của 2013 tăng, cho thấy doanh nghiệp đang xemxét giảm thiểu mức sản xuất và định mức tồn kho, góp phần giảm thiểu chi phílưu kho
- Về tài sản dài hạn:
o Tài sản cố định trong tổng tài sản giai đoạn này có biến động khá lớn Đối vớicông ty sữa Hanoimilk tài sản cố định chủ yếu là dây chuyền công nghệ, máy mócthiết bị và nhà xưởng Tỷ trọng và giá trị tài sản cố định trong khoảng thời giansau năm 2008 liên tục giảm do công ty đang phải bán, cầm cố TSCĐ để vay vốn.Về biến động qua các năm, cụ thể năm 2013 so với năm 2011 giảm nhẹ từ86,853,755,528 đồng năm 2011 xuống còn 72,500,534,135 đồng vào năm 2013giảm14,353,221,393 đồng chiếm 16.53%, tuy nhiên so với năm 2012 năm 2013lại tăng khá mạnh số tăng tuyệt đối là 23,746,865,076 đồng ứng với 48.71% Đâylà một tín hiệu đáng mừng cho thấy công ty đang tái đầu tư cho máy móc thiết bị
để mở rộng sản xuất (xem xét Thuyết minh BCTC, tổng giá trị TS mua thêm vàonăm 2013 là 33 tỷ đồng)
o Các khoản đầu tư tài chính dài hạn được tăng từ 750 triệu đồng lên 27 tỷ đồng vàonăm 2012, chủ yếu là nguồn vốn đầu tư cho 2 công ty con là Công ty sữa tự nhiênvà công ty Hapro Thanh Hóa Việc đầu tư vào hai công ty này cho thấy quyết tâmchiếm lĩnh lại thị trường của HNM
Từ những phân tích trên chúng ta thấy được cơ cấu về tài sản của công ty sữa Hanoimilk khá hợp
lý ổn định Xu hướng thay đổi tương đối hợp lý phù hợp cho việc mở rộng đầu tư kinh doanhcũng như có những tình toán khoa học giúp giảm thiểu chi phí
2.2.2 Cấu trúc nguồn vốn
Phân tích tình hình nguồn vốn - Công ty Hanoimilk
Trang 10Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
I, Nợ ngắn hạn 81,759,363,423 38.21% 81,037,338,333 37.89% 93,724,800,426 41.16%
Vay và nợ ngắn
Thuế và các
khoản phải nộp
Chi phí phải trả
(bao gồm trợ cấp
thôi việc phải trả)
6,171,041,060 2.88% 4,153,181,591 1.94% 1,664,895,460 0.73%
Các khoản phải
trả, phải nộp
ngắn hạn khác
1,167,026,641 0.55% 3,906,311,727 1.83% 3,042,373,557 1.34%
II,Nợ dài hạn 0 0.00% 479,085,250 0.22% 0 0.00%
Vay và nợ dài