1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt Luận án Tiến sĩ Văn học Việt Nam: Tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986 – 2014 từ góc nhìn phê bình sinh thái

30 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986 – 2014 từ góc nhìn phê bình sinh thái
Tác giả Nguyễn Thùy Trang
Trường học Đại Học Huế
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận án
Năm xuất bản 2018
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án tập trung nghiên cứu những yếu tố thể hiện dấu ấn sinh thái trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn sau 1986 đến nay trên các phương diện cơ bản sau: hệ sinh thái, hình tượng con người và các hình thức nghệ thuật thể hiện góc nhìn sinh thái.

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

NGUYỄN THÙY TRANG

TIỂU THUYẾT VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1986 – 2014

TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số chuyên ngành: 62 22 01 21

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

Huế - 2018

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

Người hướng dẫn khoa học:

Phản biện 1:

Phản biện 2:

Phản biện 3:

Luận án đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Đại học Huế họp tại

Vào hồi: giờ ngày tháng năm 2018 Có thể tìm hiểu luận án tại:

Trang 3

(Nguyễn Văn Học)… Với số lượng tác phẩm đáng kể, các nhà văn Việt Nam đã thể hiện được sự nhạy bén của mình trong việc tri nhận những vấn đề thời sự mang tính nhân loại Hướng đến môi trường, phải chăng văn học đang hướng đến sự sống còn của toàn nhân loại?

Đó cũng chính là sứ mệnh của văn học sinh thái Vì lẽ đó, chúng tôi

lựa chọn đề tài: Tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986 – 2014 từ góc nhìn phê bình sinh thái, để chỉ ra được tính cấp thiết của việc phát

triển sâu rộng mảng phê bình sinh thái trong văn học Việt Nam Nó cho thấy, các nhà văn đã chú ý nhiều hơn đến đề tài môi trường và mối quan hệ giữa văn học với môi trường, trách nhiệm của nhà văn với giới tự nhiên và sự an nguy, sự tồn vong của dân tộc, của nhân loại Đó chính là tâm thức thời đại, yêu cầu thời đại

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Nghiên cứu lí thuyết phê bình sinh thái

1.1.1 Nghiên cứu lí thuyết phê bình sinh thái trên thế giới

1.1.1.1 Chặng một từ 1972 đến 1991: Thời kì manh nha

Ở giai đoạn này, phê bình sinh thái vẫn đang bước những bước đầu tiên chậm rãi và chưa có hệ thống Các nhà nghiên cứu văn học và văn hóa đã phát triển lí thuyết và phê bình về phương diện

Trang 4

sinh thái bằng cách tiếp cận liên ngành Nhưng các nghiên cứu của họ được coi là “những nghiên cứu trước tác về tự nhiên” (the study of nature writing) xuất hiện đơn lẻ với những tên gọi khác nhau như: chủ nghĩa đồng quê, sinh thái học con người, chủ nghĩa địa phương (regionalism), phong cảnh trong văn học, nghiên cứu liên ngành (interdisciplinary studies)… Cho nên, hai mươi năm đầu tiên vẫn là giai đoạn manh nha hình thành của phê bình sinh thái

1.1.1.2 Chặng hai từ 1992 đến 2004: bùng nổ lí thuyết phê bình sinh thái

Giai đoạn này phê bình sinh thái thực sự phát triển sâu rộng, trở thành một hiện tượng lí luận phê bình văn học – văn hóa toàn cầu Nhiều hội thảo liên tiếp được diễn ra, nhiều tổ chức nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và tự nhiên, sinh thái được thành lập khắp thế giới Các chuyên luận phê bình sinh thái giai đoạn này mang tính cô đúc, đi sâu

hơn về học thuật Tiêu biểu: cuốn Tuyển tập Nghiên cứu Xanh: từ Chủ nghĩa lãng mạn đến Phê bình sinh thái (The Green Studies Reader: From Romanticism to Ecocriticism, Routledge, 2000) của Laurence

Coupe Công trình của Lawrence Buell: Viết vì một Thế giới lâm nguy: Văn học, Văn hóa, Môi trường nước Mĩ và các quốc gia khác (Writing for an Endangered World: Literature, Culture, and Environment in the United States and Beyond, 2001) Cuốn Phê bình sinh thái (Ecocriticism) xuất bản năm 2004 của Greg Garrard…

1.1.1.3 Chặng ba từ 2005 đến nay: hoàn thiện và mở rộng phê bình sinh thái

Nhìn vào những công trình ban đầu, các nhà phê bình sinh thái tập trung tìm hiểu những văn bản tại quốc gia họ sinh sống (gồm văn bản tiếng Anh, Đức, và những ngôn ngữ thuộc Tây phương), sau đó, phê bình sinh thái dần dần rời khỏi địa hạt trung tâm, lưu ý đến các văn bản ngoài Âu – Mĩ để khai mở những tiềm năng lí thuyết mới trong nội tại chính nó Cũng trong quá trình nghiên cứu những văn bản ngoài Âu –

Mĩ, cụ thể ở đây là những văn bản Đông Á, các nhà phê bình sinh thái còn phát hiện ra “sự mơ hồ” trong thái độ, tình cảm của người phương Đông đối với thiên nhiên (trường hợp của Karen Thornber) Đồng thời, bắt nhịp về với phương Đông, phê bình sinh thái đã kết nối với các tư tưởng triết học sinh thái môi trường hiện đại và nguồn mạch tư tưởng văn hóa phương Đông ngàn xưa (Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo) để đề

Trang 5

xuất một cách ứng xử mới với tự nhiên, tái thiết môi sinh Từ đó nó cho thấy sự cần thiết và cấp bách hiện nay trong việc dẫn nhập, áp dụng lí thuyết phê bình sinh thái vào nghiên cứu văn học các nước châu Á nói chung, Việt Nam nói riêng

1.1.2 Nghiên cứu lí thuyết phê bình sinh thái ở Việt Nam

Cho đến nay, theo tìm hiểu của chúng tôi, phê bình sinh thái đang dần được các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm, đón nhận và đầu

tư tìm hiểu Dẫu vậy, số lượng những công trình, bài viết nghiên cứu phê bình sinh thái ở Việt Nam còn hạn hữu Đã có những công trình chuyên sâu, đúng hướng với phê bình sinh thái và gợi mở cho chúng tôi nhiều điểm thú vị; nhưng vẫn chưa có những chuyên luận về tiểu thuyết, nhất

là tiểu thuyết từ sau Đổi mới – một giai đoạn văn học đang phát triển của văn học sinh thái Việt Nam

1.2 Nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 nhìn từ lí thuyết Phê bình sinh thái

1.2.1 Tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 – quá trình đổi mới và tiến dần đến văn học sinh thái

Ý thức sinh thái trong văn học Việt Nam sau 1986 nói chung, tiểu thuyết Việt Nam nói riêng bắt đầu manh nha từ dòng chảy văn học hậu chiến Về sau, văn học thời kì Đổi mới bắt đầu xuất hiện và chú ý đến vị thế trong mối quan hệ giữa con người và tự nhiên Đi kèm với việc phê phán mặt trái của văn minh, nhiều nhà văn đã ngầm cảnh báo rằng nguồn gốc của nguy cơ sinh thái chính là tính hiện đại

và căn bệnh của chủ nghĩa tiêu dùng – sự tiêu xài quá độ, sự lên ngôi của đồng tiền Có thể thấy rõ điều này qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Xuân Thủy, Đặng Thiều Quang,

Đỗ Phấn, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Xuân Thủy, Nguyễn Văn Học… Các nhà văn đã chỉ ra sự hủy hoại môi sinh dẫn tới việc mất cân bằng

tự nhiên; quá trình đô thị hóa, nền kinh tế thị trường khiến con người rời xa môi trường sinh thái, con người trở thành nạn nhân, công cụ của thương mại

1.2.2 Phê bình sinh thái – một lối tiếp cận mới vào tiểu thuyết Việt Nam sau 1986

Trang 6

Bài báo Sáng tác và phê bình sinh thái – Tiềm năng cần khai thác của văn học Việt Nam của Nguyễn Thị Tịnh Thy đăng trên Tạp chí Văn

nghệ quân đội (25/10/2014) đã đưa ra những dẫn chứng cho thấy những tiềm năng trong sáng tác, phê bình sinh thái của văn học Việt Nam

Gần đây, Trần Thị Ánh Nguyệt đã bảo vệ thành công luận án

Tiến sĩ với đề tài “Con người và tự nhiên trong văn xuôi Việt Nam sau

1975 từ góc nhìn phê bình sinh thái” (Trường Đại học Sư phạm Hà

Nội, tháng 1/2016) Qua luận án, tác giả đã khảo sát văn học Việt Nam sau 1975 và thấy có sự xuất hiện khuynh hướng văn xuôi sinh thái

1.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu và hướng triển khai đề tài

1.3.1 Về tình hình nghiên cứu

Việc nghiên cứu phê bình sinh thái trên thế giới đã diễn ra hơn bốn thập kỉ nhưng không liên tục mà bị gián cách trong biên độ thời gian lẫn không gian do những yếu tố về địa lí, chính trị, văn hóa – xã hội của từng quốc gia, khu vực Thoạt tiên ở Mỹ, phê bình sinh thái hình thành rồi lan sang các nước cùng ngôn ngữ Anh, Úc, và tiếp đến là Châu Âu, Châu Á đón nhận nó nhưng một hiện tượng văn hóa – xã hội của kỉ nguyên hậu công nghiệp Tính chất liên ngành của phê bình sinh thái đã thu hút nhiều quan tâm, chú ý của các chuyên gia văn học, văn hóa, sinh học, lịch sử, địa lí, vật lí… Từ những năm

1970 đến nay, phê bình sinh thái từ phong trào nhỏ lẻ, tản mác đã trở thành một hướng nghiên cứu phổ biến, sôi nổi toàn cầu

1.3.2 Hướng nghiên cứu đề tài

Thứ nhất, giới thiệu được ngành sinh thái học nhân văn hiện nay đang trở thành một khoa học toàn cầu, kết hợp thành tựu của khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn để xử lý những vấn đề mà Trái đất, môi trường đặt ra trước con người Thứ hai, việc tiếp cận phê bình sinh thái sẽ phát hiện ra những bước chuyển mình của tiểu thuyết Việt Nam trong bối cảnh Đổi mới, tiếp thu tinh hoa nhân loại Thứ ba, khảo cứu những tiểu thuyết từ Đổi mới đến nay, chúng tôi tiến hành định giá các chuẩn tắc đạo đức sinh thái được biểu hiện cụ thể qua hệ thống nhân vật Mỗi hành động, ứng xử của nhân vật sẽ là nấc thang để phân chia phạm trù đạo đức Thứ tư, dựa vào tính chất liên ngành và những hiệu ứng mà phê bình sinh thái mang lại, chúng

Trang 7

tôi đi sâu vào thế giới tinh thần qua quyền lực của diễn ngôn và các phạm trù văn hóa, liên văn bản

CHƯƠNG 2 MỘT CÁI NHÌN HẬU/ GIẢI CẤU TRÚC

VỀ PHÊ BÌNH SINH THÁI TRONG TIỂU THUYẾT

VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1986 – 2014

2.1 Phê bình sinh thái và đặc tính hậu/ giải cấu trúc

2.1.1 Về khái niệm và cội nguồn của phê bình sinh thái

2.1.1.1 Khái niệm

Tính chất mở, đa chiều và liên ngành đã mang đến nhiều khái niệm cho phê bình sinh thái Điều này không tạo nên những mâu thuẫn, đối lập và tranh cãi giữa các học giả Ngược lại, nó phát ra một hiệu ứng khả nghiệm, lan tỏa và thu hút nhiều ý kiến đóng góp hơn nữa nhằm hoàn thiện lí thuyết, đồng thời cũng khẳng định từ trường hấp dẫn của phê bình sinh thái đối với thế giới hiện nay Và dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhưng tất cả các học giả đều đồng nhất phê bình sinh thái là một lí thuyết có những đặc trưng tư tưởng

và nguyên tắc mĩ học rõ ràng, đó là lấy chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái làm tôn chỉ, phán xét nguồn gốc văn hóa tư tưởng của nguy cơ sinh thái và thẩm định văn bản từ góc độ nghệ thuật sinh thái Đây cũng chính là quan điểm của chúng tôi trong luận án

2.1.1.2 Cội nguồn triết học của phê bình sinh thái

Những tư tưởng triết học của các trường phái luân lí học môi trường phương Tây nửa đầu thế kỉ XX có thể coi là nền tảng cơ bản cho sự ra đời của phê bình sinh thái, trong đó quan trọng nhất là luân lí

“kính trọng sinh mệnh” của Schweitzer và “luân lí địa cầu” của Leopold Aldo Leopold được coi là người đầu tiên đề xướng sự bảo vệ sinh thái của phương Tây cận đại Bên cạnh đó, quay về với tư tưởng văn hóa phương Đông cổ đại cũng là một khuynh hướng quan trọng của phê bình sinh thái hiện nay Tính chỉnh thể trong trật tự, tính hướng nội trong quy tắc của phương Đông có thể điều chỉnh tư tưởng

cá nhân và chủ nghĩa bá quyền mang tính hiện đại phương Tây, giúp cho nhân loại tìm ra con đường tinh anh nhất giữa các nền văn hóa

Sự hòa kết Đông Tây, tư tưởng luân lí sinh thái phương Tây nửa đầu thế kỉ XX và tư tưởng sinh thái của tam giáo phương

Trang 8

Đông là nền tảng vững chắc của phê bình sinh thái Bổ sung những ưu điểm và khắc phục nhược điểm giữa hai nguồn tư tưởng này, phê bình sinh thái sẽ có cội nguồn triết học cùng cơ sở lí luận thuyết phục và hoàn thiện hơn

2.1.2 Đặc tính hậu/ giải cấu trúc của phê bình sinh thái

Chứng minh rõ đặc tính hậu/ giải cấu trúc của phê bình sinh thái được thể hiện như thế nào, trong một bài nghiên cứu của mình, Michael Verderame, ông đã cho rằng, thời kì này các học giả chú trọng nhiều hơn đến giải cấu trúc trong phê bình sinh thái, với các đặc điểm: giải cấu trúc sự đối lập có tính kế thừa của “tự nhiên” và

“nhân loại” mà trước đây điều này là vinh dự nhưng sau này là một

sự xem thường; khám phá các khía cạnh vật chất, kinh tế, xã hội và những tác động của quá trình môi trường; kiểm tra “phương diện môi trường” như một thuộc tính quan trọng của tất cả các văn bản hơn là một lĩnh vực của một thể loại bị giới hạn eo hẹp trong “lối viết tự nhiên”; đồng thời mở rộng tầm nhìn của nó vượt ra ngoài cảnh quan hoang dã và nông thôn bao gồm các thành phố, vùng ngoại ô và phần còn lại của môi trường xây dựng Ông nhấn mạnh “một phê bình sinh thái mới tốt nhất nên được xuất phát từ các bậc tiền bối” và “các nhà phê bình sinh thái văn học cần tham gia vào các dòng chảy phê bình tân lịch sử và chủ nghĩa hậu cấu trúc một cách trọn vẹn và cởi mở hơn”, trong đó giải cấu trúc là một xu hướng thích hợp để giúp phê bình sinh thái “trở nên dễ tiếp nhận hơn” bằng cách trút bỏ vị trí bên

lề (nằm ngoài phê bình văn học hiện đại chính thống) và “mang đến một không gian thích hợp hơn trong các cuộc đối thoại về tri thức”

Nhưng các lí thuyết như “tác giả chết” R.Barthes, “nguyên lí đối thoại” của M.Bakhtin, “chủ thể biến mất  liên chủ thể” của M.Foucault, chủ yếu là diễn giải ở cấp độ văn bản, ngôn ngữ Vì thế, vận dụng vào phê bình sinh thái sẽ có độ lệch nhất định, đôi chỗ dễ rơi vào biện luận Do đó, chúng tôi xác định từ đầu, chủ đích của phê bình sinh thái không chú trọng mạnh vào hình thức nghệ thuật (như ngôn từ trau chuốt, cốt truyện li kì hay xây dựng nhân vật hấp dẫn) mà cốt yếu đi sâu vào nội dung, trong đó định giá đạo đức và tinh thần sinh thái là vấn

đề cốt lõi Bên cạnh đó, với đặc trưng và hệ thống lí luận như trên, phê

Trang 9

bình sinh thái đã thể hiện rõ cảm quan hậu hiện đại Vì thế hậu/ giải cấu trúc trong phê bình sinh thái còn gợi mở cho chúng ta một vấn đề khác liên quan đến liên văn bản và văn học so sánh, cũng như các hệ hình lí thuyết khác Do vậy, hậu/ giải cấu trúc không phải là phương pháp duy nhất để tìm kiếm ý thức sinh thái trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986 đến nay, nhưng là cánh cửa gợi mở nhiều tham chiếu thú vị

2.2 Những phương diện hậu/ giải cấu trúc của phê bình sinh thái trong tiểu thuyết Việt Nam từ sau Đổi mới

2.2.1 Phi trung tâm – dạng thức tồn tại của văn hóa hậu hiện đại

Nằm trong dòng chảy hậu hiện đại, các nhà văn sinh thái rời bỏ niềm tin vào tương lai bền vững, tươi đẹp, quay về ý thức rõ hơn hiện thực với nhiều hiểm nguy đang rình rập, con người đối mặt trước một thời đại “không số phận”, không đoán định Nhưng nếu hậu hiện đại tạo

ra cái nhìn hỗn mang trước những giao điểm, ngã rẽ, thì phê bình sinh thái lại tạo ra cái nhìn tụ điểm Điều này tưởng như mâu thuẫn, nghịch lí với “phi trung tâm” của hậu/ giải cấu trúc Nhưng kì thực, đó lại là nét riêng biệt của tính chất phi trung tâm phê bình sinh thái Tụ điểm của phê bình sinh thái thể hiện ở chỗ, khi xóa bỏ cái nhìn trung tâm, các nhà văn có cơ hội quan tâm nhiều hơn trong văn bản những đối tượng yếu thế, thua thiệt, có nguy cơ tổn hại và chìm khuất Bước ngoặt này giúp cho các nhà phê bình sinh thái dịch chuyển trung tâm qua những đối tượng mang tính chất thực tế hơn: “trái đất trung tâm”, “sinh vật trung tâm”, “sinh thái trung tâm” Tùy theo từng hoàn cảnh, tình thế cụ thể, tụ

điểm được kết nối và trở thành trung tâm, chẳng hạn, trong Ruồi là ruồi

(Đỗ Phấn), khi người dân tiến hành cuộc tàn sát quy mô lớn nhất từ trước đến nay để tiêu diệt tận gốc loài ruồi và môi trường dành cho chúng, ống kính nhà văn hướng nhiều ưu ái đến ruồi Dù muốn hay không muốn, nhân loại phải thừa nhận “chúng là một phần trong cuộc sống trên hành tinh xanh của chúng ta”, và “những mối nguy hiểm do chúng mang lại không hẳn đã áp đảo lợi ích của chúng” Cuộc sống của người đều xoay quanh bên ruồi, nên mục đích của nhà văn khi đề cao ruồi chính là “hướng đến một trái đất cân bằng sinh thái Mọi cỏ cây và

sinh vật sống trên hành tinh này đều phải được tôn trọng”

Trang 10

2.2.2 Cái chết của chủ thể - tính liên chủ thể

Cái chết của chủ thể dưới góc độ sinh thái không đơn giản chỉ là phủ định hoàn toàn vai trò và vị thế của con người, mà sâu xa hơn, nhà văn mong muốn kìm hãm những dục vọng bạo liệt của con người cùng những suy nghĩ và hành động phi lí của chính họ đối với tự nhiên Chính vì vậy, đi cùng với việc phản chủ thể, cái chết của chủ thể trong sáng tác phê bình sinh thái còn là sự thể hiện tính liên chủ thể

Trong tiểu thuyết Việt Nam sau Đổi mới, tính chủ thể tự trị, tính độc sáng của cá nhân theo đây chỉ còn là một huyễn tưởng khi ý nghĩa tương giao nhân loại – tự nhiên được xác định thông qua những hình ảnh

cụ thể mang tính ẩn dụ cao Sự tương trợ sinh tồn của tập thể Liên hiệp

quốc doanh đánh cá và biển (Biển và chim bói cá); sự hòa nhập giữa Ân

và sông (Sông); kiếp sống kí sinh giữa ruồi và người (Ruồi là ruồi); tính hài hòa nhân ái giữa bồ câu và già SuDa (Những bầy mèo vô sinh);

những hi sinh, tận tụy, trung thành của một chú chó luôn hết mình vì chủ

và người chủ cũng chân thành đối đãi thật tâm với nó (Chó Bi, đời lưu lạc),… là những thành công trong việc xóa mờ ranh giới giữa chủ thể/

khách thể, nhân loại/ phi nhân qua hai hình tượng song trùng: người/ cá, người/ sông, người/ ruồi, người/ mèo, người/ chó

2.2.3 Tính đối thoại – phương thức kết nối với thế giới tự nhiên

Đối thoại thực chất là thể hiện sự đối lập về lập trường tư tưởng của các nhân vật, làm nên đặc điểm đa thanh, phức điệu cho tiểu thuyết Tất nhiên, tính chất đối thoại với tự nhiên trong các tiểu thuyết sinh thái hoàn toàn khác với đối thoại trong các truyện viết về loài vật Nghĩa là nhà văn không tạo ra những lượt vấn đáp/chuyện trò giữa nhân loại và thế giới phi nhân loại, cũng không theo phương thức đồng thoại Sự thấu cảm và kết nối ở đây được thực hiện chủ yếu thông qua độc thoại, suy tưởng, tự vấn của con người và cả tự nhiên Trên nguyên tắc đảm bảo cân bằng giữa lập trường nhân vật

và lập trường tác giả, chủ thể (có thể là con người, hoặc tự nhiên) bộc

lộ hành trình tự nhận thức của mình Bằng sự trải nghiệm của chủ thể, nhân vật phát biểu, phán xét những hành động, vấn đề liên quan đời sống như đạo đức, xã hội, chính trị, văn hóa…

Trang 11

CHƯƠNG 3 ĐỊNH GIÁ CHUẨN TẮC ĐẠO ĐỨC SINH THÁI TỪ HỆ THỐNG NHÂN VẬT

3.1 Kiểu nhân vật xâm phạm tự nhiên – khát vọng bành trướng

3.1.1 Tư tưởng nhân loại trung tâm và sai lạc hành vi

3.1.1.1 Niềm khoái cảm khi được thống trị tự nhiên

Sở dĩ con người có thể bất chấp mọi hậu quả nhằm chinh phục được tự nhiên là bởi họ tìm thấy trong đó một niềm khoái cảm của kẻ chiến thắng, một cảm giác tự tin khi được làm trung tâm, bá chủ Tiểu

thuyết Gần như là sống của Đỗ Phấn có kể về chi tiết những dân chơi

Hà Nội đua nhau “tha” những thứ ở rừng về trưng bày trong không gian chật chội của phố thị, trong đó có nhiều loài chim quý Tuy nhiên, dân chơi chim cảnh Hà thành không mấy ai nhòm ngó loài chim Quế Lâm ngũ sắc, “dù bộ mã con chim vô cùng bắt mắt”, “tiếng hót của nó quá

ồn ào liến thoắng như thổi còi làm tăng thêm nhịp độ gấp ruổi vội vã phố phường” Nuôi chim cảnh, nhưng không phải để ngắm, cũng không phải thưởng thức tiếng hót, rút cuộc những dân chơi thành thị muốn gì?

Họ nhốt chim trong lồng, treo giữa nhà như một thứ “trang sức” Muốn nhìn thấy chúng nằm trong những chiếc hộp, cũng giống như họ đang

“ở trong những cái hộp như thế của thành phố” Chính quá trình vật lộn và giành được chiến thắng với tự nhiên, con người đạt những cảm giác mới, đánh thức bản năng của chính mình ẩn nấp trong chuỗi ngày u ám, tẻ nhạt

3.1.1.2 Đến những sai lạc trong hành vi

Đắm chìm trong tư tưởng thống trị thế giới, con người không nhận thức sáng suốt hoàn cảnh thực tế và những hành động chính

đáng cần làm Người cha (Trăm năm còn lại) vì mãi theo tiếng gọi

của vàng và tham vọng bá chủ, nên đã quên chăm sóc, vun vén cho tổ

ấm của mình Một thời gian sống trong rừng sâu với sự thù hằn và đối chọi, rẫy khai hóa đã hơn hai mươi năm nên đất mầu xói mòn cuốn theo suối rồi đổ cả vào dòng Dabkla

Mất đi khả năng thấu hiểu tự nhiên và chối từ giao cảm với muôn loài, con người dễ đẩy mình vào con đường tha hóa, độc tài, máu

lạnh Trong Thoạt kì thủy (Nguyễn Bình Phương), Tính là kiểu con

người có hội chứng tâm thần đặc biệt, với sở thích quái dị: khoái cảm

Trang 12

khi được trải nghiệm cảnh sát sinh Không làm chủ được hành động của mình, Tính đã để vô thức điều khiển trong niềm khoái lạc, dã tâm châm lửa thiêu cháy bố mẹ Hiền không chút dao động, cầm dao giết ông Khoa rồi tự kết liễu mình Nếu con người không ý thức được sự đau đớn của sinh vật khi bị chính mình giết hại, thì cũng sẽ không nhận thức được hành động đã làm với chính đồng loại

Nhìn các nhân vật trong Trăm năm còn lại, Săn cá thần, Thoạt kì thủy theo quan điểm Phật giáo sẽ thấy, sự hủy hoại môi sinh,

ô nhiễm môi trường là hậu quả đỉnh cao của tư duy hữu ngã, con đường hưởng thụ lạc thú của con người Vì thế, nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng môi sinh nghiêm trọng là do vô minh và tham ái

Còn theo quan điểm của Lão Tử trong Đạo đức kinh thì, “Trí tuệ

xuất, hữu đại ngụy” (Trí tuệ sinh ra, có vô vàn điều giả dối) Cho nên, càng biết nhiều, con người càng ham muốn nhiều, khả năng đòi hỏi thỏa mãn dục vọng cao Không có trí tuệ nào của con người có thể sánh kịp với “trí tuệ của tự nhiên” Khi các nhân vật bất tuân tự nhiên, làm trái đạo lí, tất yếu sẽ gánh những hậu quả khó lường Như vậy, phê bình sinh thái phản đối tư tưởng nhân loại trung tâm không chỉ đơn thuần là phản đối nhận thức lệch lạc của con người đối với tự nhiên, ẩn chứa trong đó còn là sự phê phán thái độ vô cảm, tha hóa đạo đức, lệch lạc lối sống Cho nên, giải trừ quan niệm “nhân loại trung tâm” cũng là cách giải trừ “tà khí” trong con người

3.1.2 Sự mơ hồ sinh thái – những ngộ nhận trong quy luật sinh tồn

3.1.2.1 Ngộ nhận tự nhiên là vô tận trong thời đại công nghiệp hóa – hiện đại hóa

Đầu tiên là những ngộ nhận của con người trong giai đoạn

chiến tranh Khu rừng Yên Ngựa trong tiểu thuyết Thập giá giữa rừng sâu của Nguyễn Khắc Phê là minh chứng cho những vết tích và

mất mát của một thời máu lửa Để phục vụ cuộc đối đầu với kẻ thù, người ta “đua nhau đi chặt gỗ làm hầm, cây càng to, càng chắc càng

có nhiều thành tích” Cánh rừng là nơi nương náu cho bộ đội, là nguồn vũ khí đơn sơ mà hữu dụng trong chiến đấu và cũng là nơi hứng chịu không biết bao nhiêu trận càn quét của giặc

Trang 13

Người Việt thường tự hào về non sông gấm vóc hùng vĩ và

“rừng vàng, biển bạc”, nhưng rừng ngày một tàn lụi, và biển cũng đến

lúc cạn nguồn Thuyền trưởng Lê Mây (Biển và chim bói cá – Bùi Ngọc

Tấn) luôn ao ước khi kháng chiến thắng lợi sẽ được lên tàu đi đánh cá ngoài biển khơi Anh tâm niệm phục vụ đất nước bằng cách “khai thác biển vàng biển bạc, xây dựng đất nước ngày một giàu mạnh, sánh vai cùng các nước khắp năm châu bốn biển” Nhưng biển ngày càng bị con người xâu xé, khai thác đến cạn kiệt Kết cục tàn lụi của Quốc doanh đánh cá là điều dễ dàng đoán định, khi chúng ta không ý thức được khai thác đi liền với gìn giữ, đánh bắt cùng cần phải bảo vệ tài nguyên; mặc sức vơ vét tận cùng, biển sẽ nổi giận qua những đợt giông bão, sóng thần, thủy triều đỏ, và cá tôm cũng sẽ vơi dần

3.1.2.2 Thái độ thờ ơ trước cuộc khủng hoảng môi trường

Nguyễn Khắc Phê đã lí giải cuộc chiến đấu bảo vệ rừng

trong Thập giá giữa rừng sâu sở dĩ không cân sức và có một kết cục

bất hợp lí cũng vì lòng tham và sự vô cảm của rất nhiều người Bá mang chức danh là hạt trưởng Hạt kiểm lâm nhưng chính y lại đi bán rừng và quên đi nhiệm vụ chính của mình là phải bảo vệ rừng Với tâm lí thờ ơ và hám lợi, Bá bị đồng tiền của lâm tặc điều khiển và trượt dài trên con đường tha hóa Ngay cả những người dân làng Sim,

họ cũng hết sức buông xuôi, vì “đã quen coi mọi thứ trong rừng núi

là của trời đất, như cát dưới lòng sông, như nước mưa, như nắng, chẳng của riêng ai và dùng nhiều hay ít chẳng làm hại ai” Nên có bi quan không khi Nguyễn Khắc Phê tự đặt một câu hỏi nhói lòng:

“Chẳng lẽ con người càng văn minh, càng ngu ngốc, vô đạo sao?”

Khai thác những trạng huống phản diện, tiêu cực trong cách hành xử với tự nhiên của con người từ sau Đổi mới, các nhà văn không

cố tình làm mất đi những giá trị người, chỉ là để thấy một thực tế đã và đang diễn ra trước những tương tác, va chạm của thế giới người và thế giới bên-ngoài-con-người Trong sự va chạm, tương tác ấy, nhiều tổn thất, nguy hại đã xảy đến với tự nhiên, mà một phần nguyên nhân chính là do sự “ngây thơ”, bàng quan, quan liêu, tư lợi của con người Vấn đề mơ hồ sinh thái sẽ còn tiếp diễn nếu chúng ta không thức tỉnh

và thay đổi nhận thức toàn bộ cộng đồng Charles Wells đã nói:

Trang 14

“Chúng ta chỉ có thể thay đổi thế giới bằng cách thay đổi con người” Tiếng nói tôn trọng sinh mệnh và bảo vệ tự nhiên của từng cá nhân riêng lẻ sẽ chìm dần trong bất lực và yếu đuối Sự kết nối và san sẻ của tất cả mọi người là điều cần thiết

3.2 Kiểu nhân vật nạn nhân sinh thái – hậu quả của văn minh

3.2.1 Nông dân, người nghèo và sự gợi mở sinh thái giai cấp

Quan sát, một vòng luẩn quẩn có tính quy luật trong đời sống của nông dân và người nghèo được diễn ra, lặp lại trong tiểu thuyết từ sau Đổi mới: Đói khổ  Bóc lột tự nhiên  Thoát khỏi đói khổ  Tha hóa, sa ngã  Đói khổ Chúng tôi gọi mô hình này là Chu trình Sinh thái đói nghèo Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến cuộc sống khốn cùng của nhân dân, như dịch bệnh, dân số đông, trình độ dân trí thấp, những bất cập trong chính sách quản lí của nhà nước, thiên tai,… Trong số đó, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến những hậu quả do sự tác động của con người đối với thiên nhiên khiến cho người dân khó thoát khỏi cảnh đói nghèo

Nhưng điều quan trọng của sinh thái giai cấp là “sự áp bức của con người đối với tự nhiên bao giờ cũng đi kèm với sự áp bức của con người đối với con người trong xã hội” Bởi trong quá trình chiếm đoạt tự nhiên, những người làm chủ, có tiền, có quyền luôn được hưởng lợi nhiều nhất Đối với người nghèo, người làm thuê, họ

thường chịu thua thiệt và hẩm hiu Sùng Chúa Đà trong Chúa Đất

(Đỗ Bích Thúy) là kẻ “vừa giàu có, vừa độc ác” Hắn đã dùng sức mạnh quyền lực của mình để bắt dân làng trồng cây thuốc phiện thay

vì trồng cây lương thực.Bởi sau mỗi vụ anh túc, Chúa đất lại thu về rất nhiều bạc trắng Nhưng “bạc trắng vào nhà chúa đất một trăm đồng thì chưa chắc vào nhà người trồng anh túc được một đồng”

Nên cả một vùng núi, nông dân đói khổ, lầm than Biển và chim bói

cá của Bùi Ngọc Tấn lại phản ánh trong cuộc mưu sinh khó nhọc,

người nghèo luôn phải nỗ lực hết mình lao động, khai thác nhiên nhiên bằng máu, nước mắt, mồ hôi Nhưng kết quả họ thu về đều phải san sẻ cho người quyền thế hơn

Qua quá trình miêu tả cuộc chiến đấu, sinh tồn của con người trước thiên nhiên, các tiểu thuyết gia Việt Nam bắt đầu chú ý đến mối tương quan trong sự phân cấp giữa nông dân/ địa chủ, người giàu/

Trang 15

người nghèo Bất bình và phản đối những hành động xâm phạm nghiêm trọng đến tự nhiên, nhiều nhà văn chủ trương bình đẳng môi sinh và giai cấp, thay đổi cách ứng xử giữa con người – con người sẽ góp phần nhỏ trong việc thay đổi cách ứng xử với thế giới thiên

nhiên Màu rừng ruộng (Đỗ Tiến Thụy), Gần như là sống (Đỗ Phấn), Biển và chim bói cá (Bùi Ngọc Tấn), Sông (Nguyễn Ngọc Tư), Chúa đất (Đỗ Bích Thúy), Thiên đường ảo vọng (Nguyễn Trí)… là những

tiểu thuyết đã thể hiện tinh thần như thế

3.2.2 Thị dân, trí thức và làn sóng sinh thái đô thị

Hướng đến một đời sống tinh thần an nhiên, với người thành phố là điều quá khó khăn Họ tự phản biện lại sự lựa chọn cuộc sống của chính mình: “chẳng hiểu đô thị có những gì mà giàu sức quyến rũ đến thế?” Vì khi làm dân phố nghĩa là tự nhốt mình vào những căn

hộ tập thể chật chội, đông đúc trong các tòa nhà quanh năm không thấy ánh mặt trời, là chen chúc mệt nhoài trên những con đường mù bụi luôn tắc vào giờ cao điểm, là hiếm hoi thưởng thức những món

ăn đậm tình quê; và chỉ mỗi thuận lợi là “ra đường chẳng phải chào

hỏi nhau như ở làng” Xuyên suốt tiểu thuyết Nhắm mắt nhìn trời

(Nguyễn Xuân Thủy) là quá trình Nguyễn trăn trở, cố gắng gìn giữ phẩm giá của một công chức quèn Sống giữa những đổ vỡ, lạc lối của nhiều số phận trong vòng xoáy đồng tiền, Nguyễn mang bi kịch của một nhà văn có lương tâm, không thể làm ngơ trước mọi vấn nạn xã hội Tách biệt khỏi các điều kiện tự nhiên và đối mặt với khói bụi thành phố, với không gian thiếu cây xanh, Nguyễn nhận ra, “con người nhỏ bé cứ bị chìm xuống mãi dưới đáy những huyệt mộ, như những con bọ gậy loe ngoe thống khổ và bất lực bơi trong thứ nước lờ nhờ cống rãnh Nghẹt thở”

3.2.3 Nữ giới và những thấu chạm sinh thái nữ quyền

Nếu tự nhiên được xem là nguồn sống nuôi dưỡng cho sự tồn sinh của con người, thì phụ nữ lại mang thiên chức “sản sinh”, “chăm sóc” Vai trò của nữ giới thể hiện ở hành động bảo bọc, chở che, nâng

đỡ mọi sinh linh, chứ không chỉ riêng mình con người Trong Trăm năm còn lại (Trần Duy Phiên), khi xây dựng nhân vật người chồng

đầy lòng tham, bản năng và thú tính, nhà văn lại để cho hình ảnh một

Ngày đăng: 18/04/2021, 02:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm