Luận án Sự thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 chỉ ra những đổi mới trong việc thể hiện số phận con ngƣời trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, xem đây nhƣ là một phƣơng diện cốt lõi của sự đổi mới tƣ duy và nghệ thuật tiểu thuyết; từ đó có cơ sở nhìn nhận, đánh giá quy luật vận động của văn xuôi nói chung, tiểu thuyết nói riêng ở một giai đoạn mà nó buộc phải đổi mới sau khi đã hoàn thành những nhiệm vụ trọng đại trƣớc lịch sử, dân tộc và nhân dân. Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS ĐINH TRÍ DŨNG
2 PGS.TS PHAN HUY DŨNG
NGHỆ AN - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,
kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kì một công trình nào khác
Nghệ An, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận án
Lê Thị Hằng
Trang 4Trang
LỜI CAM ĐOAN 1
MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN 5
8 CẤU TRÚC LUẬN ÁN 5
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 6
1.1 Việc nghiên cứu sự thể hiện số phận con người trong văn xuôi Việt Nam hiện đại nói chung 6
1.1.1 Nghiên cứu sự thể hiện số phận con người trong văn học Việt Nam hiện đại trước 1975 6
1.1.2 Nghiên cứu sự thể hiện số phận con người trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 9
1.2 Việc nghiên cứu sự thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 13
Tiểu kết chương 1 17
Chương 2 NHỮNG TIỀN ĐỀ XÃ HỘI, THẨM MỸ CỦA VIỆC QUAN TÂM THỂ HIỆN SỐ PHẬN CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1975 18
2.1 Thể loại tiểu thuyết và sự thể hiện số phận con người 18
2.1.1 Số phận con người - đối tượng thể hiện đặc biệt của văn học 18
2.1.2 Ưu thế của tiểu thuyết trong việc thể hiện số phận con người 23
2.1.3 Số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam trước 1975 24
2.2 Tiền đề xã hội - thẩm mỹ của sự đổi mới cách nhìn nhận và thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 28
2.2.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội 28
2.2.2 Tiền đề văn hóa - thẩm mỹ 33
2.3 Tổng quan về sự thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 50
2.3.1 Chặng đường mới của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 50
2.3.2 Sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người 55
Trang 52.3.3 Những định hướng lớn trên vấn đề thể hiện số phận con người 57
Tiểu kết chương 2 64
Chương 3 NHỮNG BÌNH DIỆN CHỦ YẾU CỦA SỐ PHẬN CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1975 65
3.1 Số phận con người giữa những lựa chọn khó khăn của đời sống chiến tranh 65
3.1.1 Quan hệ éo le giữa số phận dân tộc và số phận con người 65
3.1.2 Cái giá của những lựa chọn vươn theo các chuẩn mực phi thường 67
3.1.3 Sự tiêu mòn nhân tính trong chiến tranh và vì chiến tranh 70
3.2 Số phận con người giữa muôn mặt phức tạp của đời thường 80
3.2.1 Bi kịch của việc kém thích ứng 80
3.2.2 Bi kịch của việc thích ứng vội vàng mà thiếu hụt căn bản văn hóa 90
3.2.3 Bi kịch của sự nhầm lẫn trong đi tìm và xác lập bảng giá trị mới 96
3.3 Số phận con người trong việc khẳng định những gì thuộc về bản thể 100
3.3.1 Số phận con người qua việc đấu tranh khẳng định cá tính 101
3.3.2 Số phận con người qua việc khẳng định những nhu cầu bản năng 106
3.3.3 Số phận con người qua việc khẳng định những lựa chọn riêng về mặt tư tưởng 113 Tiểu kết chương 3 118
Chương 4 CÁC PHƯƠNG THỨC, PHƯƠNG TIỆN THỂ HIỆN SỐ PHẬN CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1975 119
4.1 Nghệ thuật tổ chức xung đột 119
4.1.1 Tư duy mới về xung đột trong đời sống xã hội và trong cấu trúc tác phẩm119 4.1.2 Tô đậm xung đột giữa con người với hoàn cảnh 121
4.1.3 Xoáy sâu vào xung đột giữa các bộ phận cấu thành nhân cách 125
4.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 127
4.2.1 Biệt loại hóa các nhân vật 127
4.2.2 Nhấn mạnh sự chưa hoàn kết của số phận nhân vật 134
4.2.3 Quan tâm tới tính phiêu lưu, trải nghiệm của nhân vật 137
4.3 Nghệ thuật tổ chức hệ thống điểm nhìn, giọng điệu và ngôn ngữ 140
4.3.1 Đa dạng hóa hệ thống điểm nhìn về số phận con người 140
4.3.2.Linh hoạt trong việc phối trí các sắc thái giọng điệu khi miêu tả số phận con người148 4.3.3 Quan tâm đến tính đa thanh của ngôn ngữ trong việc thể hiện số phận con người154 Tiểu kết chương 4 157
KẾT LUẬN 159
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 162
TÀI LIỆU THAM KHẢO 163
DANH MỤC TÁC PHẨM NGHIÊN CỨU 176
Trang 6MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Sau chiến tranh, đất nước từ hoàn cảnh thời chiến chuyển sang thời bình với yêu cầu đổi mới, dân chủ hóa mọi mặt của đời sống xã hội Đặc biệt, Nghị quyết
05 của Bộ Chính trị Đảng cộng sản Việt Nam (1987) đã mở ra một cách nhìn mới về
vị trí và chức năng của văn nghệ Là bộ phận nhạy cảm nhất của ý thức xã hội, văn học nghệ thuật hưởng ứng kịp thời và hết sức mạnh mẽ đường lối đổi mới của Đảng Các nhà văn sáng tác trong giai đoạn này thường bộc lộ những tìm tòi và chính kiến khác các nhà văn giai đoạn trước hoặc là khác với chính bản thân mình Sự đổi mới đó phù hợp với quy luật phát triển khách quan và cần được nghiên cứu
Trong lịch sử phát triển của văn học nhân loại, ở mỗi thời kỳ, các nhà văn thường xuyên xem xét lại quan niệm về con người và cuộc sống xuất phát từ yêu cầu của thời đại mình, lý giải chúng theo yêu cầu của hiện tại Những vấn đề tưởng như ổn định, đã trở thành chân lý với thời đại trước vẫn có thể trở thành những dấu hỏi, những vấn đề đáng bàn luận ở thời đại sau Văn xuôi Việt Nam sau 1975 không nằm ngoài quy luật
ấy Đây là thời kỳ văn xuôi Việt Nam nói chung, tiểu thuyết Việt Nam nói riêng đào sâu vào nhiều tầng vỉa của đời sống, nhìn nhận lại nhiều vấn đề về con người và gặt hái được nhiều thành tựu, trở thành đối tượng hấp dẫn đối với nghiên cứu khoa học
1.2 Tiểu thuyết là thể loại quan trọng bậc nhất trong văn xuôi hiện đại, có khả năng khám phá cuộc sống ở cả chiều sâu và chiều rộng Đây là một thể loại đạt khá nhiều thành công khi thể hiện số phận con người, bởi nó có những ưu thế mà không một thể loại nào có được (bởi đây là thể loại "năng động” nhất, là hình thức tự sự cỡ lớn, có khả năng tái hiện sâu rộng bức tranh hiện thực đời sống và đi sâu khám phá đời
tư, tâm hồn con người một cách "tinh vi” nhất )
Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, đặc biệt là từ năm 1986 đã có những bước chuyển biến lớn lao với sự xuất hiện của nhiều cây bút xuất sắc Các tiểu thuyết tiêu biểu giai đoạn này đã mở ra những cách nhìn mới đa dạng, phong phú, nhiều chiều về
số phận con người Khảo sát tiểu thuyết sau 1975, chúng ta thấy phần lớn các sáng tác
có sự gặp gỡ ở sự nhạy cảm với nỗi buồn, sự mất mát, những nghịch lý của số phận con người Chiến tranh không còn được nhìn bằng cái nhìn ngợi ca lãng mạn mà thay vào đó, những góc khuất đen tối, đau thương của chiến tranh bắt đầu được bày lên trang viết Những trang văn viết về thời hậu chiến đã xoáy sâu vào những bi kịch của
số phận con người Tuy nhiên, sự thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết lại chưa
có nhiều công trình qui mô nghiên cứu Hầu hết các công trình nghiên cứu thường chỉ dừng lại ở các tác giả, tác phẩm cụ thể, trên những vấn đề cụ thể Chúng tôi mong
Trang 7muốn có thể đem đến cho người đọc một cái nhìn có tính hệ thống về mảng tiểu thuyết viết về số phận con người sau 1975 với các đặc điểm cơ bản và những biến đổi mang tính đặc thù của nó, góp phần làm rõ hơn quy luật vận động nội tại của văn xuôi nói chung và tiểu thuyết nói riêng giai đoạn sau năm 1975
1.3 Sự thay đổi trong cách thể hiện về số phận con người làm biến đổi mọi bình diện của sáng tác, từ cảm hứng, chủ đề, hệ thống nhân vật đến cơ cấu thể loại Các chủ đề gắn với cảm hứng nhận thức lại được tập trung khai thác Việc xây dựng nhân vật không còn đi theo nguyên tắc điển hình hóa mà chú trọng vào khám phá tính
cá thể, cá biệt, phức tạp của nhân cách Tư duy thể loại cũng biến chuyển rõ rệt kéo theo nhiều thủ pháp, kĩ thuật mới lạ, hiện đại trong nghệ thuật trần thuật, ngôn ngữ, giọng điệu, Mấu chốt của những đổi mới này suy cho cùng đều xuất phát từ ý thức
về cá nhân và quan niệm về số phận con người Sự thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 vì vậy là đối tượng khảo sát, nghiên cứu thực sự cần thiết, giúp tiếp cận và lí giải yếu tố cơ bản chi phối sự biến đổi nội dung và hình thức nghệ thuật của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
1.4 Sự thể hiện số phận con người không chỉ là vấn đề của văn học hôm nay
Đó là sự tiếp nối một nguồn mạch quan trọng mang tính nhân bản của lịch sử văn học dân tộc đã manh nha từ văn học trung đại Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử, có giai đoạn số phận con người cá nhân bị phủ định, khước từ để thay thế bằng kiểu con người tập thể Sự quan tâm thể hiện số phận con người sau 1975 tiếp nối tinh thần nhân bản của truyền thống văn học dân tộc, gắn với quá trình trưởng thành nhân cách trong những điều kiện văn hóa, lịch sử mới
1.5 Tiểu thuyết sau 1975 hiện có mặt và ngày càng có vị trí đáng kể trong chương trình văn học ở nhà trường phổ thông và đại học Việc nghiên cứu sự thể hiện
số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 do đó không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn mang tính thời sự, tính thực tiễn đối với người học văn, người dạy văn vì nó cung cấp cơ sở lý luận cho việc xác lập các tiêu chí đánh giá văn học từ lập trường nhân bản và dân chủ
Với những lý do căn bản trên, chúng tôi lựa chọn đề tài Sự thể hiện số phận con
người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 làm đề tài nghiên cứu của luận án
2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là chỉ ra những đổi mới trong việc thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, xem đây như là một phương diện cốt lõi của sự đổi mới tư duy và nghệ thuật tiểu thuyết; từ đó có cơ sở nhìn nhận, đánh giá quy luật vận động của văn xuôi nói chung, tiểu thuyết nói riêng ở một giai đoạn mà nó
Trang 8buộc phải đổi mới sau khi đã hoàn thành những nhiệm vụ trọng đại trước lịch sử, dân tộc và nhân dân
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đã đề ra, luận án hướng đến thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau:
2.2.1 Tìm hiểu những tiền đề xã hội, thẩm mỹ của việc quan tâm thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
2.2.2 Khảo sát những biểu hiện cụ thể của sự thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, so sánh sự thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 với tiểu thuyết Việt Nam trước 1975, nhất là giai đoạn 1945 - 1975
2.2.3 Nêu và phân tích hệ thống phương thức, phương tiện nghệ thuật gắn với việc thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Như tên đề tài đã xác định, đối tượng nghiên cứu của luận án là sự thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 Xác định đối tượng nghiên cứu như vậy, đề tài của chúng tôi hướng tới phân tích, lý giải những tiền đề dẫn đến việc quan tâm thể hiện số phận con người chi phối sự vận động, phát triển của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975; đặc biệt chú trọng khảo sát những nội dung chủ yếu của sự thể hiện số phận con người; hệ thống các phương thức, phương tiện biểu hiện đi cùng với
sự thay đổi đó như nghệ thuật tổ chức xung đột, nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật tổ chức điểm nhìn, giọng điệu và ngôn ngữ của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Luận án tập trung nghiên cứu các tiểu thuyết sau 1975, đặc biệt là từ 1986 đến nay Đây là thể loại tiêu biểu, đạt được nhiều thành tựu nhất trong văn xuôi Do số lượng tác phẩm của thể loại này quá lớn, luận án dành sự ưu tiên cho những sáng tác nổi bật, có ý thức tự giác trong việc nhìn nhận và thể hiện số phận con người Trong số
đó, chúng tôi quan tâm tới các tác phẩm đã đạt các giải thưởng (Hội Nhà văn, Bộ Quốc phòng ); các tác phẩm được dư luận quan tâm, ở đó có những thành công, đổi mới
trong cách thể hiện số phận con người Cụ thể: Miền cháy (Nguyễn Minh Châu, 1977),
Nắng đồng bằng (Chu Lai, 1977), Trong cơn gió lốc (Khuất Quang Thụy, 1978), Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh, 1979, 1984); Năm 1975, họ đã sống như thế (Nguyễn Trí
Huân, 1979), Họ cùng thời với những ai (Thái Bá Lợi, 1981), Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng, 1985), Thời xa vắng (Lê Lựu, 1986), Thân phận tình yêu (Nỗi buồn
chiến tranh - Bảo Ninh, 1987), Vòng tròn bội bạc (Chu Lai, 1987), Chim én bay
(Nguyễn Trí Huân, 1988), Đám cưới không có giấy giá thú (Ma Văn Kháng, 1989),
Góc tăm tối cuối cùng (Khuất Quang Thụy, 1989), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài, 1989),
Trang 9Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai, 1991), Ba lần và một lần (Chu Lai, 1999), Không phải trò đùa (Khuất Quang Thụy, 1999), Trí nhớ suy tàn (Nguyễn Bình Phương, 2000), Đại tá không biết đùa (Lê Lựu, 2001), Những bức tường lửa (Khuất Quang Thụy, 2004), Thiên thần sám hối (Tạ Duy Anh, 2004), Thoạt kỳ thủy (Nguyễn Bình Phương, 2005), Luật đời và cha con (Nguyễn Bắc Sơn, 2005), Dòng sông mía (Đào Thắng, 2006), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo, 2007), Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh, 2007), Tiểu thuyết đàn bà (Lý Lan, 2008), Cõi người rung chuông tận thế (Hồ Anh Thái, 2008), China Town, Vân Vy (Thuận, 2009), Quyên (Nguyễn Văn Thọ, 2009), Đức Phật, nàng Savitri
và tôi (Hồ Anh Thái, 2010), Gia đình bé mọn (Dạ Ngân, 2010), Tiền định (Đoàn Lê,
2010), Những đứa trẻ chết già (Nguyễn Bình Phương, 2013)
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này, luận án sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp lịch sử:
Chúng tôi đặt tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 viết về số phận con người trong bối cảnh đổi mới của xã hội Việt Nam nói chung và đổi mới văn học nói riêng Chúng tôi cũng đặt tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 trong dòng chảy chung của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại viết về số phận con người để thấy được sự kế thừa, những chuyển biến, đổi mới, những nét riêng biệt
- Phương pháp cấu trúc - hệ thống:
Chúng tôi xem xét đối tượng nghiên cứu như một hiện tượng có tính hệ thống, trong đó các tiểu thuyết sau 1975 quan tâm thể hiện số phận con người là một hệ thống nhỏ, nằm trong một hệ thống lớn hơn là các tiểu thuyết sau 1975 Hệ thống này lại nằm trong một hệ thống khác là văn xuôi nói riêng, văn học sau 1975 nói chung đang
vận động đổi mới
- Phương pháp so sánh – đối chiếu:
Phương pháp này giúp chúng tôi liên hệ, tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa
sự thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết giai đoạn sau 1975 với các tiểu thuyết viết trước 1975, đặc biệt là tiểu thuyết giai đoạn 1945 - 1975, một số tiểu thuyết của các tác giả nước ngoài viết về số phận con người
Trang 10Chúng tôi còn cố gắng vận dụng một số lý thuyết nghiên cứu văn học để giải quyết đề tài như: thi pháp học, tự sự học, liên văn bản nhằm đáp ứng tốt hơn mục tiêu của luận án
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
6.1 Luận án là công trình nghiên cứu một cách hệ thống về sự thể hiện số phận
con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 trên cả hai phương diện: những nội
dung cụ thể của vấn đề số phận con người thể hiện trong tiểu thuyết và hệ thống phương thức, phương tiện thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau
1975 Từ đó, luận án góp phần lý giải những thành công, quy luật vận động đổi mới của văn xuôi nói chung, tiểu thuyết nói riêng giai đoạn từ 1975 đến nay
6.2 Từ việc nghiên cứu sự thể hiện số phận con người, luận án góp phần khẳng định sự đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 ở góc độ cái nhìn, tư duy nghệ thuật về con người Luận án, do đó cũng gợi mở một số vấn đề lý luận về sự đổi mới, cách tân trong văn học hiện đại nói chung, tiểu thuyết hiện đại nói riêng
6.3 Luận án cũng góp phần khẳng định nỗ lực của các nhà văn Việt Nam sau
1975 trong việc tạo ra những cách thức biểu đạt mới gắn liền với những nhận thức, quan niệm mới, nhân văn về số phận con người
7 CẤU TRÚC LUẬN ÁN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận
án được triển khai trong 3 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2 Những tiền đề xã hội, thẩm mỹ của việc quan tâm thể hiện số
phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 Chương 3 Những bình diện chủ yếu của số phận con người trong tiểu thuyết
Việt Nam sau 1975 Chương 4 Các phương thức, phương tiện thể hiện số phận con người trong
tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Việc nghiên cứu sự thể hiện số phận con người trong văn xuôi Việt Nam hiện đại nói chung
1.1.1 Nghiên cứu sự thể hiện số phận con người trong văn học Việt Nam hiện đại trước 1975
Văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng của Việt Nam thời hiện đại đã trải qua một hành trình gồm nhiều chặng với những đặc điểm phát triển khác nhau Chỉ tính từ đầu thế kỉ XX đến 1975, nền văn học, nền tiểu thuyết ấy đã trải qua nhiều giai đoạn với những quan niệm khác nhau về con người
Nhiều công trình nghiên cứu về văn học giai đoạn 1930 - 1945 đã chỉ ra những điểm mới mẻ trong cách nhìn nhận con người trong các sáng tác của các tác giả hiện
thực phê phán, trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, Thơ mới Giáo trình Văn học Việt
Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945 của nhóm tác giả Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu,
Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức đã dành nhiều trang bàn về số phận con người trong sáng tác của các nhà văn hiện thực Về tiểu thuyết hiện thực, các tác giả khẳng định: "Tiểu thuyết đã đề cập đến những vấn đề chính trị, xã hội quan trọng, tố cáo mãnh liệt những thủ đoạn áp bức bóc lột, những chính sách mị dân
giả dối đã nói lên nỗi thống khổ của người công nông” [62, tr.348] Giáo trình Văn
học Việt Nam hiện đại (từ đầu thế kỷ XX đến 1945) của Trần Đăng Suyền, Nguyễn
Văn Long đã có sự đối sánh cách nhìn về con người giữa hai trào lưu hiện thực và lãng mạn: "Khuynh hướng lãng mạn hướng vào thể hiện cái tôi cá nhân, cá thể với đời sống nội tâm tràn đầy tình cảm cảm xúc Con người của chủ nghĩa lãng mạn có ý thức sâu sắc về cá nhân, cá tính, thường bất hòa với hiện thực xã hội Khuynh hướng hiện thực chú trọng quan sát, khám phá và lý giải hiện thực khách quan, đặc biệt là mâu thuẫn và xung đột xã hội” [166, tr.25] Trong các tác giả hiện thực phê phán, nhiều nhà nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của Nam Cao, người đã thể hiện được "nỗi đau xót của con người ở bước đường cùng, bị tàn phá cả về thể xác và linh hồn, đã đặt ra khẩn thiết vấn đề quyền sống và sự phát triển của con người trong một xã hội vô cùng ngột ngạt” (Trần Đăng Suyền, Nguyễn Văn Long)
Nhiều công trình nghiên cứu về Thơ mới (của Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Lê Đình Kỵ) khẳng định con người cá nhân, những nỗi niềm riêng, trong đó có "nỗi buồn đau mang tính chất cá nhân” là điểm mới mẻ mà Thơ mới đem đến cho thi đàn Trong
một chuyên luận, tác giả Lê Thị Dục Tú quan tâm nghiên cứu Quan niệm về con người
trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn Tác giả đã khẳng định văn chương Tự lực văn đoàn
Trang 12có cách hiểu và cách quan niệm riêng về con người cá nhân "Sự tập trung miêu tả những đột phá của con người cá nhân là chỗ mạnh và cũng là chỗ yếu của văn học Tự lực văn đoàn” [206, tr.18] Ý thức hướng tới một cuộc đời mới với một quan niệm sống mới là ý thức thường trực ở hình tượng con người trong tiểu thuyết – truyện ngắn
Tự lực văn đoàn Quan niệm sống mới đó, theo tác giả, được tập trung ở ba cấp độ Thứ nhất, là sự tung phá những ràng buộc của gia đình phong kiến để khẳng định quyền sống của con người cá nhân về mặt xã hội Thứ hai, là sự khẳng định ý thức cá nhân bằng những lối thoát trong tình yêu, trong thế giới nội tâm hay trong ước mơ không tưởng về cải cách xã hội Thứ ba, là con người cá nhân cực đoan với nhu cầu giải phóng bản năng, đứng trên hoặc bất chấp các quan hệ xã hội
Một số công trình quan tâm đến việc thể hiện số phận con người trong trong
văn học và tiểu thuyết giai đoạn 1945 - 1975 Nguyễn Văn Long với Quan niệm nghệ
thuật về con người và những đặc điểm của sự thể hiện con người trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 [126], đã chỉ ra sự xuất hiện của con người mới trong ba
chặng đường văn học: 1945 - 1954 (con người tập thể); 1954 - 1964 (con người mới);
1964 - 1975 (con người sử thi) ở cả truyện và ký Theo tác giả, văn học 1945 - 1954,
bởi yêu cầu của cách mạng và kháng chiến, "chưa xem xét con người như một cá
nhân, nó khám phá và phát hiện con người tập thể ( ) Đây không phải là sự trở lại
với con người loại hình trong văn học dân gian hay văn học trung đại Quan niệm con người tập thể của văn học 1945 - 1954 mang tính đặc thù của một thời đại là khi con người được thức tỉnh về sức mạnh của cộng đồng và khi quần chúng nhân dân đông đảo được tập hợp vào các tổ chức của mình" [126, tr.23]; con người trong mười năm
tiếp theo là con người mới và chưa được chú ý khi xây dựng những tính cách riêng,
"nhân vật chưa tách khỏi đám đông mà hòa tan vào tập thể"; và "trong quan niệm điển hình ở thời kỳ này, cả trong lí luận và trong thực tiễn sáng tác, chúng ta có thể thấy là còn chưa coi trọng đúng mức phương diện cá tính, nét riêng độc đáo" [126, tr.29]; Quan niệm nghệ thuật về con người trong thời gian chống Mỹ "là sự tiếp tục của quan niệm con người trong hai mươi năm trước đó, nhưng được phát triển tập trung vào một
hướng lớn và đi tới đỉnh cao của nó là quan niệm con người sử thi" [126, tr.37] Và do
vậy, sự thể hiện con người ấy "không tránh khỏi tính phiến diện, tính đơn giọng điệu" [126, tr.44]
Phùng Ngọc Kiếm với chuyên luận Con người trong truyện ngắn Việt Nam
1945 - 1975 (bộ phận văn học cách mạng) đã khẳng định con người quần chúng trong
văn học giai đoạn 1945 - 1975 là “con người trong sự gắn bó với lý tưởng xã hội tốt đẹp và khoa học, với lực lượng cộng đồng, với ý thức tự giác thực hiện nhiệm vụ cách mạng [108, tr.53-54] Tác giả khẳng định văn học giai đoạn này xây dựng con người
Trang 13cụ thể không phải để kể về số phận con người mà để khai thác những khía cạnh nội dung của cuộc sống xã hội, ý thức giai cấp, ý thức dân tộc cho nên ở thể loại truyện ngắn, người viết tuy đã có sự nhận thức về con người cá nhân nhưng vấn đề này lại được đặt trong mối liên hệ có tính chất “giai cấp tính” Những biểu hiện của quan niệm
về con người ấy được tác giả phân tích, luận giải một cách kỹ lưỡng và thuyết phục trên nhiều bình diện, từ tiền đề xã hội, thẩm mỹ (hai cuộc kháng chiến và công cuộc cải tạo, xây dựng chủ nghĩa xã hội) đến mô tả nội dung, quan niệm và sự thể hiện nó trong từng giai đoạn Cũng cần nhấn mạnh thêm rằng, bên cạnh việc chỉ ra những đặc điểm của con người sử thi và những dạng thức biểu hiện của nó, nhà nghiên cứu còn chỉ ra "sự thức nhận về con người cá nhân trong truyện ngắn 1945 - 1975" Tác giả cho rằng có một kiểu con người cá nhân được thức nhận qua những đặc điểm và nhu cầu tự nhiên, đó là "con người với nhu cầu tự khẳng định mình như một cá nhân", [108, tr.132], là "con người cá nhân với nhu cầu được hưởng hạnh phúc" [108, tr.139] Bên cạnh đó con người cá nhân còn được thức nhận qua những mất mát đau thương: mất mát cá nhân như là nỗi đau khôn nguôi; những nỗi đau thể chất Đó là kiểu con người
"sống sâu sắc nỗi đau riêng trong những căm thù chung" [108, tr.147], là mất mát quê hương, mất mát gia đình, "con người với những sai lầm cá nhân" [108, tr.153], là những thương tật phải chịu do bom đạn Theo tác giả, con người cá nhân trong truyện ngắn giai đoạn này còn thể hiện qua những hiện tượng lạ, thói xấu phức tạp, tiêu cực, thể hiện ở những con người sống tách mình ra khỏi cuộc sống chung của dân tộc, những người muốn sống lại thời cũ, những người có biểu hiện lầm lạc
Về phương thức biểu hiện, Phùng Ngọc Kiếm cho rằng "có những trường hợp tác giả nhập vào nhân vật để khám phá và thể hiện cách nhìn riêng của con người về những đau đớn thể xác của mình" [108, tr.159]; các tác giả cũng đã có những nỗ lực trong việc miêu tả thế giới bên trong của nhân vật với nhận định: "Việc chú ý thể hiện những diễn biến nội tâm phong phú của nhân vật không chỉ chứng tỏ cách nhìn mới của nhà văn về đề tài cũ, mà còn chứng tỏ khả năng nắm bắt và lí giải con người sát với cuộc sống hơn" [108, tr.227]; có những trường hợp "vấn đề nảy sinh trong thế giới nội tâm của nhân vật không bắt đầu từ ý thức về những đòi hỏi của tập thể, của những nhiệm vụ chung, mà từ ý thức về cá nhân " [108, tr.242], và "có thể thấy các tác giả truyện ngắn giai đoạn 1945 - 1975 đã từng bước tìm tòi làm phong phú cho quan niệm
về thế giới nội tâm nhân vật Đặc biệt từ sau 1954 đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, họ
đã dần dần đi sâu khám phá, thể hiện được ý thức về cá nhân, về chủ thể như một mặt hoạt động, một nội dung chi phối những diễn biến nội tâm và quá trình tâm lí của nhân vật Điều đó chứng tỏ các nhà văn vừa quan niệm "con người bình thường" đầy đủ và sâu sắc hơn, vừa miêu tả phong phú và chân thực hơn chân dung tinh thần của người
Trang 14Việt Nam đánh Mỹ" [108, tr.244]
Chúng ta còn có thể thấy vấn đề con người được quan tâm trong nhiều công trình, bài viết của các tác giả khác như Trần Đình Sử, Phong Lê, La Khắc Hòa, Vũ Tuấn Anh, Phan Cự Đệ, Hoàng Ngọc Hiến, Lê Ngọc Trà Tuy nhiên, như chúng tôi
đã nói, những công trình của họ thường không đặt vấn đề tìm hiểu sự thể hiện số phận con người trong văn học giai đoạn này với tư cách là một đối tượng chuyên biệt, mà chủ yếu như một vấn đề "tạt qua" để so sánh, hay làm dẫn chứng minh họa cho một ý tưởng nào đó trong mạch lập luận của mình Có một điều không thể không nhắc đến,
là khi nghiên cứu sự thể hiện con người trong văn học giai đoạn 1945 - 1975, thái độ đánh giá của các tác giả cũng có những điểm khác nhau nhất định: có người vẫn khẳng định tuyệt đối các thành tựu của văn học giai đoạn này, có người bắt đầu chỉ ra những hạn chế, nhược điểm của nó Điều này, xét đến cùng, là quy luật bình thường của sự tiếp nhận văn học
1.1.2 Nghiên cứu sự thể hiện số phận con người trong văn xuôi Việt Nam sau 1975
Đến năm 1975, văn học về cơ bản hoàn thành sứ mệnh phục vụ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước theo yêu cầu của lịch sử Tuy nhiên, cũng như quy luật của đời sống nói chung, vấn đề tái nhận thức chính bản thân của văn học được đặt ra một cách khá ráo riết Điều đó trở thành một niềm hối thúc hơn nữa khi, không đợi đến chiến tranh kết thúc, mà trước đó, đã từng có người viết trăn trở về thực trạng của nền sáng tác thời chiến Nguyễn Minh Châu từ trước 1975 đã có những suy tư về câu chuyện này và sau 1975 lại là người đầu tiên cật vấn nhiều thiếu sót của nền văn học, trong đó có cách xử lý của nhà văn về các vấn đề liên quan đến sự thể hiện con người, về mối quan hệ con người với lịch sử, với hiện thực Ông viết, trong tiểu luận
Viết về chiến tranh: “Các nhân vật thường có khuynh hướng được mô tả một chiều
thường là quá tốt, chưa thực Hình như tất cả những mặt tính cách đa dạng phải phơi bày trong đời sống thực thì lại có thể giấu mình trên trang sách” [38] Không phải chỉ
với tiểu luận Viết về chiến tranh, tư tưởng của Nguyễn Minh Châu được thể hiện trong
khá nhiều bài viết của chính ông hoặc trong các trả lời phỏng vấn, các cuộc trò chuyện Tính hệ thống và màu sắc lí luận rất rõ trong các phát biểu ấy là tất yếu, khi nó là sản phẩm của một hành trình suy tư và trải nghiệm nghiêm túc Tiểu luận của Nguyễn Minh Châu đã tác động đến Hoàng Ngọc Hiến, khiến nhà nghiên cứu này nâng những trăn trở về đề tài chiến tranh cách mạng thành sự tổng kết lý luận về một “chủ nghĩa
hiện thực phải đạo” trong bài viết gây nhiều dư luận trái chiều đương thời: Về một đặc
điểm của văn học và nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua [85] Sau đó gần mười
năm, trong không khí Đổi mới, Nguyễn Minh Châu thúc giục một sự đoạn tuyệt cần
Trang 15thiết khi kêu gọi Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa [37] Giữa
hai dấu mốc được tạo lập bởi Nguyễn Minh Châu và Hoàng Ngọc Hiến, tháng 6/1979, Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức một hội nghị nhà văn đảng viên, Nguyên Ngọc trong
tư cách Bí thư Đảng đoàn đã chấp bút và thay mặt Đảng đoàn trình bày Đề cương đề dẫn thảo luận ở Hội nghị đảng viên bàn về sáng tác văn học Bản đề dẫn với hai nội dung chính là “nhìn lại một thời kỳ văn học vừa qua” và “những phương hướng nhiệm
vụ của văn học trong tình hình mới” với ít nhiều quan điểm cấp tiến Đáng tiếc là những yếu tố cấp tiến ấy đã không hội đủ sự ủng hộ để trở thành cương lĩnh hoạt động cho một giai đoạn văn học mới
"Đổi mới", "cởi trói" , những mệnh đề ấy thực sự đã tạo nên một chuyển động quan trọng trong đời sống văn học ở cả bình diện "lập thuyết" và cả ở những nghiên cứu cụ thể Ở bình diện nghiên cứu, có thể nói Trần Đình Sử là một trong những người tiên phong đưa ra những nhận định về con người được phản ánh trong văn học Việt
Nam hiện đại Ở bài "Con người trong văn học Việt Nam sau 1945" [170] in trong cuốn Một thời đại mới trong văn học, sau khi bàn về cách nhìn con người trong văn
học giai đoạn chống Pháp và chống Mỹ, tác giả chỉ ra rằng giai đoạn tiền đổi mới 1975 – 1985, con người vừa là đối tượng để ngợi ca hay phê phán (như giai đoạn văn học trước), vừa là đối tượng để nghiên cứu phân tích nhiều mặt trên cái nhìn mang khuynh hướng đạo đức thế sự Sau chiến tranh, sự nảy nở và phát triển của con người cá nhân,
cá thể, các vấn đề của đạo đức, số phận được đặt ra ngày càng bức thiết Tình hình đó đòi hỏi văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng phải không ngừng tìm tòi những hình thức, phương thức khám phá có chiều sâu hơn Trong bài viết này tác giả cũng đã nhận định: tới năm 1986, vấn đề con người thế sự đời tư và vấn đề triết lý văn hóa mới thực
sự tạo được bước đột phá Vẫn tiếp tục cảm hứng nghiên cứu ấy, trong bài viết Mấy
vấn đề trong quan niệm con người của văn học Việt Nam thế kỷ XX, nhà nghiên cứu
cho rằng con người trong văn học mất dần tính nguyên phiến sử thi mà hiện ra với chiều sâu mâu thuẫn, nhất là trong tình cảm, đạo đức: “Ngoài ý chí, tư tưởng tình cảm còn được khắc họa ở phương diện bản năng, vô thức, tâm linh, nghịch lý” [172, tr.12] Tác giả cho thấy đó là biểu hiện của sự trở lại với con người cá thể, từ đó ông khẳng định ba phạm trù cơ bản phản ánh cái mới, tính độc đáo và quy luật vận động của văn học: ý thức cá nhân, sử thi hóa và phi sử thi hóa
Sáng tạo theo quy luật của văn học thời bình trong tâm thế được "cởi trói" của thời kỳ đổi mới, sự tự do tương đối trong sáng tạo, sự xuất hiện và củng cố những nhận thức mới về cuộc đời và con người sau độ lùi thời gian, cuộc tiếp xúc, giao lưu
và tiếp nhận những thành tựu văn học phương Tây cùng với khát vọng trả món nợ với văn chương đã khiến các thế hệ nhà văn có những thay đổi căn bản về tư duy nghệ
Trang 16thuật trong bầu không khí cởi mở, dân chủ Trên cơ sở đó, sự thể hiện số phận con người trong văn học cũng được giới nghiên cứu tiếp cận, lý giải tập trung, đầy đủ hơn
từ những nhân tố tác động khách quan tới nhân tố chủ quan, với sự thay đổi cả về lượng và chất
Cùng chia sẻ với Nguyễn Minh Châu ở quan niệm về hiện thực, quan niệm về mối liên hệ giữa con người với hiện thực và trách nhiệm của văn học trong phản ánh,
"nghiền ngẫm hiện thực", bài viết của Lê Ngọc Trà về Vấn đề con người trong văn học
khẳng định: “Nhiều năm qua văn học chúng ta còn mắc nợ cuộc đời về sự thật Sự thật
về người nông dân Việt Nam trong cơn bão táp của cuộc cách mạng và chiến tranh, về người lính suốt ba thế hệ cầm súng đánh giặc trên đủ loại chiến trường với bao nhiêu vinh quang, hy sinh và mất mát, về anh cán bộ nghiêm túc, lương không đủ ăn, về người trí thức cách mạng với lòng yêu nước và những ngộ nhận ngây thơ, với niềm tâm huyết, say mê và bao điều dằn vặt” [213, tr.496] Lấy tính chất dân chủ làm tiêu chí đánh giá bản chất của văn học, nhìn sự vận động của văn học trong vận động của
tính dân chủ, Huỳnh Như Phương ở Văn xuôi những năm 80 và vấn đề dân chủ hóa
nền văn học [161] cho rằng dấu hiệu dân chủ hóa nền văn học chủ yếu là sự dân chủ
hóa trong quan niệm về con người Từ việc miêu tả con người một chiều, con người bị ràng buộc bởi những lề luật ở ngoài mình, các nhà văn đã đi vào thế giới nội tâm để khám phá chiều sâu tâm linh nhằm nhận diện hình ảnh con người đích thực
Bùi Việt Thắng qua bài viết Văn xuôi gần đây và quan niệm con người [185],
đã đề cập tính chất “áp sát” cuộc sống và con người của văn học và cho rằng tính chất
đó bộc lộ một “quan niệm tiến bộ về con người”: Thứ nhất, con người và hoàn cảnh, hoàn cảnh là nhân tố dễ làm tha hóa con người Thứ hai, văn học đề cập đến những mâu thuẫn, những nghịch lý cuộc đời và số phận con người Thứ ba, văn học đã chú ý thể hiện những “cái con người” trong con người
Tôn Phương Lan với Một vài suy nghĩ về con người trong văn xuôi thời kỳ đổi
mới đăng trên Tạp chí Văn học số 9/2001, qua việc so sánh với văn học trước đó, đã
khẳng định cái mới trong việc thể hiện số phận con người của văn học sau 1975: “Nếu như trước đây con người chỉ là đối tượng hầu như chỉ để ca ngợi hay phê phán thì giờ đây nó được nhà văn đi vào thế giới nội tâm, đi vào số phận của họ, tìm đến những vấn
đề cụ thể, đời thường mà vẫn mang ý nghĩa nhân loại” [116, tr.43] Theo tác giả, việc đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người dẫn đến sự đổi mới trong thể hiện số phận con người, mà điểm đáng chú ý nhất là sự thay đổi về nguồn gốc tính cách, số phận của hệ thống nhân vật, theo đó là sự đa dạng về góc nhìn nhân vật Từ đó văn học cho thấy “con người đang được thông hiểu, đang được nhìn nhận từ nhiều phía để được hiện lên đúng như những gì nó có” [116, tr.47] Ở một bài viết khác, tác giả Tôn
Trang 17Phương Lan nhấn mạnh: "Khảo sát con người trong nhu cầu nhận thức, các nhà văn đã tìm nhiều cách để tiếp cận với cõi tận cùng trong tâm hồn con người Con người luôn mong đợi Con người luôn khát khao, hy vọng và tìm kiếm cho dù có khi họ biết cái đã qua không bao giờ trở lại cũng như điều mong ước chắc gì đã có được trong đời” [115]
Sự thay đổi cách thể hiện số phận con người cũng được cắt nghĩa, lý giải từ ý thức tự thân của văn học trong tư duy nghệ thuật về con người Từ góc nhìn này, Vũ Tuấn Anh nhìn thấy sự đối lập và bổ sung lí thú giữa cái mới và cái cũ Ông cũng xem
xét nguồn gốc của sự thay đổi ấy từ quan hệ văn học với chính trị Trong bài Đổi mới
văn học vì sự phát triển, Vũ Tuấn Anh cho rằng: “Đổi mới văn học khởi đầu từ 1986
là sự tự ý thức của văn học trên một chặng đường mới của lịch sử và của chính nó” [5, tr.14], trong đó văn học đã thể hiện một tư duy nghệ thuật khác trước về hiện thực và con người Sự thay đổi tư duy nghệ thuật về con người gắn liền với sự thay đổi quan niệm chính trị - xã hội về con người Tác giả còn chỉ rõ: “Mười năm trở lại đây, văn học có một cách nhìn khác, một cách biểu hiện khác về con người, vừa phần nào mang tính chất đối lập, vừa mang ý nghĩa bổ sung cho thời kỳ văn học đã qua… Sự dân chủ hóa trong xã hội và văn học đã được biểu hiện ngay trong thế giới nhân vật Gần như không có những nhân vật được lý tưởng hóa theo những công thức định sẵn Các nhân vật, cùng với số phận và hành vi của họ, đều bình đẳng trước sự quan sát của nhà văn” Theo tác giả, văn học sau 1975 đã “cố gắng khám phá thế giới bí ẩn, khuất lấp, đầy bất trắc và bất thường bên trong mỗi con người, bên trong bản thể người” [5, tr.18], nhờ
đó “văn học hiện nay cũng đang hòa vào con đường chung của văn học nhân loại ở phương diện khám phá những bí ẩn con người”
Nhìn sự thể hiện con người trong văn học trong sự vận động biện chứng và tất yếu từ quan niệm đến cách thức thể hiện, từ truyền thống đến cách tân, Nguyễn Thị
Bình với Văn xuôi Việt Nam 1975 - 1985 những đổi mới cơ bản đã nêu ra những đổi
mới của văn học giai đoạn này, trong đó đề cập nhân tố đổi mới về con người của các nhà văn với hai đặc điểm cơ bản Thứ nhất, từ quan niệm con người lịch sử, con người cộng đồng chuyển dần sang quan niệm con người cá nhân phức tạp và bí ẩn Thứ hai, con người được khám phá qua nhiều bình diện: con người như sản phẩm của lịch sử; con người duy ý chí, ảo tưởng; con người mang tính nhân loại; con người sản phẩm của tự nhiên; con người và đời sống tâm linh Chúng tôi chú ý đến bình diện thứ tư và thứ năm mà tác giả đề cập Ở con người là sản phẩm của tự nhiên, tác giả nhấn mạnh đến phương diện nhu cầu tình dục, bản năng, tiềm thức, vô thức Con người và đời sống tâm linh, người viết nhận định đây là phương diện mới của quan niệm về con người trong văn xuôi sau 1975 vì “nó đem lại sự phong phú trong cấu trúc nhân cách nhân vật và góp phần xây dựng một quan niệm toàn diện về con người, đối lập với tư
Trang 18duy cằn cỗi, máy móc hoặc chỉ biết sùng bái lý tính” [25, tr.109]
Với một cái nhìn hệ thống trước một đối tượng nghiên cứu chuyên biệt là quan
niệm nghệ thuật về con người, Nguyễn Văn Kha trong - Đổi mới quan niệm về con
người trong truyện Việt Nam 1975 - 2000 [100], khai thác cách nhìn con người qua
năm chương Chương 1: Vấn đề con người trong đời sống chính trị, xã hội và văn học
Việt Nam từ sau 1975 Chương 2: Con người với cộng đồng quê hương đất nước
Chương 3: Con người cá nhân, mỗi con người có cuộc đời riêng, bản lĩnh riêng Chương 4: Con người phong phú, phức tạp Chương 5: Một số biện pháp nghệ thuật
(thời gian - không gian, kết cấu, ngôn ngữ, các chi tiết nghệ thuật và yếu tố huyền thoại) Đây là công trình nghiên cứu những đổi mới trong cách nhìn về con người qua
văn xuôi 1975 - 2000 trong sự so sánh với văn xuôi truyền thống trước đó
Nguyễn Thị Bình nhấn mạnh đến sự mở rộng các bình diện khám phá con người và khẳng định: “với sự mở rộng một số bình diện khám phá con người, các nhà văn đã bước đầu xác lập được một hệ thống tiêu chí giá trị phù hợp với con người trong thời đại mới, phù hợp tinh thần nhân bản, dân chủ của sự nghiệp đổi mới xã hội
mà Đảng tiến hành” [25, tr.117] Ở một bài viết khác, tác giả tiếp tục nhấn mạnh chiều sâu nhận thức thẩm mĩ và sự phong phú của tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn sau 1975:
“Sáng tác của Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, quan tâm nhiều đến hành trình tự ý thức của con người Bảo Ninh, Hồ Anh Thái, Thuận, lại nhiều trăn trở với đời sống tâm linh của con người” [24, tr.208]
Ngoài các bài báo được đăng tải trên các báo và tạp chí quen thuộc như Văn
nghệ, Văn nghệ Quân đội, Tạp chí Văn học, cũng cần chú ý đến các tham luận được
trình bày trong các hội thảo: 50 năm Văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám (Đại học quốc gia Hà Nội - 1996), Nhìn lại văn học Việt Nam thế kỷ XX (Viện Văn học
- 2002), Đổi mới tư duy tiểu thuyết (2002) Nhiều phương diện khác nhau của văn xuôi
và tiểu thuyết thời kỳ đổi mới, trong đó có vấn đề thể hiện số phận con người cũng được đặt ra trong các bài viết, tham luận của các nhà văn, nhà phê bình, nghiên cứu văn học có tên tuổi như Hoàng Ngọc Hiến, Trần Đình Sử, Hà Minh Đức, Nguyễn Đăng Mạnh, Phan Cự Đệ, Đỗ Đức Hiểu, Chu Lai, Xuân Thiều, Đinh Xuân Dũng, Lã Nguyên, Nguyễn Văn Long, Vương Trí Nhàn, Bích Thu…
1.2 Việc nghiên cứu sự thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
Bên cạnh những nhận xét chung có tính khái quát về văn xuôi Việt Nam sau
1975, nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến việc thể hiện con người trong tiểu thuyết ở
giai đoạn này Nguyễn Bích Thu trong bài Ý thức cách tân trong tiểu thuyết Việt Nam
sau 1975 đưa ra ý kiến: Vấn đề con người cá thể được đặt ra một cách bức xúc, mạnh
Trang 19mẽ trong cảm hứng sáng tạo của nhà văn, trong đó số phận con người trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhà văn với quan niệm cá nhân như “một nhân cách, một nhân cách kiểu mới” [196, tr.211] Song con người cá thể trong văn học hiện nay không phải là “con người của cá nhân, cái tôi của cực đoan, phủ nhận mọi nền tảng đạo đức
đã được thiết lập, không chịu sự tác động của xã hội Mà ở đây số phận cá nhân được giải quyết thỏa đáng trong mối liên hệ mật thiết của cộng đồng con người với trăm ngàn mảnh đời khác nhau đầy những vết dập xóa trên thân thể trong tâm hồn” [196, tr.231] Tác giả cũng cho rằng trong những năm gần đây, cảm hứng tự nhận thức được khơi dậy mạnh mẽ trong văn xuôi, đặc biệt là lĩnh vực tiểu thuyết Cảm hứng này được
thể hiện thông qua nhiều nhân vật: Giang Minh Sài trong Thời xa vắng, Kiên trong Nỗi
buồn chiến tranh, lão Khổ trong Lão khổ, Tâm trong Cơ hội của chúa, Theo tác giả,
đó là "những mẫu người đứng trước sự thử thách và lựa chọn trên các cực đối lập để nhận về mình thành công hay thất bại trong dòng chảy của cuộc đời”, và "nhà văn đã nhận diện con người đích thực với nhiều kiểu dáng nhân vật, biểu hiện phong phú và
đa dạng nhu cầu tự ý thức, sự hòa hợp giữa con người tự nhiên, con người tâm linh và con người xã hội” [196, tr.232]
Công trình Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại
(2009) của Mai Hải Oanh phân tích tư duy mới về thể loại, quan niệm mới về con
người, sự đa dạng trong phương thức biểu hiện của tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Tác giả dành một chương trong chuyên luận để phân tích, lý giải các loại hình nhân vật chính trong tiểu thuyết sau 1975 như bằng chứng về sự đổi mới cách nhìn con người: kiểu nhân vật tự ý thức, nhân vật bi kịch, nhân vật tha hóa, nhân vật dị biệt Theo tác giả, “thế giới nhân vật trong tiểu thuyết đương đại thực sự là thế giới “muôn mặt đời thường” [160, tr.289] Mai Hải Oanh đã khẳng định: "trong tiểu thuyết, loại nhân vật tự ý thức hết sức đa dạng ( ), kiểu nhân vật này đủ đông đảo để hình thành một dòng văn học tự vấn - thể hiện nhu cầu tự thức tỉnh của con người trong xã hội hiện đại” [160, tr.106]
Tập tiểu luận Tiểu thuyết đương đại của tác giả Bùi Việt Thắng (2005) đi vào
các vấn đề như biến đổi cấu trúc thể loại, khuynh hướng giản lược nhân vật Một số
tiểu thuyết đã được tác giả chú ý khảo sát như Dòng sông Mía, Cơ hội của Chúa, Lạc
rừng Cách nhìn mới về con người, cách xây dựng nhân vật có nhiều điểm độc đáo
trong các tiểu thuyết này đã được đề cập
Nguyễn Hải Hà, Nguyễn Thị Bình với công trình Quan niệm nghệ thuật về con
người trong văn xuôi Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám [80] cũng đã dành nhiều
trang khảo sát những cuốn tiểu thuyết gây xôn xao dư luận một thời, trong đó có các tiểu thuyết chú ý thể hiện số phận con người cá nhân trong các mối quan hệ với xã hội,
Trang 20gia đình như Mùa lá rụng trong vườn, Thời xa vắng
Trần Cương nhận thấy trong tiểu thuyết sau 1975, đặc biệt là trong thập kỷ 80
và 90, "những vấn đề về số phận con người đã được chú ý đào xới, khai thác một cách khá sâu sắc” Theo Trần Cương, dường như lần đầu tiên xuất hiện hai chủ đề thuộc về con người mà trước kia chưa có Đó là chủ đề về con người và hạnh phúc cá nhân Trong một tác phẩm cụ thể, hai chủ đề này có khi tách ra, có khi được thể hiện đồng thời, chúng "thuyết minh” lẫn nhau Điều đáng lưu ý là khi thể hiện, hoặc công khai, hoặc kín đáo, các tác giả bộc lộ sự đồng tình chứ không còn vẻ ít nhiều "dửng dưng” như trước [41]
Gần đây nhất, Nguyễn Thị Kim Tiến đưa ra cái nhìn khái quát về con người trong sự phát triển, vận động của tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới, đồng thời khảo sát hình tượng con người ở góc nhìn xã hội và góc nhìn loại hình văn học: “Con người trong văn học thời kỳ đổi mới được các nhà văn quan niệm không còn đơn giản, xuôi chiều, thay vào đó, nhà văn nhìn con người nhiều thang bậc giá trị, ở những tọa độ ứng
xử khác nhau, ở nhiều chiều kích, chân thực và toàn diện hơn Nhờ sự thay đổi quan niệm về con người, nhà văn đã cắt nghĩa các vấn đề cuộc sống liên quan đến con người theo chiều hướng đa chiều” [203, tr.7]
Không thể không đề cập đến các ý kiến tranh luận xung quanh các tiểu thuyết
gây sóng gió trong dư luận một thời Năm 1991, tiểu thuyết Thân phận của tình yêu
của Bảo Ninh sau khi được trao giải thưởng Hội Nhà văn đã làm dấy lên một làn sóng
tranh luận với nhiều ý kiến khen - chê Ngày 24 - 8 - 1991, tuần báo Văn nghệ tổ chức thảo luận về tiểu thuyết Thân phận của tình yêu của Bảo Ninh với sự tham dự của Trần
Đình Sử, Nguyên Ngọc, Vũ Quần Phương, Chu Lai, Từ Sơn Cách nhìn độc đáo đầy đau đớn và u buồn về chiến tranh, về số phận con người, về người lính trở về từ cuộc chiến là đầu mối gây sự không thống nhất trong nhiều ý kiến tranh luận
Xung quanh các tiểu thuyết: Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Ăn mày dĩ vãng,
Vòng tròn bội bạc (Chu Lai), Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú (Ma Văn Kháng)… cũng có những tranh luận khá sôi nổi Đất trắng khi mới ra đời
cũng đã có những phê phán gay gắt Cùng với thời gian, giá trị của tác phẩm đã được khẳng định và tác phẩm đã được trao Giải thưởng của Hội Nhà văn Tiểu thuyết của Chu Lai sau 1975 cũng gây nhiều tranh luận với những luồng ý kiến khác nhau, song chủ yếu vẫn là khen ngợi Nhà phê bình Lê Thành Nghị nhận thấy Chu Lai "đã không ngần ngại đưa ra ánh sáng những điều lâu nay còn giấu kín" Bùi Việt Thắng cũng
nhận định: "Vòng tròn bội bạc của Chu Lai đã xoáy vào những vết thương trong lòng
người và cách thức của con người chữa trị những vết thương đó" Vân Thanh cho rằng,
có thể xem Mùa lá rụng trong vườn là một tiếng nói của tác giả trước hiện thực hôm
Trang 21nay, một tiếng nói về quan hệ giữa cá nhân, gia đình và xã hội, về trách nhiệm của mỗi người đối với cuộc sống, và cuộc sống dành cho mỗi người [181]
Cũng đánh giá về văn học giai đoạn này, cần phải kể thêm một số luận án Tiến
sĩ văn học Trên đại thể, có thể thấy các luận án đã đặc biệt quan tâm đến tiểu thuyết
sau 1975 Có thể kể đến: Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật sau 1975 - khảo sát
trên nét lớn (1996) của Nguyễn Thị Bình; Những cách tân nghệ thuật theo hướng hiện đại của tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới (2006) của Nguyễn Thị Thanh Nga; Ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh của Nguyễn Thị
Thanh Xuân Ngoài ra, một số luận văn Thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp Đại học cũng
có bàn đến tiểu thuyết nói chung và sự thể hiện con người trong tiểu thuyết giai đoạn
sau 1975 nói riêng như: Yếu tố kỳ ảo trong một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam thời kỳ
đổi mới (2004) của Lê Thị Bích Hạnh; Nhìn chung về tiểu thuyết Việt Nam từ 1995 đến nay (2003) của Phạm Thị Thu Thuỷ; Cảm hứng bi kịch trong một số tiểu thuyết viết về chiến tranh sau 1975 (2004) của Bùi Thị Hương; Quan niệm nghệ thuật về con người
trong tiểu thuyết chiến tranh sau năm 1975 (2003) của Nguyễn Thị Ngọc Diệp Về
cơ bản, các luận văn thường đi sâu khảo sát một hoặc một vài phương diện nào đó như
sự thay đổi về quan niệm nghệ thuật về con người, sự đa dạng về loại hình nhân vật, những cách tân về tổ chức trần thuật; hoặc đi vào nghiên cứu sáng tác của các tác giả, tác phẩm cụ thể Cũng có những bàn luận nhất định về sự thể hiện số phận con người
trong tiểu thuyết sau 1975
Như vậy, các ý kiến đều thừa nhận tính tất yếu, khách quan của sự chuyển hướng cảm hứng sáng tác trong văn học sau 1975 và sự đào sâu vào số phận con người, bi kịch của con người của các cây bút văn xuôi nói chung, tiểu thuyết nói riêng thời kỳ sau 1975 Những nỗ lực làm mới mình của tiểu thuyết sau 1975 đã làm nên một diện mạo mới mẻ của văn học Nếu trước đây, vấn đề số phận con người thường chỉ mới được chú ý ở góc độ xã hội, quyền sống, quyền hạnh phúc thì nay được chú ý thêm ở nhiều góc độ khác như đời sống bản năng, tâm linh, cá tính, chính kiến riêng Cách tiếp cận cũng hết sức đa dạng: xã hội học, phân tâm học, văn hóa học Tuy nhiên, một vấn đề lớn là sự thể hiện số phận con người thì vẫn cần được quan tâm bằng những công trình toàn diện, hệ thống Chọn đề tài này, chúng tôi muốn góp một tiếng nói đào sâu thêm vào sự thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết sau 1975, góp phần cắt nghĩa, lí giải những thành công của thể loại quan trọng này trong văn xuôi, đồng thời giúp độc giả hiểu hơn quy luật vận động, phát triển của văn xuôi nói riêng, văn học Việt Nam nói chung giai đoạn từ 1975 đến nay
Trang 23Chương 2 NHỮNG TIỀN ĐỀ XÃ HỘI, THẨM MỸ CỦA VIỆC QUAN TÂM THỂ HIỆN SỐ PHẬN CON NGƯỜI
TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1975 2.1 Thể loại tiểu thuyết và sự thể hiện số phận con người
2.1.1 Số phận con người - đối tượng thể hiện đặc biệt của văn học
2.1.1.1 Những quan niệm khác nhau của triết học về con người
Những quan niệm khác nhau về con người của triết học ít nhiều đều để lại dấu
ấn trong khoa học, và cả văn học nghệ thuật
Triết học phương Đông xưa quan niệm con người là tiểu vũ trụ, con người và
vũ trụ có mối giao cảm, hài hoà Còn ở phương Tây, do khoa học phát triển sớm, con người sớm tách khỏi vũ trụ để khẳng định mình như một thế giới độc lập với vũ trụ Nhà triết học Descartes từng nói: “Tôi tư duy, tôi tồn tại” [179, tr.67] Điều đó có nghĩa là sự tồn tại của con người không phải do sự quy định của một lực lượng siêu nhiên nào đó mà do chính quá trình hoạt động của mình
Chủ nghĩa duy tâm thì cho rằng con người cũng như toàn bộ thế giới này là do thượng đế sinh ra Từ đó họ cho rằng con người hoàn toàn bị động trước định mệnh Thomas d'Aquin (1225 - 1274) đã khẳng định: “Con người do Chúa trời tạo ra theo ý muốn của mình và sắp xếp các đẳng cấp khác nhau” [179, tr.95] Quan niệm này vẫn được một số nhà triết học phát triển và nó ít nhiều ảnh hưởng đến quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học
Các nhà duy vật máy móc lại cho rằng: con người là sản phẩm của tự nhiên Tuy nhiên, con người theo quan niệm của họ cũng chỉ bị động trước thiên nhiên, trước
sự chi phối của tự nhiên
Thế kỷ XVIII, những khám phá về con người được đẩy lên một trình độ mới, khoa học hơn Tư tưởng chung của các nhà triết học Hegel, Kant là đề cao vai trò tích cực của tư duy con người, xem con người như là giá trị cao nhất, sáng tạo ra tất cả mọi giá trị văn hóa trên trái đất, là thực thể có lý tính của vũ trụ mà tất cả phải xuất phát từ đó và quay về đó Feuerbach thì nhấn mạnh đến bản tính tự nhiên của con người Ông cho rằng con người không chỉ được hiểu như là một bộ phận của giới tự nhiên mà còn là một sinh thể tự nhiên toàn năng; con người vừa như là một cá thể chứa đầy tham vọng cá nhân, vừa như là sản phẩm của văn hóa và lịch sử; trong con người luôn có những ham muốn, nhu cầu, khát vọng và thái độ ích kỷ
Tiếp thu thành tựu của các nhà triết học trước đó đồng thời khắc phục những hạn chế của họ, triết học duy vật biện chứng của Marx đã khẳng định: “Trong tính hiện
Trang 24thực của nó, con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội” Điều này có nghĩa là con người tồn tại thông qua mối quan hệ với cộng đồng xung quanh, nhưng điều này không có nghĩa là con người tách khỏi tự nhiên, không có mối liên hệ với tự nhiên Con người trong văn học được nhìn nhận, xem xét trong các mối quan hệ với cộng đồng, tự nhiên và cả chính bản thân mình Ở đó con người không đơn giản, xuôi chiều nữa mà phong phú, và phức tạp như chính bản thân con người trong cuộc sống, xã hội
Sau Marx là thời kì phát triển sôi nổi của các xu hướng triết học về nhân sinh Khuynh hướng triết học này mang đến những lí giải sâu sắc và dân chủ hơn về con người Freud thách thức những cái nhìn cũ về con người khi đưa ra lý thuyết vô thức Tâm lý con người được hiểu là một hiện tượng không đơn giản và khó có thể mô tả minh bạch bằng ngôn ngữ Nhưng từ sau Freud, trào lưu triết học hiện sinh đã thể hiện
sự ưu tiên gần như tuyệt đối cho con người cá nhân với quan niệm “con người không phải như một bản thể phổ quát mà như một “nhân vị” và “nhân vị đó mới là một cá nhân” Chủ nghĩa hiện sinh cũng nhấn mạnh đến con người cá nhân như một hữu thể
cô đơn trong sự tự do lựa chọn và hành động Tuy nhiên, con người hiện sinh không lẩn tránh cô đơn mà chấp nhận cô đơn, đối mặt với tấn bi kịch của cuộc đời họ dù đó là
hố thẳm
Có thể nói, quan niệm của triết học về con người là vô cùng phức tạp, thể hiện khác nhau ở mỗi thời kỳ, gắn với bối cảnh lịch sử và những ước định mang tính xã hội Quan niệm về con người theo đó cũng được phân xuất thành hai xu hướng: nhấn mạnh đến ý thức xã hội, quan hệ xã hội hoặc đề cao ý thức tự nhiên, bản thể tự nhiên của con người Thời hiện đại, quan niệm về con người được mở rộng trong quá trình tiếp tục đào sâu khám phá bản thể, tạo ra những giá trị độc đáo hơn về con người
2.1.1.2 Quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người
Văn học là nhân học Đối tượng chủ yếu của nó là con người Không thể lý giải văn học mà bỏ qua con người được thể hiện trong đó Không chỉ có con người thực tế,
mà còn có con người với tư cách là một khách thể thẩm mỹ nghệ thuật, thấm đẫm tính quan niệm
Văn học là một loại hình nghệ thuật Nhiệm vụ của các nhà văn là sáng tạo ra những con người trong tác phẩm Họ tất yếu phải hình dung con người trên phương diện thẩm mỹ Quan niệm nghệ thuật về con người là khái niệm chỉ phạm vi sáng tạo trong lĩnh vực miêu tả, thể hiện con người của nhà văn
Con người được nhà văn miêu tả trong những tác phẩm đích thực không bao giờ là bản sao của con người thế tục Nó là sự thể hiện các nguyên tắc cảm nhận thẩm
mỹ nằm trong cách miêu tả, thể hiện của tác giả qua tác phẩm Hay nói một cách cụ thể, quan niệm nghệ thuật về con người là cách cắt nghĩa, cách đánh giá, lý giải của
Trang 25nhà văn về phẩm chất, số phận và tương lai của con người thông qua hệ thống hình thức nghệ thuật mà nhà văn sáng tạo ra trong tác phẩm Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học chịu ảnh hưởng nhưng không đồng nhất với quan niệm về con người của triết học, chính trị, tôn giáo, đạo đức, pháp luật, văn hóa Nếu quan niệm của các khoa học nói trên về con người được mô tả bằng các khái niệm, định nghĩa, luận giải mang tính khoa học, bằng lí lẽ, dẫn chứng, thì quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học hoàn toàn hóa thân vào hệ thống các nguyên tắc nghệ thuật của nhà văn và biểu hiện cụ thể trong các cấp độ khác nhau của tác phẩm
Như vậy, cần phân biệt được quan niệm nghệ thuật về con người như một phạm trù tư tưởng, đạo đức xã hội với quan niệm nghệ thuật về con người như một phạm trù thẩm mỹ Trần Đình Sử nhận xét rằng: “Việc phân tích thi pháp nhân vật theo quan niệm của chúng tôi là miêu tả nhân vật, ít quan tâm đến nhân vật này, mà quan tâm đến con người được cảm nhận qua các nhân vật loại này, hoặc miêu tả nhân vật của tác giả này thuộc tác phẩm này” [169, tr.29]
Vấn đề quan niệm nghệ thuật về con người thực chất là “vấn đề mang tính năng động nghệ thuật trong việc phản ánh hiện thực, lý giải con người bằng các phương tiện nghệ thuật, là vấn đề phạm vi chiếm lĩnh đời sống của một hệ thống nghệ thuật, là khả năng thâm nhập của nó vào các miền khác nhau của cuộc đời” [169, tr.20] Một khi chưa có sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người thì sự tái hiện các hiện tượng đời sống khác nhau chỉ có ý nghĩa mở rộng trên cùng một chiều Việc đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người theo hướng hiện thực khiến cho khả năng chiếm lĩnh con người của văn học ngày càng sâu sắc hơn, phong phú hơn và vì thế nhân bản hơn
Nói đến quan niệm nghệ thuật về con người là nói đến sáng tạo chủ quan của người nghệ sĩ khi phát hiện những mặt khác nhau trong thế giới con người còn bị che lấp Ngay cả khi miêu tả con người giống hay không giống so với đối tượng, nó cũng
là sự phản ánh, khám phá về con người của nhà văn Nó phản ánh cấu trúc nhân cách con người và các hình thức phức tạp tương ứng trong quan hệ nhân sinh Bởi vì, chính con người nhiều khi cũng không hiểu nổi chính bản thân mình, và nghệ thuật chính là
sự lí giải cái phần "không hiểu nổi" đó Nghệ thuật có thể phát hiện ra tính người chưa
bị tiêu diệt hoàn toàn ở những kẻ bất lương, có thể phát hiện những góc tối ở những nhân cách tưởng rất đầy đặn, hoàn hảo Văn học nghệ thuật có thể phát hiện và mô tả
cả phần thánh nhân và ác quỷ trong một nhân cách Nhà văn muốn nêu quan niệm của mình về con người thì phải hiểu con người, không nên đánh giá con người bằng những bản mẫu giá trị cho trước và cần phải khẳng định con người trong tình huống cụ thể để
lý giải và đánh giá nó
Quan niệm nghệ thuật về con người mang dấu ấn sáng tạo riêng của cá tính
Trang 26người nghệ sĩ, ảnh hưởng, chi phối đến cách xây dựng nhân vật, các cấp độ kết cấu, các chi tiết nghệ thuật của tác phẩm
Quan niệm nghệ thuật về con người ở từng nhà văn không giống nhau, nhưng trong cùng một thời điểm, một thời đại, chúng lại có điểm tương đồng, đánh dấu trình
độ chiếm lĩnh con người của văn học trong từng giai đoạn lịch sử Cách mạng tháng 8
- 1945 thành công, mở ra thời đại mới trong lịch sử, đồng thời mở ra thời đại mới cho văn học Quá trình phát triển của văn học 1945 - 1975 gắn liền với một quan niệm nghệ thuật mới về con người Đó là kiểu con người quần chúng, con người chính trị, con người công dân, những con người vì tập thể, vì nghĩa lớn, hoàn thiện, hoàn mĩ Họ
là những con người lấp lánh tinh thần sử thi Nhưng sau 1975, khi hoà bình lập lại, ta thấy có sự xuất hiện của con người đời tư - con người được nhìn nhận đầy đủ với tất cả
sự phong phú đa dạng, phức tạp, bí ẩn và đầy biến hoá của nó
Như vậy có thể nói rằng, quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn sẽ chi phối cách cảm thụ, cách cắt nghĩa, cách lý giải về con người, về cách xây dựng hình tượng con người Sự phát triển của văn chương gắn liền với sự phát triển trong quan niệm về con người của nhà văn
2.1.1.3 Sự thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm văn chương
Quan niệm nghệ thuật về con người biểu hiện trong toàn bộ cấu trúc của tác phẩm văn học (như trong đề tài, chủ đề, kết cấu, cốt truyện ), nhưng biểu hiện tập trung trước hết ở các nhân vật, bởi “nhân vật văn học là con người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học” [177, tr.61] Nhân vật văn học nào cũng biểu hiện cách hiểu của nhà văn về con người theo một quan niệm nhất định và
qua các đặc điểm mà anh ta lựa chọn Chẳng hạn ta thấy trong truyện cổ tích Tấm
Cám, Tấm và Cám là hai nhân vật khác nhau nhưng cùng thể hiện một quan niệm nghệ
thuật về con người Cũng vậy trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, Thuý Kiều, Thuý
Vân, Kim Trọng, Từ Hải là những nhân vật khác nhau nhưng đều được xây dựng dựa trên quan niệm nghệ thuật thống nhất về con người
Và muốn tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người thì phải xuất phát từ các biểu hiện của nhân vật, thông qua các yếu tố tạo nên nhân vật Người ta hiểu nhân vật văn học là một cấu tạo nghệ thuật bao gồm các yếu tố sau: cách xưng hô đối với nhân vật, tên gọi của nhân vật, chân dung nhân vật, ngoại hình, trang phục, hành động, tâm
lý, sinh lý, ngôn ngữ, giao tiếp Và thông qua những sự biểu hiện của nhân vật, của con người trong tác phẩm thì chúng ta thấy rõ hơn về bức tranh đời sống trong tác phẩm cũng như là hiện thực cuộc sống mà tác giả muốn phản ánh
Như vậy, quan niệm nghệ thuật về con người được biểu hiện rõ nhất qua nhân vật Vì vậy, để miêu tả nhân vật thì chủ thể phải hiểu về con người mà nhân vật là thể
Trang 27hiện cá biệt Từ cách xưng hô gọi tên, miêu tả hay không miêu tả chân dung, đến hành động được lặp đi lặp lại, tâm lí, ngôn ngữ của nhân vật đều thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn Chẳng hạn sự miêu tả chân dung nhân vật Thị Nở
trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao, đó không phải giản đơn là đặc điểm riêng cá
biệt của nhân vật hoặc là loại của nó mà đây chính là quan niệm về con người của Nam Cao
Và chúng ta thấy rằng quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn đã chi phối sự thể hiện cuộc sống trong tác phẩm, mà nhân vật là thành tố thể hiện rõ nhất sự chi phối đó
2.1.1.4 Số phận con người, một phương diện thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn
Văn học, dù có viết về bất cứ cái gì (một con người, một sự vật, một con vật,…) đều không nằm ngoài mục đích miêu tả con người, thể hiện một quan niệm nào đó về con người Quan niệm ấy có thể là một cái nhìn lạc quan, một thái độ ngưỡng mộ, một tình cảm bi phẫn Tất cả những biểu hiện đó đều đã xuất hiện trong văn học thế giới Tuy nhiên, điều đáng lưu tâm là văn học chú ý nhất đến miêu tả cái gì trong quan niệm nghệ thuật về con người? Nguyễn Minh Châu đã có lần thể hiện băn khoăn rằng, văn học sẽ làm gì nếu không đứng về phía con người, không bênh vực, sẻ chia với những con người lâm vào cùng đường tuyệt lộ Trước đó, Nam Cao cũng đã từng tuyên bố văn học phải là "những tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than" Những tuyên ngôn ấy (cùng với lời bàn của nhiều nhà nghiên cứu, văn nghệ sĩ khác) xác nhận một điều: dù có viết gì về con người, thì vấn đề cơ bản mà văn học hướng đến vẫn là vấn đề số phận Từ những câu chuyện cổ tích, những câu ca dao, dân ca, câu chuyện
về số phận con người đã được cất lên một cách thống thiết Vấn đề tiếp tục được thức nhận qua hàng ngàn năm văn học Tiểu thuyết là thể loại "máy cái", nhiệm vụ thể hiện
số phận con người hẳn nhiên càng được nó chăm chút Kể từ khi Cervantes bắt đầu khắc họa số phận của "nhà quý tộc tài ba xứ Mancha" cho đến nay, một phần của lịch
sử tiểu thuyết chính là lịch sử khắc họa thân phận con người Những Dickens, Balzac, Dostoievsky, Kafka, Cao Hành Kiện đều đã lần lượt đưa ra những bản tường trình thân phận con người theo cảm quan và lối kể của họ Trong văn học Việt Nam hiện đại trước 1945, đặc biệt là trong tiểu thuyết hiện thực phê phán, vấn đề số phận khổ đau
của con người đã được quan tâm phản ánh trong Sống mòn, Bỉ vỏ, Làm đĩ, Vỡ đê, Tắt
đèn với những trang viết vô cùng thấm thía
Tuy nhiên, trong cơn lốc tố của Cách mạng, suốt ba mươi năm chiến tranh (1945 - 1975), bộ phận văn học được viết theo ý thức hệ vô sản đã gần như lãng quên câu chuyện đời sống của mỗi cá nhân từ cái nhìn thân phận Vấn đề chỉ được quan tâm
Trang 28trở lại từ khi chiến tranh kết thúc, nhất là khi công cuộc Đổi mới được đề xướng Điều này sẽ được chúng tôi sẽ tiếp tục làm rõ trong những phần tiếp theo của luận án
2.1.2 Ưu thế của tiểu thuyết trong việc thể hiện số phận con người
Sự thể hiện số phận con người trong văn học luôn thay đổi theo từng giai đoạn, tùy từng khuynh hướng, trào lưu văn học Nghiên cứu con người trong văn học là cách
để xác định được mức độ, khả năng chiếm lĩnh con người của nhà văn ở cả chiều rộng lẫn chiều sâu Tuy nhiên, trong quá trình triển khai vấn đề, chúng tôi không có tham vọng nhận diện việc phản ánh con người trong tiểu thuyết Việt Nam từ khi xuất hiện đến nay Đó là một việc làm quá sức Chúng tôi cho rằng thể loại tiểu thuyết những năm 20 của thế kỷ XX mới thực sự bước đầu định hình được những đặc trưng thể loại của nó Từ 1930 đến 1945, nó đạt được những thành tựu rực rỡ, đặc biệt là sự quan tâm sâu sắc đến những nỗi khổ đau của con người Từ 1945 đến 1975, nó phải làm nhiệm vụ trọng đại là phục vụ hai cuộc kháng chiến vẻ vang của dân tộc Nhiều phương diện như quyền lợi cá nhân, những nỗi niềm riêng, những mất mát do chiến tranh… là những điều cần phải né tránh Sau 1975, đặc biệt là sau 1986, tiểu thuyết bước sang một trang mới, trong đó có sự chuyển đổi tư duy nghệ thuật của một thế hệ nhà văn
Với tính chất là một thể loại có cấu trúc hết sức linh hoạt, có khả năng tái hiện bức tranh đời sống một cách rộng lớn, sinh động, không bị giới hạn bởi không gian, thời gian, tiểu thuyết có khả năng đi sâu khám phá số phận con người Nhân vật tiểu thuyết là “điểm xuất phát và trung tâm của sự mô tả nghệ thuật”, “chiếc chìa khóa để giải mã những vấn đề hiện thực mà nhà văn đặt ra trong tác phẩm” [154, tr.242] Phát huy cao độ khả năng hư cấu, tiểu thuyết đã tạo cho nhân vật sự bề thế, đa dạng, phức tạp, nhiều màu sắc Con người tiểu thuyết là con người tổng hợp, cho nên nhân vật có thể được khai thác ở cả chiều sâu và chiều rộng của không gian, thời gian, ở cả tầm vĩ
mô lẫn vi mô của đời sống nhân vật; từ ngoại hình đến hành động, từ cảm xúc nội tâm đến lý trí
Nếu văn học lấy con người làm đối tượng khám phá, thể hiện thì tiểu thuyết, với tư cách là "cỗ máy cái" thể loại, với ưu thế là thể loại ở “thì hiện tại” (cách nói của
M Bakhtin), luôn tiếp cận đời sống ở cự ly gần nhất, chính là khu vực giàu tiềm năng nhất trong việc thể hiện số phận con người, cũng như thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người của các nền văn học hiện đại Lịch sử tiểu thuyết, từ một góc độ nào đó, có thể nói, là lịch sử của quan niệm về con người Với cách nhìn này, không khó để nhận
ra sự khác nhau trong quan niệm về con người trong từng thời kỳ văn học từ /qua lịch
sử vận hành của "cỗ máy" tiểu thuyết Ở nước ta, tiểu thuyết hiện đại chỉ thực sự được khẳng định nhờ tài năng của các cây bút Tự Lực văn đoàn và các nhà văn hiện thực
Trang 29giai đoạn 1930 - 1945 Trên những kinh nghiệm khá phong phú nhưng ít nhiều còn mới mẻ đó, tiểu thuyết 1945 -1975 tự điều chỉnh hướng đi để trở thành một vũ khí sắc bén trước yêu cầu phục vụ kháng chiến và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Các tác phẩm mang tinh thần sử thi trở thành dạng thức tiểu thuyết điển hình trong giai đoạn diễn ra hai cuộc kháng chiến vệ quốc Mỗi mô hình /dạng thức nghệ thuật mang trong
nó một quan niệm thẩm mỹ riêng chi phối đến những đặc trưng cơ bản về bút pháp
Tiểu thuyết là một thể loại được cho là gần gũi hơn cả với đời sống xã hội Sau Đổi mới, cùng với thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết không ngừng vận động, làm mới mình Tiểu thuyết từ sau 1975 đến nay không cắt lìa truyền thống đã có nhưng ý thức làm mới, làm giàu, làm khác truyền thống đã và đang trở thành khát vọng /nhu cầu mạnh
mẽ của hầu hết người viết Tuy vẫn còn nhiều lời phàn nàn, nhiều cái nhìn hoài nghi nhưng không thể phủ nhận được rằng những nỗ lực đổi mới tiểu thuyết hơn ba thập kỷ qua đã tạo ra không ít tác phẩm có giá trị với sự đông đúc của đội ngũ tác giả, sự dồi dào về số lượng tác phẩm và sự đa dạng về bút pháp, sự phong phú về đề tài, chủ đề Bên cạnh sự chuyển biến trong bản thân thể loại, tiểu thuyết còn đưa đến một cách tiếp cận sâu sắc hơn về cảm quan của con người trong xã hội trước một hiện thực đầy bất
ổn, khó lường Trong sự vận động rõ rệt theo nhiều hướng tìm tòi, tiểu thuyết sau 1975
đã có một số thành tựu ở yếu tố nghệ thuật như tổ chức cốt truyện, kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ, điểm nhìn trần thuật Áp lực cạnh tranh từ các phương tiện giải trí - truyền thông, lối sống và nhịp độ sống của thời đại kỹ trị vừa là yếu tố kích thích vừa là một nguy cơ làm hao mòn tình yêu văn chương Người viết bây giờ buộc phải đối diện với đòi hỏi nghiệt ngã: “Mỗi nhà tiểu thuyết, mỗi cuốn tiểu thuyết phải sáng tạo ra một hình thức riêng Không tôn trọng những hình thức bất biến, mỗi cuốn sách mới cần xây dựng cho mình những quy luật vận động đồng thời sản sinh ra sự diệt vong của chúng” [208, tr.132]
2.1.3 Số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam trước 1975
Từ xưa, bất cứ nền văn học nào cũng đều quan tâm đến con người, xem con người là đối tượng nghiên cứu, miêu tả chủ yếu, là hạt nhân quan trọng để khám phá hiện thực đời sống Tuy nhiên, văn học là sản phẩm của một môi sinh văn hóa cụ thể, luôn chịu tác động của một hoàn cảnh lịch sử xã hội sản sinh ra nó Bởi vậy, trong từng điều kiện phát triển của văn học, vấn đề số phận con người cũng được đề cập theo những cách khác nhau
Trong văn học trung đại, số phận con người đã được nhiều tác giả đề cập, đặc biệt là ở thời kỳ từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX, giai đoạn phát triển rực rỡ của chủ nghĩa nhân đạo Đó là số phận người chinh phụ mòn mỏi, cô đơn, tuyệt vọng
trong mong ngóng, chờ đợi tin tức người chồng nơi chiến trận trong Chinh phụ ngâm
Trang 30khúc (Đặng Trần Côn); số phận mong manh, bất hạnh của người cung nữ tài sắc, giàu
tình cảm trong Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều), số phận “bảy nổi ba chìm”
của những người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương, số phận tài hoa bạc mệnh của
nàng Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du Nhưng phải đến văn học hiện đại, số
phận con người mới trở thành câu chuyện phổ biến, khiến các nhà văn không thôi trăn trở với sự thức nhận trên nhiều bình diện và sự kiếm tìm không mệt mỏi những phương thức thể hiện
Đầu thế kỷ XX, đặc biệt là giai đoạn 1930 - 1945, xã hội đã xuất hiện những điều kiện thuận lợi cho con người cá nhân phát triển, tự bộc lộ mình, mở ra cho văn học cơ hội khai thác nhiều cuộc đời, số phận đa dạng, phong phú trong đời sống xoay quanh trục cá nhân và ý thức về cá nhân Điều này thể hiện trong những "nghiền ngẫm" của nhà văn về hành trình đấu tranh giải phóng cái tôi cá nhân trong những xung đột với lễ giáo phong kiến, với tinh thần gia trưởng truyền thống Chủ đề nổi bật nhất trong tiểu thuyết của văn phái này là tình yêu, hạnh phúc tự do của mỗi con người Những nam thanh nữ tú của Nhất Linh, Khái Hưng trước hết được thức tỉnh bằng những nhịp đập của trái tim khao khát tình yêu ngoài lễ giáo, thứ tình yêu chân thành và họ sẵn sàng tận mình hiến dâng, bảo vệ tình yêu ấy Tuy nhiên, để có được tình yêu, hạnh phúc, họ luôn gặp những rào cản của tập tục, "phong hóa" truyền thống
và đôi khi chính từ bản thân họ Các nhà nghiên cứu thường nói đến xung đột cá nhân với gia đình truyền thống như là mối quan tâm hết sức cơ bản của sự nhận thức và miêu tả của các tiểu thuyết văn đoàn này Đó là xung đột giữa hai thế hệ, giữa ý thức truyền thống và ý thức hiện đại Nói chính xác hơn, đấy chính là xung đột giữa khát vọng được sống là mình với tất cả những rào cản đối với khát vọng ấy Một mặt khác,
có thể coi việc tìm đến tình yêu và khát vọng hạnh phúc cá nhân chính là những nỗ lực vượt thoát khỏi những giam hãm của truyền thống cũng như quay lưng với cái tẻ nhạt,
tù bức của xã hội hiện tại Những thế giới riêng, nhất là những suy tư thầm kín mà các nhân vật cố giành và giữ cho bằng được ấy chính là hy vọng da diết về sự thay đổi thân phận Có lẽ chưa bao giờ tinh thần vì con người lại được nhấn mạnh đến thế trong văn học Để làm nổi bật những bi kịch của thân phận, nổi bật vẻ đẹp của con người, các nhà tiểu thuyết rất chú ý mô tả những con người đẹp: đẹp ở độ tuổi, đẹp ở học thức, đẹp ở tâm hồn, cử chỉ, đẹp ở tên gọi và đẹp ở cả cách họ giao tiếp, ứng xử với nhau Ở đó có cả sự yêu thương, tôn trọng và đề cao
Chính ý thức mới, quan niệm mới về con người đã thôi thúc tiểu thuyết thời kì này tìm kiếm những hình thức thể hiện mới, , và sẽ trở thành di sản quý báu được kế thừa bởi các tác phẩm văn xuôi giai đoạn sau này Đó là khả năng đi sâu khám phá, thể hiện nội tâm nhân vật, là thứ văn chương giàu xúc cảm và đặc biệt là sự nhấn mạnh
Trang 31cảm giác trong mọi miêu tả, thể hiện: từ thiên nhiên đến con người, từ ngoại cảnh đến nội tâm Một thế giới cái tôi của tâm hồn phọng phú, sinh động và xúc động được mở
ra - điều chưa từng có trong văn xuôi trước đó
Nếu trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, con người cơ bản được nhìn nhận bằng cái nhìn mang tính lý tưởng hóa, lãng mạn hóa thì trong văn xuôi nói chung và tiểu thuyết nói riêng của trào lưu hiện thực phê phán, con người lại được nhìn nhận theo
xu hướng phơi bày hiện thực và mặt trái xã hội Con người trong tiểu thuyết hiện thực phê phán thường được nhìn nhận trong tương quan với hoàn cảnh cụ thể, như là sản phẩm của hoàn cảnh Đứng trong hiện thực đen tối ấy, các nhà văn nhìn con người như những nạn nhân với số phận bấp bênh, bi đát Trước hết, đó là những con người
có mối quan hệ đối kháng, thậm chí thù nghịch với hoàn cảnh - thứ hoàn cảnh được tạo nên bới một chế độ cai trị hà khắc và sự xuống cấp của mọi thang bậc giá trị đạo
đức Đó là kiểu con người bị bần cùng hóa trong Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Bỉ vỏ của Nguyên Hồng Đặc biệt, Ngô Tất Tố trong
Tắt đèn đã dày công dựng nên một biểu tượng sừng sững về người nông dân bị bần
cùng hóa mà nguyên nhân chính là chính sách sưu thuế hà khắc, tàn bạo Bên cạnh con người bị bần cùng hóa là con người lưu manh hóa Khi nói con người bị lưu manh
hóa, tác phẩm đầu tiên người ta nghĩ đến hẳn là truyện Chí Phèo của Nam Cao Nhưng
cần chú ý là các nhà tiểu thuyết cũng có những đóng góp không thể bỏ qua khi mô tả
con người này Những Năm Sài Gòn, Tám Bính trong Bỉ vỏ của Nguyên Hồng hay Xuân Tóc đỏ trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, mỗi nhân vật một cách thức, một con
đường, với những tính chất và mức độ khác nhau, nhưng đều có thể coi là những kẻ bị lưu manh hóa trong một xã hội chủ yếu là màu xám Một kiểu con người khác không kém phần bi thảm, là con người ngập trong mớ lùng nhùng của những vụn vặt lo toan cơm áo tầm thường mà chôn chặt những khát vọng làm một điều gì đó để giải phóng năng lực của mình, để làm một cái gì có ích cho xã hội Điều này trở thành một chủ đề
da diết trong các sáng tác của Nam Cao với những Đời thừa, Giăng sáng và nhất là
Sống mòn - một tác phẩm thuộc hàng đặc sắc của thể loại tiểu thuyết giai đoạn này, vẽ
nên kiếp sống của những trí thức đang phải tự chứng kiến mình "mòn đi, rỉ ra, mốc lên"
Để thể hiện một cách trung thực, hiện thực số phận con người như đã trình bày, tiểu thuyết hiện thực phê phán, cũng như tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, phải tháo bỏ mọi ước lệ, quy phạm để kiếm tìm những nguyên tắc, biện pháp thể hiện mới mẻ, và những nỗ lực tìm kiếm ấy đã thu được những thành tựu quý báu Nhìn trên tổng thể, thành tựu ấy trước hết là ở sự phong phú về số lượng tác giả, tác phẩm và sự đa dạng
về phương thức, cách thế thể hiện Chúng ta có một Ngô Tất Tố điềm đạm, nghiêm khắc và tỉ mỉ, có một Vũ Trọng Phụng trào lộng sâu cay mà riết róng, có một Nguyên
Trang 32Hồng từ tốn, rưng rưng, có một Nam Cao hài hòa giữa triết lý và trữ tình, giữa miêu tả ngoại cảnh và nội tâm và luôn da diết Về phương thức thể hiện cụ thể, thành tựu quan trọng nhất của tiểu thuyết hiện thực giai đoạn này chính là xây dựng được những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình với sự tôn trọng chi tiết đến tối đa Thành tựu của sự khám phá con người cũng thể hiện trên rất nhiều bình diện khác nữa của nghệ thuật thể hiện
Từ 1945 đến 1975, trung tâm chú ý của các nhà nghiên cứu, phê bình, và giới sáng tác là mối quan hệ giữa văn học và chính trị Trong hoàn cảnh “văn học phục vụ chính trị”, các nhà văn quan tâm chủ yếu đến cái chung chứ chưa phải cái riêng, và do
đó vấn đề số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam trước 1975 chưa có được vị trí xứng đáng Chúng ta vẫn bắt gặp con người nhưng phần lớn trong đó là con người - tập thể, con người - quần chúng, con người - nhân dân, chứ chưa phải là những cá nhân, những số phận cụ thể Và trong điều kiện ấy, tiểu thuyết trước 1975 phải quan tâm chủ yếu đến việc làm sao phản ánh hiện thực cho “trung thực”, ghi lại cho sinh động và hùng hồn những biến động lớn lao của đời sống Do vậy, số phận con người tuy có được khắc họa nhưng vẫn chưa ở vào vị trí trung tâm của tác phẩm
Giai đoạn 1945 - 1975, để thực hiện mục tiêu phục vụ hai cuộc kháng chiến, trong văn học, ý thức cộng đồng được phát huy cao độ, được đặt lên hàng đầu, con người được nhìn nhận, đề cao ở tính tập thể, ở tinh thần hi sinh vì đất nước Văn xuôi nói chung, tiểu thuyết nói riêng ưu tiên cho việc ghi lại các sự kiện, biến cố lớn lao của lịch sử hơn là thể hiện số phận cá nhân Số phận cá nhân thường gắn liền với số phận chung của cả dân tộc, trưởng thành, phát triển cùng với bước tiến của cuộc đấu tranh cách mạng Rất ít khi những số phận riêng lẻ, bi kịch, bất hạnh, đau khổ được miêu tả, thể hiện, nếu có, các tác phẩm lập tức được xem là “có vấn đề” và thường bị phê phán kịch liệt Nhìn chung, cuộc đời các nhân vật được miêu tả theo một “mẫu” thống nhất
Họ là những số phận chịu nhiều đau thương, mất mát trong quá khứ, căm giận sâu sắc
kẻ thù xâm lược Những con người này đã đến với cách mạng và tìm thấy niềm tin vào tương lai tươi sáng cho cuộc đời mình nên đã nhiệt tình tham gia vào cuộc đấu tranh
chung của quần chúng nhân dân, giải phóng đất nước Đinh Núp (Đất nước đứng lên)
cũng như người dân ở làng Kông Hoa phải chịu cuộc sống cực khổ dưới ách xâm lược của thực dân Pháp Căm thù giặc Pháp xâm lược lại được những người cán bộ cách mạng giúp đỡ, Núp đã vận động nhân dân đứng dậy đánh Pháp và giành được thắng
lợi lớn Các nhân vật chị Tư Hậu (Một truyện chép ở bệnh viện), Thắm (Đất Quảng),
má Bảy (Gia đình má Bảy) cũng đều là những số phận bi kịch nhưng đã tìm thấy con
đường giải thoát cho cuộc đời bế tắc của mình khi đến với cách mạng Từ thân phận những con người này, các nhà văn đã khơi dậy niềm xúc động mãnh liệt, chân thành
Trang 33trong lòng người đọc, gieo vào lòng họ niềm tin tưởng vào Đảng, vào cách mạng Tuy nhiên, do được xây dựng theo một công thức chung nên các nhân vật có số phận na ná giống nhau, không tỏ rõ được đặc trưng của nhân vật trong tiểu thuyết
Sau 1975, độ lùi thời gian đã giúp con người có điều kiện chiêm nghiệm, nhìn nhận lại các vấn đề, trong đó có sự thể hiện số phận con người Trong các tiểu thuyết sau 1975, các nhà văn đã xoáy sâu vào số phận của cá nhân và xem đó là vấn đề cốt tử của tiểu thuyết Trong các tiểu thuyết viết về chiến tranh, các nhà văn không chỉ chú ý đến tác động của chiến tranh đối với cuộc đời mỗi người, ghi lại nỗi kinh hoàng mà họ phải trải qua trong cảnh bom đạn khốc liệt mà còn xoáy sâu vào những mất mát lớn lao, nỗi ám ảnh dai dẳng trong tinh thần mà con người phải chịu đựng cả sau chiến tranh Bên cạnh đề tài chiến tranh, tiểu thuyết sau 1975 còn viết về nhiều phương diện khác, trong đó vấn đề số phận con người luôn được quan tâm: con người trong bối cảnh phức tạp thời hậu chiến, con người trong sự đối mặt với những mặt trái của nền kinh tế thị trường, những bi kịch trong hôn nhân gia đình, những bi kịch của thân phận
người phụ nữ
2.2 Tiền đề xã hội - thẩm mỹ của sự đổi mới cách nhìn nhận và thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
2.2.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội
1.2.1.1 Thời hậu chiến và những vấn đề của nó
Năm 1975, bước vào thời kỳ hòa bình, đất nước phải đối mặt với vô vàn khó khăn, thách thức mới Nền kinh tế vốn đã nghèo nàn, lạc hậu bị chiến tranh tàn phá càng trở nên thê thảm hơn Cơ chế quan liêu bao cấp không kích thích sáng tạo trong lao động sản xuất, bộ máy hành chính nặng nề, quan liêu, công tác quản lý kém, sự cấm vận của Mỹ khiến cho đời sống nhân dân thêm khó khăn Bên cạnh đó, tình hình chính trị cũng còn nhiều bất ổn Đảng vừa giải quyết những phức tạp trong nước, vừa phải chống lại âm mưu chống phá của bọn diệt chủng Pôn-Pốt và nhà cầm quyền Trung Quốc Trước sự khủng hoảng trầm trọng, sâu sắc trên mọi lĩnh vực đời sống của thời kỳ hậu chiến, đổi mới trở thành con đường lựa chọn khẩn thiết, “là vấn đề có ý nghĩa sống còn” của đất nước Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), lần đầu tiên, bàn luận một cách sâu rộng về sự cần thiết của đổi mới Đảng nhấn mạnh: “Đối với nước ta, đổi mới đang là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống còn”, “phải đổi mới, trước mắt là đổi mới tư duy, chúng ta mới có thể vượt qua những khó khăn, thực hiện được những mục tiêu do Đại hội lần thứ VI đề ra” [58, tr.125] Làn gió đổi mới đã thực sự tạo ra không khí dân chủ, sôi nổi, hồ hởi, phấn khởi trong
cả nước Tất cả các phương diện đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đều có sự chuyển biến mạnh mẽ, tích cực Tuy nhiên, bên cạnh nhiều thành tựu to lớn đã đạt
Trang 34được, nền kinh tế thị trường cũng bộc lộ những mặt trái của nó Điều kiện sống ngày càng được nâng cao là nguyên nhân chính dẫn đến sự thay đổi của lối sống của con người, cùng với đó là những điều chỉnh trong tâm lý xã hội, trong đó có cách nhìn nhận, đánh giá các vấn đề lịch sử - xã hội Nhiều giá trị đã được tồn tại vững chắc trong một thời gian dài nay có nguy cơ bị lung lay, xáo trộn, phá vỡ Thậm chí, nhiều vấn đề trước kia được xem là thiêng liêng, cao cả, nay cũng được nhìn nhận lại theo tiêu chí mới của xã hội đương đại Lối sống, tâm lý thay đổi khác trước nên cách nhìn nhận, đánh giá về con người cũng không còn tuân theo thang giá trị trước đây
Đặc biệt, phương châm đổi mới tư duy “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật” của Đảng đã cho phép người đọc “tiếp cận tối đa với những sự thật của cuộc đời ở dạng nguyên khởi, chất phác, mộc mạc, không trau chuốt trang trí,
tô điểm” [48, tr.58] Tinh thần cởi mở của thời đại mới đã tạo điều kiện cho con người tiếp cận các vấn đề hiện thực đời sống khách quan, đa chiều, công bằng hơn Con người hôm nay nhận thức về cuộc chiến cả ở niềm tự hào, về chiến thắng và ở cả cái giá đắt đỏ mà dân tộc đã phải trả Ngày nay, độ lùi thời gian cùng với xu thế mở cửa, hội nhập, hợp tác cùng phát triển bền vững đã góp phần xoa dịu mối hận thù dân tộc, giai cấp, giúp con người một thời là hai chiến tuyến đối địch xích lại gần nhau hơn, thấu hiểu lẫn nhau
Làn gió đổi mới đã tạo ra luồng sinh khí mạnh mẽ trong sáng tạo văn học nghệ thuật Được khuyến khích “đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật”, khuyến khích tìm tòi, thử nghiệm trong sáng tạo nghệ thuật, các văn nghệ sĩ đã vượt qua những e ngại, rụt rè, lo sợ, để tự tin nói thẳng, nói thật những suy nghĩ, quan điểm cá nhân về các vấn
đề gai góc của cuộc sống, mạnh dạn bứt phá, thử nghiệm những tìm tòi, sáng tạo, những cách thức thể hiện mới Các vấn đề về vai trò, chức năng của văn học cũng được xem xét, điều chỉnh, diễn đạt lại Có thể nói, làn sóng đổi mới ngoài xã hội, nhu cầu đổi mới trong ý thức của người cầm bút và định hướng mới trong sáng tạo nghệ thuật đã làm sôi động bầu không khí sáng tác, đưa văn học thoát khỏi bế tắc, khủng hoảng ngay sau thời hậu chiến Trong bối cảnh đó, văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng cũng có sự chuyển động tích cực, tự làm mới mình để phù hợp với yêu cầu của thời đại và thị hiếu của công chúng
2.2.1.2 Dân chủ hóa đời sống xã hội và đời sống văn chương
Thắng lợi ngày 30/4/1975 đưa dân tộc ta bước vào một thời kỳ phát triển “bình thường” sau ba mươi năm “bất thường” do chiến tranh Sự kiện lịch sử ấy cũng đánh dấu một thời kỳ mới của nền văn học dân tộc Sau khoảng 10 năm chuyển tiếp, văn học bước vào giai đoạn đổi mới mạnh mẽ
Khác với hoàn cảnh chiến tranh, đời sống hòa bình đưa con người trở về với
Trang 35quỹ đạo đời thường, tạo điều kiện nảy sinh những nhu cầu mới, những quan niệm thẩm
mỹ mới, hình thành nên những lớp công chúng mới Ý thức cá nhân đã được đánh thức trở lại với những đòi hỏi bình thường nhất Nhiều giá trị trong thời chiến đã đổi khác
và thay thế nó là những hệ giá trị mới đang trong quá trình hình thành Đời sống văn hóa tư tưởng vì vậy cũng vô cùng phức tạp, thậm chí khủng hoảng ở một bộ phận nào
đó Có những người cực đoan khi phê phán, phủ định sạch trơn tất cả những giá trị của thời kỳ trước Có không ít người rơi vào tình thế “lạc thời”, không tìm thấy chỗ đứng
và điểm tựa trong cuộc sống Bên cạnh những nhu cầu, những đòi hỏi chính đáng của con người cá nhân, còn có một bộ phận đã không định hướng được các giá trị tinh thần, chạy theo lối sống sùng bái vật chất, lối sống hưởng thụ, ích kỷ, xa rời các giá trị nhân bản Tình hình đó đã tác động mạnh mẽ vào ý thức của nhà văn và được phản ánh trong thực tiễn sáng tác
Bên cạnh sự đổi thay của xã hội - lịch sử trong nước, chúng ta cũng chịu ảnh hưởng trực tiếp của quá trình toàn cầu hóa đã và đang diễn ra trên toàn thế giới, đặc biệt mạnh mẽ cùng với sự bùng nổ công nghệ thông tin và kết thúc chiến tranh lạnh giữa hai phe trên thế giới Đảng nêu chủ trương mở cửa, từng bước hội nhập sâu rộng với thế giới, vì thế, ảnh hưởng của toàn cầu hóa ngày càng rõ rệt đến mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa, tư tưởng ở nước ta Toàn cầu hóa đã mở ra nhận thức mới cho con người Việt Nam hôm nay Cái nhìn về con người từ đó cũng thay đổi Bên cạnh việc khẳng định những giá trị thuộc về bản sắc dân tộc, giai cấp, con người còn được nhấn mạnh ở tính nhân loại phổ quát Mặc dù kinh tế nước ta còn chậm phát triển, nhưng trong con người Việt Nam hôm nay đã có biểu hiện của tâm thức thời đại hậu công nghiệp
Trong bối cảnh mở cửa hội nhập quốc tế, văn học Việt Nam không còn bị khép kín trong tính chất khu vực hay tính chất “phe” có nét đặc thù của những nền văn học
xã hội chủ nghĩa trước đây mà đã từng bước mở rộng giao lưu, tiếp nhận ảnh hưởng của nhiều nền văn học trên thế giới Các trào lưu, lý thuyết văn học vốn đã quen thuộc,
có ảnh hưởng sâu rộng ở phương Tây trong thế kỷ XX đã từng bước được giới thiệu và tiếp nhận ở Việt Nam qua việc dịch thuật (cả sáng tác và lý luận), qua một lớp tác giả, công chúng có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với đời sống văn học thế giới, nhất là bộ phận người Việt ở hải ngoại Từ phân tâm học đến chủ nghĩa hiện sinh, trào lưu tiểu thuyết mới, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ la tinh đến các xu hướng của chủ nghĩa hiện đại, hậu hiện đại đã dần trở nên quen thuộc với người viết và công chúng văn học ở nước ta
Còn phải kể đến một trong những nhân tố tác động đến sự đổi mới văn học là những định hướng phát triển văn học nghệ thuật của Đảng và Nhà nước ta Đường lối
Trang 36đổi mới tại Đại hội lần thứ VI của Đảng và sau đó là Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị
về một số vấn đề văn hóa văn nghệ, cuộc gặp gỡ của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với đại diện giới văn nghệ sĩ vào cuối năm 1987 đã thực sự thúc đẩy công cuộc đổi mới văn học theo tinh thần đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật Chưa bao giờ vai trò, trách nhiệm của người cầm bút và tính chân thực của văn học lại đặt ra một cách rốt ráo, toàn diện đến thế Một không khí dân chủ trong đời sống văn hóa và văn học
đã thực sự có tác động lớn lao đến đội ngũ những người sáng tác
Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam về: “Đổi mới và nâng cao sự lãnh đạo và quản lý văn hóa văn nghệ lên một bước phát triển cao hơn” có đoạn: “Tự do sáng tạo là điều kiện sống còn để tạo nên giá trị đích thực trong văn hóa văn nghệ và để phát triển tài năng Tác phẩm văn nghệ không
vi phạm pháp luật (chống lại dân tộc, chống lại chủ nghĩa xã hội, phá hoại hòa bình) và không đồi trụy (truyền bá tội ác, sự sa đọa, phá hoại nhân phẩm) đều có quyền được
lưu hành và đặt dưới sự đánh giá, phán xét của công luận và sự phê bình” Có thể xem
đây là quan điểm đặt nền móng cho xu hướng dân chủ hóa trong văn học Việt Nam từ sau 1986 Tinh thần dân chủ hóa có sự tác động và kích thích mạnh mẽ đời sống văn học và quan trọng hơn là làm thay đổi một cách căn bản về tư duy nghệ thuật từ bình diện ý thức, quan niệm cho đến thực tiễn sáng tác và phê bình văn học
Tất cả những yếu tố nói trên đã làm biến đổi ý thức nghệ thuật của nhà văn, cả của công chúng văn học Trung tâm của sự đổi mới ý thức nghệ thuật đó chính là đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người
1.2.1.3 Những biểu hiện tích cực của sự hội nhập với thế giới
Từ sau 1975, đặc biệt là sau Đại hội Đảng lần thứ VI, chính sách đối ngoại đã
có những bước tiến quan trọng, mở đường cho công cuộc hội nhập, hợp tác với các nước trên thế giới Nhờ chính sách mở cửa cởi mở và đúng đắn, việc tiếp nhận, giao lưu văn hóa, văn học với thế giới trở nên sôi nổi, đem lại nhiều lợi ích cho văn học nước nhà Đối với tiểu thuyết sau 1975, xu hướng giao lưu, hợp tác toàn cầu là điều kiện thuận lợi cho các nhà văn tìm hiểu sâu, rộng, nhiều chiều hơn về vấn đề con người trong văn học Tiếp xúc với văn học các nước, nhà văn Việt Nam còn có cơ hội nắm bắt xu hướng chung của văn học thế giới khi khai thác vấn đề số phận con người, điều này tạo ra sự thay đổi trong quan niệm về con người trong văn học nói chung và tiểu thuyết sau 1975 nói riêng
Yêu cầu hội nhập văn học Việt Nam với văn học thế giới là một nhân tố tác động không nhỏ đến sự xuất hiện của những tìm tòi đổi mới sự thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam Công cuộc đổi mới đất nước cũng đồng nghĩa với việc giao lưu mở cửa và hội nhập với thế giới Chính sự giao lưu đa chiều đã làm cho
Trang 37bức tranh văn học nước nhà trở nên sôi động hơn bao giờ hết Một trong những biểu hiện đó là sự xuất hiện ồ ạt của dòng sách dịch Suốt một thời gian dài, người đọc Việt Nam (ở đây chủ yếu nói người đọc miền Bắc) chỉ được tiếp xúc với nền văn học cổ điển châu Âu qua một số đỉnh cao từ thế kỷ XIX trở về trước, còn văn học đương đại thế giới được dịch và giới thiệu qua Việt Nam chủ yếu chỉ là các tác phẩm văn học Xô viết và một số nước trong phe xã hội chủ nghĩa Từ sau 1975 đặc biệt là từ sau 1986, cùng với sự mở rộng giao lưu văn hóa, các tác phẩm của nền văn học đương đại Âu Mĩ
đã được dịch và giới thiệu rộng rãi trên toàn lãnh thổ nước ta Nhà văn Việt Nam được tiếp xúc với những tác phẩm của F Kafka, A Camus, M Proust, J Joyce, W Faulkner Kỹ thuật dòng ý thức, bút pháp huyền thoại hóa, kỹ thuật cắt dán, phân mảnh, lồng ghép của các nhà văn này đã thực sự góp phần thôi thúc các nhà văn Việt Nam không ngừng nỗ lực tìm tòi để sáng tạo ra những hình thức mới cho văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng Đáng lưu ý là thời kỳ này những tác phẩm thuộc dòng
“văn học đại chúng” như Jane Eyre, Cuốn theo chiều gió, Tiếng chim hót trong bụi
mận gai, đã được dịch và phát hành rộng rãi Và trong những năm gần đây một số
tác phẩm thuộc dòng văn học “linglei” của Trung Quốc cũng đã được dịch như Điên
cuồng như Vệ Tuệ (Vệ Tuệ), Xin lỗi em chỉ là con đĩ (Tào Đình), Búp bê Bắc Kinh
(Xuân Thụ) Điều này đã thực sự góp phần mang lại một làn gió mới, một nguồn cảm hứng mới cho cả người sáng tác lẫn người tiếp nhận; nó đã thực sự đóng vai trò như một chất xúc tác, phát huy nội lực của các nhà văn Việt Nam
Không chỉ những tác phẩm văn học mà cả những tài liệu lý luận phê bình cũng
được dịch và giới thiệu một cách khá rộng rãi như Lý luận và thi pháp tiểu thuyết và
Những vấn đề thi pháp Đô-xtôi-ep-xki của M Bakhtin; Nhập môn văn học (1992) của
Sylvan Barnet, Morton Berman, William Burto, Tiểu luận của Milan Kundera Đấy
chính là yếu tố có sức kích thích mạnh mẽ, là cơ hội để những người cầm bút có điều kiện mở rộng khả năng tư duy, tiếp thu tinh hoa của văn học và lý luận nước ngoài để làm giàu cho sáng tác của mình
Nửa thế kỷ trước đây, do sự nhạy cảm trong các vấn đề chính trị, nền văn học (miền Bắc xã hội chủ nghĩa) của ta chủ yếu hướng tới nền văn học cách mạng các nước thuộc phe xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là văn học Xô viết Các tác phẩm văn học Nga - Xô viết được dịch với số lượng lớn, chiếm vị trí độc tôn trong mảng văn học dịch ở Việt Nam thời bấy giờ Ngoài những tác phẩm văn học cổ điển thế kỷ XIX, người đọc Việt Nam chủ yếu được tiếp xúc với những tác phẩm “chính thống” viết về cuộc chiến tranh vệ quốc, về số phận con người và công cuộc xây dựng đất nước Nga -
Xô viết như: Thép đã tôi thế đấy (N.A Ostrovsky), Họ chiến đấu vì Tổ quốc, Số phận
một con người (M Sholokhov), Đội cận vệ thanh niên (Fadeev), Một con người chân
Trang 38chính (B Polevoi) Việc tiếp nhận lý luận văn học nước ngoài cũng được khoanh
vùng trong phạm vi lý luận văn học các nước này Các công trình lý luận văn học của Liên Xô được xem như “kim chỉ nam” cho lý luận văn học nước nhà Trong một thời gian dài, nền văn học cách mạng của ta đã không có cơ hội mở rộng tầm nhìn đến các nước phương Tây và phương Đông khác
Cơ chế đổi mới với phương châm “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới” đã mở ra cho văn học cơ hội hòa mình vào những chân trời văn học khác nhau, phong phú và đầy mới lạ Việc dịch và giới thiệu các tác phẩm văn học và lý luận phê bình của nước ngoài vào nước ta diễn ra hết sức thuận lợi Ngay cả những tác
phẩm có thời bị quy kết là có vấn đề, bị cấm đoán cả ở Liên Xô và Việt Nam như Bác
sĩ Zhivago (1956) của Boris Leonidovich Pasternak; Những đứa con phố Arbat của A
Rybakov cũng được phổ biến rộng rãi Các tiểu thuyết viết về chiến tranh, về số phận con người được trao các giải thưởng văn học lớn của thế giới, thậm chí có tiểu
thuyết mới ra lò cũng nhanh chóng có mặt ở Việt Nam như: Chuyện của Paco (Paco‟s Story) của Lary Heinemann, Nhẫn thạch (Syngué Sabour) của Atiq Rahimi; Bản giao
hưởng Pháp (Suite Francaise) của Iréne Nesmirovsky, Binh thư của người Pháp (L‟
Art francaise de la guerre) của Alexis Jenni Ở các tiểu thuyết này, số phận con người không được miêu tả trực tiếp từ cảnh chiến trường đẫm máu mà là từ “hậu cảnh”, thông qua nỗi ám ảnh về chiến tranh, nỗi đau, sự giằng xé bên trong con người xuất phát từ những hậu quả do chiến tranh gây ra Cách viết mới lạ, độc đáo của các tác phẩm đó thực sự đem lại những bài học kinh nghiệm quý báu để các nhà văn của ta học tập
2.2.2 Tiền đề văn hóa - thẩm mỹ
2.2.2.1 Sự phổ biến của những giá trị nhân văn mang tính toàn cầu
Nền hòa bình được lập lại cùng với xu thế đổi mới đã thực sự đem đến một đời sống mới trong lịch sử dân tộc và có những tác động, chi phối mạnh mẽ đến hành trình của thể loại tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1975 Điều này diễn ra như một tất yếu, đặc biệt khi đất nước bước vào con đường hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới, vừa một cách tự nhiên, vừa có phần phù hợp, thống nhất với định hướng phát triển xã hội của Đảng Thời kì hòa bình và Đổi mới đã cho phép xuất hiện và phổ biến trong lòng
xã hội Việt Nam những giá trị nhân văn mang tính toàn cầu
Trước hết là quan niệm về tự do và bình đẳng Đây là điều mà cả dân tộc luôn hướng đến và đã phải đổ bao máu xương để giành được Tuy nhiên, quan niệm về tự
do trong đời sống người Việt cũng phải trải qua một quá trình nhận thức với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau Trong khoảng từ 1945 đến 1975, khái niệm "tự do" luôn
đi liền với khái niệm "dân tộc" Đấy là điểm có thể lí giải cho sức mạnh, cho tinh thần
Trang 39đoàn kết của con người trong hoàn cảnh tự do và bình đẳng luôn luôn bị đe dọa Trên thực tế, ở phương diện cá nhân, tự do chưa thực sự đến với con người khi họ luôn phải cùng nhau sống, chiến đấu cho một mục tiêu và mọi suy nghĩ, hành động dường như đều tuân thủ một mệnh lệnh Tự do với nghĩa gắn với con người cá nhân chỉ thực sự đến từ sau khi nước nhà thống nhất, những nhiệm vụ nóng bỏng, bức thiết tạm thời được giãn ra và con người có điều kiện sống cho, sống bằng đời sống của chính mình:
tự do làm ăn, tự do suy tư, tự do cất tiếng nói lên những suy tư của chính mình (điều này cũng thực sự bộc lộ một cách mạnh mẽ từ sau Đại hội VI của Đảng) Bớt đi những mệnh lệnh, bớt đi tinh thần kỉ luật, "cấp trên" "cấp dưới" của thời chiến, con người cũng dễ thở hơn với sự bình đẳng và tinh thần dân chủ ngày càng được nhấn mạnh Mỗi cá nhân không còn phải "tự do" thực thi những nhiệm vụ được giao, văn nghệ sĩ cũng không còn phải "tự do" đi trong cái "hành lang hẹp" (ý của Nguyễn Minh Châu),
họ có thể cởi mở hơn trong việc bày tỏ tư tưởng, quan niệm của mình về cuộc sống, suy nghĩ lại hay yêu cầu đánh giá lại những gì đã qua Tinh thần tự do ấy vừa là biểu hiện của bình đẳng và dân chủ, vừa như một điều kiện để thúc đẩy nhanh hơn quá trình dân chủ hóa đời sống Đấy là dung môi, là chất xúc tác để văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng mở rộng quan niệm về cuộc sống, về con người và mở rộng những khuynh hướng tìm tòi, đổi mới sự thể hiện số phận con người
Cùng với sự tiếp cận giá trị toàn cầu trong quan niệm về tự do, dân chủ là quan niệm về hạnh phúc "Hạnh phúc", cũng như "tự do", là cái mà cả dân tộc đã bỏ ra cả hàng thế kỉ để kiếm tìm và gìn giữ Nhưng, trước 1975, "hạnh phúc" cũng là một khái niệm mà nội hàm của nó chưa đáp ứng được những kỳ vọng của con người Hạnh phúc
mà người ta biết đến trước 1975 chủ yếu là thứ hạnh phúc giống như tinh thần của Marx, "là đấu tranh", trong khi trên thực tế, hạnh phúc về cơ bản là một cái gì đó khác Những cái "khác" ấy nằm trong hệ thống những giá trị nhân văn toàn cầu mà đời sống cũng như tiểu thuyết Việt Nam hiện nay đã xác nhận là sự thỏa mãn những nhu cầu đa dạng của đời sống cá nhân Thế nên, nếu hạnh phúc trong tiểu thuyết giai đoạn 1945 -
1975 là được cống hiến, được đấu tranh, được đứng trong đội ngũ thì hạnh phúc trong tiểu thuyết sau đó là được thỏa mãn những ước muốn, được quan tâm, nhiều khi được tách riêng ra, chỉ với chính mình; hạnh phúc là no ấm, là được phát huy tận độ năng lực bản thân và được tận hưởng những niềm vui, kể cả những hoan lạc của tình yêu và đôi khi là xác thịt (không phải ngẫu nhiên mà trong nhiều tác phẩm được viết ngay đầu thập niên 80, những trăn trở về tình yêu, hạnh phúc và vấn đề mối quan hệ cá nhân với cộng đồng, những nhức nhối về sự giam hãm những năng lực cá nhân suốt một thời gian dài trước đó và cả hiện tại được đề cập và miêu tả một cách thống thiết)
Nếu như trong ba mươi năm chiến tranh, và cả trước đó, trong văn học, người ta
Trang 40thấy xuất hiện khá nhiều tiếng nói của lòng thù hận, của sự nghiêm khắc trong mọi đánh giá, nhất là đối với kẻ thù, thì ở thời điểm sau đó, cảm xúc này đã giảm dần để nhường chỗ cho yêu thương và khoan dung Nếu trong tiểu thuyết giai đoạn 1945 -
1975, tình yêu thương chỉ dành cho đồng bào, đồng chí, cho những người cùng chiến tuyến và những người thân thiết của gia đình, dòng họ thì trong các tiểu thuyết sau này, tình thương có thể chia sẻ cho cả những kẻ phía bên kia chiến hào hay cả người thân của họ Đấy là biểu hiện cao nhất của sự tha thứ, lòng vị tha nơi con người đã thấm thía những đau khổ bởi chia rẽ và oán hờn Phạm vi, biểu hiện của tình yêu thương cũng trở nên phong phú, đa dạng ở thời kì này: không chỉ có tình yêu đồng chí, đồng đội, không chỉ có tình yêu lí tưởng theo kiểu "bầm yêu con yêu luôn đồng chí" hay "anh nắm tay em sôi nổi vụng về/ mà nói vậy trái tim anh đó/ rất chân thật chia ba phần tươi đỏ ", mà là thứ yêu thương, dù dở dang hay trọn vẹn thì cũng xuất phát từ những tình cảm cá nhân hết sức chân thành và nghiêm túc Tình yêu thương ấy là sự chia sẻ, cảm thông và bao bọc, là nỗi đau xót cho thân phận của đồng chí, của người thân và thậm chí cả người dưng Tình yêu thương ấy cũng không chỉ ở trong cái nắm tay, cái quàng vai âu yếm, mà đôi khi thể hiện ngay cả trong những hờn dỗi nghiêm khắc, trong sự răn đe kể cả lời nói và hành động Những cung bậc của yêu thương như thế biểu hiện trong hầu khắp các tiểu thuyết, dù viết về chiến tranh, về thế sự hay về lịch sử
Cùng với những giá trị nhân văn mà luận án vừa chỉ ra trên đây, một phẩm chất hết sức quan trọng nằm trong khát vọng của nhân loại cũng trở thành một giá trị được đẩy đến những nấc thang mới trong đời sống xã hội Việt Nam sau 1975, nhất là sau
1986, là sự trung thực Nói vậy cũng có nghĩa rằng, trước đó, đời sống của chúng ta không thiếu chỗ cho giá trị này, nhưng hình như đâu đó nó vẫn chưa có cơ hội để phát huy hết khả năng của mình, bằng chứng là Đại hội VI đã cất tiếng kêu gọi nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật Tinh thần này cũng hâm nóng cuộc gặp sau đó giữa Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với hơn trăm văn nghệ sĩ tiêu biểu của cả nước Tinh thần tôn trọng sự thực, sự trung thực ấy đã trở thành một khích lệ, cũng mở rộng thêm con đường để tiểu thuyết thâm nhập sâu hơn vào đời sống, vào lịch sử và nhất là vào tâm hồn con người để tạo cho mình những trang viết có chiều sâu của sự khái quát hiện thực, nhằm nhận thức một cách sâu hơn, sòng phẳng hơn về đời sống, về con người, về những thang bậc giá trị kể cả những giá trị đã từng được xác lập trước đó
Cuối cùng, và tổng quát nhất, tinh thần nhân văn ấy thể hiện ở chỗ, dường như tất cả mọi vấn đề của đời sống cá nhân hay lịch sử đều được cắt nghĩa, lí giải, nhìn nhận trong mối quan hệ với văn hóa hay các vấn đề của văn hóa Đây cũng là xu thế chung của nghiên cứu, sáng tác văn học và nhiều hoạt động tinh thần khác trong thời