1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu khoa học " NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT KÍCH THÍCH GIBBERELLINE GA4/7 TỚI SỰ RA HOA CỦA VƯỜN GIỐNG THÔNG NHỰA "

10 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 325,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu kích thích ra hoa sớm và với số lượng lớn là một hướng nghiên cứu quan trọng trong cải thiện giống cây rừng nhằm rút ngắn chu kỳ chọn giống và tăng sản lượng hạt giống, đáp ứng nhu cầu trồng rừng. Trong nhóm các hóa chất sử dụng kích thích ra hoa thì nhóm Gibberrelin đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng, đặc biệt là áp dụng cho các loài thông. Thông không chỉ là những loài cây lâu ra hoa mà thời gian từ khi ra hoa đến khi thu hái hạt kéo dài...

Trang 1

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT KÍCH THÍCH GIBBERELLINE GA 4/7 TỚI

SỰ RA HOA CỦA VƯỜN GIỐNG THÔNG NHỰA

Nguyễn Tuấn Hưng Nguyễn Đức Kiên, Hà Huy Thịnh

Trung tâm Nghiên cứu Giống cây rừng Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam

TÓM TẮT

Nghiên cứu kích thích ra hoa sớm và với số lượng lớn là một hướng nghiên cứu quan trọng trong cải thiện giống cây rừng nhằm rút ngắn chu kỳ chọn giống và tăng sản lượng hạt giống, đáp ứng nhu cầu trồng rừng Trong nhóm các hóa chất sử dụng kích thích ra hoa thì nhóm Gibberrelin

đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng, đặc biệt là áp dụng cho các loài thông Thông không chỉ là những loài cây lâu ra hoa mà thời gian từ khi ra hoa đến khi thu hái hạt kéo dài gần 2 năm, chưa kể đến chu kỳ sai quả của chúng Mục tiêu của thí nghiệm này là tìm ra thời điểm tối ưu và nồng độ Gibberelline GA4/7 thích hợp nhất đối với loài Thông nhựa (Pinus merkusii)

Kết quả cho thấy việc dùng chất kích thích Gibberelline GA4/7 đúng thời điểm và đúng liều lượng đã làm tăng số lượng nón đực và nón cái một cách đáng kể so với công thức đối chứng không tác động Mỗi dòng cây ghép khác nhau lại có phản ứng với liều lượng Gibberelline GA4/7

là khác nhau Tuy nhiên, liều lượng phù hợp nhất cho hầu hết các dòng cây Thông nhựa ghép ở giai đoạn 11 tuổi là 150mg/cây và thời gian tối ưu nhất để kích thích là vào tháng 10 hàng năm

Từ khoá: Thông nhựa, Gibberelline GA4/7

MỞ ĐẦU

Nghiên cứu tìm hiểu sinh học ra hoa của các loài cây trồng rừng có vai trò hết sức quan trọng trong việc đề xuất các biện pháp xúc tiến ra hoa có căn cứ khoa học, nhằm mục đích mang lại hiệu quả kinh tế cao Khác với cây nông nghiệp, cây lâm nghiệp có thời gian từ khi trồng đến khi ra hoa rất dài Đặc điểm chung của cây rừng là vừa sinh trưởng vừa phát triển Đặc biệt, các

loài thông thuộc chi Pinus, ngành Hạt trần có thời gian từ khi ra hoa kết quả cho đến khi quả chín chúng phải mất gần 2 năm Thông nhựa (Pinus merkusii), Thông caribê (Pinus caribaea), Thông

ba lá (Pinus kesiya) và Thông đuôi ngựa (Pinus massoniana) ), thậm chí có loài kéo dài trên 3 năm như loài Pinus sylvestris (Almqvist, 2001)

Do vậy, việc nghiên cứu kích thích ra hoa cho các loài thông là rất cần thiết và có ý nghĩa

Nó làm tăng nhanh sản lượng giống đã cải thiện, điển hình là các vườn giống và rừng giống như làm tăng sản lượng hoa, điều chỉnh thời gian ra hoa sao cho giữa các cây mẹ hoặc dòng cây mẹ nhanh ra hoa và thời gian ra hoa trùng nhau dẫn đến tỷ lệ thụ phấn chéo và khả năng kết hạt (hữu thụ) tăng, từ đó làm tăng sản lượng cũng như chất lượng hạt giống Đặc biệt, loài Thông nhựa là một trong những loài cây đặc hữu ở vùng Đông Nam Á, đang được nhiều nước ở vùng nhiệt đới quan tâm nghiên cứu phát triển vì nó có giá trị kinh tế cao

Ở nước ta, Thông nhựa (Pinus merkusii) là một trong những loài cây trồng rừng chính trên

vùng đất trống đồi núi trọc từ các vùng Quảng Ninh, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh cho tới Lâm Đồng Sản phẩm chủ yếu của Thông nhựa là nhựa thông Trong nhựa thông có 2 thành phần chủ

Trang 2

Thực tế cho thấy hàng chục năm gần đây, nhiều nước trên thế giới đã nghiên cứu và đưa vào sử dụng chất điều tiết sinh trưởng thực vật để tác động vào quá trình hình thành hoa và đã thu được kết quả to lớn trong việc nâng cao sản lượng hạt giống, rút gắn thời kỳ non trẻ, khiến cây đạt độ trưởng thành sớm hơn, khắc phục được hiện tượng năm được mùa, năm mất mùa hạt giống Mục tiêu nghiên cứu là xác định được thời vụ và nồng độ Gibberellin GA4/7 tối ưu để nâng cao sản lượng hoa (nón cái và nón đực) cho loài Thông nhựa

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thí nghiệm được thực hiện trên vườn giống vô tính Thông nhựa xây dựng năm 1995 tại Cẩm Quỳ - Ba Vì - Hà Tây, bao gồm 56 dòng Thông nhựa có sản lượng nhựa cao chọn lọc từ các rừng trồng, thuộc 4 xuất xứ là Đại Lải, Quảng Ninh, Hà Trung và Nghệ An Vườn giống được thiết kế theo khối ngẫu nhiên đầy đủ 1 cây/ô với khoảng cách trồng 5m x 5m với 10 lần lặp

Thiết kế thí nghiệm

Thí nghiệm 1: Xác định thời điểm tác động Gibberelline GA 4/7 tối ưu

Thí nghiệm được thực hiện theo phương pháp do Almqvist đề xuất, phương pháp này đã

được áp dụng thành công đối với loài Thông Châu Âu (Pinus sylvestris)

- Hóa chất được dùng là Gibberelline GA4/7 với liều lượng là 40mg/cây và áp dụng đồng đều cho các cây ghép

- Thời gian tiến hành: trong 9 tháng (từ tháng 4 đến tháng 12)

- Số lượng cây ghép tham gia thí nghiệm: gồm 10 dòng cây ghép có sinh trưởng tương đối đồng đều và có mặt ở tất cả các lặp Tổng số cây ghép trong thí nghiệm là: 10 dòng x 1cây/tháng

x 9 tháng = 90 cây ghép

- Thiết kế thí nghiệm: theo khối ngẫu nhiên đầy đủ với 9 công thức thí nghiệm theo thời gian (tháng) và 10 lần lặp lại Việc chọn các dòng cây ghép ở các lặp khác nhau cho mỗi lần tác động được lựa chọn ngẫu nhiên

- Phương thức tác động: chất Gibberelline GA4/7 sau khi hòa tan trong dung dịch cồn tuyệt đối được bơm trực tiếp vào thân cây bằng pipet thông qua một lỗ khoan có đường kích 5mm nghiêng 450 theo chiều từ trên xuống, ở độ cao 30cm so với mặt đất vào các ngày 1 và 15 hàng tháng với liều lượng mỗi lần là 20mg/cây/lần Dùng ống pipet (1,5ml) và xi lanh NKHIRYO Model 8100 để bơm chất kích thích vào thân cây, sau khi bơm thuốc bịt lỗ khoan bằng băng keo dính để ngăn nước mưa, côn trùng và nấm bệnh phá hại thân cây

Thí nghiệm 2: Xác định liều lượng Gibberelline GA 4/7 thích hợp

- Hóa chất được dùng là Gibberelline GA4/7 với 5 công thức về liều lượng khác nhau: + Công thức 1: đối chứng không tác động

+ Công thức 2: liều lượng Gibberelline GA4/7 là 50mg

+ Công thức 3: liều lượng Gibberelline GA4/7 là 100mg

+ Công thức 4: liều lượng Gibberelline GA4/7 là 150mg

+ Công thức 5: liều lượng Gibberelline GA4/7 là 200mg

- Thiết kế thí nghiệm theo khối ngẫu nhiên đầy đủ với 2 nhân tố tác động là liều lượng và dòng cây ghép, với 10 lần lặp lại

Trang 3

- Số lượng dòng cây ghép tham gia thí nghiệm: gồm 13 dòng cây ghép có sinh trưởng tương đối đồng đều và có mặt ở các lặp của vườn giống

- Phương thức tác động: được tiến hành giống như ở thí nghiệm 1, các công thức liều lượng được chia thành 3 lần tác động là cuối tháng 9, giữa tháng 10 và đầu tháng 11

Việc lựa chọn các cây Thông nhựa ghép ở các lặp khác nhau cho từng công thức thí nghiệm được xác định bằng cách bốc thăm ngẫu nhiên

Thu thập và xử lý số liệu

- Đếm số lượng hoa (nón cái và nón đực) được xác định bằng cách đếm số lượng nón cái và nón đực vào thời gian hoa nở rộ nhất theo từng cây ghép (mỗi cụm nón đực được coi là 1 đơn vị đếm, nón cái đếm chính xác tới từng nón riêng lẻ)

- Xử lý số liệu bằng phần mềm Excel và SPSS 11.5

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Thí nghiệm xác định thời gian kích thích Gibberelline GA 4/7

Các nghiên cứu sử dụng Gibberelline để kích thích ra hoa cho một số loài cây lá kim thuộc

họ thông bắt đầu được tiến hành từ giữa những năm 1970 và hóa chất được sử dụng là các loại Gibberelline ít phân cực như GA4 và GA7, GA5 và GA9, trong đó GA4/7 là hóa chất có hiệu quả

nhất và có tác dụng làm tăng sản lượng nón cái của loài thông Pinus strobus (Owens & Blake,

1985)

Song trong một số trường hợp việc sử dụng GA4/7 đã không mang lại hiệu quả mong muốn

vì việc tác động GA4/7 không được tiến hành vào đúng thời điểm Thời điểm thích hợp cho việc cho việc tác động Gibberelline GA4/7 phụ thuộc vào loài và điều kiện hoàn cảnh Thông thường, thời điểm áp dụng thích hợp nhất là vào giai đoạn đầu của sự phân hóa tế bào sinh trưởng Do vậy, việc tìm ra được thời gian bơm chất kích thích phù hợp là hết sức cần thiết trong việc nâng cao sản lượng nón đực và nón cái

Trong thí nghiệm xác định thời điểm tác động chất kích thích tối ưu cho loài Thông nhựa, liều lượng Gibberelline GA4/7 được lựa chọn dựa trên các kết quả nghiên cứu của Curt Almqvist, (2001) tiến hành cho loài Thông Châu Âu có kích thước tương tự như các dòng cây ghép trong vườn giống Thông nhựa Thí nghiệm được tiến hành cho 10 dòng Thông nhựa có sinh trưởng tương đồng và có mặt ở tất cả các lặp của vườn giống với nồng độ Gibberelline GA4/7 được sử dụng đồng đều là 40mg/cây và được tiến hành liên tục trong 9 tháng (từ tháng 4 đến tháng 12) Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù sinh trưởng của các dòng Thông nhựa ghép tham gia thí nghiệm kích thích theo mùa là hoàn toàn đồng nhất, nó được thể hiện ở bảng 1 với trị giá xác suất của F = 0,688 > 0,05, song lại có sự chênh lệch khá lớn về sản lượng nón đực và nón cái theo thời gian kích thích

Bảng 1 Ảnh hưởng của Gibberelline GA 4/7 đến khả năng ra hoa theo thời gian kích

thích của Thông nhựa

Số lượng nón cái (nón)

Số lượng nón đực (cụm)

Chiều cao cây

H vn (m)

Thời

gian

(tháng)

Số cây

kích thích

Trang 4

4 9 102,2 24,90 97,1 18,91 4,0 0,47

Kết quả bảng 1 cho thấy ảnh hưởng của thời điểm tác động Gibberelline GA4/7 đến khả năng ra hoa theo thời gian kích thích của Thông nhựa là rất rõ Nó được thể hiện ở các trị giá xác suất F của cả nón đực và nón cái lần lượt là < 0,001 và 0,003 < 0,01 với mức ý nghĩa 99,99% Nếu như bơm thuốc kích thích Gibberelline GA4/7 ở các thời gian khác nhau thì có kết quả kích thích ra hoa khác nhau, thậm chí còn gây ức chế làm giảm cả số lượng nón đực và nón cái như vào tháng 7, tháng 11 và tháng 12

Kết quả nghiên cứu còn cho thấy, nếu như mục đích nghiên cứu chỉ là tăng số lượng nón đực hay nón cái một cách riêng biệt thì chúng ta lại có thể lựa chọn các thời gian kích thích khác nhau Dựa vào tiêu chuẩn phân hạng của Ducan, ta có thể chọn được thời gian kích thích cụ thể cho từng loại nón:

- Đối với nón cái: ngoài thời gian bơm GA4/7 vào tháng 10, bơm vào tháng 4, tháng 6, tháng 9 và tháng 11 sẽ làm tăng sản lượng nón cái; bơm vào tháng 5 và tháng 8 gây ức chế

- Đối với nón đực: Bơm chất kích thích Gibberelline GA4/7 vào tháng 10, tháng 5, tháng 9

và tháng 4 sẽ nâng cao được sản lượng nón đực Nếu bơm vào tháng 7, tháng 11 và tháng 12 lại gây ức chế làm giảm số lượng

Từ đó cho thấy thời gian bơm chất kích thích vào cây khác nhau cho kết quả ra hoa kết quả của loài Thông nhựa là khác nhau Nếu bơm chất kích thích vào thời gian cây mẹ có đủ hoóc môn nội sinh hoặc vào thời gian cây mẹ chưa cần đến thì cũng không có tác dụng kích thích ra hoa, thậm chí còn gây ức chế làm giảm sản lượng nón cái và nón đực

Trong 9 tháng thí nghiệm thì bơm chất kích thích GA4/7 vào tháng 10 tạo ra số lượng nón cái và nón đực nhiều nhất, lên tới 112,4 nón cái/cây, và 112,8 cụm nón đực/cây, lần lượt tăng 27,2% và 19,1% so với công thức đối chứng, vượt trội hơn hẳn các tháng còn lại Do vậy, đây là thời gian bơm chất kích thích phù hợp nhất, nó làm cho cả nón cái và nón đực đều tăng cực đại Kết quả này tương tự với Chalupka (1984) khi ông nghiên cứu kích thích cho loài thông

Pinus sylvestris Nếu bơm chất kích thích GA4/7 vào thời gian cây mẹ đang phát triển cành ngọn non thì sẽ làm cho nón đực tăng, nếu bơm vào thời gian muộn hơn lại làm tăng số lượng của nón

Trang 5

cho thấy thời gian bơm từ tháng 5 đến tháng 6 cho kết quả số lượng nón đực tăng, nhưng bơm thuốc kích thích từ tháng 8 đến tháng 9 thì không có sự ảnh hưởng của thuốc Nghiên cứu của (Luukkanen & Johnsson, 1980) cho loài Thông Châu Âu ở Phần Lan vào thời gian từ cuối tháng

5 cho đến cuối tháng 6, bơm từ 3-6 lần trên mỗi cây ghép cho thấy cả số lượng nón đực và nón cái đều tăng

Ảnh hưởng của liều lượng Gibberelline GA 4/7 đến số lượng nón đực và nón cái

Nghiên cứu xác định liều lượng Gibberelline GA4/7 thích hợp được tiến hành trên 13 dòng cây ghép có sinh trưởng tương đối đồng đều và có mặt ở tất cả các lặp của vườn giống cụ thể là các dòng số 1, 2, 3, 5, 6, 14, 15, 17, 21, 22, 29, 31 và dòng 53 Thí nghiệm này bao gồm công thức đối chứng không tác động và 4 công thức thí nghiệm về liều lượng Gibberelline GA4/7 là 50,

100, 150 và 200mg được chia thành 3 lần tác động là cuối tháng 9, giữa tháng 10 và đầu tháng

11 Việc thu thập số liệu về sản lượng hoa cho từng dòng và công thức thí nghiệm được thực hiện vào tháng 2 năm 2007

Kết quả xử lý số liệu bằng phân tích phương sai với hai nhân tố tác động với mô hình hai nhân tố (Xij = µ + αi + βij + εij) được tổng hợp trong bảng 2 cho thấy mặc dù sinh trưởng về đường kính, chiều cao và đường kính tán của các dòng cây ghép ở các công thức liều lượng về cơ bản là giống nhau (các trị số Ftính về các chỉ tiêu này biến động trong khoảng từ 0,21 đến 0,66 đều lớn hơn 0,05) Song sai khác về sản lượng hoa, cả nón đực và nón cái giữa các công thức liều lượng cũng như giữa các dòng cây ghép lại rất rõ rệt

Bảng 2 Sản lượng hoa của các dòng cây ghép Thông nhựa 11 tuổi được xử lý Gibberelline

GA 4/7 với các liều lượng khác nhau

Số lượng nón cái (nón/cây)

Số lượng nón đực (cụm/cây)

Công

thức

(mg)

Số

cây

ĐC 21 272,3 36,0 837,8 62,2 7,9 0,17 16,5 0,59 6,33 0,18

50 26 298,2 33,7 853,0 58,2 7,8 0,16 17,5 0,56 6,50 0,17

100 25 302,8 33,7 889,5 58,2 8,0 0,16 17,2 0,56 6,22 0,17

200 20 285,7 38,8 785,5 67,0 7,6 0,18 15,1 0,64 6,08 0,20

Điều này chứng tỏ chất kích thích Gibberelline GA4/7 có tác dụng nâng cao sản lượng nón cái và nón đực, song chỉ ở một dải liều lượng nhất định Nếu vượt quá liều lượng cho phép, chất Gibberelline lại gần như không có tác dụng, thậm chí còn làm giảm sản lượng hoa của Thông nhựa như ở công thức 200mg

Dựa vào khoảng sai dị nhỏ nhất LSD để đánh giá mức độ sai khác về sản lượng hoa giữa các công thức thí nghiệm cho thấy:

Trang 6

của F = 0,00), công thức 50mg (xác suất của F = 0,003), công thức 100mg (xác suất của F = 0,005) và công thức 200mg (xác suất của F = 0,002), tất cả đều nhỏ hơn rất nhiều so với 0,01 ở mức ý nghĩa 99,9%

Về số lượng nón đực, công thức 150mg cũng có khác biệt rất lớn so với các công thức còn lại, có trị giá xác suất của F lần lượt như sau: công thức đối chứng (xác suất của F = 0,003), công thức 50mg (xác suất của F = 0,011), công thức 100mg (xác suất của F = 0,049) và công thức 200mg (xác suất của F = 0,002), tất cả đều nhỏ hơn 0,01 và 0,05 với độ tin cậy 95% ở cặp công thức 150mg và công thức 100mg, còn lại tất cả đều bằng hoặc nhỏ hơn 0,01 với độ tin cậy là 99,99%

Như vậy, đối với các dòng cây ghép Thông nhựa 11 tuổi tại vườn giống, Gibberelline GA4/7 liều lượng 150mg là công thức có hiệu quả cao nhất trong việc nâng cao sản lượng nón cái và nón đực

Ảnh hưởng của Gibberelline GA 4/7 đến sản lượng hoa của các dòng cây ghép

Kết quả theo dõi sản lượng hoa của các dòng cây ghép cho thấy số lượng nón đực và nón cái không những có sự biến động lớn giữa các công thức liều lượng mà ngay cả trong cùng một công thức cũng có biến động lớn Các trị số trung bình về số lượng nón cái và nón đực của từng dòng cây ghép ở các công thức liều lượng khác nhau được thể hiện ở biểu đồ 1 cho nón cái và biểu đồ 2 cho nón đực

Về sản lượng nón cái

Về cơ bản, việc tác động Gibberelline GA4/7 đã làm tăng sản lượng nón cái của các dòng cây ghép so với công thức đối chứng; song một số trường hợp việc tác động Gibberelline GA4/7

không những không mang lại hiệu quả mong muốn mà còn gây tác dụng ức chế Ví dụ như đối với dòng số 1 và dòng số 21 Một trong những nguyên nhân có thể dùng để giải thích cho hiện tượng này là do các dòng này đã đủ các hoóc môn nội sinh trong cây, việc tác động thêm một lượng Gibberelline GA4/7 sẽ gây ức chế

Trang 7

517 550 490.5

616

278

485

521

185

473 477.5

0

100

200

300

400

500

600

700

Dßng 1 Dßng 2 Dßng 3 Dßng 5 Dßng 6 Dßng 14 Dßng 15 Dßng 17 Dßng 21 Dßng 22 Dßng 29 Dßng 31 Dßng 53

Biểu đồ 1 Ảnh hưởng của lượng Gibberelline GA 4/7 đến số lượng nón cái

Cũng từ kết quả ở biểu đồ 1 cho thấy công thức có lượng chất Gibberellin 150mg/cây là có hiệu quả nhất Nó làm tăng sản lượng nón cái của 9/13 dòng cây mẹ trong thí nghiệm, đặc biệt là các dòng số 2 đạt 597,5 nón/cây, dòng số 17 (616 nón/cây), dòng số 29 (646,5 nón/cây) và dòng

53 (640,5 nón/cây)

Công thức 100mg/cây lại tỏ ra phù hợp với 2 dòng còn lại là dòng số 22 (521 nón/cây) và dòng số 15 (185 nón/cây) Trong khi chất Gibberelline GA4/7 có tác dụng tăng sản lượng nón cái của hầu hết các dòng cây mẹ, thì dòng số 1 và 21 là không chịu ảnh hưởng của chất kích thích,

chứng tỏ 2 dòng này đã có đầy đủ lượng chất Gibberelline nội sinh trong cây

Về sản lượng nón đực

Cũng tương tự như nón cái, việc tác động Gibberelline GA4/7 về cơ bản đã làm tăng sản lượng nón đực và phản ứng của các dòng với các liều lượng Gibberelline GA4/7 cũng rất khác nhau

Nhìn vào biểu đồ 3 biểu diễn ảnh hưởng của liều lượng Gibberelline GA4/7 đến số lượng nón đực, công thức 150mg vẫn tỏ ra là tốt nhất cho hầu hết các dòng cây mẹ, mặc dù sự vượt trội của công thức 150mg so với các công thức còn lại không lớn và rõ như ảnh hưởng của công thức này đến số lượng nón cái ở trên Nó chỉ chiếm 8/13 trong tổng số dòng Thông nhựa bơm kích thích

Trang 8

603

1403.5

1220 1427

927 1070.5 909.5

1317.5

1127.7 1770.5

0

200

400

600

800

1000

1200

1400

1600

1800

2000

Dßng 1 Dßng 2 Dßng 3 Dßng 5 Dßng 6 Dßng 14 Dßng 15 Dßng 17 Dßng 21 Dßng 22 Dßng 29 Dßng 31 Dßng 53

Biểu đồ 2 Ảnh hưởng của lượng Gibberelline GA 4/7 đến số lượng nón đực

Kết quả nghiên cứu này lại một lần nữa cho thấy các dòng khác nhau thì cần lượng Gibberelline khác nhau Mặc dù đa số các dòng đều thích hợp với công thức 150mg để tăng lượng nón đực, song công thức 100mg tỏ ra tác dụng kích thích tốt cho dòng 6, dòng 21 và dòng

22 Trong khi dòng số 1 và dòng 17 khi bơm chất kích thích, không những không có tác dụng làm tăng sản lượng hoa mà còn làm giảm hơn so với công thức đối chứng Đặc biệt, dòng số 1 hoàn toàn không chịu tác động của chất Gibberelline cho cả nón đực và nón cái Đây có thể là do chất Gibberelline nội sinh trong cây mẹ ở các dòng này đã đầy đủ để kích thích ra hoa kết quả Đến đây ta có thể kết luận rằng, sản lượng nón cái và nón đực không chỉ chịu ảnh hưởng ở các liều lượng thuốc khác nhau, mà còn chịu ảnh hưởng của các dòng cây ghép khác nhau, các dòng khác nhau có sự biến đổi về số lượng nón cái và nón đực khác nhau Điển hình là dòng số 15 nếu như không tác động chất kích thích, sản lượng cả nón cái và nón đực đều rất thấp, nhưng bơm chất kích thích ở mọi liều lượng Gibberelline GA4/7 thì cũng không làm thay đổi nhiều về số lượng hoa

Trong khi hầu hết các dòng Thông nhựa ghép đều được chất Gibberelline GA4/7 kích thích làm tăng sản lượng hoa, thì dòng số 1 lại không chịu ảnh hưởng của chất kích thích, khi bơm chất Gibberelline GA4/7 lại còn làm giảm sản lượng nón cái và nón đực, kết quả này tương tự với dòng

số 17 về sản lượng nón đực Điều này rõ ràng các dòng cây mẹ khác nhau có ảnh hưởng đến sản lượng nón cái và nón đực khác nhau

KẾT LUẬN

Trang 9

Sử dụng Gibberelline GA4/7 vào thời điểm và liều lượng thích hợp sẽ góp phần làm tăng

số lượng nón cái và nón đực của vườn giống Thông nhựa

Thời gian kích thích tối ưu đối với Thông nhựa là vào tháng 10 Sử dụng Gibberelline

GA4/7 vào thời điểm này sẽ làm tăng lượng nón cái lên 27,2% và lượng nón đực lên 19,2% so với công thức đối chứng không tác động

Liều lượng Gibberelline GA4/7 thích hợp nhất đối với các cây ghép Thông nhựa 11 tuổi là 150mg/cây Sử dụng liều lượng này sẽ làm tăng lượng nón cái lên 444,4 nón/cây và số lượng nón đực 1052,2 cụm/cây tăng lần lượt tăng 63,2% và 25,6% so với công thức đối chứng không kích thích

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Curt Almqvist, 2001 Improvement of flowering competence and capacity with reference to Swedish conifer breeding, pp 12-20

Chalupka W, 1984 Time of GA4/7 application may effect the sex of Scot pine flowers initiated,

pp 173-174

Fogal W, 1996 Stem incorporation of Gebberellins to promote sexual development of white spruce, Norway spuce and jack pine pp 186-195

Ho, R H & Eng, K, 1995 Promotion of cone production on field-grown eastern white pine graft

by Gibberellin GA 4/7 application pp 11-16

Luukkanen, O and Johansson S, 1980 Effect of exogenous giberellins on flowering in Pinus sylvestris grafts Physiol Plant, pp 365-370

PINUS MERKUSII SEED ORCHARDS

Nguyen Tuan Hung

Nguyen Duc Kien, Ha Huy Thinh

Research Centre for Forest Tree Improvement

Forest Science Institute of Vietnam

SUMMARY

Study on stimulation to produce early flowering in large amounts is an important method for forest tree improvement in order to shorten the breeding cycle and raise the productivity of seed

to provide for plantation requirements Gibberreline is a chemical which is applied in many

countries, especially on Pinus Pinus is a late flowering species and the period from flowering to

seed collection lasts nearly two years The research objective is to determine timing and a

suitable Gibberelline GA 4/7 dose to stimulate Pinus merkusii

The results show that using Gibberelline GA4/7 at the right time and dosage raises the amount of male and female cones significantly in comparison with the control formula Each grafting clone

reacts differently to GA4/7, however, the most suitable dose for most Pinus merkusii grafting

Trang 10

Keywords: Pinus merkusii, Gibberelline GA4/7

Ngày đăng: 18/04/2021, 01:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm