1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt Luận án tiến sĩ Kinh tế: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán và ước tính kế toán trong các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

12 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 297,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án được nghiên cứu với mục tiêu nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán trong các doanh nghiệp Việt Nam niêm yết trên thị trường chứng khoán. Làm rõ mức độ sử dụng chính sách kế toán với chiến lược tăng giảm lợi nhuận của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Trang 1

CHƯƠNG I GIỚI THIỆU Tính cấp thiết của đề tài

Trong nhiều năm, nhiều nghiên cứu có tính chất kinh nghiệm về kế toán

tập trung vào dự đoán và giải thích động cơ của nhà quản lý dẫn đến quyết định

lựa chọn chính sách kế toán có dẫn chứng lý thuyết kế toán thực chứng

Lý thuyết kế toán thực chứng liên quan đến lựa chọn kế toán tạo nên một

số thử nghiệm mang tính chất kinh nghiệm nhằm dự đoán hành vi quản lý, liên

quan đến cách mà nhà quản lý nghĩ và sử dụng trong lựa chọn một phương pháp

kế toán khi có sự xuất hiện của các khuyến khích và thay đổi kế toán Một giả

định cơ bản trong lý thuyết kế toán thực chứng là người đại diện là những cá

nhân có lý trí quan tâm đến những lợi ích khác của chính họ Điều này có nghĩa,

nhân tố động cơ ảnh hưởng đến lựa chọn chính sách kế toán cụ thể của nhà quản

lý là tối đa hóa lợi ích của họ

Một lượng lớn các thất bại kinh doanh đã được quy cho sự bất lực của các

nhà quản lý tài chính trong việc lập kế hoạch và kiểm soát đúng các tài sản hiện

hành và các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp Các yếu tố chính góp phần vào

sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp được phân loại như các yếu tố bên

trong và bên ngoài Các yếu tố bên ngoài bao gồm tài chính (ví dụ như sự sẵn có

của nguồn tài chính), điều kiện kinh tế, cạnh tranh, quy định của chính phủ, công

nghệ và các yếu tố môi trường Các yếu tố nội bộ là kỹ năng quản lý, nguồn nhân

lực, hệ thống kế toán và phương thức quản lý tài chính Các bộ phận kế toán nói

chung được xem như là một đơn vị dịch vụ để hỗ trợ hoạt động của các doanh

nghiệp bằng cách cung cấp thông tin về chi phí và các chỉ số hiệu suất

Tài sản trong doanh nghiệp bao gồm nhiều chỉ tiêu, mỗi chỉ tiêu có tác

dụng khác nhau đến người sử dụng thông tin tài chính Ví dụ: Khoản nợ của

doanh nghiệp ở mức cao, để tạo lòng tin đối với các tổ chức tín dụng, nhà quản

lý thường che đậy bằng cách cố gắng tăng lợi nhuận của doanh nghiệp Hoặc lợi

nhuận của doanh nghiệp ở mức cao, để tránh sự kiểm soát của chỉnh phủ (thắt

chặt các ưu đãi, kiểm soát chặt chẽ hoạt động,…) thì nhà quản lý doanh nghiệp

thường che đậy bằng việc tìm ra các phương thức để giảm lợi nhuận doanh

nghiệp Một trong các phương thức đó là vận dụng hợp lý chính sách kế toán

Các đối tượng sử dụng thông tin kế toán luôn muốn có các thông tin trung

thực và khách quan về tình hình tài chính và kết quả hoạt động của doanh

2

nghiệp, tuy nhiên họ có thể không đạt được kỳ vọng đó do kế toán có thể “bóp méo” thông tin vì nhiều lý do khác nhau Mặc dù một trong những nguyên tắc

cơ bản của kế toán là mọi thông tin kế toán phải dựa trên bằng chứng khách quan nhưng tính khách quan này bị ảnh hưởng đáng kể bởi sự lựa chọn chủ quan của kế toán đối với các chính sách kế toán áp dụng trong doanh nghiệp Chính sách kế toán và ước tính kế toán (gọi chung là chính sách kế toán) là một trong những chính sách quan trọng của doanh nghiệp bao gồm những nguyên tắc, cơ sở và các phương pháp kế toán cụ thể được doanh nghiệp áp dụng trong quá trình lập và trình bày Báo cáo tài chính Chính sách kế toán áp dụng ở mỗi doanh nghiệp được chuẩn mực kế toán cho phép lựa chọn phù hợp với đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp đó Tuy nhiên, do việc áp dụng các chính sách kế toán khác nhau sẽ mang lại những thông tin khác nhau được trình bày trên Báo cáo tài chính, nên bên cạnh việc lựa chọn chính sách kế toán phù hợp theo chuẩn mực, doanh nghiệp còn phải lựa chọn chính sách kế toán có thể giúp họ “quản trị” lợi nhuận, mang lại những thông tin có lợi nhất cho họ Như vậy, có thể thấy chính sách kế toán ở mỗi doanh nghiệp bị chi phối bởi nhiều nhân tố chủ quan (tài sản, nợ phải trả, tỷ lệ sở hữu của nhà quản lý,…) của doanh nghiệp đó Việc tìm hiểu các nhân tố này là một vấn đề có tính cấp thiết bởi nó có thể giúp cho người

sử dụng Báo cáo tài chính dựa vào những nhân tố này có thể dự đoán được xu hướng lựa chọn chính sách kế toán tăng hay giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, cũng như dự đoán được các chỉ tiêu trên Báo cáo tài chính thực tế có xu hướng tăng hay giảm so với số liệu được trình bày Vì vậy, việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán dựa trên lý thuyết kế toán thực chứng là rất cần thiết trước thực trạng đáng lo ngại về chất lượng Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay

Chính vì những lý do trên Nghiên cứu sinh chọn đề tài nghiên cứu là

“Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách và ước tính kế toán trong các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam"

Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

* Mục tiêu tổng quát:

Quyết định lựa chọn chính sách kế toán có ảnh hưởng lớn đến nội dung

thông tin cả báo cáo tài chính, ảnh hưởng lớn quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính Do đó luận án nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn

Trang 2

chính sách kế toán trong các doanh nghiệp Việt Nam Trên cơ sở đó giúp người

sử dụng báo cáo tài chính có các thông tin hữu ích về mức độ ảnh hưởng của các

nhân tố đến việc lựa chọn chính sách kế toán được sử dụng bởi ban quản trị

công ty, ảnh hưởng đến lợi nhuận được báo cáo Các nhà đầu tư có thể ra các

quyết định đầu tư đáng tin cậy hơn Nó cũng cho phép các nhà đầu tư đánh giá

đúng hơn về hoạt động tương lai của doanh nghiệp

* Mục tiêu cụ thể:

- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán

trong các doanh nghiệp Việt Nam niêm yết trên thị trường chứng khoán

- Làm rõ mức độ sử dụng chính sách kế toán với chiến lược tăng giảm lợi

nhuận của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Trên cơ sở các mục tiêu nghiên cứu, luận án đặt ra câu hỏi nghiên cứu cụ

thể như sau:

Câu hỏi 1: Những nhân tố nào ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế

toán trong các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam?

Câu hỏi 2: Mức độ sử dụng chính sách kế toán với chiến lược tăng giảm lợi

nhuận của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam như thế nào?

Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận án:

Luận án này nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính

sách kế toán trong các doanh nghiệp Việt Nam Các nhân tố có thể là quy mô

của doanh nghiệp, tình hình tài chính (khủng hoảng, tình hình tài sản,…), tỷ lệ

sở hữu của ngân hàng trong doanh nghiệp; tỷ lệ sở hữu của nhà quản lý không

điều hành, mức độ rủi ro thị trường của doanh nghiệp,… Chính sách kế toán

bao gồm chính sách hàng tồn kho, chính sách khấu hao, chính sách dự phòng,…

Phạm vi nghiên cứu

Thứ nhất, về nội dung: Luận án xem xét các nhân tố được cung cấp trên

các Báo cáo tài chính của các công ty phi tài chínhcó quy mô lớn niêm yết trên

Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM (HOSE), Hà Nội (HNX) (lợi nhuận từ

HĐKD, doanh thu, khấu hao TSCĐ, hàng tồn kho, các khoản phải trả, tổng tài

sản, nguồn vốn chủ sở hữu,…) Luận án không tính đến các thông tin như thời

gian hoạt động, thời gian niêm yết, … của công ty đó

Thứ hai, về không gian: Luận án tập trung nghiên cứu các công ty phi tài

chính niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM (HOSE), Hà Nội

4

(HNX) Các công ty tài chính như ngân hàng, tổ chức tín dụng do có những đặc thù trong HĐKD tương đối khác các công ty còn lại nên sẽ không thuộc phạm vi nghiên cứu của Luận án

Thứ ba, về thời gian nghiên cứu: Tính đến cuối năm 2014, trên Sở giao

dịch chứng khoán TP.HCM (HOSE), Hà Nội (HNX) có 690 Công ty niêm yết, trong đó, Luận án đã chọn bảng dữ liệu gồm 200 công ty phi tài chính có quy mô lớn nhất (tài sản lớn, doanh thu cao) lấy từ cao xuống niêm yết trong 5 năm (từ năm 2010 đến năm 2014), có cùng thời điểm kết thúc năm tài chính vào ngày 31/12 hàng năm, tạo thành bảng 988 quan sát để nghiên cứu (Có 988 quan sát vì thời điểm lên sàn của một số công ty là sau năm 2010) Trong 200 công ty được chọn thì 100 công ty được lấy trên sàn HNX và 100 công ty được lấy trên sàn HOSE

CHƯƠNG II

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Chính sách kế toán

Khái niệm:

Tại Việt Nam, theo chuẩn mực kế toán số 29: “Thay đổi chính sách kế toán, ước tính kế toán và các sai sót” thì chính sách kế toán là các nguyên tắc, cơ

sở và phương pháp kế toán cụ thể được doanh nghiệp áp dụng trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính

Đặc trưng:

- Chính sách kế toán là những nguyên tắc

- Chính sách kế toán là những lựa chọn

- Chính sách kế toán là ước tính kế toán Vai trò của chính sách kế toán

Đối với kế toán viên: Chính sách kế toán là cơ sở để thực hiện các công việc đo lường và công bố thông tin kế toán phù hợp với đặc điểm của từng đơn

vị và tuân thủ quy định pháp luật

Đối với nhà quản trị: Chính sách kế toán là phương tiện để kiểm soát hoạt động của công ty bằng những mong muốn điều chỉnh lợi nhuận Từ đó, các nhà quản trị có thể định hướng hoạt động, đưa ra các phương thức nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, chính sách tài trợ phù hợp và lập kế hoạch cho hoạt động của doanh nghiệp Việc vận dụng các chính sách kế toán khác nhau sẽ cho phép

Trang 3

nhà quản trị công ty có khả năng điều chỉnh các thông tin trình bày trên Báo

cáo tài chính của công ty từ kỳ này sang kỳ khác Đồng thời việc vận dụng các

chính sách kế toán khác nhau có thể giúp các nhà quản trị có thể làm đẹp các

báo cáo tài chính khi cần thiết

Đối với cơ quan thuế: Thông qua chính sách kế toán công bố là cơ sở

để kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý trong các quy định kế toán, đối chiếu với các

quy định của thuế để có những điều chỉnh; kiểm tra việc chấp hành các chế độ

tài chính và xác định đúng đắn các khoản nghĩa vụ phải trả cho Nhà nước

Lựa chọn chính sách kế toán trong công tác kế toán của doanh nghiệp:

- Lựa chọn chính sách hàng tồn kho

- Lựa chọn chính sách kế toán nợ phải thu

- Lựa chọn chính sách kế toán TSCĐ

- Lựa chọn chính sách kế toán về đầu tư tài chính

Vận dụng lý thuyết kế toán thực chứng trong nghiên cứu

- Lý thuyết hợp đồng

- Lý thuyết ủy nhiệm

- Quan hệ nhà quản lý - Cổ đông

- Hợp đồng hiệu quả

Tổng quan các nghiên cứu về việc lựa chọn chính sách kế toán trong các

doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán

Bảng 2.1 Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách

kế toán

Mối quan

hệ với lợi nhuận

1 Mức độ sử

dụng đòn bẩy

( Kenneth W Lemke, 1991), ( Michael

J Page, 1991)

+ waweru@yorku.ca,2012), (Ponsian Prot Ntui,2012), (Dr Musa Mangena,2012

+ Beattie et al, 1994; Florou, 2004 +

kể

6

Mối quan

hệ với lợi nhuận

Masahiro Enomoto, 2015 + hoặc -

2 Độ lớn doanh nghiệp

( Kenneth W Lemke, 1991), ( Michael

J Page, 1991)

-

kể

hưởng waweru@yorku.ca,2012), (Ponsian Prot Ntui,2012), (Dr Musa Mangena,2012)

+ Robert L.Hagerman and Mark E.Zmijewski, 1978

-

3 Mức độ sử dụng lao động

waweru@yorku.ca,2012), (Ponsian Prot Ntui,2012), (Dr Musa Mangena,2012)

-

4 Mức độ phân tán quyền sở hữu

waweru@yorku.ca,2012), (Ponsian Prot Ntui,2012), (Dr Musa Mangena,2012)

-

5 Tài trợ nội bộ Inoue và Thomas (1996) +

waweru@yorku.ca,2012), (Ponsian Prot Ntui,2012), (Dr Musa Mangena,2012)

+

6 Tỷ trọng nhà quản lý không điều hành

waweru@yorku.ca,2012), (Ponsian Prot Ntui,2012), (Dr Musa Mangena,2012)

-

7 Mức độ rủi ro thị trường

Beatty và cộng sự (1994) Không đáng

kể Robert L.Hagerman and Mark E.Zmijewski, 1978

+

Trang 4

Mối quan

hệ với lợi nhuận

thưởng

Beattie và cộng sự., 1994 + Cotter (1999) và Gupta (1995) + Robert L.Hagerman and Mark E.Zmijewski, 1978

+

9 Mức độ khủng

hoảng tài chính

10 Thuyên chuyển

quản lý

11 Tỷ lệ sở hữu

ngân hàng

Masahiro Enomoto, 2015 + hoặc -

12 Tỷ lệ sở hữu

của nhà quản lý

Robert L.Hagerman and Mark E.Zmijewski, 1978

+

13 Kiểm toán viên Masahiro Enomoto, 2015 -

(Richard M Frankel, 2002); (Marilyn F

Johnson, 2002); (Karen K Nelson,2002)

-

14 Xu hướng lợi

nhuận

Mohamed Ahmed Shaheen (2012) + Nguyễn Thị Hồng Phương, Nguyễn Thị Kim Oanh (2014)

+

15 Vốn ngân sách Mohamed Ahmed Shaheen (2012) -

16 Mức độ sử

dụng vốn

Mohamed Ahmed Shaheen (2012) -

8

CHƯƠNG III XÂY DỰNG GIẢ THUYẾT KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU Xây dựng giả thuyết khoa học

Giả thuyết 1: Các công ty có quy mô lớn, các nhà quản lý nhiều khả năng

sẽ chọn chính sách kế toán làm giảm lợi nhuận

Giả thuyết 2: Doanh nghiệp với tỷ lệ nợ/vốn chủ sợ hữu cao (mức độ sử

dụng đòn bẩy tài chính), nhiều khả năng nhà quản lý sẽ lựa chọn chính sách kế toán tăng lợi nhuận (income increasing accounting procedures)

Giả thuyết 3: Mức độ sử dụng lao động càng cao nhiều khả năng nhà quản lý sẽ lựa chọn chính sách kế toán giảm lợi nhuận

Giả thuyết 4: Mức độ phân tán quyền sở hữu càng cao nhiều khả năng

nhà quản lý sẽ lựa chọn chính sách kế toán giảm lợi nhuận

Giả thuyết 5: Tài trợ nội bộ càng cao nhiều khả năng nhà quản lý sẽ lựa

chọn chính sách kế toán giảm lợi nhuận

Giả thuyết 6: Tỷ trọng nhà quản lý không điều hành trong hội đồng quản

trị lớn nhiều khả năng nhà quản lý sẽ lựa chọn chính sách kế toán giảm lợi nhuận

Giả thuyết 7: Hệ số rủi ro của doanh nghiệp càng cao nhiều khả năng nhà

quản lý sẽ lựa chọn chính sách kế toán giảm lợi nhuận

Giả thuyết 8: Doanh nghiệp có kế hoạch thưởng làm cho nhà quản lý có

xu hướng lựa chọn chính sách kế toán tăng lợi nhuận

Giả thuyết 9: Mức độ khủng hoảng tài chính của doanh nghiệp càng cao

nhiều khả năng nhà quản lý sẽ lựa chọn chính sách kế toán tăng lợi nhuận

Giả thuyết 10: Nhà quản lý mới được bổ nhiệm nhiều khả năng sẽ lựa

chọn chính sách kế toán tăng lợi nhuận

Giả thuyết 11: Tỷ lệ sở hữu của ngân hàng càng cao nhiều khả năng nhà

quản lý sẽ lựa chọn chính sách kế toán giảm lợi nhuận

Giả thuyết 12: Tỷ lệ sở hữu của nhà quản lý càng cao nhiều khả năng nhà

quản lý sẽ lựa chọn chính sách kế toán giảm lợi nhuận

Giả thuyết 13: Các công ty là khách hàng của các hãng kiểm toán lớn

nhiều khả năng nhà quản lý sẽ lựa chọn chính sách kế toán giảm lợi nhuận

Giả thuyết 14: Doanh nghiệp với tỷ lệ lợi nhuận thuần/doanh thu cao

nhiều khả năng nhà quản lý sẽ lựa chọn chính sách kế toán tăng lợi nhuận

Trang 5

Giả thuyết 15: Doanh nghiệp với vốn ngân sách cao nhiều khả năng nhà

quản lý sẽ lựa chọn chính sách kế toán giảm lợi nhuận

Giả thuyết 16: Doanh nghiệp có mức độ sử dụng vốn lớn (high

capital intensity) nhiều khả năng nhà quản lý sẽ lựa chọn chính sách kế

toán giảm lợi nhuận

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các tham số thống kê mô tả để phân tích các nhân tố ảnh

hưởng đến việc lựa chọn chính sách kê toán tại các doanh nghiệp niêm yết trên

thị trường chứng khoán Việt Nam Các tham số thống kê được tác giả sử dụng

trong phương pháp này gồm các số tương đối, số tuyệt đối, số bình quân, trung

vị, độ lệch tiêu chuẩn

Luận án sử dụng hệ số tương quan (r) để kiểm định các giả thuyết nghiên

cứu đã đề cập ở chương 3 Hệ số tương quan phản ánh mối quan hệ giữa hai

biến Hệ số tương quan luôn nhận các giá trị trong khoảng (-1; 1) Hệ số tương

quan dương, phản ánh hai biến có mối quan hệ cùng chiều Hệ số tương quan

âm phản ánh hai biến có quan hệ ngược chiều Hệ số tương quan bằng 1 hoặc -1

phản ánh hai biến có quan hệ rất chặt chẽ Hệ số tương quan bằng 0 phản ánh 2

biến không có mối quan hệ với nhau

Để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kê toán tại các

doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, tác giả sử dụng

phân tích hồi quy đa biến có dạng như sau:

Y= β0 + β1*X1 + β1*X2 …+ βn*Xn + ε Trong đó:

Y: Biến phụ thuộc

X1, X2 Xn: các biến độc lập được tác giả đề xuất

ε: sai số (chênh lệch giữa giá trị thực tế với giá trị dự báo)

Phân tích hồi quy đa biến là một kĩ thuật thống kê có thể được sử dụng để

phân tích mối quan hệ giữa một biến phụ thuộc và nhiều biến độc lập Các biến

độc lập được sử dụng để phân tích hồi quy khi có mối quan hệ với biến phụ

10

thuộc và được biểu hiện qua hệ số tương quan

Để lựa chọn các biến phù hợp đưa vào phân tích trong mô hình hồi quy, luận án sử dụng phương pháp phân tích hồi quy từng bước Stepwise trong phần mềm SPSS Theo phương pháp này, các biến độc lập từng bước được đưa vào dần và loại trừ dần căn cứ vào các điều kiện mà phương pháp này đưa ra Sau khi lựa chọn các biến đưa vào phân tích hồi quy, luận án sử dụng kiểm định F để đánh giá về độ phù hợp của mô hình hồi quy tuyến tính bội; sử dụng kiểm định t để đánh giá về ý nghĩa các hệ số hồi quy của các biến độc lập

và sử dụng hệ số phóng đại phương sai - tiêu chuẩn VIF để đo lượng hiện tượng

đa công tuyến giữa các biến độc lập Các biến độc lập có hiện tượng đa công tuyến khi giá trị VIF lớn hơn 10 (Ramanathan, 2002; Gujarati, 2003)

Các dữ liệu được luận án sử dụng để nghiên cứu là các dữ liệu mảng (dữ liệu theo thời gian) nên khả năng có sự tương quan chuỗi có thể xảy ra Vì vậy, luận án sử dụng kiểm định Durbin – Watson để kiểm định quan hệ tương quan giữa các phần dư trong mô hình Hệ số Durbin – Watson dùng để kiểm định tương quan của các sai số liền kề nhau (tương quan chuỗi bậc nhất) Giữa các phần dư của mô hình hồi quy không có tương quan khi giá trị của hệ số Durbin – Watson nằm trong khoảng từ 1 đến 3 (Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008)

Đề tài cũng sử dụng mức ý nghĩa alpha bằng 5% để kết luận cho các kiểm định đã được trình bày ở trên

Mô hình nghiên cứu

%CSLTLN = α 0 + α 1 ĐB + α 2 DT+ α 3 CĐLĐ + α 4 PTQSH+ α 5 TTNB +α 6 TTNQLKĐH + α 7 BETA + α 8 KHT + α 9 KHTC + α 10 TCQL + α 11

TLSHNH + α 12 TLSHNQL + α 13 KTV + α 14 XHLN + α 15 VNS + α 16 CĐV

Các biến độc lập và biến phụ thuộc của luận án bao gồm:

Nhóm 1: Biến độc lập:

DT: Quy mô công ty được đo lường bằng tổng doanh thu được lấy từ báo

cáo tài chính hàng năm vào thời điểm kết thúc năm tài chính

ĐB: Mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính được đo lường là tỷ lệ giữa tổng

nợ dài hạn với tổng giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu, cả hai chỉ tiêu được lấy

Trang 6

vào cuối năm tài chính

CĐLĐ: Mức độ sử dụng lao động được đo lường bằng tổng chi phí lao

động trên tổng doanh thu hàng năm của công ty

PTQSH: Mức độ phân tán quyền sở hữu được đo lường bởi số lượng cổ

đông nắm giữ cổ phiếu từ 5% trở lên

TTNB: Tài trợ nội bộ được xác định là tỷ lệ phần trăm của lợi nhuận giữ

lại chia tổng tài sản

TTNQLKĐH: Tỷ trọng của nhà quản lý không điều hành được đo bằng

tỷ lệ phần trăm của nhà quản lý không điều hành trong hội đồng quản trị

BETA: Hệ số rủi do được cung cấp bởi Công ty Stoxplus

KHT: Kế hoạch thưởng được xác định bằng việc công bố các chính sách

thưởng của công ty trên Báo cáo tài chính thường niên Chọn 1 nếu công ty có

chính sách thưởng; chọn không nếu công ty không có chính sách thưởng

KHTC: Mức độ khủng hoảng tài chính được xác định theo công thức của

ALTMAN:

ALTMAN = 0.12X1 + 0.14X2 + 0.33X3 + 0.006X4 + 0.999X5; trong đó:

TCQL: Thuyên chuyển quản lý, bằng 1 nếu có sự thay đổi quản lý trong

kỳ, bằng không nếu không có sự thay đổi quản lý

TLSHNH: Tỷ lệ sở hữu của ngân hàng được xác định bằng tỷ lệ cổ phần

được sở hữu bởi các ngân hàng trong công ty

TLSHNQL: Tỷ lệ sở hữu nhà quản lý được xác định là tỷ lệ cổ phần

được sở hữu bởi tất cả các nhà quản lý

KTV: Kiểm toán viên, bằng 1 nếu kiểm toán viên làm việc tại các công ty

kiểm toán danh tiếng, bằng không nếu kiểm toán viên làm việc tại các công ty

kiểm toán ít danh tiếng Luận án xác định có 18 công ty sau được xếp vào nhóm

các công ty kiểm toán có danh tiếng: EY, KPMG, Deloitte Việt Nam, PWC,

AASC, A&C, DTL, AISC, Nexia ACPA, GTV, TL-TDK, Gia Cát, VAE, CPA

Hà Nội, AVA, AAC, AASCS, AFC

XHLN: Xu hướng lợi nhuận được đo bằng tỷ lệ Lợi nhuận trên tổng

Doanh thu

VNS: Vốn ngân sách được đo bằng tỷ lệ giữa Vốn ngân sách và Tổng vốn

chủ sở hữu

12

CĐV: Mức độ sử dụng vốn được đo bằng tỷ lệ giữa Tài sản cố định và

Tổng tài sản

Biến phụ thuộc:

% CSLTLN: tỷ lệ phần trăm của các lựa chọn chiến lược kế toán làm

tăng lợi nhuận (số phương pháp kế toán tăng lợi nhuận chia cho tổng số kế toán

phương pháp)

- Phương pháp khấu hao: Chọn 1 nếu doanh nghiệp tính khấu hao theo

đường thẳng, chọn 0 nếu doanh nghiệp tính khấu hao theo phương pháp khác Thông tin về phương pháp khấu hao được lấy từ Thuyết minh BCTC trên BCTC

đã được kiểm toán

- Lựa chọn thời gian khấu hao: Chọn 1 nếu doanh nghiệp chọn thời gian

khấu hao dài, chọn 0 nếu doanh nghiệp chọn thời gian khấu hao ngắn Cơ sở để xác định doanh nghiệp lựa chọn thời gian khấu hao ngắn hay dài là thời gian khấu hao bình quân của tài sản đó theo phụ lục số 1, TT45/2013/TT-BTC Nếu thời gian khấu hao được chọn nhỏ hơn thời gian khấu hao bình quân thì chọn 0, ngược lại chọn 1 Công thức tính thời gian khấu hao bình quân như sau: Thời gian

khấu hao bình quân

=

Tmin + Tmax

2

- Phương pháp tính giá hàng tồn kho: Trong phần tổng quan các chính

sách kế toán (Biểu 3.1), các nhà nghiên cứu thường so sánh phương pháp tính giá FIFO và LIFO đối với việc tăng giảm lợi nhuận trong doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp sử dụng phương pháp FIFO thì chọn 1, phương pháp khác thì chọn 0

- Dự phòng giảm giá hàng tồn kho: Nếu doanh nghiệp không trích dự

phòng thì chọn 1, nếu trích thì chọn 0

- Dự phòng phải thu khó đòi: Nếu doanh nghiệp không trích dự phòng thì chọn 1, nếu trích thì chọn 0

- Dự phòng giảm giá đầu tư tài chính: Nếu doanh nghiệp không trích dự phòng thì chọn 1, nếu trích thì chọn 0

Trang 7

CHƯƠNG IV KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC

LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM

YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Kiểm định giả thuyết

Giả thuyết Mối quan hệ với lợi nhuận Mối quan hệ

Phân tích hồi quy:

Để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến % lựa chọn chính sách làm tăng

lợi nhuận, luận án sử dụng mô hình hồi quy đa biến với các biến độc lập được

thể hiện thông qua mô hình lý thuyết sau:

%CSLTLN= a0 + a1xDT +… + a16xTLSHNH

Để xác định mô hình hồi quy đa biến phù hợp nhất, luận án sử dụng

phương pháp phân tích Stepwise (phương pháp lựa chọn từng bước) có trong

SPSS và đã lựa chọn được mô hình như sau:

% CSKTLN = 0,801 + 0.144TCQL - 0.188TLSHNQL - 0.205DT - 0.340KTV +

0.146KHTC - 0.118Beta - 0.049CĐV+ 0.002ĐB + 0.052 TLSHNH

Các thông số để lựa chọn mô hình:

14

- Mô hình có hệ số điều chỉnh R cao nhất = 0,844 có nghĩa các biến độc lập trong mô hình giải thích được 84,4% lý do lựa chọn chính sách kế toán và 15,6% các yếu tố khác không có trong mẫu

- Mô hình có mức ý nghĩa của kiểm định F nhỏ hơn 0,05 nên có ý nghĩa thống kê

- Mô hình đều có mức ý nghĩa của kiểm định t nhỏ hơn 0,05 nên các hệ số hồi quy trong mô hình đều phù hợp do đó mô hình có ý nghĩa thống kê

- Mô hình có giá trị VIF nhỏ hơn 10 có nghĩa các biến độc lập trong mô

hình không có hiện tượng đa cộng tuyến do đó mô hình có ý nghĩa thống kê

CHƯƠNG V THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, CÁC KHUYỀN NGHỊ

VÀ KẾT LUẬN Thảo luận về các giả thuyết nghiên cứu

Nghiên cứu chỉ ra rằng quy mô doanh nghiệp càng tăng, nhà quản lý sẽ lựa chọn chính sách kế toán giảm lợi nhuận Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của ví dụ Christie, (1990); Missonier, (2004), Watts và Zimmerman, (1986) cho thấy rằng, ở Việt Nam các công ty có quy mô lớn lựa chọn chính sách kế toán giảm lợi nhuận là do tránh ảnh hưởng của chi phí chính trị hoặc trì hoãn việc nộp thuế

Nhiều nghiên cứu ở Úc (Aitken và Loftus, 2009); Thụy Sĩ (Missonier, 2004); Saudi Arabia (Tawfik 2006); Rahman và Scapens (1988) ở Bangladesh; Nelson M Waweru, Ponsian Prot Ntui, Musa Mangena, (2011) ở Tanzania (Châu Phi) cho rằng mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính không phải là yếu tố trong việc giải thích sự lựa chọn các chính sách kế toán Nhưng ở khu vực Châu

Á - Thái Bình Dương, Astami và Tower (2006) chỉ ra rằng mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính liên quan đáng kể đến sự lựa chọn chính sách kế toán tăng lợi nhuận Nghiên cứu này phù hợp với kết quả nghiên cứu của luận án tại Việt Nam Theo số liệu thống kê (Phụ lục số 1) tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu tại các doanh nghiệp nghiên cứu là rất cao (1,7 lần) Kết hợp giữa số liệu thống kê và

hệ số tương quan cho thấy do số nợ chiếm trên tổng số vốn sở hữu lớn nên để che đậy tình hình tài chính của doanh nghiệp, các doanh nghiệp Việt Nam tìm cách báo cáo lợi nhuận ở mức khả thi nhất để tạo lòng tin đối với các tổ chức tín dụng nhằm mục đích được vay nhiều

Trang 8

Nghiên cứu cũng tìm thấy mối tương quan giữa mức độ sử dụng lao động

và lựa chọn chính sách kế toán, phù hợp với nghiên cứu của Elias, (1990);

Liberty và Zimmerman, (1986); Cullinan và Knoblett, (1994); Nelson M

Waweru, Ponsian Prot Ntui, Musa Mangena, (2011), cho rằng mức độ sử dụng

lao động càng cao nhà quản lý sẽ lựa chọn chính sách kế toán giảm lợi nhuận

nhưng mối quan hệ giữa mức độ sử dụng lao động và lựa chọn chính sách kế

toán tại các doanh nghiệp Việt Nam tương đối thấp (hệ số tương quan 0,358),

điều này cho thấy:

- Các doanh nghiệp Việt Nam lựa chọn chính sách kế toán giảm lợi nhuận

nhằm giảm bớt nhu cầu lương, giảm xung đột giữa công đoàn và nhà quản lý

- Giảm sự giàu có của cổ đông bằng việc chia cổ tức với mức thấp

- Vai trò của tổ chức công đoàn ở Việt Nam chưa được thể hiện rõ rệt,

chưa phải đại diện ưu tú để bảo vệ quyền lợi của người lao động (hệ số tương

quan thấp)

Phân tán quyền sở hữu càng cao nhà quản lý sẽ lựa chọn chính sách kế

toán giảm lợi nhuận Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Astami và Tower

(2006) ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Điều này cho thấy ở khu vực

Châu Á - Thái Bình Dương nói chung và ở Việt Nam nói riêng, các cổ đông

thiểu số có rất ít quyền kiểm soát các hoạt động của nàh quản lý do đó lợi ích

của cổ đông bị ảnh hưởng

Tài trợ nội bộ càng cao nhà quản lý sẽ lựa chọn chính sách kế toán giảm

lợi nhuận Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Missonier (2004), chứng tỏ

ở Việt Nam các công ty dựa nhiều vào nguồn vốn nội bộ (lợi nhuận giữ lại) hơn

nguồn tài trợ từ bên ngoài (đi vay của tổ chức tín dụng, phát hành trái phiếu) sẽ

lựa chọn chính sách kế toán giảm lợi nhuận nhằm giảm số lượng cổ tức được

chia cho cổ đông để cho phép các công ty đầu tư lợi nhuận giữ lại vào các dự án

mới Thực trạng ở Việt Nam rất nhiều doanh nghiệp công bố lãi nhưng không

chia cổ tức cho cổ đông mà giữ lại phần lợi nhuận được chia để đầu tư Ví dụ:

Tập đoàn FLC năm 2015 lãi 902 tỷ sau thuế nhưng không chia cổ tức cho cổ

đông Đại diện ban điều hành FLC cho biết hiện tại FLC đang đầu tư hàng loạt

dự án bất động sản lớn, nhu cầu vốn cho các dự án của tập đoàn năm 2016 là

30.000 tỷ đồng do đó FLC không chia cổ tức cho cổ đông Hàng loạt công ty ở

Việt Nam với cách làm tương tự trong năm 2015, điển hình như: Tổng công ty

Thép Việt Nam (VN Steel); Công ty Cổ phần Hạ tằng nước Sài Gòn đạt lợi

16

nhuận sau thuế gần 120 tỷ; Techcombank; VietABank; Công ty Cổ phần Đầu tư

và Phát triển Du lịch Vinaconex; Công ty Cổ phần Sông Đà 9.06;…

Tỷ trọng nhà quản lý không điều hành trong hội đồng quản trị càng cao nhà quản lý sẽ lựa chọn chính sách kế toán giảm lợi nhuận Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nelson M Waweru, Ponsian Prot Ntui, Musa Mangena, (2011) ở Tanzania Kết quả này cho thấy khi tỷ trọng nhà quản lý không điều hành trong các doanh nghiệp Việt Nam lớn, nhà quản lý không có khả năng để lựa chọn chính sách kế toán tăng lợi nhuận nhằm tối đa hóa lợi ích của họ, có nghĩa nhà quản lý không điều hành trong các doanh nghiệp Việt Nam là người giám sát có hiệu quả của các nhà quản lý và hành động vì lợi ích tốt nhất cho cổ đông

Mức độ rủi ro thị trường của doanh nghiệp càng cao nhà quản lý sẽ lựa chọn chính sách kế toán giảm lợi nhuận Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của R.L.Hugernun và M.E Zmijewxki (1978) Điều này có thể giải thích rằng,

ở Việt Nam các công ty có lợi nhuận biến đổi cao sẽ xuất hiện lợi nhuận bất thường do đó các công ty này sẽ liên quan đến chi phí chính trị dẫn đến nhà quản lý có động cơ làm giảm giá trị trung bình của phân phối lợi nhuận được báo cáo của công ty mình bằng cách lựa chọn chính sách kế toán giảm lợi nhuận Ví dụ: Ngân hàng Eximbank năm 2014 xuất hiện khoản lợi nhuận bất thường do mua đi bán lại dự án bất động sản Sauk hi bị kiểm toán lại, công ty bị bóc tách khoản lợi nhuận này làm lợi nhuận công ty từ lãi 114 tỷ đồng thành lỗ 834,6 tỷ đồng

Các công ty càng chú trọng kế hoạch thưởng nhà quản lý sẽ lựa chọn chính sách kế toán tăng lợi nhuận Kết quả này mâu thuẫn với nghiên cứu của Watts và Zimmerman (1978) nhưng phù hợp với nghiên cứu của R.L.Hugernun

và M.E.Zmijewxki (1978) Kết quả có thể được giải thích như sau: Ở Việt Nam, mức thưởng đưa ra là động lực để nhà quản lý muốn đạt được do đó nhà quản lý

sẽ lựa chọn chính sách kế toán tăng lợi nhuận nhưng do hệ số tương quan thấp (0,265) nên mối quan hệ giữa kế hoạch thưởng và % chính sách kế toán tăng lợi nhuận trong các doanh nghiệp Việt Nam là không chặt chẽ

Mức độ khủng hoảng tài chính của doanh nghiệp càng cao nhà quản lý sẽ lựa chọn chính sách kế toán tăng lợi nhuận Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Schwartz (1982) và Lilien và cộng sự (1988) ở Tehran; Suda và cộng sự; Suda và cộng sự (2007) và Masahiro Enomoto (2015) ở Nhật Bản Ở Việt Nam,

Trang 9

khi các công ty rơi vào tình trạng khủng hoảng tài chính, nhà quản lý sẽ lựa chọn

chính sách kế toán tăng lợi nhuận để cải thiện tình hình tài chính của mình nhằm

trấn an nhà đầu tư, đơn vị cung cấp tín dụng, cổ đông

Nhà quản lý mới được bổ nhiệm sẽ lựa chọn chính sách kế toán tăng lợi

nhuận Kết quả này mâu thuẫn với nghiên cứu của Beatty và Weber (2003);

Strong và Meyer (1987); Elliot và Shaw (1988); Yamaguchi (2013) nhưng phù

hợp với nghiên cứu của Shuto (2010) tại Nhật Bản cho thấy rằng: ở các công ty

Nhật Bản cũng như Việt Nam, nhà quản lý khi được bổ nhiệm muốn khẳng định

vị thế, tài năng của mình nên họ luôn cố gắng giúp công ty đạt được kết quả

kinh doanh tốt nhất do đó nhà quản lý sẽ lựa chọn chính sách kế toán tăng lợi

nhuận Mặt khác, có vẻ nhà quản lý mới được bổ nhiệm ở Việt Nam không quan

tâm đến kỳ vọng về lợi nhuận trong tương lai do đó đa số nhà quản lý không lựa

chọn chính sách kế toán giảm lợi nhuận

Tỷ lệ sở hữu của ngân hàng càng cao nhà quản lý sẽ lựa chọn chính sách

kế toán tăng lợi nhuận Kết quả này mâu thuẫn với nghiên cứu của Aoki và

Patrick (1994); Hamamoto (2001); Okabe (1994) tại Nhật Bản Hamamoto

(2001); Okabe (1994) cho rằng tỷ lệ sở hữu của ngân hàng càng cao, các ngân

hàng càng có hiệu lực giám sát do đó các ngân hàng sẽ mong muốn doanh

nghiệp giảm lợi nhuận nhằm ngăn chặn tiền chảy ra khỏi công ty thông qua trả

lương quản lý, trả cổ tức hoặc tránh đàm phán về tiền lương, đàm phán về giá

với nhà cung cấp, khách hàng Kết quả nghiên cứu ở Việt Nam khác Nhật Bản ở

chỗ tỷ lệ sở hữu của ngân hàng trong các công ty Việt Nam thấp hơn rất nhiều

so với Nhật Bản Bến cạnh đó, từ năm 2012 đến nay, các ngân hàng Việt Nam

gặp rất nhiều khó khăn trong kinh doanh, các doanh nghiệp vay vốn cũng đối

mặt với nhiều thách thức, nợ xấu ngân hàng gia tăng Để tránh bất lợi trong công

bố thông tin tài chính, các ngân hàng đang nắm giữ cổ phần trong doanh nghiệp

cũng mong muốn doanh nghiệp công bố kết quả kinh doanh có khả quan để che

dấu thực trạng tài chính xấu của ngân hàng do đó ngân hàng sẽ đồng thuận với

việc áp dụng chính sách kế toán tăng lợi nhuận của nhà quản lý

Tỷ lệ sở hữu của nhà quản lý càng cao nhà quản lý sẽ lựa chọn chính sách

kế toán giảm lợi nhuận Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Jensen và

Meckling (1976); Warfield và cộng sự (1995); Okabe (1994), cho thấy rằng: ở

Việt Nam, khi tỷ lệ sở hữu của nhà quản lý trong doanh nghiệp ở mức cao, nhà

quản lý sẽ lựa chọn chính sách kế toán giảm lợi nhuận nhằm:

18

- Giảm số lượng cổ tức chia cho cổ đông

- Tránh thế bất lợi trong đàm phán (đàm phán tăng lương của người lao động, đám phán về giá đối với khách hàng, nhà cung cấp)

Các công ty là khách hàng của các hãng kiểm toán lớn nhà quản lý sẽ lựa chọn chính sách kế toán giảm lợi nhuận Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của DeAngelo (1981); Nelson và cộng sự (2002) cho thấy ở Việt Nam, khi doanh nghiệp bị kiểm toán bởi một hãng kiểm toán lớn, có uy tín, nhà quản lý sẽ lựa chọn chính sách kế toán giảm lợi nhuận nhằm tránh sự chú ý của kiểm toán viên đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Luận án cũng tìm thấy mối quan hệ giữa tỷ lệ lợi nhuận thuần trên doanh thu và % chính sách kế toán tăng lợi nhuận nhưng mối quan hệ thiếu chặt chẽ vì

hệ số tương quan thấp (0,366) Kết quả này có thể được giải thích: ở Việt Nam giai đoạn 2010-2014 là giai đoạn khó khăn của nền kinh tế, doanh thu của các doanh nghiệp giảm đáng kể Để công bố Báo cáo tài chính ở mức chấp nhận được, nhà quản lý sẽ lựa chọn chính sách kế toán tăng lợi nhuận

Luận án cũng tìm thấy mối quan hệ giữa vốn ngân sách và lựa chọn chính sách kế toán Vốn ngân sách càng cao nhà quản lý sẽ lựa chọn chính sách kế toán giảm lợi nhuận nhưng mối quan hệ này không chặt chẽ vì hệ số tương quan thấp (0,265) Ở Việt Nam, các doanh nghiệp có vốn ngân sách được Nhà nước

áp dụng nhiều chính sách ưu đãi do đó để tránh chi phí chính trị, nhà quản lý lựa chọn chính sách kế toán giảm lợi nhuận

Doanh nghiệp có mức độ sử dụng vốn lớn nhà quản lý lựa chọn chính sách kế toán giảm lợi nhuận nhưng mối quan hệ này không chặt chẽ vì hệ số tương quan thấp (0,356) Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của của R.L.Hugernun và M.E Zmijewxki (1978) Ở Việt Nam, những doanh nghiệp chuyên sâu về vốn (có giá trị TSCĐ cao, công nghệ hiện đại) thì thường báo cáo lợi nhuận cao do đó để tránh chi phí chính trị, nhà quản lý lựa chọn chính sách

kế toán giảm lợi nhuận

Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Mô hình phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến % lựa chọn chính sách làm tăng lợi nhuận có dạng như sau:

Trang 10

% CSKTLN = 0,801 + 0.144TCQL - 0.188TLSHNQL - 0.205DT -

0.340KTV + 0.146KHTC - 0.118Beta - 0.049CĐV+ 0.002ĐB + 0.052

TLSHNH

Nelson M Waweru, Ponsian Prot Ntui, Musa Mangena, (2011) nghiên

cứu 06 nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn chính sách kế toán trong các doanh

nghiệp Tanzania (Châu Phi) và đưa ra mô hình:

Chiến lược lợi nhuận= α0 + α1 ĐB + α2 DT – α3 CĐLĐ + α4 PTQSH + α5

TTNB – α6 NQLKĐH

So sánh mô hình ở Tanzania và mô hình của luận án cho thấy điểm khác

biệt cơ bản:

- Dấu của biến độc lập doanh thu (quy mô) trong hai mô hình là khác

nhau

- 06 biến độc lập được nghiên cứu trong mô hình ở Tanzania thì chỉ có 02

biến được giữ lại trong mô hình của luận án: mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính

và doanh thu

R.L Hagerman and M.E Zmijewski nghiên cứu 05 nhân tố ảnh hưởng

đến lựa chọn chính sách kế toán tại Mỹ và đưa ra mô hình:

Chiến lược lợi nhuận= α0 + α1 CI - α2DT - α3 Beta - α4CĐV + α5KHT

So sánh mô hình ở Mỹ và mô hình của luận án cho thấy:

- Biến cạnh tranh không được đưa vào mô hình nghiên cứu của luận án vì

ở Việt Nam chưa có doanh nghiệp nào xác định được hệ số cạnh tranh

- Kế hoạch thưởng trong mô hình của R.L Hagerman and M.E

Zmijewski không được giữ lại trong mô hình của luận án

- 03 biến độc lập doanh thu, Beta, mức độ sử dụng vốn của hai mô hình có

dấu giống nhau

Masahiro Enomoto (2015) cũng nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến

lựa chọn chính sách kế toán tại các doanh nghiệp Nhật Bản và đưa ra mô hình:

Chiến lược lợi nhuận = α0 + α1ĐB - α2TLSHNQL - α3TLSHNH +

α4TCQL - α5KTV

So sánh mô hình của Masahiro Enomoto (2015) và mô hình của luận án

cho thấy:

- Các biến trong mô hình của Masahiro Enomoto (2015) được giữ lại

trong mô hình của luận án

20

- Dấu của biến Đòn bẩy, tỷ lệ sở hữu của nhà quản lý, Thuyên chuyển quản lý, kiểm toán viên là giống nhau, chỉ có dấu của biến tỷ lệ sở hữu của ngân hàng là khác nhau

Một số khuyến nghị

Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước

- Khủng hoảng tài chính:

Nhà nước cần luôn dõi theo và đưa ra những định hướng hỗ trợ kịp thời, hiệu quả cho doanh nghiệp Cụ thể là đa dạng hóa các hình thức xuất khẩu, quan tâm nhiều hơn đến các kênh phân phối tại nước nhập khẩu; Tổ chức hội chợ, quảng bá thương hiệu, quảng bá hình ảnh của các doanh nghiệp Việt Nam Bên cạnh đó, hỗ trợ cho các doanh nghiệp lớn mở các văn phòng đại diện ở những thị trường năng động và tiềm năng; Xác định khách hàng và tìm kiếm khách hàng; Theo dõi tình hình thị trường; Giảm thiểu rủi ro cho nhà xuất khẩu; Tiếp cận thị trường nhanh; Khai thác các lợi thế mà các doanh nghiệp Việt Nam có lợi thế cạnh tranh và xuất khẩu lợi thế cạnh tranh đó đến nước sở tại Bên cạnh

đó, chính sách tài khóa và tiền tệ cần được điều hành một cách linh hoạt Cụ thể: linh hoạt điều chỉnh thuế suất thuế xuất khẩu, cũng như thuế suất thuế nhập khẩu một số mặt hàng nhằm tránh những hiện tượng tiêu cực mang tính dây chuyền với thị trường trong nước và có giải pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời Đồng thời, Nhà nước cần phải quản lý chặt việc giao dịch ngoại tệ trên thị trường tự do, hạn chế đầu cơ ngoại tệ, gây sức ép lên tỷ giá cho doanh nghiệp Thông qua ngân hàng Nhà nước, tiến hành thực hiện nghiệp vụ bán ngoại tệ làm giảm và bình ổn

tỷ giá trên thị trường, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có nhu cầu nhập khẩu… Ngoài ra, hỗ trợ cho doanh nghiệp mở rộng sản xuất và xuất khẩu; Đặc biệt, Nhà nước phải sử dụng công cụ quản lý vĩ mô nhằm điều chỉnh thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển nhanh, mạnh, chất lượng, phù hợp với thị hiếu thị trường

- Tỷ lệ sở hữu ngân hàng:

Hiện này ở Việt Nam đang tồn tại hình thức “Sở hữu chéo” giữa doanh nghiệp với ngân hàng, đây được xem là một vấn đề lớn và nan giải đối với không chỉ Việt Nam mà cả các quốc gia trên thế giới Đặc biệt khi những năm gần đây, với sự phát triển của ngành tài chính - ngân hàng, thì tình trạng sở hữu chéo ở Việt Nam diễn biến ngày càng phức tạp, khó kiểm soát và đã nảy sinh nhiều hệ quả xấu đối với nền kinh tế Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sở hữu

Ngày đăng: 18/04/2021, 00:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w