Luận văn Quan hệ an ninh Mỹ - Nhật thời hậu chiến tranh lạnh (1992-1999) trình bày về các nội dung: sơ lược về mối quan hệ an ninh Mỹ-Nhật trong thời Chiến tranh lạnh, tình hình quan hệ quốc tế ở châu Á -Thái Bình Dương thời hậu Chiến tranh lạnh, Mỹ - Nhật thay đổi phương châm phòng vệ mới thời hậu Chiến Tranh lạnh, phân tích Phương châm phòng vệ mới Mỹ - Nhật. Để biết rõ hơn về nội dung chi tiết, mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LỊCH SỬ
… o0o…
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
QUAN HỆ AN NINH MỸ - NHẬT THỜI HẬU CHIẾN TRANH LẠNH
(1992-1999)
Thầy hướng dẫn: Lê Phụng Hoàng Sinh viên: Trần Ngọc Anh Thư
Khoá học 1996-2000 Thành phố Hồ Chí Minh, 05/2000
Trang 3M ỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Tình trạng vấn đề 6
3 Cấu trúc nội dung 7
Chương 1: SƠ LƯỢC VỀ MỐI QUAN HỆ AN NINH MỸ-NHẬT TRONG THỜI CHIẾN TRANH LẠNH 9
1.1 Quan hệ Mỹ-Nhật trước khi ký hiệp ước an ninh 9
1.2 Quan hệ an ninh Mỹ-Nhật từ khi ký hiệp ước an ninh tới năm 1992 10
Chương 2: TÌNH HÌNH QUAN HỆ QUỐC TẾ Ở CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG THỜI HẬU CHIẾN TRANH LẠNH 16
2.1 Nhật Bản lo ngại về mối đe dọa của Bắc Triều Tiên và ý đồ thật của Mỹ trong cuộc khủng hoảng hạt nhân ở Triều Tiên 16
2.1.l Nhật Bản lo ngại về mối đe dọa của Bắc Triền Tiên.(l) 16
2.1.2 Ý đồ thật của Mỹ trong cuộc khủng hoảng hạt nhân ở Tiều Tiên 18
2.2 Sự có mặt về quân sự của Mỹ ở Châu Á – Thái Bình Dương và vấn đề an ninh ở Đông Bắc Á 22
2.2.1 Những thay đổi trong chiến lược an ninh quân sự của Mỹ ở Châu Á – Thái Bình Dương sau chiến tranh lạnh 22
2.2.2 Những Nhân tố tác động đến sự có mặt về quân sự của Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương 25
2.2.3 Sự có mặt về quân sự của Mỹ ở Châu Á-Thái Bình Dương 27
2.2.4 Vấn đề an ninh ở Đông Bắc Á 30
Chương 3: MỸ - NHẬT THAY ĐỔI PHƯƠNG CHÂM PHÒNG VỆ MỚI THỜI HẬU CHIẾN TRANH LẠNH 43
3.1 Hợp tác phòng thủ Nhật – Mỹ trong thời đại mới 43
3.1.1 Hợp tác phòng thủ Nhật – Mỹ góp phần ngăn chặn tranh chấp trong khu vực 43
3.1.2 Mỹ Nhật cần có những nỗ lực ngoại giao để loại bỏ mối nghi ngờ 46
3.1.3 Mỹ - Nhật tăng cường hợp tác quốc phòng 48
3.2 Lực lượng phòng vệ Nhật Bản với phương châm phòng thủ mới 56
3.2.1 Phương hướng của tuyên bố chung an ninh 1996 57
3.2.2 Vai trò mở rộng của lực lượng phòng vệ 59
Trang 43.2.3 Lập trường của Trung Quốc đối với việc mở rộng lực lượng phòng vệ Nhật Hàn 63 3.2.4 Triển vọng cho cơ cấu an ninh Đông Bắc Á trong tương lai 69
Chương 4: PHÂN TÍCH PHƯƠNG CHÂM PHÒNG VỆ MỚI
NHẬT-MỸ 71
4.1 Sự thay đổi mới trong hợp tác phòng vệ Nhật - Mỹ 71 4.2 Ảnh hưởng của việc Mỹ, Nhật Bản sửa đổi phương châm hợp tác phòng vệ 74
PHẦN KẾT LUẬN 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 5PH ẦN MỞ ĐẦU
Từ xưa đến nay, ngoại giao là một vấn đề quan trọng đối với tất cả các nước trên thế giới Sau thời kỳ Chiến tranh lạnh chấm dứt, vấn đề ngoại giao đã được các nước đặc biệt quan tâm và nhất là trong những thập kỷ gần đây khi loài người chuẩn
bị bước sang một thế kỷ mới Trong đó, đặt biệt là Mỹ -Nhật cả hai nước đều là cường quốc hàng đầu của thế giới Mỹ ra sức mở rộng các mối quan hệ ngoại giao, ngấm ngầm thực hiện chính sách "toàn cầu phản cách mạng" của mình Nhật Bản từ một nước bại trận nhờ sự giúp đỡ của Mỹ đã trở thành siêu cường thứ hai về kinh tế
Liên minh an ninh Mỹ - Nhật được hình thành trong (thời kỳ Chiến tranh lạnh
xuất phát từ lợi ích chiến lược của hai bên Sau Chiến tranh thế giới thứ II, Nhật
Bản bị áp đặt một hiến pháp hòa bình theo đó Nhật Bản chỉ được phép duy trì một khả năng phòng vệ hết sức hạn chế Nhật Bản coi Liên Xô và Trung Quốc là hai mối
đe dọa an ninh trực tiếp và vì thế tìm kiếm cái ô an ninh về phía Mỹ Đối với Mỹ, duy trì được một lực lượng mạnh trên "chiếc tàu sân bay không thể bị đánh chìm" này có ý nghĩa chiến lược tối quan trọng kiềm chế các siêu cường Cộng Sản cũng như kiểm soát an ninh khu vực trong chiến lược an ninh toàn cầu của mình
Từ khi Chiến tranh lạnh chấm dứt, quan hệ an ninh Mỹ- Nhật ngày càng được củng cố và phát triển cao hơn Các dự luật liên quan đến Phương châm hợp tác phòng thủ Mỹ -Nhật đã được thông qua, đánh dấu một bước cụ thể hóa các nội dung trong tuyên bố chung an ninh năm 1996, coi Hiệp ước an ninh Mỹ-Nhật là "cơ sở ổn định phồn vinh của khu vực châu Á _Thái Bình Dương trong thế kỷ 21"quan hệ hợp tác phòng thủ Nhật-Mỹ đã bước sang giai đoạn mới Bởi tầm quan trọng của hai siêu cường này nên nhiều biến đổi trong quan hệ giữa hai nước ít nhiều cỏ ảnh hưởng đến khu vực và thậm chí cả thế giới Chính vì vậy, để nhằm làm rõ những
thay đổi và ảnh hưởng của hai nước này đối với các nước trong khu vực như thế
nào? Nên em chọn đề tài "Quan hệ an ninh Mỹ-Nhật thời hậu Chiến tranh lạnh" (1992-1999)
Bước đầu thực hiện đề tài tốt nghiệp, khả năng bản thân còn những hạn chế
nên trong phần nội dung và phương pháp trình bày còn nhiều thiếu sót Rất mong dược sự giúp đỡ, góp ý của thầy cô và các bạn cho bài viết được hoàn thiện hơn Cũng qua đây em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong khoa Lịch Sử đã giảng
Trang 6dạy cho em trong suốt những năm học tại Trường Em xin cảm ơn thầy Lê Phụng Hoàng đã nhiệt tình hướng dẫn cho em hoàn thành tốt luận văn Xin quý thầy cô hãy nhận nơi em lòng biết ơn sâu sắc
"Quan hệ an ninh Mỹ-Nhật thời hậu Chiến tranh lạnh" (1992-1999) - Đây
không hẳn là một đề tài mới đã có không ít những nhà nghiên cứu dưới nhiêu hình
thức khác nhau như báo tạp chí Lần đầu tiên, PTS Ngô Xuân Bình - cán bộ nghiên cứu trung râm nghiên cứu Bắc Mỹ đã cho ra đời quyển sách "Quan hệ Mỹ - Nhật sau Chiến tranh lạnh" - Nhà xuất bản khoa học Xã hội Hà Nội 1995 Quyển sách này đã đề cập đến mối quan hệ Mỹ-Nhật trong thời kỳ hiện nay trên lĩnh vực kinh
tế, chính trị, an ninh quân sự Thực chất nội dung của quyển sách là một bản tổng
kết khái quát xác thực đặc điểm, triển vọng và tác động của quan hệ Mỹ-Nhật trên
phạm vi toàn cầu và đặc biệt là trên phạm vi khu vực châu Á -Thái Binh Dương
Luận văn này không có tham vọng nghiên cứu hết thảy các mối quan hệ giữa
Mỹ và Nhật Bản sau kỷ nguyên Chiến tranh lạnh chấm dứt Ở đây, chỉ tập trung đề cập vào mối quan hệ an ninh Mỹ-Nhật và ảnh hưởng của nó đối với khu vực châu Á- Thai Bình Dương Do những hạn chế về điều kiện khách quan nên còn có những khiá cạnh quan trọng khác chưa được xem xét hoặc có những vấn đề đã được xem
xét song chưa trình bày một cách cặn kẽ Dù sao người thực hiện Luận văn vẫn nghĩ rằng những trang tư liệu ít ỏi này sẽ giúp bổ ích cho những ai quan tâm nghiên cứu
những vấn đề quốc tế và đặc biệt là quan hệ Mỹ-Nhật Bản
Quá trình học lập ở Đại Học là quá trình tiếp thu tri thức, đồng thời cũng là
quá trình học tập phương pháp nghiên cứu và tập sự nghiên cứu, đặc biệt là đối với
bộ môn Lịch Sử Việc tập sự nghiên cứu không chỉ có ích trong thời gian học, mà còn hỗ trợ cho công tác giảng dạy sau này Công tác nghiên cứu phục vụ cho bài
giảng của người giáo viên lịch sử được tốt hơn và qua đó giáo viên nắm được những
thông tin mới để truyền đạt cho học sinh
Khó khăn nhất khi thực hiện đề tài, vì nhiều lý do (khả năng cá nhân còn hạn chế, chính trị, nguyên tắc bảo quản mật của các văn kiện ngoại giao ) Người thực hiện Luận văn khó có thể tiếp xúc trực tiếp với các hiệp định (những bản gốc liên quan đến việc ký kết quan hê ngoại giao hai nước) Tuy nhiêu với sự mong muốn
tìm hiểu sâu hơn về một mối quan hệ giữa hai nước mà trong thời Chiến tranh thế
Trang 7giới thứ II Mỹ đã từng là kẻ thù của nhân dân Nhật bản, nay lại trở thành những người bạn cùng giúp đỡ, hợp tác hòa bình với nhau Người thực hiện bài viết hy
vọng sẽ nhận được sự thông cảm, giúp đỡ và ủng hộ của thầy cô và các bạn cho bài viết được hoàn chỉnh để có thể gửi đến người tham khảo những thông tin chính xác
đã chọn lọc và tổng hợp về mối quan hệ giữa hai nước Mỹ-Nhật Bản trong thời kỳ
hậu Chiến tranh lạnh
Chương 1 : Sơ lược về mối quan hệ an ninh Mỹ-Nhật trong thời Chiến tranh lạnh
1.1 Quan hệ Mỹ-Nhật trước khi ký Hiệp ước an ninh 1.2 Quan hệ Mỹ-Nhật từ khi ký Hiệp ước an ninh tới năm 1992
Chương 2 : Tình hình quan hệ quốc tế ở châu Á -Thái Bình Dương thời hậu Chiến
an ninh ở Đông Bác Á 2.2.l Những thay đổi trong chiến lược an ninh của Mỹ ở châu Á -Thái Bình Dương sau Chiến tranh lạnh
a Tinh hình an ninh mới đặt ra cho Mỹ ỏ châu Á -Thái Bình Dương
b Chiến lược an ninh quân sự mới của Mỹ
c Những đặc điểm mới trong chiến lược an ninh quân sự của Mỹ 2.2.2 Những nhân tố tác động tới sự có mặt về quân sự của Mỹ ở
châu Á -Thái Bình Dương
a Những điều kiện có lợi
b Những điều kiện không lợi 2.3 Sự có mặt về quân sự của Mỹ ở châu á -Thái Bình Dương
Trang 8c Quan hệ với Nga
d Quan hệ với Nhật Bản
Chương 3 : Mỹ -Nhật thay đổi phương châm phòng vệ mới thời hậu Chiến Tranh
lạnh
3.1 Hợp tác phòng thủ Mỹ-Nhật trong thời đại mới
3.1.1 Hợp tác phòng thủ Mỹ - Nhật góp phần ngăn chặn tranh chấp trong
khu vực
3.1.2 Mỹ-Nhật cần có những nỗ lực ngoại giao để loại bỏ mối nghi ngờ 3.1.3 Mỹ-Nhật tăng cường hợp lác quốc phòng
3.2 Lực lượng phòng vệ Nhạt Bản với phương chân phòng thủ mới
3.2.1 Phương hướng tuyên bố chung an ninh 1996
3.2.2 Vai trò mở rộng của lực lượng phòng vệ ,
3.2.3 Lập trường của Trung Quốc đối với việc mở rộng lực lượng phòng vệ
Nhật Bản
3.2.4 Triển vọng cho cơ cấu an ninh Đông Bắc Á trong tương lai
Chương 4 : Phân tích Phương châm phòng vệ mới Mỹ-Nhật
4.1 Sự thay đổi mới nong hợp tác phòng vệ Nhật Bản - Mỹ
4.2 Ảnh hưởng của việc Mỹ -Nhật Bản sửa đổi Phương châm hợp tác phòng vệ
Trang 9Chương 1: SƠ LƯỢC VỀ MỐI QUAN HỆ AN NINH MỸ-NHẬT
TRONG THỜI CHIẾN TRANH LẠNH
Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, nhiều nhà nghiên cứu Nhật Bản quan niệm
rằng, chiến tranh kết thúc cũng có nghĩa là mở đầu thời kỳ chiếm đóng của Mỹ ở
Nhật Bản Điều này phản ánh đúng thực trạng của hai nước sau chiến tranh, một bên
thắng trận, một bên bại trận Kẻ bại trận bị nhiều điều khoản ràng buộc quốc tế và bị kiệt quệ về kinh tế cộng với đói nghèo đã đặt Nhật Bản vào thế phải nghe theo chiếc gậy chỉ huy của Mỹ cả trong chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế Nhiều tư liệu lịch sử được lưu lại cho thấy công chúng Nhật Bản rất bất bình và tổ chức nhiều cuộc biểu tình chống lại đội quân chiếm đóng của Mỹ Song điều cần nhấn mạnh ở
đây là sự chiếm đóng của Mỹ diễn ra đồng thời với việc Mỹ giúp đỡ Nhật Bản phục
hồi kinh tế và phát triển văn hóa Phong cách và lối sống Mỹ cũng xâm nhập vào xã hội Nhật Chính sự hội nhập đó đã mang lại cho Nhật Bản nhiều lợi thế và cũng là
cơ sở để Nhật Bản phát triển vượt bật trong vài thập kỷ nay
Chính sách của Mỹ trong quan hệ với Nhật Bản thời kỳ sau chiến tranh thế giới
thứ II phản ánh chiến lược toàn cầu của Mỹ thực hiện cuộc chiến tranh lạnh nhằm
cô lập và tiến tới xóa bỏ hệ thống xã hội chủ nghĩa Việc chiếm đóng Nhật Bản sau chiến tranh, giúp Nhật khôi phục và phát triển kinh tế nằm trong những tính toán chiến lược của Washingtơn dùng Nhật Bản như một căn cứ tiền tiêu để khống chế hai siêu cường cộng sản là Liên Xô và Trung Quốc Còn đối với sự lựa chọn đồng
minh của Nhật thì sao ? Trong chính sách đối ngoại của mình Nhật Bản buộc phải lựa chọn hoặc là ủng hộ khối Liên Xô hoặc là đồng minh của Kỹ chống lại Liên Xô
Sự lựa chọn thứ nhất là không thực tế, bởi vì sự chiếm đóng sau chiến tranh cùng
với sự giũp đỡ toàn diện để phục hồi đất nước của Mỹ cho Nhật Bản đã đặt dấu chấm hết cho sự lựa chọn này Mặc dù trong hầu như suốt thập niên sau chiến tranh, tâm lý thù hận đối với Mỹ ném bom nguyên tử xuống hai thành phố của Nhật Bản vẫn còn sôi sục trong các tầng lớp người Nhật Bản Tất nhiên khi lựa chọn là đồng
minh của Mỹ, người Nhật Bản vẫn tìm mọi cách để xoa dịu mối quan hệ với nhiều
nước trong khối Liên Xô cũ và Trung Quốc luôn luôn nhắc nhở các nhà hoạch định chính sách đối ngoại của Nhật cần phải có đối sách đối với họ
Trang 10Giống như Mỹ và cùng với Mỹ, Nhật Bản nhận thức rằng Liên Xô và Trung Quốc, hoặc rộng hơn khối Liên Xô là kẻ thù của mình Sự đe dọa của hai nước cộng
sản lớn này tới an ninh của nước Nhật Bản vừa trực tiếp vừa lâu dài Nguy cơ này càng lớn hơn khi cả hai nước đều có vũ khí nguyên tử Đây càng là một trong những
lý do chủ yếu để một mặt Mỹ thuyết phục Nhật Bản về sự cần thiết phải có mặt về
quân sự của Mỹ tại Nhại Bản Và mặt khác, để người Nhật tự lí giải và chấp nhận sự
đảm bảo về an ninh của Mỹ đối với Nhật để đề phòng nguy cơ "xâm lược" của họ Trong gần năm thập niên qua, Nhật Bản luôn luôn xác định là đồng minh chiến lược
và chủ yếu của Mỹ Nhật coi quan hệ với Mỹ là hòn đá tảng trong chính sách đối ngoại của mình Chính việc dựa vào chiếc ô của Mỹ, Nhật Bản có nhiều cư hội để khôi phục vị trí của mình trên trường quốc tế
Một số nhà nghiên cứu cho rằng sự thất bại của Nhật Bản trong cuộc chiến
tranh thế giới thứ II kết thúc, đồng thời mở đầu thời kỳ chiếm đóng của Hoa Kỳ tại
nước này Ít ra thì cách hiểu này có lý trong khoảng thời gian từ sau chiến tranh cho đến trước khi hai nước ký hiệp ước "an ninh Mỹ - Nhật " (8.9.1951) và hiệp ước
phòng thủ vào năm 1960 Có thể nói thời kỳ này Hoa Kỳ gây sức ép toàn diện về quân sự với Nhật Bản, ở đó khái niệm hợp tác quốc phòng vắng bóng Cần nhắc lại
rằng đầu những năm 50, chiến tranh đo Mỹ và các đồng minh phương Tây phát động để chống lại khối Xô Viết đã thực sự tiến hành, với những tính toán chiến lược của mình, Hoa Kỳ cùng với Nhật Bản thỏa thuận ký kết hiệp ước phòng thủ chung
vào năm 1960 tại Washingtơn (Ja Pan – U.S Mutual Securiy Treaty) Việc ký hiệp
ước này, cả hai nước đều xuất phát từ những mục đích khác nhau: Đối với Hoa Kỳ học thuyết quân sự của họ ở thời kỳ này là tìm mọi cách giành ưu thế quân sự trên phạm vi toàn cầu, bao vây, cô lập Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Xây dựng các khối quân sự để vừa kiểm soát các đồng minh vữa tạo cơ sở cho các hoạt động
quân sự khi cần thiết Ở Tây Âu họ xây dựng khối hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), một loạt các căn cứ quân sự của Mỹ được xây dựng ở Tây Đức, Hy Lạp và một số nước Tây Âu khác
Ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, về mặt quân sự Mỹ coi việc xây đựng một hiệp ước phòng thủ với Nhật Bản lâu dài là hết sức cần thiết thậm chí coi Nhật Bản như một NATO Phương Đông Sự ra đời của hiệp ước phòng thủ Mỹ - Nhật còn
Trang 11nhằm mục đích khác nữa là tạo cơ sở pháp lý cho việc có mặt dài hạn của các căn
cứ quân sự Mỹ ở Nhật Hơn nữa bằng hiệp ước đó Mỹ muốn kiểm soát trực tiếp và kiềm chế khả năng quân sự của Nhật Bản Trong khi đó, Nhật Ban lại nhằm những
mục tiêu khác với Mỹ Thứ nhất, sử dụng chiếc ô an ninh của Mỹ, coi nó như một
sự đảm bảo an ninh từ xa nếu bị tấn công Nói cách khác, đó là l ý do thứ nhất mà
người Nhật tìm kiếm trong việc ký hiệp ước phòng thủ với Hoa Kỳ Sự lo sợ của
Nhật Bản ở thời kỳ này là khả năng quốc phòng của Liên Xô ngày càng được tăng cường cộng với tiềm năng về vũ khí hạt nhân của nước này đã buộc Nhật phải tính đến việc dựa vào sự đảm bảo của Mỹ trong lĩnh vực phòng thủ; lý do thứ hai là ký hiệp ước này với Mỹ, Nhật sẽ tiết kiệm một khoản chi phí quốc phòng lớn và cho phép Nhật chỉ tập trung vào một mối quan tâm chủ yếu là phát triển kinh tế Ngoài
ra cũng cần phải ghi nhận rằng sự phục hồi sau chiến tranh chưa tạo cho nước Nhật một vị trí đủ mạnh để mặc cả với Mỹ khi ký kết hiệp ước này, bởi vì hiệp ước được
ký kết có nghĩa là người Nhật phải chấp nhận sự có mặt của các căn cứ quân sự của
Mỹ ở nước này Đây là điều mà công luận Nhật không muốn Bởi từ những năm 60 của thế kỷ này, đại đa số các quốc gia trên thế giới đều muốn giành độc lập Khi dó
ý thức về quyền dân tộc tự quyết và không chấp nhận sự có mặt về quân sự của nước ngoai trên lãnh thổ của mình đã được nhân lên gấp bội - Nhật Bản không phải
là ngoại lệ
Theo một số nhà phân tích chính trị, việc ký hiệp ướ này mang tính chất phòng thủ nhiều hơn, ở đó không đề cập tai vấn đề liên kết chiến lược quân sự của quân đội hai nước Và theo chương V của hiệp ước thì Hoa Kỳ cam kết phối hợp hành
động với Nhật Bản trong trường hợp Nhật Bản bị tấn công Để đổi lại, chương VI
của hiệp ước thỏa thuận rằng, Nhật đồng ý cho Hoa Kỳ sử dụng một cách dễ dàng các căn cứ quân sự Mỹ trên lãnh thổ Nhụt Bản
Có thể nói rằng, hiệp ước đã không đề cập tới cơ chế liên kết quân sự của hai
bên và ngay cả vấn đề phối hợp diễn tập quân sự có tính chất quyết định mà Mỹ thường thực hiện với quân đội của khối NATO, cũng không bao hàm trong đó Điều này đã được ghi nhận cho tới sau khi cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam chấm dứt hoàn toàn Hay nói chính xác hơn là cho tới năm 1978, mặc dù như chúng ta biết,
chương về điều khoản chung của hiệp ước có ghi nhận về sự cần thiết phối hợp hành động quân sự của hai nước Song trên thực tế, lực lượng phòng vệ Nhật Bản
Trang 12hoạt động dường như độc lập với quân đội Mỹ trong suốt gần hai thập niên đầu tiên
của hiệp ước Chính điều này đã tạo cơ hội cho Nhật Bản không trực liếp tham gia hoạt động quân sự với quân đội Mỹ ở trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương Rõ
ràng học thuyết quân sự của Nhật Bản là "phòng vệ" thực sự và nó được các chính quyền Nhật Bản duy trì trong một khoảng thời gian khá dài, ít ra là khoảng bốn thập niên kể từ sau chiến tranh Cho tới nay, về lý thuyết Nhật Bản vẫn tôn trọng học thuyết phòng vệ Song sự có mặt của quân đội Nhật trong liên quân vớt mình ở vùng Vịnh, trong lực tượng gìn giữ hòa bình ở Canipuchia năm 1992 và ở Nam Tư cũ năm 1994, đã làm cho một số nhà phân tích nghi ngờ về sự trung thành của Nhật Bản đối với học thuyết quân sự của họ
Sự hợp tác chặc chẽ giữa Mỹ va Nhật trong lĩnh vực chính trị và ngoại giao
trong nhiều năm đã tạo ra cơ hội cho cả hai nước trong việc mở rộng hợp tác quân
sự khi cần Một điểm mốc quan trọng mà nhiều nhà phân tích quân sự coi là bước chuyển giai đoạn của quá trình hợp tác về quân sự là việc hình thành "Phương
hướng chỉ đạo” vào năm 1978 Đây là phương hướng hợp tác quân sự do sự phối
hợp giữa bộ quốc phòng Hoa Kỳ và Cục phòng vệ Nhật Bản tạo ra
Cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam chấm dứt vào năm 1975 và sự ra đi của quân đội Mỹ khỏi nước này đã làm cho một số nước Đông Nam Á nghi ngờ về sự thay đổi trong chiến lưực quân sự khu vực của Mỹ Chính phủ Nhật Bản lúc đó cũng
có mối quan tâm tương tự và họ nhận thức về vấn đề này như là bước đầu tiên của
Mỹ rút quân khỏi Châu Á Việt Nam thắng trận trên một phương diện nào đó đã làm cho không ít quốc gia trong vùng lo ngại về sự lớn mạnh của khối Xô Viết và lo sự
về ảnh hướng của khối này vượt ra ngoài quốc gia của họ Ngay đối với Nhật Bản, phản ứng trước sự "rút quân" cua Hoa Kỳ khỏi Châu Á là việc họ tính tiến chương trình hợp tác quân sự với Hoa Kỳ Nói cách khác đó là một kế hoạch để bù đắp vào
sự ra đi của quân đội Mỹ khỏi khu vực này Tháng 8 năm 1975, Bộ Trưởng Quốc
Phòng Mỹ lúc đó J.Schlesiger đã gặp Cục Trưởng Phòng Vệ Nhật Bản là SaKaTa để
phân tích và đánh giá tình hình an ninh khu vực và sự hợp tác quân sự song phương
trong giai đoạn mới Hai bên đã đi đến một thỏa thuận là xây dựng một Guidilines nhằm mở rộng và củng cố quan hệ hợp tác quân sự giữa quân đội hai nước
Tới năm 1978, sau nhiều lần tiếp xúc, thương lượng, giới lãnh đạo quân sự ở
hai nước đã công bố bản phương hướng hợp tác quân sự Hoa Kỳ - Nhật Bản trong
Trang 13giai đoạn mới - Guidelines Có thể nói với Guidelines sự liên kết quân sự giữa hai quốc gia này đã được nâng lên một bước mới cả về quy mô và chất lượng Nếu trước đây mức độ liên kết quân sự của hai nước này chưa cao và chưa mang tính
chất hệ thống như tình hình ở các nước trong khối NATO thì từ đay hợp tác trong
lĩnh vực quân sự mang tính phân công trách nhiệm Theo phương thức của quá trình phân công lao động hợp tác - giữa hai lực lượng quân sự của hai siêu cường dựa trên những điều khoản căn bản của hiệp ước năm 1960 cho phép nâng cao khả năng phân công của các lực lượng quân sự nếu bị lấn công
Cần phải nhấn mạnh rằng sự ra đời của "Phương hướng chỉ đạo" là bắt đầu mọt quá trình mà ở đó, sự liên minh giữa hai lực lượng quân sự Hoa Kỳ và Nhật Bản một mặt đã tạo cơ hội cho việc đảm báo lợi ích của Hoa Kỳ ở Nhật Bản và hàm ý khẳng định với các đồng minh rằng, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục có mặt ở Châu Á thậm chí còn gắn bó hơn trước chiến tranh Việt Nam bởi có sự phối hợp toàn diện với đồng minh Nhật Bản Mặt khác, bằng việc làm này Mỹ sẽ tạo ra cơ sở pháp lý trong quan
hệ song phương cho sự tham gia đóng góp về quân sự ở Nhật Bản đối với chiến
lược quân sự toàn cầu của Mỹ cho thập niên sau đó Không cần có sự quan sát tinh
tế thì người ta cũng thấy rằng, với các cuộc tập trận của liên quân Mỹ - Nhật và các chường trình hợp tác nghiên cứu khả năng quân sự của Liên Xô (cũ) khi cần Một đợt phản công của liên quân cuối những nám 70 nhằm nâng cao khả năng chiến đấu của quân đội hai nước này mà còn là sự răn đe đối với các lực lượng quân sự Xô Viết Sự can thiệp của quân đội Liên Xô vào Apganistan năm 1979 cũng tạo ra những điều kiện cho việc mở rộng sự hợp tác quân sự Mỹ - Nhật trong những năm sau đó Đặc biệt là vào đầu những năm 80, khi Liên Xô tăng cường khả năng chiến đấu của các lực lượng hải quân và không quân ở Tây Bắc Thái Bình Dương Hoa Kỳ
và Nhật Bản đã đánh giá tình hình trở nên nghiêm trọng và coi đó như là một tình thế mới xuất hiện trong cuộc đối đầu giữa lực lượng hải quân ở liên qụân Mỹ - Nhật
và Xô Viết ở vùng Tây Bắc Thái Bình Dương Bởi vậy, việc tính đến một khả năng phòng thủ mới của liên quân Mỹ - Nhật và hiện đại hóa lực lượng hải quân Nhật Bản là một nhu cầu thực sự của nước này Chẳng hạn hải quân và không quân của
Nhật được trang bị mới hệ thống tên lửa tầm trung chống tàu ngầm và chống lại hệ thống tên lửa đạn đạo của quân đội Xô Viết bố trí ở các căn cứ quân sự ở vùng Viễn
Đông và biển Okhotsk Sự đối đầu về quân sự trên biển đã kéo theo việc hiện đại
Trang 14hóa và phối hợp tác chiến giữa lực lượng bộ binh của Nhật Bản với lực lượng thủy đánh bộ Mỹ Đây là một biểu hiện mới sau khi hai bên Mỹ - Nhật ký Guidelines, bởi trước đó lực lượng bộ binh của Nhật thường hoạt động tương đối độc lập và ít chịu ảnh hưởng của quân đội Hoa Kỳ
Nói tóm lại, nếu hiệp ước phòng thủ Mỹ - Nhật ký năm 1960 được người ta ví như là chiếc ô an ninh của Hoa Kỳ đảm bảo cho Nhật Bản chống lại bất kỳ một sự
tấn công bất ngờ nào, thì sự thiếu vắng của các chương trình hợp tác quân sự cụ thể của hai hên trong nhiều năm được coi như là những lỗ thủng trên chiếc ô mà phải gần hai thập niên sau đó với Guiđelines, người ta mới vá được những lỗ thủng đó Nói cách khác, với sự ra đời của phương hướng chiến lược quân sự, thì Hoa Kỳ và Nhật Bản đã tìm được tiếng nói chung, hàng gắn được những lỗ hổng vốn tồn tại trong nhiều năm Theo cách nói của một số chuyên gia quân sự, các lực lượng phòng vệ Nhật Bần có cơ hội để học hỏi thêm kinh nghiệm, chiến thuật và chiến lược của quan đội Hoa Kỳ mà sau gần bốn thập niên kể từ khi chiến tranh thế giới thứ hai họ không mảy may có được những cơ hội tốt do những hạn chế về mặt luật pháp của chính nước này
Sự đối đầu về quân sự Xô - Mỹ ở Tây Bắc Thái Bình Dương, cuộc nội chiến ở
Campuchia là những nhân tố tạo cớ cho sự cấu kết quân sự của hai quốc gia Hoa Kỳ
và Nhật Bản Chiếc ô an ninh của Mỹ đối vứi Nhật Bản đã được hàn vá và ảnh hưởng của nó lan tới nhiều nước ở Đông Bắc Á và Đông Nam Á Và có thể nói rằng, sự cấu kết về quân sự giữa hai nước này từ cuối những năm 70 cũng đặt ra nhiều vấn đề mới cho cả hai nước, nhất là trong lĩnh vực quốc phòng
Vào những năm 80 khi Reagan thắng cử tổng thống, ông chủ trương xây dựng một nước Mỹ mạnh cả đối nội và đối ngoại, trong đó sự hợp tác an ninh Mỹ - Nhật
được chú trọng và chính quyền Reagan đã đề cao những lợi ích chiến lựợc của Mỹ ở
khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương Trong sự tính toán của mình, chính quyền
Reagan muốn nâng cao chất lượng của hợp tác quân sự Mỹ - Nhật ở một trình độ
vượt lên trên những gì mà chính quyền Carter đã làm trước đó Điều này phụ thuộc vào thành bại của Reaganomies Và đúng như nhiều người nói, "tân chính phủ" cũng
có nghĩa là "tân chính sách" Ngay trong cuộc gặp thượng đỉnh Hoa Kỳ - Nhật Bản vào năm 1981, lần đầu tiên người ta nghe đến thuật ngữ "vai trò và sứ mệnh" trong quá trình thương lượng và chia sẻ trách nhiệm với Hoa Kỳ Hai bên liên quan đã
Trang 15cho thỏa thuận nhiều vấn đề về đẩy mạnh quá trình hợp tác quân sự Chẳng hạn, phía Nhật cam kết sẽ tăng cường ngân sách quốc phòng, thực hiện đầy đủ trách nhiệm cùa mình trong việc phòng thủ xa, trẽn dưới 1000 dặm kể từ bờ biển của Nhật Hai bên đã đồng ý tổ chức phối hợp nghiên cứu về khả năng chống lại một cuộc tấn cồng bất ngờ ở Viễn Đông và thực hiện cuộc diễn tập phối hợp giữa lực lượng quân sự hai bên vào tháng 9/1981 Hai bên cũng đã cam kết tiến hành nghiên cứu định kỳ về "sứ mệnh trên đại dương" của liên quân Mỹ - Nhật
Tổng thống Reagan được coi là một trong những người thành công nhất trong hoạt động đối ngoại so với nhiều người tiền nhiệm Ông cũng là tổng thống có nhiều thành công trong chiến lược đối ngoại, trong đó quan hệ với Nhật Bản, được củng
cố toàn diện Chính phủ Nhật Bản vào năm 1985 chấp nhận tài trợ cho chương trình nghiên cứu quốc phòng trung hạn 5 năm với tổng số tiền xấp xỉ 18,4 (1) ngàn tỷ yên
và cam kết với Mỹ sẽ tăng ngân sách quốc phòng một cách ổn định hàng năm là một
thí dụ nổi bật về thành công của chính phủ Reagan trong quá trình thương lượng về hợp tác quốc phòng với Nhật Bản Ngoài ra, người ta cũng thấy quá trình chuyển giao kỹ thuật quốc phòng được cả hai phía đặc biệt chú trọng, như phối hợp sản xuất các loại vũ khí, nghiên cứu và sảu xuất máy bay chiến đấu Và lần đầu tiên trong lịch sử của quan hệ quốc phòng Mỹ - Nhật Bản, phía Nhật thỏa thuận sẽ tham gia vào chương trình chịến tranh giữa các vì sao của Mỹ vào năm 1986 Đây là chường trình phát triển vũ khí hiện đại của Hoa Kỳ được gọi la chương trình phòng
thủ xa hoặc chiến tranh giữa các vì sao bị nhiều nước phản đối và gây ra sự lo lắng cho nhiều chính giới ở cả Hoa Kỳ - Nhật và các nước xã hội chủ nghĩa vì đó là mở
đầu cho nguy cơ một cuộc chạy đua vũ trung vào vũ trụ Bằng những chương trình hợp tác này, quan hệ quân sự Hoa Kỳ - Nhật Bản vào giữa những năm 80 đã được nâng lên một tầm mới và ngày càng chứng tỏ vai trò quan trọng của Nhật Ban trong việc đóng góp vào chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ Hay nói cách khác, vào thời điểm đó Nhật Bản thực sự trở thành một NATO phương Đông đối với chiến lược quân sự của Hoa Kỳ
Trang 16Chương 2: TÌNH HÌNH QUAN HỆ QUỐC TẾ Ở CHÂU Á – THÁI
BÌNH DƯƠNG THỜI HẬU CHIẾN TRANH LẠNH
Hơn 90.000 bộ binh, hải quân và không quân Nhật đã bỏ hai tuần đầu tháng 10
năm 1993 vào cuộc tập trận Đến gần một phần ba các lực lượng vũ trang tham gia,
đó là cuộc tập trận lớn nhất kể từ khi kết thức Chiến tranh thế giới II Cục phòng vệ
Nhật Bản nói cuộc tập trận được tổ chức hầu hết trên đảo Hokkaiđo phía bắc là thường lệ Nhưng ngay phía bên kia biển Nhật Bản, không quân Bắc Triều Tiên
cũng cho những chiếc máy bay của họ cất cánh
Tình hình căng thẳng đang tăng lên quanh biển Nhật Bản, Tôkyô lo lắng Sách trắng hàng năm của Cục phòng vệ, được xuất bản hồi tháng 7, đã nhấn mạnh đến mối đe dọa của Bắc Triều Tiên và những mối lo ngại về an ninh khác với một giọng điệu chưa thấy trước đây Trong quá khứ, Cục này chủ yếu tập trung vào mối đe dọa
từ các lực lượng của Liên Xô cũ Trong sách trắng này họ đã dành 3 trang để phần
tích về Bắc Triều Tiên
Vụ thử tên lửa tầm trung mới Rodong-1 vào cuối tháng 5, của Bình Nhưỡng đã
gây sửng sốt trong Cục phòng vệ Khó mà không nghĩ rằng Bắc Triều Tiên có thể làm một cái gì đó khiêu khích hơn Bốn tên lửa đã được phóng từ một căn cứ trên
bờ hiển, cách Bình Nhưỡng 370km về phía đông bắc Mục tiêu là một cái phao được thả neo ngoài khơi bán đảo NoTo của Nhật ở cách xa đó khoảng 500km Thêm 500km nữa (tên lửa Rodong-1 có tầm xa 1000km) chúng có thể rơi xuống giữa nước
Nhật Tên lửa Rodong-2, có thể sử dụng vào năm 1995, với tầm xa 1300km, có thể khống chế toàn bộ nước này Cả hai loại đều được cho là có khả năng mang đầu đạn hạt nhân hay vũ khí vi trùng
Nhật Bản, Mỹ và Nam Triều Tiên ngày càng lo ngại rằng Bắc Triều Tiên đang quyết tâm có được các vũ khí hạt nhân Tổng Thống Nam Triều Tiên Kim Yuong Sam gần đây đã nói với một tờ báo Nhật Bản rằng ông tin là Bình Nhưỡng đã sản xuất đủ Plutonium để chế tạo 3 quả bom nguyên tử Đầu năm nay Bình Nhưỡng đã
dọa rút khỏi Hiệp ước không phổ biến hạt nhân, sau đấy họ đã hoãn việc rút lui đó,
Trang 17nhưng suốt cả năm họ đã từ chối không cho phép cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế thanh tra tổ hợp hạt nhân của họ ở Yongbyon
Nếu Bắc Triều Tiên phát triển các vũ khí hạt nhân thì điều đó có thể dẫn đến một cuộc chạy đua vũ trang ở khu vực Cục trưởng mới của Cục phòng vệ Nhật Bản , Nakanishi keisuke, gần đây đã nói với một ủy ban Nghị viện rằng miền Tây Nhật
Bản, về cơ bản không được phòng thủ chống một cuộc tấn công của Bắc Triều Tiên Cuối tháng 9, ông tán thành cùng Mỹ phát triển một hệ thống phòng thủ tên lửa khu
vực Đồng thời một nhà khoa học cũ của chính phủ Bấc Triều Tiên ở Nhật Bản
khẳng định ràng nước ông có đủ Plutonium tinh chế để chế tạo 20 quả bom
Tuy nhiên, thủ tướng Hosokawa Morihiro đã luôn luôn là một người chủ
trương trung lập không vũ trang và một người bảo vệ hăng hái Hiên pháp hòa bình
cuủ nước này Do vậy, không chắc ông sẽ thúc đẩy tăng cường vũ trang Mặt khác,
Cục phòng vệ đang nằm trong tay của một cựu thành viên của đảng Dân chủ tự do
Dưới sự cai trị lâu dài của Đảng này, Nhật Bản đã xây dựng một trong những lực lượng vũ trang tinh nhuệ nhất, hùng mạnh nhất ở Châu Á và nó đi tiếp tục hiện đại hóa
Tuy nhiên, giáo sư Sakanaka Tomohisa, một chuyên gia về an ninh và cố vấn cho chính phủ, cho rằng "rất không có khá năng" Bắc Tiều Tiên sẽ sử dụng các tên lửa của họ chống Nam Triều Tiên hay Nhật Chúng có thể đưa lại cho Bình Nhưỡng tác dụng đòn bẩy trong thương lượng với Seoul Nhưng đó sẽ là "tự sát" nếu sử dụng chúng Tổug thống Clinton đã thề rằng Mỹ sẽ trả đũa ồ ạt nếu Bắc Triều Tiên phát triển và sử dụng các vũ khí hạt nhân
Thậm chí một số người trong bộ tổng tham mưu Nhật cũng chất vấn liệu Bình Nhưỡng có nhằm vào Nhật không Tại một cuộc họp của các chuyên gia tình báo hồi tháng 9, họ đã thảo luận vấn đề này và kết luận rằng sẽ phải mất một số năm nữa trước khi Bắc Triều Tiên có thể triển khai một mối đe dọa có thể tin được Điều đó
có thể đúng như vậy, vì có thể phải mất ít nhất là 10 năm để lắp đặt một hệ thống chống tên lửa khu vực có hiệu quả
Một sự kìm hãm đối với Bắc Triều Tiên là nền kinh tế đang trở nên xấu đi của
họ Nhiều người Nhật đã ý thức được những điều kiện rất khó khăn ở Bắc Triều
Tiên thông qua những tin tức của các kiều dân Triều Tiên ở Nhật thường xuyên liên
lạc với họ hàng ở Bắc Triều Tiên Tuy nhiên có những dấu hiệu cho thấy tình trạng
Trang 18thiếu thốn không ảnh hưởng tới các lực lượng vũ trang Theo các nguồn tin Nhật, lực lượng không quân Bắc Triều Tiên đã tiến hành 4800 phi vu trong năm nay,
nhiều hơn năm trước ba lần
Bắc Triều Tiên không phải là mối đe dọa duy nhất được Nhật Bản công nhận
Vụ nổ hạt nhân gần đây của Trung Quốc nhắc nhở đến sức mạnh của họ Sách trắng
của Cục phòng vệ lưu ý rằng Bắc Kinh đang hiện đại hóa các lực lượng vũ trang của
họ, nhất là lực lượng không quân và hải quân Sách trắng cho biết "nhịp độ tuy từ
từ, nhưng nó đang hút sự chú ý của các nước láng giềng" Tuy nhiên, Nhật Bản thấy yên lòng là Bắc Kinh đã ký hiệp ước không phổ biến hạt nhân và mở quan hệ ngoại giao với Nam Triều Tiêu
Xưa nay, Nhật Bản coi Nga là mối đe dọa lớn nhất của họ Đó là lý do vì sao
phầm lớn các lực lượng lục quân củu Nhật được đóng ở Hokkaiđo Nhật Bản đòi
chủ quyến 4 hòn đảo do Nga giữ ở quần đảo Kuril ngoài khơi đảo Hokkaido
Các vị tướng Nhật cũng quan tâm tới việc các tàu chiến Nga gần đây đã tới
thăm Pusan và các tàu chiến Nam Triều Tiên đã có một chuyến đi thăm đáp lại đến
Vladivostok NamTrỉều Tiên có thể đang bám vào Nga để duy trì sức ép với Bắc
Triều Tiên, nhưng Tôkyô hẳn không vui thích với việc hạm đội Vladivostok tìm kiếm một bến đỗ mới
Cũng như các nước Châu Á khác, Tôkyô cũng ngày càng lo ngại về sự bất ổn định tăng lên trong các quốc gia thuộc Liêu Xô trước đây Tuy nhiên không mối đe
dọa nào khác chứa đựng yếu tố không đoán trước được giống như mối đe dọa của
Bắc Triều Tiên Điệu đó sẽ đặc biệt đúng nếu người con trai tính tình thất thường
của chủ lịch Kim Nhật Thành là Kim Yong II ấn tay lên nút bấm phóng hại nhân
2.1.2 Ý đồ thật của Mỹ trong cuộc khủng hoảng hạt nhân ở Tiều Tiên
Trong một bài được trích đăng trên "Hải ngoại tinh vân" TQ ngày 22/5/94, tờ
"United Morning News" ở Singapore viết:
Trước sức ép của Mỹ, Triều Tiên từng tuyên bố cự tuyệt rồi lại chấp nhận để
cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế đến kiểm tra hạt nhân ở đất nước này Thực chất tình hình ra sao?
Rốt cuộc, Triều Tiên có vũ khí hạt nhân không?
Trang 19Một quan điểm tương đối phổ biến là hiện nay chưa có chứng cớ đầy đủ chứng
minh là Triều Tiên đã có vũ khí hạt nhân, nhưng không nghi ngờ gì nữa, Triều Tiên
đang nghiên cứu phát triển loại vu khí này
Berkelium (BK) là một loại nguyên tố kim loại nhân tạo mang tính chất phóng
xạ, là nhiên liệu hạt nhân quan trọng Theo các cơ quan tình báo Mỹ và Hàn Quốc tiết lộ, Triều Tiên hiện đã có 22kg BK Quả bom nguyên tử Mỹ ném xuống Nagasaki Nhật Bản cuối thế chiến 2 chứa 7 đến 8kg BK Từ đó tính ra Triều Tiên đã
có số nhiên liệu đủ để làm 3 trái bom hạt nhân
Ninh Biên ở tây bắc Bình Nhưỡng vẫn là khu vực trọng điểm Cơ quan năng
lượng nguyên tử quốc tế đòi kiểm tra Lò phản ứng nguyên tử số 1 đã được xây
dựng ở đây năm 1982, tiếp đó là lò số 2 Mọi dấu hiệu chứng tỏ lò số 3 và lò số 4
cũng đang được xây dựng
Theo các nguồn tin tình báo, lò số 2 là kiểu làm lạnh bằng không khí, giảm nhiệt nhanh, nhằm phát triển vũ khí hạt nhân và sản xuất BK Đây chính là lò Cơ
quan năng lượng nguyên tử quốc tế kiên quyết đòi kiểm tra và phía Triều Tiên dứt khoát bác bỏ
Các chuyên gia quân sự Nhật Bản cho rằng từ sản xuất được BK đến khi chế tạo được vũ khí hạt nhân cần ít nhất hai năm, trong đó then chốt nhất là chế tạo ngòi
nổ Triều Tiên đã tiến hành 70 lần thí nghiệm, bộ phận gây nổ đã đạt yêu cầu
Phương tiện chuyên chở hạt nhân bao gồm hai loại, máy bay ném bom cỡ lớn
và tên lửa Triều Tiên nay chỉ có máy bay chiến đấu Mic - 23 va máy bay ném bom
cỡ nhỏ Bởi vậy, thời gian gần đây, Triều Tiên tập trung sức nghiên cứu chế tạo tên
lửa "Lao Động 1" Theo tin từ Hàn Quốc, tên lửa "Lao Động 1" vừa chế tạo thành công có tầm bắn 500 Km, nếu cải tiến thêm, có thể tới 1000 Km Các hòn đảo của Nhật Bản nằm trong tầm bắn này
Nhưng cũng có nhiều chuyên gia cho rằng kỹ thuật hạt nhân của Triều Tiên chỉ bằng trình độ của Liên Xô đầu thập kỷ 50, kém rất xa nước Mỹ Xét từ so sánh lực
lượng, nếu nổ ra cuộc đối đầu hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên tên lửa của Triều Tiên chưa kịp rời bệ phóng, Bình Nhưỡng đã biến thành biển lửa Bởi vậy, nhấn mạnh mối đe dọa hạt nhân của Triều Tiên thật ra là đánh giá quá cao Bình Nhưỡng
Chơi con bài vũ khí hạt nhân
Trang 20Động cơ lớn nhất của Triều Tiên trong việc phát triển vũ khí hạt nhân là "chơi con bà i hạt nhân" với các nước phương Tây do Mỹ đứng đầu, lợi dụng vũ khí hạt
nhân buộc Mỹ ngồi vào bàn thương lượng, tiến lới bình thường hóa quan hệ với Mỹ
Từ cuộc chiến tranh đầu tiêu Triều Tiên đầu thập kỷ 50 đến nay, Mỹ vẫn không đếm xỉa đến sự tồn tại của Triều Tiên, thực hiện chính sách "ba không" (không công
nhận, không thương lượng, không tiếp xúc) với Bình Nhưỡng Chính sách đó ảnh hưởng đến thái độ của Nhật Bản và các nước công nghiệp khác đối với Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên
Cuối năm 1991, đã nổi lên vấn đề vũ khí hạt nhân ở Triều Tiên Tháng 1/1992,
Mỹ tổ chức hội đàm cấp cao đầu tiên với Triều Tiên ở New York, với điều kiện "chỉ thương lượng một lần" Sau hội đàm, phía Bình Nhưỡng nêu rõ đây là vấn đề quan trọng, yêu cầu tiến hành nhiều cuộc hội đàm Wasinhtơn đã nhượng bộ, để làm cho Bình Nhưỡng sớm tiếp nhận sự kiểm tra của cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế,
và quay lại với Hiệp ước không phổ biến hạt nhân (NPT) Cũng có nghĩa là từ khi
ấy, Triều Tiên đã lấy được ở Mỹ "con bài ngoại giao" là vũ khí hạt nhân Thành quả của con bài này là các quan chức cấp cao Mỹ và Triều Tiên đã tiếp xúc với nhau hai lần vào tháng 6 và tháng 7/1993 Đồng thời Mỹ buộc từ bỏ cuộc tập trận liên hợp mùa xuân với Hàn Quốc Bởi vậy, có lý do để tin rằng Triều Tiên tiếp tục chơi con bài đó
Mỹ, Nhật, Nga, Hàn Quốc đều chơi “con bài Bình Những”
Chỉ nói Triều Tiên chơi "con bài hạt nhân" là không công bằng Trong cuộc khủng hỏang ở bán đảo Triều Tiên, chẳng phải chính Mỹ, Nhật, Nga, Hàn Quốc đều
vì lợi ích và mục đích riêng mà chơi "con bài Bình Nhưỡng" đó sao?
Hàn Quốc phải hiểu thực lực quân sự của Triều Tiên hơn bất cứ nước nào Ly
Mu Rac năm 1972 là Cục trưởng Cục Tình báo trung ương Hàn Quốc (KC1A) Ống từng đến Triều Tiên, và nay là người có quyền uy nhất trong "vấn đề miền Bắc" Gần đây ông nêu rõ "mối đe dọa thực sự đối với Hàn Quốc là lực lượng thông
thường của Triều Tiên (chứ không phải là vũ khí hạt nhân), nhất là 70% binh lực
cùng số lượng đáng kể xe tăng, xe bọc thép, tên lửa, tàu ngầm bố trí ở tuyến Bình Nhưỡng - Nguyên Sơn luôn luôn trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu, cộng thêm
trong hàng trăm hầm ngầm gần giới tuyến ngừng bắn đã dự trữ 4,5 triệu thùng dầu,
hàng triệu tấn đạn dược khiến Hàn Quốc như ngồi trên đống lửa Vì vậy, Seoul đã
Trang 21nhiều lần yêu cầu Mỹ tăng cường bảo hộ về quân sự Sau khi Clinton vào nhà trắng,
đã có tin ông định rút quân khỏi Hàn Quốc, khiến Seoul hết sức lo ngại Nay mượn
cớ cuộc khủng hoảng vũ khí hạt nhân ở miền Bắc, Seoul có thể giữ lại một cách danh chính ngôn thuận, mà còn có thêm lực lượng quân sự mới lừ Wasinhton đến
Về mối đe dọa hạt nhân của Triều Tiên, Nhật Bản còn la to hơn Hàn Quốc, nhất
là khi có tin quần đảo Nhật Bản nằm trong tầm bắn của tên lửa "Lao Động 1” Tôkyô càng tỏ ra đặc biệt quan tâm tiến vấn đề này Các quan chức Cục phòng vệ nói Nhật
Bản sẽ là mục tiêu tiến công thứ hai của Triều Tiên
"Đề cương kế hoạch phòng thủ'' vạch ra cách đây 18 năm là vấn đề còn tranh cãi ở Nhật Bản Sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt, có người đề nghị sửa đổi bản đề
cương trên, dưới tiền đề giảm chi phí phòng thủ, song một số người khác kiên quyết
phản đối, với lý do Nhật cần tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc Nay mỗi khi nổi lên cuộc tranh luận trên, ngoài việc nhắc lại luận điệu cũ, chắc chắn những người phản đối còn nhấn mạnh "mối đe dọa hạt nhân" của Triều Tiên Điều hài hước hơn là trong khi thủ tướng Hosokawa triển khai một loạt hoạt động ngoại giao để giải quyết cuộc khủng hoảng hạt nhân ở Triều Tiên thì ngày 5/4/1994, Nhạt Bản cho vận hành lò phản ứng nguyên tử cao tốc có thể sản suất ra
BK ở tỉnh Pukui Lò phản ứng này mang tên "Văn Thù "vị bồ tát tượng trưng cho trí
tuệ trong đạo phật Khi cả thế giới đều chú ý đến" Lò số 2" ở Ninh Biên (Triều
Tiên), Nhật Bản lặng lẽ cho vận hành lò "Văn Thù" có kỹ thuật tiên tiến hơn Triều Tiên đến 30 năm, quả là một việc làm giàu "trí tuệ"
Trung Quốc nhiều lần nêu rõ cần giải quyết tranh chấp hạt nhân ở Triều Tiên qua đối thoại và mong Mỹ ngồi vào bàn thương lượng Nga về cơ bản có chủ trương giống như Trung Quốc, mong muốn giải quyết cuộc tranh chấp quốc tế này qua thương lượng, và cho rằng còn quá sớm để có bất cứ hành động trừng phạt nào
chống lại Triều Tiên, Khi sang thăm Bắc Kinh, tổng thống Hàn Quốc Kim Young
Sam kiến nghị Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Nga cùng hợp tác giải quyết cuộc tranh chấp này Trên thực tế, đằng sau việc Nga thừa nhận việc kiểm tra hạt nhân đã trể thành "vấn đề lớn của cộng đồng quốc tế", là 200 chuyên gia hạt nhân và tên lửa Nga đã được cử sang giúp đỡ Triều Tiên phát triển vũ khí hạt nhân Khi đưa ra kiến nghị ở Bắc Kinh, thật ra Tổng Thống Kim Young Sam nói một đằng, nghĩ một nẻo
Trang 22Nhưng Nga lại nhấp nhổm muôn thực hiện ngay Dề nghị của Kim Young Sam chính là cơ hội hiếm có để Nga nhúng tay vào công việc ờ Châu Á
không? Mỹ đã sớm tìm ra câu trả lời qua những tấm ảnh do vệ tinh quân sự Mỹ chụp được, hiện nằm trong hồ sơ của Lầu Năm Góc và cục tình báo trung ương Mỹ Trong cuộc mật đàm với Ngoại trưởng Nhật Ma la và Chủ tịch Đảng Tân Sinh Kozawa ngày 20/01 năm nay tại Tôkyô, Cục trưởng Cục tình báo Trung ương Mỹ James đã thông báo cho phía Nhật những tin tức mà Mỹ nắm được quanh vấn đề này Mỹ khăng khăng đòi Triều Tiên để cư quan năng lượng nguyên tử kiểm tra toàn điện các thiết bị hạt nhân của Triều Tiên chỉ là hành động ra oai, ý đồ thật sự cứa Mỹ là cánh cáo Ân Độ và các nước đang phát triển khác đang nghiên cứu chế tạt) vũ khí hạt nhân
Ngoài ra, mấy năm gần đây thường xảy ra va chạm kinh tế giữa Mỹ và Hàn Quốc; năm 1993, Mỹ yêu cầu Seoul mỏ cửa thị trường nôịìg sạn đã dấy lên làn sóng chống Mỹ ở xứ này, khiến Mỹ thất vọng Ngày nay, Wasinhtơn đang lợi dụng
nhữnỉĩ he' tắc trong việc kiểm tra hạt nhân ở Triều Tiên và tâm lý nôn nóng cầu viện
của Tổng Thống Kìm Young Sam để đè bẹp "thái độ Sôvanh" của Seoụỉ
Xem ra, trong canh bạc kiểm tra hại nhân ở Triều Tiên, các quốc gia và các
ben hữu quan đều có con bài và những tính toán riêng, vậy thì không nghi ngờ gì nữa, ván bài này còn tiếp tục
Bình Dương sau chiến tranh lạnh
a Tình hình an ninh mới đặt ra cho Mỹ ở Châu Á – Thái Bình Dương
Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, tình hình an ninh ở châu Á - Thái Bình Dương, đã thay đổi to lớn, một cục diện mới xuất hiện trong tình thế an ninh quân
sự Quan hệ giữa Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Nga, ASEAN bắt đầu được điều chỉnh toàn diện, định vị lại, các bên đều tránh hình thành liên ninh chính trị, quan sự rõ rệt với một bên khác để chống lại nước thứ ba
Mỹ cho rằng một loạt thách thức đối với lợi ích an ninh của Mỹ vẫn tồn tại hai vấn đề lớn hoặc hai mối đe dọa lớn mà Wasinhtơn quan tâm nhất là các vụ rối ren
Trang 23mang tính chất khu vực và chạy đua - phổ hiến hạt nhân Họ cho rằng mối đe dọa chạy đua phổ biến hạt nhân đang tồn tại ở Nam Á và bán đảo Triều Tiên, họ cũng lo ngại Trung Quốc và Nga xuất khẩu vũ khí ồ ạt
Các nước ASEAN nói chung chú trọng tăng cường phòng thủ độc lập Mỹ từng vạch ra kế hoạch "Khuôn khổ chiến lược khu vực châu Á - Thái Bình Dương", quyết định sau năm 1990 giảm lực lượng quân đội ở khu vực này trong ba giai đoạn Cuối năm 1992, Mỹ đã rút khỏi căn cứ không quân Clark và căn cứ hải quân Subic, và như vậy, bố trí lực lượng quân sự Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương bắt đầu có thay đổi to lớn
Rút bài học của Kuwait trong chiến tranh vùng Vịnh, và do lo ngại về "khoảng trống sức mạnh", các nước ASEAN nói chung cảm thấy sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, sự đảm bảo an ninh của Mỹ không còn đáng tin cậy như xưa nữa Họ cho rằng ngoài việc thúc đẩy các nước lớn giữ cân bằng lực lượng trong khu vực, chỉ có ra sức phát triển khá năng phòng thủ của mình, mới đảm bảo có hiệu quả chủ trương điều chỉnh chiến lược an ninh, dựa vào độc lập tự chủ nhiều hơn
b Chiến lược an ninh quân sự mới của Mỹ
Để thích ứng những thay đổi của tình hình châu Á-Thái Bình Dương, Mỹ đã chớp lấy thời cơ, điều chỉnh chiến lược an ninh quân sự, với nội dung khái quát là: Lấy hiệp ước liên minh quân sự song phương làm cơ sở, bổ sung bằng đối thoại an
ninh đa phương, lấy thực lực quân sự hùng mạnh làm hậu thuẫn, lấy giữ gìn ổn định
khu vực làm mục liêu chủ yếu, cố gắng duy trì sự có mặt về quân sự ở châu Á-Thái Bình Dương, tạo "đảm bao an ninh" để Mỹ giành những lợi ích kinh tế và thúc đẩy
"dân chủ hóa" trong khu vực
Về các chính sách và biện pháp quân sự cụ thể, Mỹ đã dùng nhiều phương thức nhằm tăng cường sự có mặt về quân sự ở châu Á - Thái Bình Dương, để bù đắp lại việc Mỹ rút khỏi các căn cứ quân sự ở Philippin, bao gồm:
Khẳng định việc Mỹ gánh vác sự có mặt về quân sự và nghĩa vụ an ninh ở châu Á-Thái Bình Dương
Tăng cường quan hệ an ninh truyền thống với các nước và khu vực ở châu Á - Thái Bình Dương, như bán vũ khí tiên tiến cho những nước này, giúp họ hiện đại hóa vũ khí, tổ chức tập trận chung, đào tạo nhân viên quân sự Tờ Wall Street Journal ngày 28/01/1994 đưa tin sau chiến tranh lạnh, Mỹ đã thay đổi cách làm
Trang 24trước đây, đẩy mạnh bán vũ khí sang Malaysia, Indonesia, Philippin, Xingapore, Thái Lan,
Quyết định cùng Nhật Bản xây dựng hệ thống phòng ngự tên lửa khu vực
Sau khi Mỹ rút khỏi các căn cứ quân sự ở Philippin, vai trò của các căn cứ Guam và Diego-Garcia ngày càng quan trọng, hơn nữa, Mỹ còn tăng cường quan hệ quân sự với Australia, tận dụng các công trình quân sự vốn có ở Singapore
Vạch chiến lược quân sự mới "đồng thời đánh thắng trong hai cuộc chiến tranh", bao gồm khả năng tiến hành một cuộc chiến tranh khu vực: ở bán đảo Triều Tiên, song song tiến hành một cuộc chiến tranh ở khu vực khác
c Những đặc điểm mới trong chiến lược an ninh quân sự của mỹ
Khái niệm an ninh thay đổi Thời kỳ Chiến tranh lạnh, Mỹ chủ yếu nhấn mạnh đến an ninh quân sự, nay Mỹ nhấn mạnh đến an ninh kinh tế, đồng thời cũng chú
trọng an ninh quân sự và đảm bảo an ninh dân chủ chính trị Bởi, Mỹ không vì chiến tranh lạnh chấm dứt mà từ bỏ sự có mặt về quân sự ở châu Á-Thái Bình Dương
Ngược lại, trong khi nhấn mạnh lợi ích kinh tế, Mỹ hết sức chú trọng lợi ích an ninh
của bản thân trên các mặt chính trị, quân sự ở châu Á-Thái Bình Dương Wasinhtơn muốn thông qua quan hệ quân sự truyền thống và ảnh hưởng của mình ở khu vực này để tăng cường thực lực cạnh tranh tổng hợp, giữ vững vị trí chủ đạo của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương
Từ mục tiêu đơn nhất chuyển sang giữ gìn sự "ổn định" của các khu vực Mục
tiêu của Mỹ trong việc duy trì sự có mặt về quân sự ở châu Á-Thái Bình Dương
không chí nhằm đối phó mối đe dọa quân sự của một nước nào đó (trước đây là Liên Xô), mà cần gìn giữ sự "ổn định" của toàn khu vực, Mỹ sẽ không rút khỏi châu Á-Thái Bình Dương về quân sự, và sẽ tiếp tục gánh vác "nghĩa vụ" an ninh với đông đảo các nước châu Á
Tương đối chú ý hơn tới vị trí toàn cầu của châu Á-Thái Bình Dương để thoát khỏi những khó khăn về kinh tế, Mỹ đã giảm chi phí quân sự và quân đội, nhưng chủ yếu là giảm quân Mỹ ở châu Âu, mức độ giảm quân ở châu Á thấp hơn ở châu
Âu So sánh với lực lượng Mỹ ở châu Âu, sự có mặt về quân sự của Mỹ ở châu Á:ngày càng trở nên nổi bật
Từ thuần túy nhấn mạnh "song phương" sang nhấn mạnh cả đa phương và song phương Suốt thời kỳ chiến tranh lạnh, thậm chí đến nhiệm kỳ của Bush, chủ trương
Trang 25nhất quán trong cơ cấu an ninh của Mỹ ở châu Á -Thái Bình Dương là: an ninh ở khu vực này chỉ có thể dựa trên cơ sở liên minh song phương do Mỹ làm trung tâm Còn ngày nay, trong khi duy trì bố trí quân sự song phương ở châu Á -Thái Bình Dương, Mỹ sẽ bổ sung thêm bằng việc phát triển các cuộc phối hợp và hiệp thương
đa phương, ủng hộ việc thiết lập cơ chế đối thoại an ninh đa phương trong khu vực Nội dung kiểm soát quân bị thay đổi Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Mỹ chủ yếu cùng Liên Xô thương lượng giảm vũ khí hạt nhân chiến lược Ngày nay, trong khi tiếp lục cùng Liên Bang Nga thực thi hiệp định cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến lược, Mỹ lại nỗ lựo tìm cách ngăn chặn việc chuyển giao cho đông đảo các nước đang phát triển những vu khí sát thương hàng loạt, thậm chí coi đó là “trung tâm chính sách an ninh của Mỹ” sau Chiến tranh lạnh
Bình Dương
a Những điều kiện có lợi
Sau chiến tranh lạnh, ý thức chiến lược độc lập tự chủ của các quốc gia Đông Nam Á đang mạnh lên, nhưng họ không muốn Mỹ co lại quá nhiềi ở châu Á-Thái Bình Dương Họvẫn muốn túm chặt lấy Mỹ, mượn sức mạnh của Mỹ để giữ cân
bằng lực lượng giữa các nước lớn trong khu vực, đồng thời, thông qua phát triển hợp tác quân sự với Mỹ để tăng cường sức mạnh quân sự của mình Do tình hình trên, Mỹ vẫn được sự ủng hộ nhất định của những nước này trong vấn đề an ninh quân sự ở châu Á-Thái Bình Dương
Sau khi Mỹ rút quân khỏi Philippin, quan hệ quân sự giữa Mỹ và các nước này vẫn tồn tại Mỹ đã lần lượt ký với Malaysia và Indonesia hiệp định sửa chữa tàu cho
hải quân Mỹ, Singapore trể thành hình mẫu duy trì sự có mặt về quân sự của Mỹ ở
Đông Nam Á, chính phủ Singapore đã hăng hái góp tiền để thực hiện mục đích này
Điều này tương phản rõ rệt với sự giảm sứt mạnh mẽ lực lượng của Nga trong khu vực
Việt Nam trông đợi Mỹ trở lại Đông Nam Á Phía Việt Nam cho rằng Mỹ duy
trì sự có mặt đa dạng ở châu Á -Thái Bình Dương là nhân tố giữ cho quan hệ giữa
các nước lớn ở khu vực này ổn định, và việc Mỹ phát huy vai trò quan trọng ở Đông
Dương còn có thể tạo thuận lợi để Nhật Bản đầu tư và hợp tác với Việt Nam
Trang 26Song song với những thay đổi trên bán đảo Triều Tiên, Mỹ và Hàn Quốc đã đẩy mạnh tốc độ hợp tác quân sự Ngày 06/00/1994, Hàn Quốc quyết định cùng Mỹ thiết lập "Hệ thống hiệp thương an ninh khẩn cấp”, để có thể nhanh chóng hành động chung đối phó với mối đe dọa quân sự có khả năng nảy sinh trên bán đảo Triều Tiên Sau những cuộc thương lượng khó khăn, Mỹ và Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên đã ký hiệp định khung về vấn đề hạt nhân ở Triều Tiên Điều này rõ ràng tác động tích cực đến sự ổn định trên bán đảo này, đồng thời, cũng có
lợi cho việc bảo vệ lợi ích của Mỹ ở Đông Bắc Á
b Những điều kiện không lợi
Sự dựa dẫm của Nhật vào Mỹ về quân sự bắt đầu giảm Từ 1993 đến nay, tuy
về tổng thể, Nhật vẫn chủ trương Mỹ cần tiếp tục duy trì sự có mặt về quân sự ở châu Á-Thái Bình Dương, nhưng thái độ của Nhật đã có những thay đổi nhất định Một mặt, Nhật Bản phản đối Mỹ chủ đạo công việc kinh tế Châu Á, mặt khác, một
số người Nhật bắt đầu nghi vấn bản thân sự có mặt về quân sự của Mỹ ở châu
Á-Thái Bình Dương Tuần báo "Seikai" Nhật ngày 09/08/1994 viết: "Điều Mỹ lo ngại nhất là những tài liệu nội bộ của Đảng Dân chủ tự do Nhật vạch rõ tính chất không hợp lý của thể chế an ninh Nhật - Mỹ, công khai đòi trả lại căn cứ Yokota" Theo tờ New York Times 28/08/1994, một số nhà lãnh đạo Nhật lại đặt câu hỏi về sự có mặt
của các căn cứ quân sự Mỹ trên đất Nhật
Nhiều nước châu Á nhấn mạnh cần tăng cường hợp tác an ninh khu vực và phòng thủ độc lập, ý thức phòng vệ độc lập tăng lên rõ rệt Theo tờ international Herald Tribune (Mỹ) ngày 06/05/1994, Thủ tướng Malaysia Mahathir đã công khai
chỉ rõ: các nước chân Á -Thái Bình Dương không cần Mỹ tiếp tục đóng quân tại nơi
này, "sự diễu võ giương oai của các tàu chiến Mỹ chỉ là việc làm tốn tiền" Một số nước vừa và nhỏ ở châu Á tuy chấp nhận Mỹ tiếp tục đóng quân tại đây để giữ cân bằng lực lượng và sự ổn định trong khu vực, nhưng họ lo ngại Mỹ trở thành lực
lượng chúa tể trong vùng, họ không muốn Mỹ dính líu vào công việc ở khu vực này
và trong từng nước
Bản thân Mỹ thiếu một chính sách châu Á - Thái Bình Dương bao gồm chính sách an ninh rõ ràng và có hiệu quả được cả hai đảng ủng hộ, tình hình này đã và sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến việc triển khai toàn bộ chính sách của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương Trong buổi thuyết trình tại "Trung tâm văn hoa Trung-Mỹ" trường đại
Trang 27học Nam Kinh ngày 13/06/1994, nguyên cố vấn ngoại giao của Clinton trong thời kỳ
tranh cử và là một trong những ứng cử viên Trợ lý an ninh của Tổng thống - nói : "
Về lý thuyết, sự có mặt về quân sự của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương không còn
cần thiết nữa", "Đối với các nhà quyết sách, mục tiêu sự có mặt về quân sự của Mỹ
ở châu Á-Thái Bình Dương không rõ ràng, biện pháp cũng có vấn đề", "trong thực
tiễn lại vấp phải khó khăn" Thêm nữa "dân chúng Mỹ không muốn ủng hộ sự có
mặt về quân sự của Mỹ ở châu Á, điều họ mong muốn hơn là chính phủ Mỹ giải
quyết được vấn đề buôn bán với châu Á "
Xét trên phạm vi toàn cầu, châu Âu hiện nay vẫn là "Khu vực trung tâm" và là trọng điểm chú ý về an ninh quân sự trong chiến lược toàn cầu của Mỹ Ngày 09/01 năm nay, khi bắt đầu chuyến thăm đầu tiên sang chau Âu, phát biểu tại Brussel, Clinton nói: "Châu Âu vẫn là trung tâm lợi ích và hạt nhân an ninh của Mỹ" Quân
Mỹ đóng ở châu Âu tuy đã giảm nhiều, nhưng vẫn còn tới 10 vạn Mặt khác, cùng với nền kinh tế châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục tăng trưởng nhanh và những biến đổi trên bán đảo Triều Tiên, tuy tầm quan trọng của châu Á-Thái Bình Dường trong
chiến lược toàn cầu của Mỹ chưa lên tới "Vị trí trung tâm" như châu Âu, nhưng vị
trí của châu Á-Thái Bình Dương sẽ ngày càng nổi bật trong chiến lược đối ngọai của Mỹ, lực lượng quân sự của Mỹ bố trí ở khu vực này sẽ ngang mức ở châu Âu Ngày 07/03/1994, vào lúc khởi đầu chuyến thăm thứ l0 sang châu Á-Thái Bình Dương, Ngọai trưởng Mỹ Christopher đã có một bài phát biểu riêng về chiến lược châu Á-Thái Bình Dương, một lần nữa nêu rõ Mỹ sẽ tiếp tục bố trí ở khu vực này số quân khoảng 10 vạn người, ngang mức quân bố trí ở châu Âu Bất kể sự sắp đặt vị trí Đại Tây Dương và Thái Bình Đương đối với Mỹ có hợp lý hay không, và Mỹ sẽ điều chỉnh bố cục đó như thế nào, người ta dự kiến xu thế tương đối quan lâm nhiều hơn đến châu Á-Thái Bình Dương đó sẽ tiếp tục
Từ "co lại có giới hạn" đến tăng cường đóng quân Chiến tranh lạnh chấm dứt, trước sức ép từ nhiều phía, Mỹ bắt đầu "co lại có giới hạn" về quân sự châu Á-Thái Bình Dương trong trạng thái tâm lý hết sức mâu thuẫn Tuy Mỹ đã rút một phần lực lượng khỏi châu Á-Thái Bình Dương từ 1992, nhưng các nhà lãnh đạo Mỹ lại nhiều
lần nhấn mạnh cần tiếp tục duy trì sự có mặt về quân sự ở khu vực này, và cam kết
Trang 28duy trì số quân Mỹ ở khu vực này như mức độ hiện có Tháng 02/1994, các quan
chức Lầu Năm Góc nói Mỹ sẽ sửa đổi kế họach "Khuôn khổ chiến lược châu Á-Thái
Bình Dương" bắt đầu thực thi cách đây 4 năm, thay đổi phương châm giảm quân ở
khu vực này Tháng 06, Lầu Năm Góc lại kiến nghị Tổng thống Mỹ tăng thêm số quân đống tại Hàn Quốc Đồng thời tăng cường sự có mặt thích đáng sự có mặt về quân sự ở châu Á-Thái Bình Dương, có thể là sự lựa chọn chính sách an ninh quân
sự của Mỹ ở khu vực này, mặc dù Mỹ vẫn đứng trước đầy rẫy mâu thuẫn và khó
khăn trong vấn đề trên
Chú trọng cả số lượng và chất lượng Tháng 03/1994 Bộ trưởng Quốc phòng
Mỹ hứa "vạch ra kế họach khá phức tạp" để tăng cường khả năng tự vệ của 3,7 vạn
quân Mỹ đóng tại Hàn Quốc, đồng thời, tập trung bố trí những máy bay chiến thuật
có thể đóng Hàn Quốc "trong vài ngày chứ không phải vài tuần" Trước đó, Tổng thống Mỹ đã ra lệnh đưa tên lửa Patriot vào Hàn Quốc Theo "kế họach quân sự và phương châm tác chiến của Mỹ trong 5 năm tới" của Lầu Năm Góc, kế họach phòng
thủ của Mỹ là xây dựng một đội quân "tinh nhuệ, cơ động và có sức mạnh kỹ thuật cao", để đảm bảo Mỹ “đồng thời đánh thắng hai cuộc chiến tranh" Bởi vậy sự có
mặt về quân sự của Mỹ ở chân Á - Thái Bình Dương sắp tới không những chú trọng
về số lượng, mà còn chú trọng hơn tới chất lượng, trong khi duy trì số quân Mỹ ở
đây trên qui mô nhất định, Mỹ sẽ nặng về phương châm "xây dựng chất lượng", nâng cao khả năng răn đe quân sự, giữ ưu thế quân sự và vị trí chủ đạo
Nhấn mạnh hơn đến việc ứng dụng sách lược "đa phương" Thời gian tới cơ
bản trong chính sách an ninh quân sự của Mỹ ở châu Á- Thái Bình Dương vẫn là lấy hiệp ước quân sự song phương làm cơ sở, bổ sung bang cơ chế hiệp thương an ninh
đa phương Nói một cách tương đối, sách lược "đa phương" sẽ được vận dụng nhiều hơn, bởi Mỹ đã nhận thức được rằng: Một số vấn đề lớn trong an ninh quân sự ở
châu Á - Thái Bình Dương sau chiến tranh lạnh, nếu chỉ dựa vào những nổ lực đơn phương hoặc song phương thì chẳng ăn thua gì; Mỹ nhấn mạnh rằng trong khi Mỹ
giảm chi phí quân sự, các nước đồng minh phải "gánh vác trách nhiệm ngày càng
lớn" trong lĩnh vực an ninh Mỹ cho rằng cơ chế đa phương có lợi cho việc lọai bỏ
các mối đe dọa khác nhau mà các nước gặp phải, và ngăn chặn một nước lớn hoặc một tập đoàn nước lớn kiểm soát ở châu Á- Thái Bình Dương
b Sự có mặt về quân sự của Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương sẽ có vai trò gì
Trang 29"Duy trì cân bằng" và phá họai cận bằng Sau chiến tranh lạnh Mỹ nêu lại lí luận cân bằng, tạo cơ sở để Mỹ có mặt ở châu Á, Mỹ cho rằng sau chiến tranh lạnh,
thế cân bằng ở châu Á - Thái Bình Dương bị phá vỡ, thời gian tới Mỹ vẫn có trách
nhiệm khỏi phục thế cân bằng quân sự đã mất Các quan chức chính phủ Mỹ nhiều lần nêu rõ Mỹ sẽ đóng "vai trò cân bằng" mà không gây ra mối đe dọa Một trong những mục tiêu chiến lược lâu dài của "cộng đồng Thái Bình Dương mới" của Mỹ là coi Nhật Bản, Nga, Trung Quốc, Triều Tiên là đối tượng phải đề phòng, để giữ cân
bằng lực lượng trong khu vực Báo Mỹ Observer tháng 8/1994 viết : muốn cho sự
cân bằng vĩnh cửu, Mỹ phải duy trì liên minh quân sự với Nhật Bản, bao gồm bố trí quân sự tiền duyên ở châu Á-Thái Hình Dương với một tập đòan tác chiến có ít nhất
một tàu sân bay, đồng thời, ngăn chặn Nhật Bản tái vũ trang và đe dọa các nước
láng giềng Ngày 15/03 năm 1994, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Perry nêu rõ mục tiêu
quân sự của Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương không còn là kiềm chế một quốc gia nào đó và Mỹ sẽ đứng trước nhiều đối thủ Tuy Mỹ đang nổ lực thiết lập thể chế an ninh đa phương ở khu vực này nhưng Mỹ vẫn dặc biệt chú ý tiến vấn đề an ninh quan trọng liên quan đến Trung Quốc, Triều Tiên Ngày 26/03 Perry lại nói ông không cho rằng một cuộc khủng hỏang quân sự cấp bách đã xuất hiện trên bán đảo Triều Tiên, nhưng Mỹ cần tăng cừng khả năng bảo vệ đồng minh Hàn Quốc, coi
cuộc tiến công có thể được phát động chống lại Hàn Quốc là một cuộc tiến công
nhầm vào Mỹ Washington còn đề nghị Nhật cùng Mỹ bố trí hệ thống phòng ngự tên
lửa đạn đạo Sự có mặt về quân sự của Mỹ ở châu Á- Thái Bình Dương được giải
thích là nhằm phát huy vai trò cân bằng, nhưng phải chăng nó lại thường xuyên phá hoại cân bằng
Washington cho rằng việc Mỹ đóng quân ở tiền duyên châu Á - Thái Bình Dương đã thể hiện mạnh mẽ nghĩa vụ mà Mỹ gánh vác, tạo nên sức mạnh răn đe thực tế và củng cố tâm lý, đồng thời là cơ sở của an ninh và ổn định trong khu vực Ngày 07/03, Christopher nói: "Mỹ dự định phát huy vai trò tích cực ở châu Á- Thái Bình Dương" Bản "Báo cáo chiến lược an ninh quốc gia" do Mỹ công bố ngày 21/07 nêu rõ: Sự có mặt về quân sự của Mỹ ở chân Á - Thái Bình Dương "sẽ phát huy vai trò lãnh đạo "trong khu vực" có tác dụng răn đe chính quyền Triều Tiên, khiến họ không dám xâm lượt phiêu lưu", và sẽ có những cố gắng lớn nhất để "ngăn chặn việc phổ biến vũ khí sát thương hàng loạt ở bán đảo Triều Tiên và Nam Á",
Trang 30mục đích cuối cùng là "tìm kiếm biện pháp giải quyết vấn đề an ninh đang tồn tại
trong khu vực này mà không qua xung đột" Tuy Washington nhiều lần tuyên bố Mỹ
muốn "gìn giữ hòa bình" ở Châu Á-Thái Bình Dương, nhưng chính sách thực tế của
Mỹ khiến người ta phát hiện chính họ là kẻ gây ra một số chuyện phiền toái trong
khu vực Chẳng hạn, sáu tháng đầu năm 1994, Mỹ đã định ra phương châm tác chiến chống Triều Tiên và kế hoạch tác chiến cụ thể, tăng thêm lực lượng quân sự đóng ở Hàn Quốc, để thực hiện "chiến lược đồng thời đánh thắng hai cuộc chiến tranh" Tình hình đó rốt cuộc có lợi cho việc làm dịu tình hình ở bán đảo Triều Tiên hay lại
làm cho tình hình căng thẳng thêm? Thật đáng để suy nghĩ sâu sắc Thêm nữa, mấy năm gần đây Mỹ đã tăng kim ngạch và nâng cấp vũ khí bán cho Đài Loan, cách làm
đó rõ ràng đi ngược lại thông cáo Trung - Mỹ 17/08, không có lợi cho hòa bình, ổn định ở Châu Á - Thái Bình Dương về lâu dài, cũng không lợi cho lợi ích bản thân
Mỹ
Tóm lại, Mỹ sẽ duy trì sự có mặt về quân sự của Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương đến mức nào? Rốt cuộc Mỹ muốn phát huy vai trò gì? Vai trò cân bằng,
ngăn chặn bất cứ nước lớn nào "lấp chỗ trống" hay chính phủ Mỹ muốn một mình
giữ "vai trò lãnh đạo”? Rốt cuộc Mỹ duy trì hòa bình, ngăn chặn xung đột khu vực hay len chân vào làm cho tình hình thêm căng thẳng? Đây chẳng những là vấn đề các nước và khu vực châu Á Thái Bình Dương hết sức quan tâm mà còn là vấn đề hóc búa mà chính quyền Mỹ cần nghiêm túc cân nhắc và lựa chọn
Đông Bắc Á đang trải qua những thay đổi quan trọng Trước hết, hầu như tất cả các nước trong khu vực này đều đang trải qua những thay đổi chính trị Nhật Bản,
tuy chính phủ liên minh giữa hai đảng Dân chủ tự do và Xã hội lên cầm quyền
nhưng nước này vẫn ở trong giai đoạn chuyển tiếp chính trị khởi đầu từ năm 1993
khi đảng Dân chủ tự do mất quyền chi phối chính trường Nhật Bản -Nga, sau khi ở
trung tâm của sự xói mòn sau chiến tranh lạnh kể từ khi Liên Xô tan lã, vẫn trong
tình trạng không ổn định trong nội bộ Trung Quốc có thể cũng là ứng cử viên mới
của biến động chính trị dân sự sau nhiều năm dài dưới chế độ quân sự Cộng Hòa
Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên sau cái chết của Chủ tịch Kim Nhật Thành cũng không ngoài xu thế thay đổi chính trị đang diễn ra ở khu vực này
Trang 31Thứ nhất, những thay đổi chính trị nội bộ trong các nước Đông Bắc Á không
thể không tác động đến chính sách đối ngoại của họ và đến lượt nó, những thay đổi
trong chính sách đối ngọai tác động đến cơ cấu an ninh trong khu vực này
Thứ hai, những nhận thức về mối đe dọa giữa các nước trong khu vực cũng đang có những thay đổi quan trọng từ khi bắt đầu kỷ nguyên sau chiếu tranh lạnh với sự cáo chung của Liên Xô, ngày nay, Nhật Bản cảm thấy ít bị đe dọa từ phía Nga mà thay vào đó, Nhật Bản cho rằng mối đe dọa mới đối với họ là các tên lửa và nguy cư tiềm tàng về vũ khí hạt nhân từ phía Cộng Hòa Dâu Chủ Nhân Dân Triều
Tiên Cuộc thương lượng bình thường hóa giữa Nhật Bản và Cộng Hòa Dân Chủ
Nhân Dân Triều Tiên bắt đầu từ tháng giêng năm 1991 trải qua 8 cuộc họp đã bế tắc khi vấn đề hạt nhân của Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên nổi lên và thực sự
bị đình chỉ từ tháng 11/1992 Việc chính phủ của Thủ tưởng Mugayama lên cầm quyền có lợi cho cuộc thương lượng binh thường hóa giữa hai nước vì chính Đảng
Xã hội và Đảng Dân chủ tự do đã đưa ra tuyên bố chung với Cộng Hoa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên gần 4 năm trước đây với các nguyên tắc bình thường hóa quan
hệ Nhật Bản/Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên Hơn nữa, nội các này của Nhật Bản được coi là "bồ câu" và coi việc giải quyết vấn đề hạt nhân của Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên thông qua đối thoại là ưu tiên cao nhất trong chính sách đối ngoại Chính phủ này gần như đã loại trừ giải pháp trừng phạt chung với
Mỹ và Hàn Quốc hoặc trừng phạt riêng chống Cộng Hòa Dần Chủ Nhân Dân Triều Tiên nếu không có nghị quyết của Liên Hiệp Quốc trong trường hợp vấn đề hạt nhân của Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên không giải quyết được Chính phủ Nhật Bản hiện nay cũng khó giải quyết được tranh chấp nội bộ về những gì Nhật
Bản có thể giúp theo Hiệp ước an ninh Nhật -Mỹ nếu xảy ra chiến tranh hoặc khủng
hoảng trên bán đảo Triều Tiên Vì vậy nếu vấn đề hạt nhân của Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên được giải quyết và quan hệ giữa Cộng Hòa Dân Chủ Nhân
Dân Triền Tiên với các nước phương Tây được cải thiện thì có thể Nhật Bản sẽ
đóng vai trò không nhỏ trong sự phát triển kinh tế của Cộng Hòa Dân Chu Nhân Dân Triều Tiên Vốn và kỹ thuật của Nhật Bản nhờ sự cải thiện quan hệ Tôkyô/
Bình Nhưỡng sẽ giúp xây dựng nền kinh tế Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều
Tiên :
Trang 32Sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao với Nga và Trung Quốc, Hàn Quốc nay đang mở rộng quan hệ đối ngọai mới với chiến lược hướng Bắc và hướng Nam
hướng tới các nước Đông Nam Á và Thái Bình Dương Kết quả là Nga và Trung
Quốc đã thay đổi chính sách đối ngọai trong quá khứ vốn chỉ duy trì quan hệ chặt chẽ với Cộng Hòa Dân Chu Nhân Dân Triều Tiên Nay hai nước này hướng sang Hàn Quốc và đã thiết lập các mối quan hệ chính trị, kinh tế, văn hóa giữa hai bên Những thay đổi như vậy về mối đe dọa trong khu vực là một nhân tố mới tác động đến cơ cấu an ninh ở Đông Bắc Á
Thứ ba, vai trò của Mỹ trong khu vực đang giảm dần Mỹ ngày nay theo đuổi chính sách chờ cho sự việc diễn biến đến mức hết sức tồi tệ mới hành động như
người ta đã thấy cách cư xử của Mỹ ở Xomani, Bosnia, Haita, Ruanda Không ai dám bảo đảm rằng, Mỹ sẽ không hành động như vậy đối với bán đảo Triều Tiên Mỹ
đã nói rằng họ không thể đóng vai trò lực lượng cảnh sát duy nhất của thế giới trong
kỷ nguyên sau chiến tranh lạnh Mỹ đã vạch kế họach dài hạn và trung hạn cắt giảm chi phí quân sự thông qua việc giảm qui mô quân đội và giảm số quân Mỹ đóng ở nước ngòai Một sự cắt giảm như vậy trong vai trò quân sự tòan cầu của Mỹ chắc chắn cuối cùng sẽ tác động đến Đông Bắc Á
Không ai dám đảm bảo rằng những phát triển mới này sẽ có tác động tích cực đến an ninh Đông Bác Á Cả Hàn Quốc lẫn Nhật Bản đều đang tìm cách thuyết phục
Mỹ duy trì sự hiện diện quân sự của Mỹ trong khu vực và đóng vai trò tích cực với
tư cách là người giữ vững ổn định trong khu vực Các cuộc thảo luận an ninh đa phương trong khu vực đang được thúc đẩy để tìm cách bổ sung cho các hiệp định truyền thống về cân bằng lực lượng chưa hoàn toàn biến mất ở Đông Bắc Á, nhưng
sự thật là một quan điểm tự do hơn đang dần dần giành được chỗ đứng Đó là quan điểm nhấn mạnh đến sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước trong kỷ nguyên sau chiến tranh lạnh
Vì vậy, vì mục tiêu hòa bình và ổn định ở châu Á, cần phải tìm một khuôn khổ
đối thoại mới giữa các nước châu Á để thảo luận các lợi ích an ninh và giải quyết các nguy cơ xung đột tiềm tàng Diễn đàn an ninh khu vực của ASEAN là một khuôn khổ như vậy Tại diễn đàn này năm nay, Hàn Quốc đã đưa ra đề nghị về một diễn đàn an ninh Đông Bắc Á gồm 6 nước là Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên và Hàn Quốc Các học giả Hàn Quốc và Nhật
Trang 33Bản cho rằng hai nước phải hợp tác chặt chẽ để cùng chung tiếng nói trong quá trình
thiết lập một sự hợp tác về kinh tế và an ninh gắn bó với Đông Á Họ cho rằng Nhật
Bản và Hàn Quốc nên cùng xúc tiến thể chế hóa khái niệm "khu vực mềm" và "khu
vực mở" trong Diễn đàn khu vực của ASEAN và APEC Hai nước nên bắt đầu đối thoại về an ninh ở cả cấp chính phủ lẫn cấp phi chính phủ
HÀN QUỐC QUAN HỆ VỚI 4 CƯỜNG QUỐC BAO QUANH
Nhìn trên bản đồ thế giới, người ta dễ nhận thấy rằng Hàn Quốc nằm ở vị trí địa chính trị nhạy cảm Bốn cường quốc Mỹ, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản bao quanh
và lịch sử đã chứng kiến không ít những biến động chính trị diễn ra ở Wasington,
Bắc Kinh, Matxcơva và Tôkyô tác động rất lớn đến Hàn Quốc Chính vì vậy, cho dù
ai bước vào Chong Wa Dac (phủ tổng thống Hàn Quốc), Hàn Quốc vẫn có một chính sách đối ngọai nhất quán đối với các cường quốc này Đó là chính sách tranh thủ hữu nghị thân thiện với họ để nhằm mục đích đáp ứng các nhu cầu địa chính trị của Hàn Quốc, đặc biệt khi bước vào thế kỷ 21, thế kỷ của châu Á-Thái Bình Dương
Với chính sách đối ngoại hướng Bắc, cho đến nay, Hàn Quốc đã thiết lập quan
hệ ngoai giao với cả bốn nước này sau khi lập quan hệ ngoại giao với Nga (Liên Xô
cũ) năm 1990 và với Trung Quốc năm 1992 Vì lợi ích an ninh và chính trị cũng như kinh tế của mình, Hàn Quốc quan tâm sâu sắc không cần đến việc tang cường quan
hệ với bốn nước này mà còn muốn thúc đẩy bốn nước có quan hệ hữu nghị với nhau
Lo ngại trước khả năng xảy ra cuộc chạy đua vũ trang toàn diện giữa Trung Quốc và Nhật Bản, Hàn Quốc đã cộng tác chặt chẽ với Mỹ, Nhật Bản và Nga để giải quyết
vấn đề hạt nhân ở Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên Tuy nhiên, trong quan
hệ với bốn cường quốc này, Hàn Quốc vẫn đặt trọng tâm vào quan hệ với Mỹ, xương sống của chính sách đối ngoại của Hàn Quốc
Quan hệ với Mỹ là trụ cột của chính sách đối ngoại của Hàn Quốc kể từ khi nước này được thành lập năm 1948 Trong chiến tranh lạnh, vận mệnh an ninh của Hàn Quốc gắn chặt với Mỹ Các quan hệ kinh tế, chính trị, quân sự của Hàn Quốc
với Mỹ rất mạnh Cho đến nay, mỗi khi Hàn Quốc khó khăn hay đứng trước nguy cơ
gì Mỹ luôn chìa bàn tay giúp đỡ và đổi lại, Hàn Quốc ủng hộ mọi sáng kiến chính
sách đối ngoại cửa Mỹ như là một phương tiện để tồn tại Mỹ đã rút vũ khí hạt nhân
Trang 34chiến thuật và một phần lực lượng Mỹ ở Hàn Quốc , nhưng như tuyên bố mới đây của Bộ trưởng quốc phòng Mỹ william Perry, cam kết bảo vệ an ninh của Hàn Quốc
vẫn mạnh mẽ Mỹ sẽ duy trì 36.000 quân ở Hàn Quốc, lập bộ chỉ huy hỗn hợp Mỹ
-Hàn Quốc trong đó đưa thêm hạm đội 7 của Mỹ và cơ cấu của bộ chỉ huy này nếu xảy ra khủng hoảng ở Hàn Quốc Mỹ và Hàn Quốc vẫn tiến hành cuộc tập trận
"Tinh thần đồng đội" hàng năm mặc dù cuộc tập trận này bị hủy bỏ như là "một việc làm thận trọng" (tuyên bố của tướng Shalikashvili, chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ trước việc Mỹ và Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên ký hiệp định Giơnevơ giải quyết vấn đề hạt nhân Cuộc tập trận “Tinh thần đồng đội" năm 1995 sẽ được liến hành vào tháng 3/95 như Mỹ vừa tuyên bố
Quan hệ kinh tế Mỹ - Hàn Quốc cũng là xương sống của nền kinh tế Hàn Quốc Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất và là bạn hàng buôn bán lớn nhất của Hàn Quốc Buôn bán với Mỹ năm 1994 của Hàn Quốc như bộ trưởng nông nghiệp,
thương mại và năng lượng Hàn Quốc Kim Chulu cho biết có thể đạt 40 tỉ USD, chiếm một nửa kim ngạch buôn bán của Hàn Quốc Mỹ cũng là thị trường lớn để
Hàn Quốc nhập khẩu kỹ thuật Hàn Quốc đang xúc tiến lập "liên minh công nghiệp" Với Mỹ trên cơ sở phối hợp kỹ thuật Mỹ và cơ sở chế tạo công nghiệp của Hàn Quốc Tuy nhiên, tình trạng buôn bán giữa hai nước không ổn định Mỹ và Hàn Quốc đang là các đối thủ hùng mạnh của nhau trong buôn bán Mỹ đã lừng dọa xếp Hàn
Quốc vào danh sách các nước buôn bán không công bằng với Mỹ và đe dọa áp đặt
trừng phạt theo luật Super 301 đối với hàng hóa của Hàn Quốc Nhiều nhà phân tích cho rằng Hàn Quốc tuy đang cố gắng đa phương hóa, toàn cầu hóa buôn bán nhưng vẫn phụ thuộc vào Mỹ để thịnh vượng về kinh tế đến mức phải có những nhượng bộ
trước sức ép của Mỹ đòi giảm thặng dư buôn bán vớ Mỹ bằng cách tăng nhập khẩu
từ Mỹ và đa dạng hóa xuất khẩu
Với việc Mỹ và CHDCND Triều Tiên ký hiệp định Gionevơ, Mỹ sẽ lập ván phòng liên lạc ở Bình Nhưỡng Hàn Quốc buộc phải chấp nhận hiệp định này tuy nó không phản ánh đầy đủ các đòi hỏi của Hàn Quốc Một quan chức chính phủ Hàn Quốc thừa nhận trong quan hệ với Hàn Quốc Mỹ thường theo lôgic của một siêu cường khiến Hàn Quốc không còn lựa chọn nào khác là phải chấp nhận lôgic đó Với việc Hàn Quốc buộc phải chấp nhận thực tế là Mỹ có quan hệ với CHDCND Triều Tiên, nền ngoại giao Hàn Quốc sẽ đứng trước thử thách nghiêm trọng nếu Mỹ
Trang 35theo đuổi chính sách hai nước Triều Tiên Bức tranh chính trị Đông Á được cơ cấu
lại từ việc bình thường hóa quan hệ Washington - Bình Nhưỡng sẽ khiến Hàn Quốc cảm thấy Mỹ không còn là đồng minh vĩnh viễn nữa Mỹ sẽ chuyển từ dồng minh
chặt chẽ sang quan hệ đối tác đòi hỏi Seoul phải gay gắt hơn Giáo sư Rhee Woo, trường đại học Sogang (Hàn Quốc) cho rằng hiệp định Giơnevơ giữa Mỹ và
Sang-Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên là một thắng lợi ngoại giao lớn nhất của Bình Nhưỡng và vì vậy, Hàn Quốc đang đứng trước nguy cơ mất sự bảo hiểm ngoại giao từ Mỹ mà Hàn Quốc được hưởng suốt mấy thập kỷ qua Mỹ sẽ có quyền tùy nghi nhất định nếu Mỹ bắt đầu giao dịch cả với Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều
Tiên lẫn Hàn Quốc trên cơ sở như nhau mà thật ra là bất lợi cho Hàn Quốc
Nhiều nhà phân tích chính trị ở Seoul cho rằng Mỹ có thể tiếp tục ủng hộ các
chính sách của Hàn Quốc như Trung Quốc đã từng làm với Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên khi lập quan hệ ngoại giao với Hàn quốc Thời gian qua đi và
đến một lúc nào đó, Hàn Quốc có thể cảm thấy bị phản bội hoặc bị bỏ rơi như Bình
Nhưỡng đã từng cảm thấy như vậy khi Trung Quốc theo đuổi một số chính sách đối
với bán đảo Triều Tiên Chẳng hạn khi Mỹ có thể nối lại các cuộc thương lượng rút quân Mỹ khỏi Hàn Quốc với lý do giảm chi phí quân sự nhưng thực tế là giảm dần cam kết an ninh với Hàn Quốc
Vì vậy, Hàn Quốc đang rất sốt sắng thúc đẩy xây dựng một cơ chế an ninh
Đông Bắc Á Hàn Quốc cảm thấy bị kẹt giữa ASEAN với Diễn đàn kinh tế Đông Á
và Mỹ với Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á -Thái Bình Dương APEC Thử thách sắp
tới của Hàn Quốc là cuộc tranh chấp giữa ASEAN và Mỹ, về vấn đề bao gồm cả các
vấn đề xã hội vào các hiệp định buôn bán quốc tế Các học giả Hàn Quốc cho rằng
sự lựa chọn khôn khéo của Hàn Quốc là cân bằng giữa hai bên để đáp ứng tốt nhất nhu cầu và lợi ích địa chính trị của mình
Nhiều nhà phân tích chính trị ở Seoul cho rằng đề nghị thành lập một diễn đàn
đối thọai an ninh Đông Bắc Á (NEASD) mà ngoại trưởng Han Sung joo đưa ra tại diễn đàn khu vực ASEAN hồi giữa năm nay ở Thái Lan là chiến lược hướng Nam
của Hàn Quốc Đã đến lúc Hàn Quốc xét lại lập trường đối với các nước láng giềng châu Á Chuyến đi của tổng thống Kim Yong Sam sang Indônêxia dự hội nghị cấp cao APEC có thể hy vọng là bước ngoặt trong chiến lược hướng Nam của Hàn Quốc
Diễn đàn APEC tạo cho Hàn Quốc một cơ hội thúc đẩy tình đoàn kết khu vực về
Trang 36kinh tế để qua đó hình thành cơ chế tiểu khu vực Đông Bắc Á Tuy nhiên, cho đến
nay Hàn Quốc vẫn không cho phép các quan hệ khác đi xa tới mức có thể làm ảnh
hưởng đến quan hệ truyền thống với Mỹ
b Quan hệ với Trung Quốc :
Ngày 24 /08 /94, Trung Quốc và Hàn Quốc kỷ niệm 02 năm lập quan hệ ngoại giao Hai nước đều có chung nguyện vọng hòa bình và ổn định ở các nước láng
giềng của mình khi Trung Quốc chú ý nhiều hơn đến thịnh vượng kinh tế Việc thiết
lập quan hệ ngoại giao đã mở ra thời kỳ làm ăn kinh tế lớn giữa hai nước Buôn bán hai chiền giữa Hàn Quốc và Trung Quốc năm 1991 là 4,4 tỷ USD, năm 1993 là 9,1
tỷ USD và năm nay có thể lên đến 12 tỷ Trung Quốc đã trể thành bạn hàng buôn
bán lớn thứ ba của Hàn Quốc sau Mỹ và Nhật Bản Trung Quốc cũng là địa chỉ đầu
tư lớn nhất của Hàn Quốc ở nước ngoai Theo số liệu của ngân hàng Trung ương Hàn Quốc, đầu tư trực tiếp của các nhà kinh doanh Hàn Quốc vào Trung Quốc đã
tăng từ 200 triệu USD vào năm 1991 lên 1,3 tỷ USD tính đến tháng 06/1994 Hàn
Quốc đã trở thành bạn hàng buôn bán lớn thứ 6 của Trung Quốc và là nước đầu tư
nước ngoài lớn thứ 7 của Trung Quốc Nếu buôn hán tay đôi phát triển với tốc độ hiện nay, buôn bán năm 1997 giữa hai nước sẽ đạt tới 30 tỷ USD
Trong lĩnh vực chính trị, hai nước đã tiến lại gần nhau bằng cách trao đổi ở cấp
quốc hội, chính phủ và quân sự Đảng Cộng sản Trung Quốc và đảng Dân chủ Tự do cầm quyền ở Hàn Quốc đã thiết lập quan hệ chính thức Từ năm 1993, hai nước dã trao đổi tuỳ viên quân sự ở sứ quán hai nước, đánh dấu sự trao đổi quân sự đầu tiên Tuy nhiên, Seoul vẫn coi quan hệ với Trung Quốc là chưa hoàn toàn bình thường Trung Quốc theo đuổi đường lối giữ cân bằng giữa Seoul và Bình Nhưỡng Quan hệ giữa Bắc Kinh - Seoul chủ yếu là về kinh tế trong khi Seoul muốn Bắc Kinh đóng vai trò tích cực hơn với tư cách là người cân bằng sức mạnh ở Đông Bắc
Á Hàn Quốc muốn Trung Quốc không chỉ coi môi trường hòa bình là cần thiết để phát triển kinh tế mà Trung Quốc cũng cần chia sẻ với Hàn Quốc nhu cầu thay đổi
và định hướng mội trật tự thế giới mới trong tương lai Seoul muốn Trung Quốc
gánh trách nhiệm to lớn đảm bảo hòa bình và cùng tồn tại giữa các nước ở Đông
Bắc Á và thế giới Trong khi ở Hàn Quốc, có nhiều ý kiến cho rằng Hàn Quốc quá nhún nhường với Trung Quốc vốn bá quyền liên Trung Quốc quan hệ với Hàn Quốc chủ yếu là giành lợi về kinh tế Do đó, Hàn Quốc có nguy cơ trở thành con tin chính
Trang 37trị của Trung Quốc, Cũng có học giả Hàn Quốc cho rằng Trung Quốc chỉ cần môi
trường hòa bình và ổn định để phát triển kinh tế mà môi trường như vậy đã có trong hiện trạng nên Trung Quốc không muốn thống nhất bán đảo Triều Tiên Là đồng
minh chính trị, tư tưởng và quân sự của Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên nên Trung Quốc dù thế nào cũng không muốn Hàn Quốc thống nhất bán đảo
Chuyến viếng thăm Trung Quốc của tổng thống Hàn Quốc Kim Young Sam tháng 03/94 đã làm nổi rõ chiến lược chính sách của Trung Quốc về cơ bản Trung
Quốc ủng hộ Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên về chính trị và an ninh
nhưng thúc đẩy hợp tác với Hàn Quốc về kinh tế và văn hóa Trung Quốc nhấn mạnh sự cần thiết nối lại đối thoại liên triều Một học giả Hàn Quốc cho rằng chính sách của Trung Quốc đối với Hàn Quốc là cố gắng gây ảnh hưởng tối đa của Trung
Quốc đối với cả Hàn Quốc là Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên Việc Trung
Quốc giữ khoảng cách đều giữa hai miền Triền Tiên chắc chắn sẽ tác động đến quá trình thống nhất bán đảo này
Do sức ép trong nước về quan hệ với Trung Quốc, đặc biệt trong bối cánh có vấn đề hạt nhân của Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên và lập trường không
rõ ràng của Trung Quốc về vấn đề này, Hàn Quốc rất muốn có một chuyến viếng thăm Seoul của người đứng đầu nhà nước hoặc chính phủ Trung Quốc để đáp lại các chuyến viếng thăm Bắc Kinh của tổng thống Roh Tac Woo và Kim Young Sam Hàn Quốc và Trung Quốc có bất đồng quan điểm về phòng thủ và an ninh và đây là hai lĩnh: vực quan hệ hai nước ít tiến triển nhất mặc dù Trung Quốc và Hàn Quốc có chung quan điểm rằng một nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên nghèo khổ và cô lập là mối đe dọa hòa hình và ổn định ở Đông Bắc Á Chuyến viếng thăm Seoul của Thủ tướng Lý Bằng từ 31/ 08 đến 04/11 giúp giải tỏa phần nào sức ép trong nước đối với chính phủ Hàn Quốc trong quan hệ mà dư luận Hàn Quốc cho là quá lép vế của Hàn Quốc đối với Trung Quốc
c Quan hệ với Nga :
Hàn Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao với Liên Xô thời Gorbachev tháng 09/1990 Vào thời điểm này, Matxcơva nhấn mạnh vào việc nhập khẩu kỹ thuật hiện đại và hàng tiêu dùng của Hàn Quốc vào Liên Xô cũng như thu hút vốn đầu tư của Hàn Quốc nhằm phát triển vùng Viễn Đông Liên Xô Để lập được quan hệ ngoại giao theo chiến lược đối ngoại hướng Bắc, Hàn Quốc đã đồng ý cho Liên Xô lúc đó
Trang 38vay 3 tỷ USD như là giá phải trả để thiết lập quan hệ Thiết lập quan hệ với Liên Xô lúc dó, Seoul nhằm mục tiêu tỉa dần những đồng minh của Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên và lôi kéo, tranh thủ họ
Liên Xô tan rã nhưng Nga, nước thừa kế mối quan hệ với Hàn Quốc từ Liên Xô
cũ vẫn coi quan hệ với Hàn Quốc là ưu tiên trong chính sách châu Á của Nga Chuyến viếng thăm Nga tháng 06/94 của tổng thống Kim Young Sam được đánh giá
là thành công nhất trong các chuyến thăm 4 nước mà ông tiến hành sau khi nhậm chức Trong chuyến viếng thăm này, tổng thống Kim đã giành được đảm bảo của Nga rằng Nga sẽ tham gia trừng phạt quốc tế chống Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên nếu vấn đề hạt nhân không được giải quyết Nga cũng đảm bảo rằng liên minh quân sự Nga - Cộng Hoa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên trên thực tế là vô hiệu lực và thỏa thuận lập đường dây nóng giữa Kremiin và Chong Wa Dac
Các nhà quan sát cho rằng với những thỏa thuận như vậy, Nga sẽ giành dược những khỏan tín dụng lớn từ Hàn Quốc và hoãn được thời gian trả nợ 1,5 tỷ USD đã
đến hạn phải trả, đồng thời các nhà kinh doanh Hàn Quốc tăng đầu tư vào vùng
Viễn Đông Nga Nhưng nay khi cánh cửa châu Âu đã mở đối với các nhà kinh doanh Hàn Quốc nên họ cũng tự do hơn khi đầu tư vào Nga, chủ yếu nhằm vào khai thác các tài nguyên ngầm của Nga và xuất khẩu sang nước thứ ba Các công ty Samsung, Huỵndai, Lucky Goldstar xuất sang Nga không phải là kỹ thuật mà là các mặt hàng điện tử, ôtô, vải vóc Trên thực tế kim ngạch buôn bán Nga - Hàn Quốc có tăng lên nhưng Nga nay không còn muốn là "người cung cấp nguyên liệu"
nữa Nga yêu cầu Hàn Quốc nhập các mặt hàng mới như kim loại màu, kỹ thuật thông tin và vũ trụ, thậm chí cả vũ khí Hàn Quốc tuy không có các hệ thống vũ khí Nga nhưng đã phải chấp nhận nhập 300 triệu USD vũ khí Nga như là một phần trả
nợ của Nga trong khỏan tín dụng 1,5 tỷ USD đến hạn trả cho Hàn Quốc
Cản trở chính trong quan hệ hai nước là khoản tín dụng này Trong khi Nga không trả nợ được, Hàn Quốc đã gián tiếp ngăn chặn các nhà kinh doanh Hàn Quốc hợp tác với Nga đặc biệt là các dự án lớn Quan hệ Nga - Hàn Quốc lạnh nhạt đi vì Seoul ngừng các khoản tín dụng cho Nga Theo nhiều nguồn tin ngoại giao ở Seoul dường như Nga đã tỏ ý tiếc vì đã phụ bạc Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên khi quan hệ một thời nồng ấm với Hàn Quốc Những chuyến viếng thăm thường xuyên hơn của các quan chức Nga tới Bình Nhưỡng, đặc biệt là chuyến viếng thăm
Trang 39Bình Nhưỡng của thứ trưởng ngoại giao Nga Pariov Panov tuyên bố rằng Nga đang khôi phục kinh tế, chính trị, quân sự, với Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên
tới mức nồng ấm như thời Liên Xô cũ Đài phát thanh Bình Nhưỡng bình luận rằng
"quan hệ Nga - Cộng Họa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên sau một thời gian lạnh nhạt nay đã đi vào giai đoạn cải thiện nhờ nỗ lực của cả hai bên" Các nhà quan sát chính trị ở Seoul cho rằng Nga nay đang theo gương Trung Quốc, tìm cách duy trì
tốt với cả Seoul lẫn Bình Nhưỡng để có thể dùng con bài này làm đòn bẩy trong
quan hệ với con bài kia
d Quan hệ với Nhật Bản
Hàn Quốc lập quan hệ ngoai giao với Nhật Bản năm 1965 dưới thời tổng thống Park Chung Hee sau 13 năm đàm phán bình thường hóa quan hệ Lợi ích chính trị
và kinh tế của hai nước lúc đó cần được đáp ứng bằng quan hệ ngoại giao Nhật bồi
thường chiến tranh và thời kỳ thực dân hóa Triều Tiên cho Hàn Quốc lúc đổ 800 triệu USD hòng khi nước này rất cần ngoại tệ để công nghiệp hóa
Chuyến viếng thăm Tôkyô của tổng thống Hàn Quốc Kim Young Sam sau khi ông vừa nhậm chức đã thể hiện những mối quan tâm khác nhau của cả hai nước Trong khi tuyên bố trừng phạt quốc tế chống Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên nếu vấn đề hạt nhân không được giải quyết Nhật Bản tập trung vào vấn đề kinh
tế và thúc đẩy hợp tác với Hàn Quốc trong buôn bán, đầu tư của Nhật và chuyển
giao kỹ thuật trên cơ sở thị trường tự do Hàn Quốc lại muốn Nhật Bản đóng vai trò
lến hơn trong việc giải quyết vấn đề hạt nhân thì Nhật Bản lại tìm cách cải thiện
quan hệ với Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên; để đối trọng với việc Hàn Quốc cải thiện quan hệ với Trung Quốc, Nga và các nước Đông Âu Nhật Bản lo ngại sức mạnh quân sự đang tăng lên của Hàn Quốc và không che giấu mối lo ngại này khiến cho một số nhà bình luận thời sự cho rằng Nhật Bản muốn bán đảo Triều Tiên giữ nguyên hiện trạng chia cắt để giám mối đe dọa Triều Tiên đối với Nhật Bản Nhật Bản đã chính thức đề nghị tăng cường hợp tác quân sự với Hàn Quốc, cùng tham khảo nhau để họach định chiến lược quân sự chung mà Nhật Bản cho là nhằm chống lại mối đe dọa quân sự từ Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên Hàn Quốc có quan hệ yêu ghét lẫn lộn đối với Nhật Bản Nỗi ác cảm đối với
Nhật Bản ở Hàn Quốc do những hành động tàn bạo của Nhật thời đô hộ thực dân ở bán đảo Triều Tiên mạnh đến mức các cuộc đàm phán bình thường hóa quan hệ kéo
Trang 40dài tới 13 năm Quan hệ hai bên còn phức tạp bởi các kiều dân Triều Tiên ở Nhật Bản, di sản của thời kỳ thực dân, bị phân biệt đối xử, không được nhập quốc tịch Nhật Bản Tổng hội kiều dân Triều Tiên ở Nhật Bản lại là tổ chức thân Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên Hàn Quốc ủng hộ yêu sách bồi thường của Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên tới 8 tỷ USD trong cuộc thương lượng bình thường hóa quan hệ Nhật Bản - Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên Các quan chức chính phủ Hàn Quốc cho rằng bình thường quan hệ Nhật Bản - CHDCND Triều Tiên không tác động nhiều đến quan hệ Scoul, Tôkyô
Sự thịnh vượng và phát triển kinh tế của Hàn Quốc gắn chặt với nền kinh tế
Nhật Bản Nhiều máy móc phụ tùng và kỹ thuật cho đến nay Hàn quốc vẫn phải nhập từ Nhật Bản ngay cả trong các lĩnh vực kỹ thuật mũi nhọn mà Hàn Quốc đã phát triển cao Mội sự phong tỏa về kỹ thuật và phụ tùng từ Nhật Bản có thể tác động ghê gớm đến nền kinh tế Hàn Quốc Nhiều tổ chức, thể chế ở Hàn Quốc rập khuôn theo mô hình Nhật Bản Trong nhiều năm nữa, Nhật Bản sẽ trở thành thị trường ngày càng quan trọng đối với hàng hóa Hàn Quốc Hiện tại, Nhật Bản chỉ đứng sau Mỹ trong kim ngạch buôn bán giữa hai nước
Trong khi Hàn Quốc triển khai và thực hiện các chiến lược đối ngoại tứ cường,
chiến lược hướng Bắc, hướng Nam, các giới chính trị ở Hàn Quốc rất quan tâm tới thái độ của Trung Quốc và quan hệ của nó với Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều
Tiên đã làm chủ để nghiên cứu của các học giả Hàn Quốc Bài viết dưới đây của giáo sư Lee Choon -Shik, Trường đại học tổng hợp quốc gia Hàn Quốc đề cập đến
vấn đề này
"Bắc Triều Tiên đã kết thúc các cuộc thương lượng với Mỹ chỉ sau gần 2 năm
họ trở thành tiêu điểm chú ý của cả thế giới đối với chương trình hạt nhân không rõ ràng của họ Tuy nhiên, tương lai chính trị của Bắc Triều Tiên vẫn chưa chắc chắn
vì những di căn kinh tế đang xấu đi sau cái chối của Kim Nhật Thành, sự cô lập ngoại giao, sự không ổn định của ban lãnh đạo mới và thiếu một nhân vật trung tâm
có thể đưa ra các quyết định táo bạo Nếu theo dỗi chặt chẽ tình hình Bắc Triều
Tiên, người ta dễ thấy bóng dáng của người khổng lồ Trung Quốc Trước hết Trung
Quốc tuyên bố phản đối mọi hình thức trừng phạt Bắc Triều Tiên trong khi Bắc
Triều Tiên tiến hành các cuộc thương lượng không rõ ràng với Mỹ Mặt khác, Trung
Quốc còn nói rõ với Mỹ và thế giới rằng họ đã thuyết phục Bắc Triều Tiên vẫn còn