1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

sang kien kinh nghiem

33 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 41,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ViÖc lµm cho kiÕn thøc lÞch sö trë thµnh niÒm tin , tríc hÕt phô thuéc vµo tÝnh chÊt giao tiÕp gi÷a gi¸o viªn vµ häc sinh vÒ mÆt tinh thÇn, phô thuéc vµo møc ®é kÕt hîp h÷u c¬ gi÷a phÈm [r]

Trang 1

Mục lục

Phần mở đầu 1

1 Lý do chọn đề tài: 1

2 Lịch sử vấn đề: 2

3 Phạm vi nghiên cứu: 3

4 Mục đích nghiên cứu: 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu: 4

6 Cơ sở phơng pháp luận và phơng pháp nghiên cứu: 4

Chơng I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc giáo dục tinh thần yêu nớc cho học sinh qua dạy học phần lịch sử Việt Nam giai đoạn từ năm 1858 đến cuối thế kỷ XIX 5

I Cơ sở lý luận: 5

1 Bộ môn lịch sử với việc giáo dục tinh thần yêu nớc cho học sinh ở trờng phổ thông 5

2 Vai trò, ý nghĩa của việc giáo dục tinh thần yêu nớc cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trờng phổ thông 7

II Cơ sở thực tiễn: 9

Chơng II: Một số biện pháp giáo dục tinh thần yêu nớc cho học sinh qua dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn từ năm 1858 đến cuối thế kỷ XIX 13

I Vị trí, mục đích, nội dung cơ bản giai đoạn lịch sử Việt Nam từ năm 1858 đến cuối thế kỷ XIX 13

1 Vị trí khoá trình lịch sử Việt Nam giai đoạn từ năm 1858 đến cuối thế kỷ XIX 14

2 Mục đích việc khai thác các sự kiện lịch sử Việt Nam giai đoạn từ năm 1858 đến cuối thế kỷ XIX 15

3 Nội dung cơ bản của gia đoạn lịch sử Việt Nam giai đoạn từ năm 1858 đến cuối thế kỷ XIX 16

II Một số biện pháp giáo dục học sinh tinh thần yêu nớc qua dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn từ năm 1858 đến cuối thế kỷ XIX 16

1 Kết hợp lời nói sinh động của ngời thầy với phơng pháp sử dụng đồ dùng trực quan để tạo biểu tợng lịch sử, khôi phục lại bức tranh quá khứ là biện pháp quan trọng đầu tiên để tác động tới t tởng, tình cảm của học sinh 17

2 Sử dụng các đoạn tờng thuật, miêu tả, kể chuyện: 18

3 Sử dụng tài liệu tham khảo 21

4 Sử dụng tranh ảnh 21

5 Sử dụng câu hỏi nhận thức để phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử: 22

III Thực nghiệm s phạm 24

Trang 2

1 Mục đích thực nghiệm 24

2 Nội dung thực nghiệm: 24

3 Giáo án thực nghiệm: 25

4 Phơng pháp tiến hành thực nghiệm: 34

5 Kết quả thực nghiệm: 37

Phần kết luận 38

Tài liệu tham khảo: 40

Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài:

Thế kỷ XX đã đi qua, nhân loại đã bớc sang thế kỷ XXI, khép lại một giai

đoạn đầy biến động của của lịch sử xã hội loài ngời Đại hội Đảng lần thứ VIII,

IX, X đều khẳng định mục tiêu đào tạo hiện nay là đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam thời kỳ mới "Phát triển cao về mặt trí tuệ, cờng tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức , có kỹ năng lao động, có tính tích cực chính trị xã hội" nhằm phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Mỗi môn học trong nhà trờng phổ thông đều có chức năng, nhiệm vụ riêng, song đều phải thực hiện theo đúng mục tiêu đào tạo chung

Đặc điểm của việc học tập lịch sử là là quá trình nhận thức những điều đã diễn ra trong quá khứ của xã hội để hiểu về hện tại và chuẩn bị cho tơng lai Khi nghiên cứu các hiện tợng tự nhiên, ngời ta có thể trực tiếp quan sát chúng trong thiên nhiên hoặc ở trong phòng thí nghiệm Khác với giới tự nhiên, lịch sử xã hội loài ngời không thể trực tiếp quan sát và cũng không thể khôi phục lại diễn biến của nó trong phòng thí nghiệm Đặc trng nổi bật của nhận thức lịch sử là: Con ngời không thể tri giác trực tiếp những gì thuộc về quá khứ Mặt khác, lịch sử là

Trang 3

những sự việc đã xảy ra, là hiện thực trong quá khứ, là tồn tại khách quan, khôngthể “phán đoán”, “suy luận”…để biết lịch sử Vì vậy, nhiệm vụ đầu tiên tất yếucủa bộ môn lịch sử ở trờng phổ thông là tái tạo lịch sử, tức là cho HS tiếp xúc vớinhững chứng cứ vật chất, những dấu vết của quá khứ, tạo ra ở họ những hình ảnh

cụ thể, sinh động, chính xác về các sự kiện, hiện tợng lịch sử tạo ra ở HS nhữngbiểu tợng về con ngời và hoạt động của họ trong bối cảnh thời gian, không gianxác định, trong những điều kiện lịch sử cụ thể

Thế hệ trẻ nớc ta hiện nay đợc sinh ra trong hoàn cảnh đất nớc không cóchiến tranh, đợc hởng một cuộc sống thanh bình, hạnh phúc dới mái nhà thânyêu, quen thuộc, ngày ngày đợc cắp sách đến trờng với sự ngây thơ, trong sáng,hồn nhiên Chính vì vậy, các em có thái độ lãnh đạm, thờ ơ với quá khứ, các emkhông hiểu đợc rằng để có đợc cuộc sống thanh bình, hạnh phúc nh ngày hômnay, đã có biết bao ngời ngã xuống trên mảnh đất này để dành dật lấy từng tấc

đất cho quê hơng Nắm bắt đợc vấn đề này, chúng ta cần phải giáo dục cho cáctình yêu quê hơng, đất nớc, biết ơn thế hệ đi trớc

Việc giáo dục lòng yêu nớc cho học sinh nằm trong phạm trù giáo dục đạo

đức, t tởng, tình cảm, hình thành nhân cách cho học sinh trong chiến lợc giáodục và đào tạo thế hệ trẻ của đất nứơc

Nhà trờng phổ thông có trách nhiệm quan trọng cùng với các lực lợng xãhội hoàn thành tốt nhiệm vụ giáo dục học sinh thông qua các môn học trong nhàtrờng Môn lịch sử với chức năng và nhiệm vụ của mình cùng góp phần quantrọng vào việc giáo dục đạo đức, hình thành nhân cách cho học sinh Lịch sử có -

u thế hơn hẳn bất kỳ bộ môn nào ở trờng phổ thông trong việc giáo dục t tởngtình cảm đạo đức cho các em Bằng các sự kiện lịch sử chân thực , sinh động,lịch sử gợi dậy trong các em sự rung cảm mạnh mẽ về quá khứ kích thích hành

động và suy nghĩ của các em về trách nhiệm đối với đất nớc Lịch sử giúp các

em nhận thức đúng quá khứ , rút ra những bài học cho hiện tại và tơng lai, tránhlặp lại những sai lầm của quá khứ , để các em đi đúng quỹ đạo của sự phát triển Lịch sử cũng góp phần giúp các em nhận thức đúng quan điểm, đờng lối của

Đảng để các em có một niềm tin vững chắc vào con đờng xây dựng đất nớc theo

định hớng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân đã lựa chọn

Xuất phát từ lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài " Giáo dục tinh thần yêunớc cho học sinh qua dạy học phần lịch sử Việt Nam giai đoạn từ năm 1858 đếncuối thế kỷ XIX" làm đề tài tốt nghiệp

2 Lịch sử vấn đề:

Lịch sử Việt Nam giai đoạn từ 1858 đến cuối thế kỷ XIX là giai đoạn quantrọng trong tiến trình lịch sử Việt Nam với những mốc lịch sử quan trọng củalịch sử dân tộc.Năm 1858, thực dân Pháp xâm lợc Việt Nam Quân dân ta đã anh

Trang 4

dũng chiến đấu, làm thất bại âm mu đánh nhanh thắng nhanh của địch Tuy vậytriều đình Huế vẫn ký Hiệp ớc Nhâm Tuất (ngày 05 tháng 6 năm 1862) nhợngcho Pháp nhiều quyền lợi Giai đoạn lịch này đã đợc rất nhiều học giả quan tâm,nghiên cứu, tìm hiểu Tuy nhiên các công trình nghiên cứu về đề tài giáo dục tinhthần yêu nớc cho học sinh qua dạy học lịch sử giai đoạn thì cha có nhiều, chínhvì thế khi chọn đề tài này làm đề tài tốt nghiệp, tôi rất khó khăn trong công tác s-

u tầm tài liệu Vấn đề này chỉ có một số ít các công trình nghiên cứu về phơngpháp dạy học lịch sử và một số ít luận văn tốt nghiệp đề cập đến khi nghiên cứucác phơng pháp giáo dục đạo đức, t tởng, tình cảm cho học sinh qua dạy họcmôn lịch sử của giảng viên và sinh viên khoa sử trờng Đại học S phạm Hà Nộinh:

- Phan Ngọc Liên: Giáo dục lòng yêu nớc và tinh thần Quốc tế vô sản,nghiên cứu giáo dục số 6 - 1985

- Trịnh Đình Tùng: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục học sinhtrong dạy học lịch sử - Tạp chí nghiên cứu giáo dục 5 - 1998

- Trịnh Đình Tùng: Bộ môn lịch sử với việc hình thành và phát triển nhâncách học sinh, tạp chí nghiên cứu giáo dục 350

- Nguyễn Thị Thế Bình: Giáo dục truyền thống đoàn kết dân tộc cho họcsinh theo t tởng Hồ Chí Minh trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 -1975

Các công trình nghiên cứu này mới chỉ nghiên cứu đến vấn đề giáo dục t ởng, đạo đức cho học sinh chứ cha đề cập đến vấn đề giáo dục tinh thần yêu nớccho học sinh trong giai đoạn lịch sử 1858 - cuối thế ký XIX Đây là cơ sở để tôitiến hành nghiên cứu đề này

t-3 Phạm vi nghiên cứu đề tài:

Tập trung giải quyết việc " Giáo dục tinh thần yêu nớc cho học sinh quadạy học phần lịch sử Việt Nam giai đoạn từ năm 1858 đến cuối thế kỷ XIX"trong sách giáo khoa lịch sử lớp 8 - trờng THCS

4 Mục đích nghiên cứu:

Đề tài không chỉ nhằm mục đích nâng cao hiệu quả giáo dục cho học sinhtinh thần yêu nớc qua dạy học phần lịch sử Việt Nam giai đoạn từ năm 1858 đếncuối thế kỷ XIX mà còn góp phần làm rõ: Nếu làm tốt nhiệm vụ giáo dục họcsinh tinh thần yêu nớc thông qua bài học lịch sử sẽ góp phần nâng cao chất lợngdạy và học môn lịch sử ở trờng phổ thông

5 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:

Để thực hiện mục đích nghiên cứu nói trên, đề tài có nhiệm vụ:

- Tìm hiểu lý luận giáo dục t tởng đạo đức nói chung, tinh thần yêu nớcnói riêng cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trởng phổ thông

Trang 5

- Điều tra, khảo sát thực tiễn việc giáo dục hiện nay qua bộ môn lịch sử ởtrởng phổ thông.

- Đề xuất các phơng pháp dạy học phần lịch sử Việt Nam giai đoạn từ năm

1858 - đến cuối thế kỷ XIX nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục tinh thần yêu nớccho học sinh

- Tiến hành thực nghiệm để khẳng định các biện pháp s phạm đa ra đểgiáo dục cho học sinh tinh thần yêu nớc là hoàn toàn đúng đắn , chứng minh tínhkhả thi của đề tài

6 Cơ sở phơng pháp luận và phơng pháp nghiên cứu:

6.1 Cơ sở phơng pháp luận:

Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ ChíMInh, quan điểm của Đảng về lịch sử và giáo dục lịch sử để nghiên cứu

Tuân thủ những nguyên tắc của của phơng pháp luận sử học Macxit,

ph-ơng pháp dạy học lịch sử để nghiên cứu

6.2 Phơng pháp nghiên cứu:

Sử dụng phơng pháp su tầm tài liệu có liên quan để nghiên cứu, đọc vàphân loại tài liệu, rút ra những điều cần thiết phục vụ cho nghiên cứu đề tài củamình

Tiến hành điều tra thực tiễn công tác dạy học lịch sử ở trờng phổ thônglàm cơ sở thực tiễn để đa ra những phơng pháp khoa học phục vụ công tác giáodục học sinh, nâng cao chất lợng dạy học lịch sử

Thực nghiệm s phạm, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh đểchứng minh tính khả thi của đề tài

Ch ơng I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc "Giáo dục tinh

thần yêu nớc cho học sinh qua dạy học phần

lịch sử Việt Nam giai đoạn từ năm 1858 đến cuối thế kỷ XIX"

I Cơ sở lý luận:

1 Bộ môn lịch sử với việc giáo dục tinh thần yêu nớc cho học sinh ở trờng phổ thông:

Trong công cuộc dựng nớc và giữ nớc từ ngàn xa đến nay, hơn ai hết các

em hiểu rằng lịch sử của dân tộc Việt Nam là lịch sử của cuộc đấu tranh dựng n

-ớc và giữ n-ớc, gắn với những cuộc chiến tranh chông ngoại xâm Thời nào cũngvậy, trong bất kỳ một giai đoạn phát triển nào của lịch sử dân tộc, cha ông ta đềuphải đơng đầu với nạn ngoại xâm Cứ mỗi lần có nạn ngoại xâm là là lòng yêu n-

ớc của nhân dân ta lại dấy lên, nó kết thành một làn sóng vững mạnh, quật tanmọi kẻ thù hung bạo Lòng yêu nớc đã trở thành một truyền thống quý báu của

Trang 6

dân tộc ta Nó in đậm những dấu ấn trang sử vẻ vang của dân tộc.Trong bối cảnhlịch sử đó, tinh thần yêu nớc gắn liền với tinh thần đoàn kết dân tộc, chống giặcngoại xâm, bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc Cùng với quá trìnhdựng nớc và giữ nớc là việc chăm lo phát triển kinh tế đất nớc, củng cố quốcphòng an ninh vững chắc , tăng cờng sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ , bồi dỡng đàotạo nhân tài cho đất nớc đó là những con ngời có đủ trí thức, phẩm chất đạo đứcphục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, kế tục sự nghiệp vẻ vang củacha ông

Nối tiếp truyền thống của cha ông, trong thời kỳ chiến tranh vệ quốc vĩ

đại, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc "Bồi dỡng thế hệcách mạng cho đơì sau" Ngay sau ngày cách mạng tháng Tám thành công, bêncạnh việc xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, ổn định tình hình đất nớc,chống thù trong giặc ngoài , bảo vệ thành quả cách mạng tháng Tám,Bác hiểurằng, đất nớc có giữ đợc độc lập thì cần phải có một đội ngũ nhân tài những ngời

có tri thức, có óc sáng tạo, sức khoẻ dồi dào, có đấy đủ phẩm chất cách mạngtham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, bảo vệ vững chắc thành quảcách mạng đã đợc Bác đã nhận thấy rằng "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu",dân tộc yếu thì rất dễ bị ngoại xâm đô hộ Chính vì thế, trong công tác xây dựng,củng cố Chính quyền Trung ơng và địa phơng sau cách mạng tháng Tám Hồ Chủtịch đã ra sắc lệnh thành lập "Nha bình dân học vụ" chuyên chăm lo tới sựnghiệp giáo dục nớc nhà Bác đã căn dặn thế hệ trẻ "Non sông Việt Nam có trởnên vẻ vang sánh vai các cờng quốc năm châu đợc hay không chính là nhờ phầnlớn ở công học tập của các cháu."

Ngày nay, trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, phấn

đấu đa đất nớc tiến lên bắt kịp bạn bè khắp năm châu, khẳng định vị thế của ViệtNam trên trờng Quốc tế, Đảng và Nhà nớc ta một mặt vừa chăm lo xây dựng,phát triển kinh tế đất nớc, nâng cao mức sống của ngời dân, vừa chăm lo củng cốnền quốc phòng an ninh, bảo vệ vững chắc tổ quốc xã hội chủ nghĩa, mặt khácluôn luôn quan tâm tới sự nghiệp giáo dục và đào tạo, Đảng coi "Giáo dục làquốc sách hàng đầu" (Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII - 1996) xác

định mục tiêu giáo dục và đào tạo nhằm "Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồidỡng nhân tài hình thành đội ngũ lao động có tri thức và có tay nghề có năng lựcthực hành, tự chủ, năng động sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nớc,yêu chủ nghĩa xã hội" (Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII - 1991) Đến Đại hội

Đảng lần thứ IX, Đảng và nhà nứơc ta lại một lần nữa khẳng định sự nghiệp giáodục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng, bệ phóng vững chắc để đa dântộc ta bớc vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của văn minh truyền thông và tinhọc.Đây là những phơng hớng quan trọng chỉ đạo việc đào tạo thế hệ trẻ, kế tục

Trang 7

và phát triển sự nghiệp cách mạng đa đất nớc đi lên theo con đờng xã hội chủnghĩa mà Đảng, nhân dân và Hồ chủ tich đã lựa chọn.

Để hoàn thành những mục tiêu mà Đảng, Nhà nớc đã đề ra, nhà trờng phổthông sẽ là nơi chịu trách nhiệm chính cùng với các lực lợng xã hội thực hiệnnhiệm vụ giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ thông qua các môn học bắt buộc do Nhànớc quy định Môn lịch sử với chức năng và nhiệm vụ của mình góp phần tíchcực vào công việc này

Để giáo dục tinh thần yêu nớc cho các em, giáo viên có thể lấy những tấmgơng anh dũng tuyệt vời của các anh hùng đã dũng cảm quên mình đấu tranhcho độc lập tự do của dân tộc, bảo vệ chủ quyền của tổ quốc ở giai đoạn lịch sửnày nh: Nguyễn Trung Trực, Trơng Công Định, Phạm Văn Nghị, Nguyễn ĐìnhChiểu, Nguyễn Hữu Huân có thể lấy những trận đánh, những chiến thắng vẻvang để giáo dục các em lòng yêu tổ quốc , giúp các em có suy nghĩ về tráchnhiệm của mình đối với đất nớc

2 Vai trò, ý nghĩa của việc giáo dục tinh thần yêu nớc cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trờng phổ thông:

Lịch sử của dân tộc Việt Nam là lịch sử của các cuộc chiến tranh vệ quốc

vĩ đại Suốt từ thời Hùng Vơng dựng nớc đến nay, chúng ta luôn phải sẵn sàng

đấu tranh chông mọi kẻ thù xâm lựơc để bảo vệ tổ quốc của mình

Tinh thần yêu nớc của con ngời Việt Nam , dân tộc Việt Nam đã đợc thểhiện rất rõ trong các cuộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc và đó cũng là những trang sửvàng chói lọi, đầy tự hào của lịch sử dân tộc Tinh thần yêu nớc, chống ngoạixâm ấy đã trở thành truyền thống vô cùng quý báu của dân tộc ta Với tinh thầnyêu nớc bất khuất, đã có biết bao thế hệ cha ông đã ngã xuống, hy sinh tuổithanh xuân của mình để đổi lấy nền độc lập t do cho dân tộc, dành lấy từng tấc

đất thân yêu của tổ quốc Tấm gơng hy sinh vì nớc của họ, lịch sử dân tộc đời đờighi nhớ Trải qua nhiều cuộc chiến đấu chống ngoại xâm, giữ yên độc lập, chủquyền của tổ quốc, nhiều thế hệ cha ông đã ngã xuống trên mảnh đất này nênchúng ta, những thế hệ sau nối tiếp thế hệ đi trớc càng cần phải tiếp nối truyềnthống, ghi tiếp những trang sử vàng của lịch sử dân tộc

Ngày nay, với xu hớng chung của thế giới, chuyển từ đối đầu sang đốithoại, chiến tranh dần lùi xa vào quá khứ thì tinh thần yêu nớc lại đợc thể hiệntrong công cuộc chiến đấu chống đói nghèo, lạc hậu, đa Việt Nam đi lên sánhvai cùng với các cờng quốc năm châu Tinh thần yêu nớc luôn gắn với niềm tựhào tự tôn dân tộc Dói sự lãnh đạo Đảng, nhân dân ta đã nhanh chóng bắt tayvào công cuộc xây dựng đất nớc , khắc phục khó khăn, quyết tâm đa đất nớc vơnlên bắt kịp với trình độ phát triển của các nớc tiên tiến trên thế giới, tránh nguycơ tụt hậu Sau hơn 10 năm đổi mới đất nớc ta đã thay da đổi thịt , từ một nớc

Trang 8

nghèo nàn, lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá đang dần trở thành một nớc tiên tiếntrên thế giới, khẳng định vị thế của mình trên trờng quốc tế , sánh ngàng bè bạnkhắp năm châu

Mặc dù chăm lo xây dựng đất nớc, nhng chúng ta không lúc nào quênnhiệm vụ bảo vệ tổ quốc Lịch sử luôn nhắc nhở chúng ta nhiệm vụ này Vớitinh thần "Việt Nam muốn làm bạn với tất các các nớc trên thế giới" chúng taluôn đấu tranh hết mình vì một thế giới hoà bình nhng vẫn không quên giữ gìnphát huy bản sắc dân tộc, đó là niềm tự hào , tự tôn dân tộc

Giáo dục cho học sinh lòng yêu nớc, yêu dân tộc Việt Nam , còn làm thứctỉnh ở các em tình yêu đồng loại, yêu thiên nhiên, quý trọng những thành quả lao

động của con ngời Các em sẽ cảm thấy trách nhiệm, ý thức giữ gìn bảo vệnhững thành quả do thiên nhiên, con ngời sáng tạo ra, và cao hơn nữa là bảo vệ

sự sống của loài ngời trên trái đất, vì một thế giới tốt đẹp hơn

Giáo dục tinh thần yêu nớc cho học sinh góp phần hình thành nhân cáchsống cho các em, một nhân cách sống bao dung, độ lợng, mình vì mọi ngời Các

em biết yêu thơng những ngời thân, bạn bè, thầy cô có tinh thần tơng thân,

t-ơng ái bởi qua bài học lịch sử các em biết rằng dân tộc Việt Nam, con ngời ViệtNam vốn chung "nòi giống Tiên - Rồng" Có lòng yêu quê hơng, đất nớc, các em

sẽ có ý thức đấu tranh để bảo vệ quê hơng đất nớc, bảo vệ cuộc sống yên bìnhcủa quê hơng mình và có ý thức học tập, vơn lên để xây dựng quê hơng ngàycàng giàu đẹp

Tóm lại; Trong bối cảnh thế giới và trong nớc với những diễn biến phứctạp nh hiện nay, việc giáo dục cho học sinh tinh thần yêu nớc có ý nghĩa thựctiễn lớn lao Một mặt nó góp phần vào việc giáo dục t tởng , tình cảm đạo đức ,hình thành nhân cách cho các em, đúng với mục tiêu giáo dục của nhà trờng phổthông Mặt khác, nó làm thức tỉnh trong các em ý thức trách nhiệm đóng góp sứcmình vào xây dựng và bảo vệ tổ quốc, phát huy những truyền thống quý báu củacha ông, ghi tiếp những trang sử vẻ vang cho lịch sử dân tộc Việt Nam trong thời

kỳ mới, thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc mà chính các em là nhữngchủ nhân tơng lai của đất nớc

Trang 9

thì chỉ có thể là ngời không phát triển đầy đủ trí tuệ", ở đây có thể Tsecnsevskihơi đề cao môn lịch sử mà coi nhẹ các môn khoa học khác Tuy nhiên có thểkhẳng định lịch sử là bộ môn có u thế nhất trong việc giáo dục t tởng, tình cảm

đạo đức cho thể hệ trẻ Bởi vì lịch sử là những baì học về quá khứ , các em cóhiểu về quá khứ mới có thể biết hiện tại và tơng lai, mới có thể tu dỡng, rènluyện đạo đức của mình Trên ý nghĩa đó, lịch sử chính là cô giáo của cuộc sống

Thực tiễn trong những năm gần đây ở nớc ta, môn lịch sử gần nh đánh mất

vị trí quan trọng của mình trong chơng trình giáo dục của đất nớc, lịch sử khôngcong đợc coi trọng nh trớc nữa, ngời ta chỉ coi là môn phụ trong chơng trình giáodục ở phổ thông, nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do:

Thứ nhất: Sự phát triển nh vũ bão của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật

trên thế giới đã lôi cuốn các nứơc khắp năm châu, trong đó có Việt Nam vàovòng xoáy của cuộc chạy đua áp dụng các thành tựu của cuộc cách mạng khoahọc kỹ thuật vào việc phát triển kinh tế đất nớc, để tránh nguy cơ tụt hậu so vớinớc khác Điều này dẫn tới các môn khoa học tự nhiên ngày càng đợc trú trọngtrong chơng trình giảng dạy ở nhà trờng phổ thông, còn các môn khoa học xã hộingày càng bị coi nhẹ

Thứ hai: Đất nớc ta vừa trải qua các cuộc chiến tranh ác liệt, chống Pháp

và chống Mỹ kéo dài trong nhiều thập kỷ tàn phá nặng nề đất nớc ta cả ngời lẫncủa Mặc dù chúng ta bớc ra khỏi cuộc chiến tranh với t thế của ngời chiến thắngnhng trớc thực trạng đất nớc bị chiến tranh tàn phá kéo lùi sự phát triển của dântộc ta so với các dân tộc khác trên thế giới tới vài thập kỷ, đòi hỏi chúng ta phảinhanh chóng bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nớc , hàn gắn vết thơng chiếntranh đa đất nớc thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, tiến lên bắt kịp trình

độ thế giới Một đòi hỏi bức thiết lúc này là chúng ta phải nhanh chóng đào tạo

đợc một đội ngũ đông đảo cán bộ khoa học , công nhân kỹ thuật lành nghề đểphục vụ công việc tái thiết nớc nhà,, hơn nữa là phục vụ sự nghiệp công nghiệphoá hiện đại hoá đất nớc mà Đảng và Nhà nớc đã đề ra Tâm lý của mọi ngời đặcbiệt là thế hệ trẻ lúc này đều cho rằng môn khoa học xã hội là không cần thiếtcho cuộc sống , chỉ có các môn khoa học tự nhiên mới thực sự cần thiết, mớithực sự giúp ích cho họ trong cuộc sống, không biết khoa học xã hội cũng không

ảnh hởng gì đến cuộc sống

Thứ ba: Trong công cuộc đổi mới đất nớc chuyển hớng từ nền kinh tế tập

trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớctheo định hớng xã hội chủ nghĩa, tăng tính cạnh tranh trong xã hội, chính điềunày dân đến mọi ngời đều lao vào làm kinh tế để cải thiện đời sống của mình,khẳng định vị thế của mình trong xã hội Sự phát triển chóng mặt của nền kinh tếthị trờng đã làm xuất hiện sự dao động trong đội ngũ giáo viên, đặc biệt là giáo

Trang 10

viên dạy các môn khoa học xã hội Họ nhận thấy rằng với đồng lơng của nghềgiáo thì không đủ đảm bảo điều kiện sống của họ, nhiều giáo viên đã lao vào con

đờng làm ăn kinh tế , xuất hiện tình trạng dạy thêm - học thêm tràn lan trong xãhội mà ngành giáo dục cha thể quản lý đợc Các giáo viên dạy môn lịch sử, địalý do đặc thù bộ môn, không dạy thêm để kiếm tiền đợc thì làm kinh tế bằngnhiều nghề tay trái, dẫn đến việc bỏ bê công tác giảng dạy, làm cho chất lợnggiáo dục bị giảm sút nghiêm trọng Nhiều giáo viên dạy lịch sử coi việc lên lớp,giảng dạy chỉ là trách nhiệm, nghĩa vụ, phơng pháp giảng dạy cũng không đợc

đổi mới thờng xuyên cho phù hợp với thực tiễn đất nớc cho nên việc giảng dạy

bộ môn lịch sử không thu hút đợc học sinh Môn lịch sử vốn đã bị các em saonhãng giờ càng sao nhãng hơn, không phát huy đợc u thế giáo dục của mình đốivới các em học sinh

Thứ t: Chúng ta thiếu điều kiện cơ sở vật chất cần thiết cho việc giảng

dạy bộ môn lịch sử, đặc biệt là đồ dùng trực quan cho dạy học bộ môn lịch sử,nhiều trờng nếu có thì cũng đã cũ nát, tranh ảnh trực quan thiếu mỹ quan, cácphơng tiện giảng dạy lại không đợc bổ xung thờng xuyên nh việc đa công nghệthông tin vào giảng dạy lịch sử hầu nh không có, một số trờng tuy đã có thì cũngchỉ dùng để cho các giáo viên giảng dạy mẫu, chuẩn bị cho thi giáo viên dạygiỏi

Thực tế tôi là một giáo viên ở trờng THCS Xuân Quang, huyện Tam Nông,tỉnh Phú Thọ, một tỉnh trung du, không cách xa thủ đô Hà Nội mở rộng ngày nay

là mấy nhng cơ sở vật chất, kỹ thuật, trang thiết bị phục vụ cho công tác giảngdạy nói chung và giảng dạy lịch sử nói riêng còn rất thiếu thốn Trờng chúng tôicả trờng chỉ có 02 chiếc máy vitính cũng không đợc tốt lắm, máy chiếu cha có,các phòng học chức năng cha có nên rất khó khăn cho việc dạy và học Từ việcthiếu cơ sở vật chất, dẫn đến các tiết học lịch sử hầu hết là những tiết học dạychay và học chay, học sinh rất khó khăn trong việc tiếp thu bài mới, dẫn tới tìnhtrạng các em chán nản, không muốn học môn lịch sử Hơn thế, việc dạy học lịch

sử còn phổ biến áp dụng theo kiểu "Thầy đọc - trò ghi", nhồi nhét kiến thức,không cô đọng đợc kiến thức cơ bản cho học sinh Một số giáo viên còn khôngcoi trọng đến việc soạn giáo án, phát thanh lại y nguyên SGK, gây ra tình trạngchây lời trong học sinh, ỷ lại vào sách giáo khoa, cảm thấy chỉ cần đọc lại sáchgiáo khoa là đủ Tất cả những điều trên làm cho chất lợng giáo dục lịch sử chocác em học sinh ở trờng phổ thông suy giảm trầm trọng, chức năng giáo dục của

bộ môn bị xói mòn đáng kể

Những nguyên nhân trên cho thấy bộ môn lịch sử đang ngày càng đánhmất vị trí của mình trong chơng trình giáo dục của đất nớc, cho nên việc giáo

Trang 11

dục học sinh tinh thần yêu nớc thông qua dạy học môn lịch sử ở trờng phổ thôngcũng không đợc coi trọng

Một thực tế hiển nhiên cho thấy, đa số các em học sinh bây giờ chỉ quantâm học các môn học tự nhiên, học ngoại ngữ, tin học chứ không hề quan tâm

đến các môn học xã hội nh môn lịch sử Một số các em nếu có biết lịch sử thìcũng "Thông sử Tàu hơn sử ta" do đài truyền hình chiếu quá nhiều bộ phim dã sửTrung Quốc, với trình độ làm phim công phu, thu hút đợc nhiều ngời xem Nênkhi trả lời những câu hỏi về lịch sử Trung Quốc các em đều trả lời rất lu loát, cònkhi hỏi về những anh hùng , vĩ nhân trong lịch sử dân tộc thì hầu nh các emkhông trả lời đợc hoặc nhầm lẫn với những nhân vật trong phim dã sử TrungQuốc, đây chính là một vấn đề đáng báo động trong công tac dạy học lịch sử đòihỏi ngành giáo dục phải có biện pháp chấn chỉnh kịp thời

Phát hiện ra sự thiếu sót của mình, ngành giáo dục đào tạo đựơc sự chỉ đạocủa Nhà nớc đang dần đề ra những biện pháp nâng cao chất lợng giáo dục cácmôn khoa học xã hội, đặc biệt là môn lịch sử, tăng cờng bồi dỡng chuyên mônnghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên giảng dạy môn lịch sử, đa môn học lịch sử trởthành một môn học chính trong chơng trình giáo dục phổ thông, quy định trongcác kỳ thi tốt nghiệp, tiến hành cải cách sách giáo khoa lịch sử cho phù hợp vớihoàn cảnh xã hội, đất nớc, phù hợp với thực tiễn giáo dục Việt Nam Ngoài rangành còn phối hợp với cơ quan thôn tin đại chúng nh Đài truyền hình Việt Nam

tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về lịch sử nh chơng trình "Ngợc dòng lịch sử"; ờng lên đỉnh Olimpia" nhằm khơi dậy trong các em lòng ham học hỏi, hiểu biết

"Đ-về lịch sử dân tộc cũng nh lịch sử thế giới, hiểu đờng lối quan điểm của Đảng vàNhà nớc, hiểu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc theo con đờng xã hội chủnghĩa mà Đảng, nhân dân và Bác Hồ đã lựa chọn Từ đó các em không ngừngphấn đấu vơn lên trở thành ngời công dân có ích cho tổ quốc

Việc học tậo và hiểu biết môn lịch sử là một việc cần thiết trong chơng trình giáodục đào tạo cho học sinh phổ thông Cần phải xoá bỏ quan niệm "môn chính - môn phụ" tồn tại bấy lâu nay ở trờng phổ thông, bởi vì môn học nào cũng có chức năng giáo dục đối với các em, nhất là môn học lịch sử, một bộ môn đã khẳng định rõ u thế trong việc giáo dục t tởng, tình cảm đạo đức , hình thành nhân cách cho các em Cần phải đa môn học lịch sử trở lại vị trí xứng đáng của

nó trong chơng trình giáo dục của nhà trờng phổ thông Có nh thế thì mục tiêu giáo dục t tởng đạo đức cho học sinh của nhà trờng phổ thông mới đợc hoàn thành đồng thời cũng thực hiện đợc tâm nguyện của Bác Hồ kính yêu:

"Dân ta phải biết sử ta

Cho tờng gốc tích nớc nhà Việt Nam "

Ch ơng II: Một số biện pháp giáo dục tinh thần yêu nớc cho

học sinh qua dạy học lịch sử giai đoạn

Trang 12

100 năm, thực dân Pháp đô hộ cho đến cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945,phá tan hai xiềng xích nô lệ Pháp - Nhật, đồng thời lật nhào chế độ quân chủchuyên chế tồn tại ngót ngàn năm trên đất nớc ta Cũng từ năm 1858 bắt đầu thời

kỳ cận đại trong tiến trình lịch sử dân tộc Trong chơng trình sách giáo khoa lịch

sử lớp 8 thì đây là bài đầu tiên, giai đoạn đầu tiên của học phần lịch sử ViệtNam, mở đầu cho tiến trình lịch sử dân tộc từ năm 1858 đến đầu thế kỷ XX màcác em sẽ đợc học trong suốt cả học kỳ II năm học lớp 8 ở trờng Trung học cơ

sở Giai đoạn lịch sử Việt Nam giai đoạn từ năm 1858 đến cuối thế kỷ XIX làmột chơng trong chơng trình lịch sử Việt Nam lớp 8 - Trung học cơ sở

Nội dung phần lịch sử Việt Nam thời kỳ từ năm 1858 đến cuối thế kỷ XIXthật sự phong phú Đó là cuộc đấu tranh vừa bền bỉ, kiên cờng, bất khuất , vừathông minh sáng tạo để chống lại sự xâm lợc của Thực dân Pháp, bảo vệ nền độclập dân tộc, giữ vững chủ quyền của tổ quốc Thời kỳ lịch sử này cũng chứngkiến sự chuyển biến của phong trào đấu tranh chống ngoại xâm từ xu hớngphong kiến, qua xu hớng dân chủ t sản đồng thời thấy đợc vai trò to lớn của quầnchúng nhân dân trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ tổ quốc

2 Mục đích việc khai thác các sự kiện lịch sử Việt Nam giai đoạn từ năm 1858 đến cuối thế kỷ XIX:

Trang 13

lợc, bảo vệ nền độc lập tự do của tổ quốc Họ là những tấm gơng sáng cho các

em noi theo

Giáo dục cho các em niềm tự hào, tự tôn dân tộc, cố gắng học tập v ơn lênxây dựng quê hơng giàu mạnh, tiếp bớc truyền thống cha ông, ghi thêm nhữngtrang sử vẻ vang trong thời kỳ mới

c Phát triển:

Bồi dỡng cho các em năng lực nhận thức phục vụ cho việc học tốt các mônhọc nói chung và lịch sử nói riêng nh: trí nhớ, t duy phân tích, so sánh, khái quát,tổng hợp rút ra bài học kinh nghiệm

Phát triển các kỹ năng thực hành bộ môn nh: đọc, vẽ bản đồ, sơ đồ, niênbiểu su tầm tài liệu, tranh ảnh, su tầm tài liệu tham khảo Qua đó cũng rèn luyệncho các em khả năng hoạt động trong thực tế

3 Nội dung cơ bản của giai đoạn lịch sử từ năm 1858 đến cuối thế kỷ XIX cần khai thác:

II Một số biện pháp giáo dục học sinh tinh thần yêu

n-ớc qua dạy học phần lịch sử Việt Nam giai đoạn từ năm 1858

đến cuối thế kỷ XIX:

Việc giáo dục t tởng tình cảm đạo đức cho học sinh phụ thuộc phần lớnvào thái độ, t cách, phẩm chất đạo đức của ngời giáo viên lịch sử Ngời giáo viênkhông chỉ truyền thụ kiến thức cho các em mà bản thân mình phải rung cảm thực

sự với những sự tích anh hùng, những tấm gơng hy sinh anh dũng của những

ng-ời yêu nớc, những chiến sỹ cách mạng Ngng-ời thầy phải nhập thân với quá khứ ,phải có lập trờng kiên định, nhiệt tình cách mạng Sẽ không có tác dụng giáo dụchọc sinh nếu lời giảng của ngời thầy trên lớp không phù hợp hoặc trái ngợc vớilời nói và hàng động trong cuộc sống hàng ngày của mình Việc làm cho kiếnthức lịch sử trở thành niềm tin , trớc hết phụ thuộc vào tính chất giao tiếp giữagiáo viên và học sinh về mặt tinh thần, phụ thuộc vào mức độ kết hợp hữu cơgiữa phẩm chất của một ngời làm công tác giảng dạy với phẩm chất của một nhàgiáo dục trong bản thân ngời giáo viên

Từ sự phân tích trên, chúng ta thấy để giáo dục cho học sinh tinh thần yêuquê hơng đất nớc một cách có hiệu quả, chúng ta cần phải sử một số biện phápcơ bản sau:

Trang 14

1 Kết hợp lời nói sinh động của ngời thầy với phơng pháp sử dụng đồ dùng trực quan để tạo biểu tợng lịch sử, khôi phục lại bức tranh quá khứ là biện pháp quan trọng đầu tiên để tác động tới t tởng, tình cảm của học sinh:

Trong dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng, lời giảng của giáoviên giữ vai trò quan trọng chủ đạo Nó có ý nghĩa to lớn không chỉ đối với việcthông tin, tái hiện lịch sử, nhận thức bản chất của sự kiện lịch sử mà lời giảngcủa giáo viên còn có ý nghĩa giáo dục rất lớn , nó tác động đến t tởng, tình cảmcủa học sinh Với ngôn ngữ trong sáng, gợi cảm, giàu hình ảnh kết hợp với sửdụng đồ dùng trực quan , giáo viên sẽ dẫn dắt học sinh trở về với quá khứ lịch sử,tạo biểu tợng rõ ràng về sự vật , sự kiện lịch sử giúp học sinh tìm tòi, suy nghĩ ,rút ra kết luận về bản chất của sự kiện, hình thành khái niệm, rút ra quy luật củaquá trình phát triển của lịch sử

Ví dụ: Khi trình bầy sự kiện năm 1859, khi Pháp đánh vào Gia Định,phong trào kháng chiến của nhân dân càng sôi nổi, khởi nghĩa do Trơng Địnhlãnh đạo đã làm địch thất điên bát đảo.Đơc nhân dân tôn làm Bình Tây Đạinguyên soái, Trơng Định không những không hạ vũ khí theo lệnh của triều đình

mà hoạt động ngày càng mạnh mẽ, nghĩa quân theo ông rất đông

Đế dập tắt cuộc khởi nghĩa này, tháng 2 năm 1863 thực dân Pháp mở cuộctấn công quy mô vào căn cứ Tân Hoà (Gò Công) Sau 3 ngày chiến đấu liên tục,nghĩa quân rút lui rồi về căn cứ Tân Phớc, đợc tay sai dẫn đờng quân địch mởcuộc tấn công bất ngờ Bị thơng nặng, Trơng Định rút gơm tự sát để bảo toàn khítiết ngày (20/8/1864) Mặc dù bị tổn thất, cuộc kháng chiến vẫn tiếp tục, TRơngQuyền (con trai Trơng Định) đa một bộ phận nghĩa quân lên Tây Ninh phối hợpvới ngời Căm pu chia chống Pháp Bộ phận còn lại chia thành các nhóm nhỏ, toả

đi xây dựng các căn cứ khác

Một ví dụ khác là sáng ngày 20 - 11 - 1873, Thực dân Pháp nổ súng đánhthành Hà Nội Ngay khi quân Pháp kéo đến Hà Nội, nhân dân ta đã anh dũng

đứng lên kháng chiến Đêm đêm, các toán nghĩa binh bí mật vào thành phố,quấy rối địch Kho đạn của chúng phía bờ sông bị đốt cháy Một đội nghĩa binhdới sự chỉ huy của viên Chởng cơ, chặn đánh địch quyết liệt ở cửa ô Thanh Hà

Họ đã hy sinh đến ngời cuối cùng Khi giặc chiếm đợc thành Hà Nội, tổ chứcNghĩa hội của những ngời yêu nớc đợc thành lập

Việc giảng dạy hai sự kiện trên bằng phơng pháp thuyết trình kết hợp sửdụng đồ dùng trực quan đã tạo cho các em một biểu tợng rõ ràng về quá trìnhThực dân Pháp xâm lợc nớc ta và phong trào yêu nớc, chống Thực dân Pháp củacha ông ta vô cùng kiên cờng, bất khuất, đầy mu trí dũng cảm, từ đó càng làm rõthêm tinh thần yêu nớc, quyết tâm bảo vệ tổ quốc mỗi khi đất nớc có giặc ngoạixâm, tinh thầnn ấy lại bùng lên mạnh mẽ, sục sôi

Trang 15

2 Sử dụng các đoạn tờng thuật, miêu tả, kể chuyện:

Đây là biện pháp nhằm tái hiện ở học sinh sự kiện lịch sử quan trọng với

đầy đủ tính cụ thể và gợi cảm của nó

Ví dụ: Khi nói về tinh thần yêu nớc, bất khuất trớc kẻ thù xâm lợc củanhân dân ta giáo viên có thể lấy những dẫn chứng tiêu biểu Nguyễn Hữu Huân

2 lần bị giặc bắt, đợc thả ra vẫn tích cực chống Pháp, khi bị đa ra hành hình ôngvẫn ung dung làm thơ Nguyễn Trung Trực bị giặc bắt đem ra chém, ông đãtuyên bố: “Bao giờ ngời tây nhổ hết cỏ nớc nam thì mới hết ngời nam đánh tây”.Trơng Định khi bị thơng trong cuộc đụng độ với giặc, ông đã tự sát để không rơivào tay giặc, bảo tròn khí tiết của mình

Hay ví dụ khác, giáo viên tờng thuật cuộc khởi nghĩa Hơng Khê, cuộckhởi nghĩa tiêu biểu trong phong trào chống Pháp cuối thế kỷ XIX - Phong tràoCần Vơng Lãnh đạo cao nhất của cuộc khởi nghĩa là Phan Đình Phùng Ôngtừng làm quan ngự sử trong triều đình Huế, do cơng trực, thẳng thắn dám phản

đối việc phế lập của phe chủ chiến nên ông đã bị cách chức, đuổi về quê Tuyvậy, năm 1885 ông vẫn hởng ứng lời kêu gọi của Vua Hàm Nghi và Tôn ThấtThuyết đứng ra mộ quân khởi nghĩa và trở thành thủ lĩnh có uy tín nhất trongphong trào Cần Vơng ở Nghệ Tĩnh Bên cạnh Phan Đình Phùng có nhiều tớnglĩnh tài ba khác tiêu biểu là Cao Thắng Là một dũng tớng trẻ, xuất thân trongmột gia đình nông dân Trớc đó ông từng tham gia cuộc khởi nghĩa của Đội Lựu,

đã bị bắt và giam ở Hà Tĩnh Sau khi thoát tù, ông tự nguyện về quê đứng dới cờcủa Phan Đình Phùng khởi nghĩa Ông có nhiều đóng góp trong việc rèn đúc vũkhí trang bị cho nghĩa quân

Ngoài ra trong hàng ngũ chỉ huy nghĩa quân còn có một số sỹ phu khác

nh Tiến sỹ Phan Trọng Mu, Cử nhân Phan Quang C và một số thủ lĩnh xuất thân

từ nông dân lao động nh hai anh em Nguyễn Chanh - Nguyễn Trạch, Lê VănTạc, Phan Đình Phong, Đề Niên, Đề Vinh, Cao Đạt

Từ năm 1885 đến năm 1888, nghĩa quân lo tổ chức, huấn luyện, xây dựngcông sự, rèn đúc khí giới và tích trữ lơng thảo Lực lợng nghĩa quân đợc chiathành 15 quân thứ (đơn vị) Mỗi quân thứ có từ 100 đến 500 ngời, phân bố trên

địa bàn bốn tỉnh: Thanh Hoá - Nghệ An - Hà Tĩnh - Quảng Bình Họ đã tự chếtạo đợc súng trờng theo mẫu súng của Pháp

Từ năm 1888 đến năm 1895 là thời kỳ chiến đấu của nghĩa quân Dựa vàovùng rừng núi hiểm trở, có sự chỉ huy thống nhất và phối hợp tơng đối chặt chẽ,nghĩa quân đã đẩy lùi nhiều cuộc hành quân, càn quét của địch Để tờng thuật lạinhững trận đánh này giáo viên có thể tờng thuật Tháng 9 năm 1889, nghĩa quân

Trang 16

do Phan Bá Niên (Đề Niên) chỉ huy đã đánh bại cuộc càn quét của địch Giữatháng 12 năm 1889 nghĩa quân tấn công đồn Dơng Liễu , tiếp đó đánh vào huyện

lỵ Hơng Sơn, sang năm 1890 đẩy mạnh hơn các hoạt động du kích Tháng 4 năm

1890, quân của Đốc Chanh và Đốc Trạch phục kích tại làng Hốt, diệt đợc nhiềulính khố xang Sang tháng 5 năm 1890 nghĩa quân tấn công đồn Trờng Lu Nửacuối năm 1890 nghĩa quân đã tổ chức hàng chục trận đánh đồn phục kích, diệtquân tăng viện và chống địch càn quét Phối hợp với nghĩa quân ở Hà Tĩnh,nghĩa quân ở Nghệ An cũng hoạt động rất mạnh ở cùng Cây Chanh, Đồng Cốc,Quỳ Châu Nghĩa quân bất ngờ tổ chức tấn công tiến sâu xuống vùng đồngbằng để quấy rối địch

Để đối phó thực dân Pháp tập trung binh lực và xây dựng một hệ thống

đồn bốt dày đặc nhằm bao vây, cô lập nghĩa quân với nhân dân , đồng thời chúng

mở nhiều cuộc tấn công quy mô vào Ngàn Trơi (Hơng Khê - Hà Tĩnh) là căn cứchính của nghĩa quân

Nghĩa quân phải chiến đấu trong điều kiện ngày càng gian khổ hơn, lực ợng suy yếu dần Cao Thắng quyết định mở cuộc tấn công lớn vào tỉnh lỵ Nghệ

l-An, Thực hiện kế hoạch, tháng 10 năm 1893, Cao Thắng đem 1000 quân từNgàn Trơi tiến về Nghệ An, trên đờng hàng quân nghĩa quân tổ chức đánh địchliên tiếp , nhng trong trận tấn công đồn Nu, Cao Thắng bị thơng và hy sinh, gâycho nghĩa quân tổn thất lớn

Tiếp đến giáo viên tờng thuật trận đánh thắng lớn của nghĩa quân kết hợpvới miêu tả, tạo biểu tợng lịch sử , dựng lại bức tranh quá khứ một cách sinh

động để các em nhận thức rõ bản chất của sự kiện, hiện tợng lịch sử, gây sự chú

ý, tâm thế phấn khởi, hào hứng cho các em

Sau khi Cao Thắng chết, lực lợng nghĩa quân càng bị giảm sút nhng vẫnchống trả lại các cuộc vây quét của địch Ngày 17/10/1894 nghĩa quân Phan

Đình Phùng đánh thắng một trận lớn ở Vụ Quang Ông cho nghĩa quân lên tậnnguồn sông chặt cây, đóng kè chặn nớc đầu nguồn lại và chuẩn bị sẵn nhiều cây

gỗ lớn Khi giặc vừa ra đến giữa dòng sông thì ông cho quân phá kè trên nguồn,nớc đổ xuống ào ào, kéo theo những cây gỗ lớn, quân địch phần bị nớc cuốn bấtngờ, phần bị gỗ lao vào ngời lại bị nghĩa quân ở hai bên bờ xông ra đánh quyếtliệt nên bị chết rất nhiều

Để giúp học sinh nhận thức rõ hơn về bản chất của sự kiện lịch sử và tinhthần yêu nớc bất khuất của nghĩa quân Hơng Khê, giáo viên kể thêm cho họcsinh nghe câu chuyện về vị tớng trẻ gan dạ, mu trí dũng cảm của khởi nghĩa H-

ơng Khê đó là Cao Thắng để tạo biểu tợng về nhân vật Cao Thắng với nhữngphẩm chất và tài năng của mình, cùng với tấm lòng yêu nớc thiết tha, ông đã ngã

Ngày đăng: 17/04/2021, 22:06

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w