“ Nâng cao chất lượng dạy và học môn giáo dục quốc phòng – an ninh là một vấn đề rất rộng, nó liên quan đến nhiều nội dung, nhiều lĩnh vực khác nhau. Với thời gian và khả năng nghiên cứu còn nhiều hạn chế đề tài không khỏi tránh những thiếu sót. Do đó, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và để hoàn chỉnh đề tài tốt hơn.
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâusắc đến quý thầy giảng viên trong khoa chính trị - quân sự trường đại học Trà Vinh; đặc
biệt là giảng viên thầy Nguyễn Văn Sáu, thầy là người đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn
tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành bài nghiên cứu khoa học này
Nhân đây tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy và kính chúc thầy cùng gia đìnhmạnh khỏe, hạnh phúc và thành công Đồng thời, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thànhtới các thầy cô giáo trong khoa Chính trị - quân sự nói riêng, cán bộ, giảng viên và các em
HS, SV trường Đại học Trà Vinh giúp tôi hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này
“ Nâng cao chất lượng dạy và học môn giáo dục quốc phòng – an ninh là một
vấn đề rất rộng, nó liên quan đến nhiều nội dung, nhiều lĩnh vực khác nhau Với thời gian
và khả năng nghiên cứu còn nhiều hạn chế đề tài không khỏi tránh những thiếu sót Do
đó, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và để hoàn chỉnh đề tài tốthơn
GDQP-AN Giáo dục Quốc phòng - An ninh
HS, SV Học sinh, sinh viênKTQPAN Kiến thức quốc phòng - an ninh
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN………
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT………
MỤC LỤC……….
MỞ ĐẦU………
1 Lý do chọn đề tài……… ……
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề………
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài……… …
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài………
6 Đóng góp của đề tài………
7 Cấu trúc của đề tài……….…
Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN……… …
1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về GDQP – AN………
1.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về GDQP – AN nói chung……
1.1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về môn học GDQP – AN……
1.1.2.1 Giáo dục quốc phòng – an ninh là một nội dung quan trọng trong mục tiêu giáo dục toàn diện của nhà trường……….………
1.1.2.2 Giáo dục quốc phòng góp phần giáo dục toàn diện con người mới xã hội chủ nghĩa……….………
1.1.2.3 Giáo dục quốc phòng - an ninh là môn học được luật pháp quy định 1.2 Những quy định cơ bản của "luật GDQP và AN năm 2013" …………
1.2.1 Bố cục Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh……….……
1.2.2 Nội dung cơ bản của Luật Giáo dục quốc phòng……….……
1.3 Chương trình môn học GDQP - AN ……… ……
1.3.1 Đặc điểm môn học……….……
Trang 31.3.2 Chương trình môn học GDQP - AN ……….….
Chương II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG – AN NINH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH………
2.1 Những kết quả đạt được……… ……….………
2.1.1 Kết quả……… ………
2.1.1.1 Thực hiện đầy đủ nhiệm vụ GDQP – AN hàng năm………… ……
2.1.1.2 Đội ngũ giảng viên GDQP - AN được tham gia bồi dưỡng, học tập nâng cao trình độ hàng năm; tích cực tham gia công tác nghiên cứu khoa học……… …
2.1.1.3 Hoạt động giảng dạy GDQP - AN luôn được quan tâm, chú trọng; chất lượng GDQP - AN ngày càng nâng lên góp phần hoàn thành nhiệm vụ chung của nhà trường………
2.1.1.4 Giáo trình, tài liệu phục vụ cho môn học GDQP - AN được đảm bảo; cơ sở vật chất, vũ khí trang bị cho môn học được đầu tư mua sắm hàng năm………
2.1.2 Nguyên nhân đạt được các kết quả nói trên……….……
2.1.2.1 Nguyên nhân chủ quan……….……… …
2.1.2.2 Nguyên nhân khách quan……….………… ………
2.2 Những hạn chế, tồn tại……….………
2.2.1 Những hạn chế, tồn tại……….………
2.2.2 Nguyên nhân……….………
2.3 Nhận thức của cán bộ, giảng viên, học sinh sinh viên đối với môn học GDQP - AN ……….……….……….……
2.3.1 Nhận thức của cán bộ, giảng viên đối với với môn học GDQP - AN còn nhiều tồn tại……….……….………
2.3.1.1 Tình hình, quá trình khảo sát……….………… ………
2.3.1.2 Kết luận rút ra sau khi khảo sát……….………
2.3.2 Nhận thức của học sinh - sinh viên đối với với môn học GDQP - AN chưa đúng đắn, còn mơ hồ, phiến diện……….………
2.3.2.1 Tình hình, quá trình khảo sát……….………
2.3.2.2 Kết luận rút ra sau khi khảo sát……….………
Chương III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO MÔN HỌC GIÁO DỤC
Trang 4QUỐC PHÒNG – AN NINH CHO HỌC SINH SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
3.1 Nâng cao nhận thức của cán bộ, giảng viên, HS, SV về vị trí, tầm quan
trọng của môn học GDQP - AN ………
3.2 Công tác lãnh đạo, quản lý đối với môn học GDQP - AN ………
3.3 Công tác giảng dạy, nghiên cứu của giảng viên GDQP - AN …………
3.4 Hoạt động học tập, nghiên cứu của HS, SV với môn học GDQP – AN…
3.5 Đảm bảo cơ sở vật cho môn học ……….………
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……… …… …
1 Kết luận……….……….……… …
2 Kiến nghị……….……….……….… …
TÀI LIỆU THAM KHẢO………
PHỤ LỤC………
Trang 5và các trường có liên quan …”.
Những năm qua, cùng với những thành tựu vượt bậc của công cuộc đổi mới đấtnước, công tác quốc phòng, an ninh nước ta luôn được Ðảng, Nhà nước, nhân dân chăm
lo xây dựng, củng cố Vì vậy, tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận anninh nhân dân được giữ vững, công tác giáo dục quốc phòng-an ninh ngày càng được tăngcường Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: “Tăng cường quốc phòng, anninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân” Tư duy mớicủa Đảng ta về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân trong giai đoạn hiệnnay được thể hiện rõ ở việc tăng cường bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh, làmcho mọi người hiểu rõ những thách thức lớn tác động trực tiếp đến nhiệm vụ bảo vệ Tổquốc trong tình hình mới
Tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp, tiềm ẩnnhững yếu tố khó lường Đối với nước ta, các thế lực thù địch vẫn ráo riết chống phá, chủyếu bằng chiến lược diễn biến hoà bình, nhằm xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở ViệtNam, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chuyển hoá cách mạng nước ta đi chệchhướng xã hội chủ nghĩa Các hành động xâm hại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nước tavẫn tiếp diễn dưới nhiều hình thức, âm mưu và với các thủ đoạn hết sức tinh vi Đặc biệt
ở khu vực Châu Á, sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc với âm mưu độc chiếm BiểnĐông đã và đang đặt ra cho chúng ta những thử thách to lớn trong công tác bảo vệ chủquyền toàn vện lãnh thổ; cụ thể thời gian qua chúng đã có những hành động xâm phạmnhư: vụ cắt cáp tàu thăm dò Bình Minh 02 năm 2011, vụ giàn khoan hải Dương 981 hồitháng 5/2014 và đâm chìm tàu ngư dân đánh bắt xa bờ còn nhiều hành động đầy khiêukhích khác
Sinh viên ở các trường cao đẳng, đại học là một lực lượng hùng hậu, có sức khỏe,
có trình độ học vấn, có tiềm năng sáng tạo, có khả năng tiếp cận và làm chủ khoa học kỹthuật hiện đại, chủ nhân tương lai của đất nước Bên cạnh đó là một bộ phận không nhỏ
đã và đang bị tác động to lớn bởi cơ chế thị trường, có những biểu hiện xuống cấp về lốisống, dễ bị kẻ xấu kích động, lôi kéo Với mục tiêu giáo dục toàn diện về mọi mặt cho
HS, SV môn học GDQP-AN đã tạo những cơ hội thiết thực cho thế hệ trẻ tu dưỡng vềphẩm chất đạo đức, rèn luyện và hoàn thiện bản thân thông qua các giờ học lý thuyết vàthực hành trên thao trường, đã trang bị cho HS, SV những kiến thức cơ bản về quan điểmđường lối quân sự của Đảng, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch cũng như côngtác Quốc phòng trong giai đoạn hiện nay
Trang 6Mặt khác môn học GDQP-AN còn trang bị cho HS,SV những kiến thức hữu ích vềmột số loại vũ khí, khí tài, thông qua đó HS, SV có thể biết cách phân biệt, sử dụng vàtrang bị cho mình những kỹ thuật cơ bản để sử dụng được một số loại vũ khí thôngthường và biết cách phòng tránh khi đối phương sử dụng vũ khí hủy diệt lớn.
Ngoài ra môn học GDQP-AN còn giúp cho HS, SV biết và hiểu được một số quyđịnh trong môi trường Quân đội, định hướng cho HS, SV làm việc theo nguyên tắc, kỷcương Tạo cơ sở cho HS, SV tu dưỡng và hoàn thiện kỹ năng sống của bản thân Để trởthành những công dân có ích trong xã hội
GDQP-AN là một nhiệm vụ cần thiết đối với thế hệ trẻ, môn học này giúp HS, SVnhận thức và hành động đúng đắn, tránh được các tệ nạn xã hội đang tồn tại và phát triểnhàng ngày, hàng giờ Đồng thời giúp HS, SV định hướng được những thế mạnh của mình
để phát huy, hạn chế tối đa các yếu kém
Môn học GDQP-AN có vai trò quan trọng trong việc khơi dậy và nêu cao tinh thầnyêu nước của thế hệ trẻ, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố vững chắcniềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước, chống lại mọi âm mưu chia rẽ, phản độngcủa các thế lực thù địch trong và ngoài nước
GDQP-AN là nhân tố quan trọng để đánh giá phẩm chất đạo đức của HS, SV đồngthời củng cố và bảo vệ vững chắc an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tăng cường sựđoàn kết trong nhà trường và các mối quan hệ xã hội khác, gắn kết tinh thần dân tộc vàxây dựng khối đại đoàn kết toàn dân
Xuất phát từ vai trò to lớn của công tác GDQP - AN như trên bản thân tôi thấymình có trách nhiệm to lớn trong việc góp phần nâng cao chất lượng công tác GDQP –
AN, mà trước hết là đối với HS, SV của mình; góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Bằng vốn hiểu biết và kiến thức có được qua thời gian họctập lớp văn bằng 2 giảng viên GDQP - AN tại trường Đại học Trần Đại Nghĩa, cũng nhưquá trình giảng dạy tại trường Đại học Trà Vinh; tôi quyết định lựa chọn và nghiên cứu đề
tài “Biện pháp nâng cao môn học giáo dục quốc phòng – an ninh ở trường Đại Học Trà Vinh"
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nâng cao chất lượng GDQP – AN, biện pháp nâng cao môn học GDQP - AN làvấn đề cấp thiết, quan trọng trong tình hình hiện nay Tuy nhiên làm sao để có biện phápnâng cao chất lượng môn học này lại là một vấn đề hết sức mới mẻ Trước khi tác giảnghiên cứu đề tài này thì đây là vấn đề chưa được chú trọng trong nghiên cứu; chính vìvậy có thể khẳng định “ Biện pháp nâng cao môn học giáo dục quốc phòng – an ninh ởtrường Đại học Trà Vinh” là một trong số những đề tài đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài này là nhằm mục đích tìm hiểu về thực trạng công tácGDQP trong trường Đại học Trà Vinh, đánh giá nguyên nhân và những kết quả đã đạtđược từ đó rút ra những nội dung trọng tâm cần phải thực hiện trong nâng cao chất lượngcông tác GDQP-AN, biện pháp nâng cao môn học GDQP – AN Đồng thời đề xuất những
Trang 7giải pháp thiết thực để thực hiện tốt những nội dung công tác GDQP-AN tại trường, biệnpháp nâng cao học môn học GDQP – AN góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổquốc.
Đề tài này giải quyết các nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu và chỉ ra được thực trạng công tác GDQP - AN tại trường Đại họcTrà Vinh
- Nghiên cứu về nhận thức của cán bộ giảng viên, học sinh sinh viên trong trườngđối với môn học GDQP - AN và đưa ra các giải pháp, biện pháp nâng cao môn học GDQP
- AN tại trường Đại học Trà Vinh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc thực hiện nhiệm vụ GDQP – AN, công tácgiảng dạy, học tập môn GDQP – AN tại trường Đại học Trà Vinh
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tập trung nghiên cứu về những nội dung liên quanđến là công tác GDQP – AN, cụ thể như: Hoạt động giảng dạy, học tập môn GDQP – AN
ở trường
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài này mang tính lý luận cũng như thực tiễn cao, vì vậy trong quá trình thựchiện nghiên cứu; đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học
Trước hết là các phương pháp nghiên cứu lí thuyết như: phân tích, tổng hợp, phânloại, đánh giá, hệ thống hóa, giã thuyết …nhằm thu tập thông tin khoa học trên cơ sởnghiên cứu các văn bản, tài liệu liên quan đến GDQP - AN để rút ra các kết luận khoa họccần thiết
Cùng với các phương pháp nghiên cứu lí thuyết là sử dụng các phương phápnghiên cứu thực tiễn như: quan sát, điều tra, khảo sát thực tế, tổng kết kinh nghiệm, thựcnghiệm …
6 Đóng góp của đề tài
Với việc hoàn thành công tác nghiên cứu đề tài này sẽ có biện pháp nâng cao mônhọc GDQP – AN, chất lượng công tác GDQP – AN, mà cụ thể là nâng cao chất lượng dạyhọc và nhận thức của HS, SV đối với môn học GDQP - AN tại trường Đại học Trà Vinhnói riêng cũng như nâng cao hiệu quả môn học cho các cơ sỡ đào tạo khác
7 Cấu trúc của đề tài
Đề tài gồm có:
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
Gồm có 3 chương
Trang 8Chương 1: Cơ sở lý luận
1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về GDQP – AN
1.2 Những quy định cơ bản của "luật GDQP và AN năm 2013
1.3 Chương trình môn học GDQP - AN
Chương 2: Thực trạng công tác GDQP - AN tại trường Đại học Trà Vinh
2.1 Những kết quả đạt được
3.2 Công tác lãnh đạo, quản lý đối với môn học GDQP - AN
3.3 Công tác giảng dạy, nghiên cứu của giảng viên GDQP - AN
3.4 Hoạt động học tập, nghiên cứu của HS, SV với môn học GDQP - AN
3.5 Đảm bảo cơ sở vật cho môn học
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Trang 9Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về GDQP – AN
1.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về GDQP – AN nói chung
Ngay khi đất nước giành được độc lập, tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã gửi thư cho học sinh nhân ngày khai trường, trong đó có đoạn: “Đối riêng với các em lớn, tôi khuyên thêm một điều này: chúng ta đã đánh đuổi bọn thực dân, chúng ta đã giành được độc lập Nhưng giặc Pháp còn lăm le quay lại Chúng ỷ vào kẻ khác mạnh hơn mà gây sự với ta Tất nhiên chúng sẽ bị bại, vì tất cả quốc dân ta đoàn kết chặt chẽ
và một lòng chiến đấu cho giang sơn Tổ quốc Phải sẵn sàng mà chống quân giặc cướp nước, đấy là bổn phận của mỗi công dân Các em lớn chưa hẳn đến tuổi phải gánh công việc nặng nhọc ấy, nhưng các em cũng nên ngoài giờ học ở trường, tham gia vào các Hội cứu quốc để tập luyện thêm cho quen với đời sống chiến sĩ và để giúp đỡ một vài việc nhẹ nhàng trong cuộc phòng thủ đất nước.” 1 Bức thư này không chỉ thể hiện sự quan tâm củaNgười đối với sự nghiệp giáo dục cho thế hệ trẻ, mà còn thể hiện rõ nét tư tưởng về giáodục ý thức công dân trong giữ gìn và bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc Quan điểm nhấtquán của Người là “dựng nước phải đi đôi với giữ nước”
Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Luật về chế độ phục vụ của sĩ quan Quânđội nhân dân Việt Nam, có đề cập việc phong hàm sĩ quan dự bị cho sinh viên tốt nghiệpđại học Ngày 28 tháng 12 năm 1961, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định số219/CP về việc huấn luyện quân sự cho quân nhân dự bị và dân quân tự vệ; tại Điều 3 văn
bản này quy định: “…các trường đại học và các trường chuyên nghiệp trung cấp, việc học tập quân sự phải đặt thành một môn học chính ” Từ đó, học vięn trung cấp được
học chương trình quân sự tương đương của hạ sĩ quan; sinh viên đại học được học theochương trình dự bị sĩ quan
Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh; để phát huy nhân tố chính trị tinh thần, huy độngsức mạnh tổng hợp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, tăng cường tiềm lực quốcphòng và an ninh của đất nước, củng cố, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, gắn thế trậnquốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc, nhằm góp phầnbảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọngđến giáo dục quốc phòng và an ninh
Vấn đề quốc phòng, an ninh nói chung, giáo dục quốc phòng và an ninh nói riêngluôn được đề cập trong các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nhất là từ năm 2001 đến nay
Triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng về quốc phòng, an ninh, nhất là Nghịquyết Trung ương 8 (khóa IX) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và Nghịquyết của Bộ Chính trị (khóa VIII) về Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, ngày 30 tháng
11 [11, tr 71, 72]
Trang 107 năm 1987, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 02-NQ/TW và tiếp đó là Nghị quyết
Số 28-NQ/TW ngày 22 tháng 9 năm 2008 về tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới Trong đó,
Nghị quyết nhấn mạnh “Việc tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vẫn là một trong những nhiệm vụ quan trọng của sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” Mục tiêu đặt ra là “Xây
dựng khu vực phòng thủ có tiềm lực và sức mạnh toàn diện, nhằm ngăn ngừa, làm thất bại âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch; giữ vững ổn định chính trị, môi trường hòa bình để phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; xử lý có hiệu quả các tình huống về quốc phòng, an ninh; giữ vững chủ quyền biển, đảo, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược, bảo vệ vững chắc từng địa phương trong mọi tình huống, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.” Để thực hiện thắng lợi mục tiêu đó, Đảng ta xác định nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là “tập trung xây dựng tiềm lực về chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội, dân sinh, khoa học - công nghệ, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của khu vực phòng thủ; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc trên từng địa phương”; đồng thời, đề ra các giải pháp chủ yếu để thực hiện, trong đó xác định “nâng cao chất lượng công tác giáo dục quốc phòng, an ninh, trước hết là đối với cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở”, nhằm đẩy mạnh, tạo sự chuyển biến về nhận thức và trách nhiệm của cán bộ
chủ chốt ở các cấp, các ngành và toàn dân trong xây dựng khu vực phòng thủ
Đảng xác định “Giáo dục quốc phòng, an ninh là một bộ phận của nền giáo dục quốc dân” 2, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp ủy đảng, sự quản lý điều hành củachính quyền và vai trò tham mưu của các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể
Giáo dục quốc phòng và an ninh là “…nhiệm vụ chung của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội; phải được chỉ đạo, tổ chức thực hiện chặt chẽ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương” 3
Giáo dục quốc phòng và an ninh được tiến hành “bằng các hình thức tổ chức phù hợp với từng đối tượng”4, kết hợp giáo dục thường xuyên với giáo dục tập trung, có trọng
tâm, trọng điểm “Chú trọng giáo dục thống nhất nhận thức về đối tượng và đối tác; nắm vững đường lối, quan điểm, yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; giáo dục lòng yêu nước, yêu chế độ xã hội chủ nghĩa, lịch sử, truyền thống của Đảng và dân tộc, lòng tự tôn, ý thức dân tộc, ý thức sống và làm việc theo pháp luật; nâng cao ý thức trách nhiệm và tinh thần cảnh giác trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh… xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt Kiên quyết làm thất bại mọi âm mưu và thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, coi trọng nhiệm vụ bảo đảm an ninh chính trị nội bộ, nâng cao khả năng tự bảo vệ của mỗi người, của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị” 5
Trang 11Quy định số 07-QĐ/BTCTW ngày 16 tháng 4 năm 2008 về tiêu chuẩn kiến thứcquốc phòng - an ninh cho cán bộ, đảng viên của Ban Tổ chức Trung ương là sự thể hiệnquan tâm đặc biệt của Đảng đến giáo dục quốc phòng và an ninh.
Cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng về giáo dục quốc phòng và an ninh,Nhà nước, các cơ quan chức năng có thẩm quyền đã kịp thời ban hành các văn bản phátluật và triển khai thực hiện
Theo đó, mục tiêu giáo dục quốc phòng và an ninh nhằm “Giáo dục cho công dân
về kiến thức quốc phòng và an ninh để phát huy tinh thần yêu nước, truyền thống dựng nước và giữ nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, nâng cao ý thức, trách nhiệm, tự giác thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và an ninh, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” 6
Như vậy, theo quan điểm của Đảng, Nhà nước ta, giáo dục quốc phòng và an ninh
là: Tổng thể các hoạt động giáo dục nhằm xây dựng, nâng cao phẩm chất và năng lực về quốc phòng và an ninh cho công dân Việt Nam trong các hoạt động nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Tổng thể các hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh bao gồm cả hoạt động
giáo dục và hoạt động bồi dưỡng; tùy theo đối tượng cụ thể để thực hiện giáo dục hay bồi
dưỡng nâng cao kiến thức về quốc phòng và an ninh Nội dung giáo dục quốc phòng và
an ninh bao gồm: hệ thống quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách, phápluật của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa về quốc phòng và an ninh; về truyền thốngdựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam và về kỹ năng quân sự - khả năng thực hànhnhững nội dung cơ bản, cần thiết về kỹ, chiến thuật quân sự
Đối tượng giáo dục quốc phòng và an ninh là mọi công dân Việt Nam Công dân
có quyền và trách nhiệm học tập, nghiên cứu để nắm vững kiến thức quốc phòng và anninh
Tuy nhiên, mỗi cá nhân có vai trò khác nhau trong hệ thống chính trị, các tổ chứcchính trị, chính trị - xã hội và cộng đồng; vì vậy, tùy thuộc vào vai trò xã hội của các cánhân trong hệ thống chính trị, các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội và cộng đồng đểphân nhóm đối tượng và xác định nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục, bồidưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho phù hợp Trong từng giai đoạn cụ thể, nộidung giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh được xác định, bổ sung chophù hợp với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng
Mục tiêu của giáo dục quốc phòng và an ninh là xây dựng, nâng cao lòng yêunước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý thức cảnh giác cách mạng, tự giác chấp hành và thựchiện tốt quyền lợi và nghĩa vụ của công dân; có kiến thức, kỹ năng quốc phòng và an ninhcần thiết, phù hợp với vai trò và lĩnh vực hoạt động xã hội, nhằm bảo vệ vững chắc độclập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân, bảo vệ chế độ xãhội và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng giàu mạnh
Tóm lại, giáo dục quốc phòng và an ninh là quá trình giáo dục, bồi dưỡng cho côngdân những phẩm chất và năng lực cần thiết về quốc phòng và an ninh theo vai trò xã hội
6 [8] Điều 4, Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh, số 30/2013/QH13.
Trang 12đảm nhiệm nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ vữngchắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Giáo dục quốc phòng và an ninh có vị trí quan trọng hàng đầu trong chiến lược xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Cùng với việc xây dựng nhân tốchính trị tinh thần, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, giáo dục quốc phòng và an ninhcòn thiết thực góp phần gắn các hoạt động xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội…với quốc phòng, an ninh, nhằm phát huy mọi tiềm lực của đất nước và toàn dân vào côngcuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đảm bảo cho sự phát triển bền vững Vì vậy, giáo dụcquốc phòng và an ninh là một trong những chủ trương chiến lược quan trọng của Đảng,được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thể chế hóa thành Luật Giáo dụcquốc phòng và an ninh
1.1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về môn học GDQP – AN
Phát biểu khai mạc Hội nghị ban chấp hành Trung ương lần thứ 8 khóa IX, Tổng
Bí thư Nông Đức Mạnh nhấn mạnh: “Dựng nước đi đôi với giữ nước” là quy luật tồn tại
và phát triển của dân tộc Việt Nam Trải qua các giai đoạn cách mạng, bên cạnh đường lốixây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặt nhiệm vụ bảo
vệ Tổ quốc là nhiệm vụ chiến lược sống còn trong quá trình lãnh đạo đất nước Trongcông cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, quy luật “dựng nước đi đôi với giữnước” được biểu hiện tập trung trong hai nhiệm vụ chiến lược có mối quan hệ gắn bó hữu
cơ với nhau: xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hộichủ nghĩa Nhận thức được vị trí, tầm quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, trong các
kỳ Đại hội, Đảng ta luôn khẳng định và chỉ đạo chặt chẽ công tác tăng cường sức mạnhquốc phòng – an ninh, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước
Chỉ thị số 12/CT/TW của Bộ chính trị - Ban chấp hành Trung ương đảng CSVN,ngày 3/5/2007 khẳng định “Giáo dục quốc phòng, an ninh là một bộ phận của nền giáodục quốc dân, việc phổ cập và tăng cường GDQP-AN là nhiệm vụ chung của Đảng, Nhànước và toàn xã hội, phải được chỉ đạo, tổ chức thực hiện chặt chẽ, thống nhất từ Trungương đến địa phương bằng các hình thức phù hợp với từng đối tượng, kết hợp giáo dụcthường xuyên với giáo dục tập trung có trọng tâm, trọng điểm, chú trọng giáo dục lòngyêu nước, yêu chế độ xã hội chủ nghĩa, lịch sử truyền thống của Đảng và dân tộc, ý thứcsống và làm việc theo pháp luật, trong đó xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi công dân”
1.1.2.1 Giáo dục quốc phòng – an ninh là một nội dung quan trọng trong mục tiêu giáo dục toàn diện của nhà trường
Dựng nước phải đi đôi với giữ nước Đó là quy luật tồn tại và phát triển của dântộc Việt Nam trong mấy ngàn năm lịch sử Khi có giặc ngoại xâm cũng như khi đất nướchoà bình thịnh trị, ông cha ta luôn chăm lo kế sách dài lâu, “sâu rễ bền gốc” luyện binhlúc thư nhàn: “thái bình gắng sức, non nước ấy ngàn thu” Hay quân ở trong dân “ngụbinh ư nông” sẵn sàng làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc tađược phát huy cao độ trong chiến lược phát triển đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội và
Trang 13bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam Sựgắn bó có tính lịch sử, biện chứng tất yếu này khẳng định quy luật tồn tại và phát triển củadân tộc ta luôn luôn gắn liền hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ đất nước.Trongcông cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, GDQP toàn dân, trong đóGDQP cho HS, SV là một nội dung quan trọng của nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòngtoàn dân, là một bộ phận của nền giáo dục quốc dân.
Tình hình quốc tế và khu vực trong thời gian qua cho thấy rằng, trong những thậpniên đầu của thế kỷ XXI, đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp vẫn diễn ra một cách gaygắt Những năm tới, ít có khả năng diễn ra các cuộc chiến tranh quy mô lớn và chiến tranhthế giới nhưng các cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo,biên giới vẫn xảy ra liên tục ở nhiều khu vực Các thế lực thù địch có thể núp dưới chiêubài “dân chủ”, “nhân quyền” để phát động các cuộc chiến tranh nhằm áp đặt ý đồ củachúng lên các dân tộc khác, thôn tính, lật đổ chế độ, ép các nước phải đi theo quỹ đạo củachúng
Mặt khác, thế giới đang đứng trước những vấn đề có tính toàn cầu, bản thân mỗinước không thể tự giải quyết được mà phải có sự phối hợp đa phương như: bảo vệ hoàbình; ngăn chặn các bệnh hiểm nghèo; bảo vệ môi trường; chống tội phạm quốc tế đãđặt ra những vấn đề mới về bảo vệ Tổ quốc
Xu hướng toàn cầu hoá về kinh tế đang là một xu hướng khách quan Toàn cầu hoá
về kinh tế, dù nhiều, dù ít, các nước đều có sự phụ thuộc lẫn nhau; quan hệ “đối tượng”,
“đối tác” trở nên không rõ ràng, vừa hợp tác, vừa đấu tranh Các nước phát triển đang lợidụng ưu thế về vốn, trình độ khoa học – kỹ thuật và công nghệ hiện đại để ép các nướckém phát triển Mặt khác do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – kỹ thuật và công nghệtiên tiến làm cho vũ khí, trang bị quân sự liên tục đổi mới và phát triển với những vũ khí,trang bị hiện đại, độ chính xác cao, tinh khôn, tàng hình, uy lực sát thương lớn; nguyên lísát thương phá hoại khác với vũ khí thông thường điều đó không những làm thay đổibiên chế, tổ chức quân đội các nước, mà còn làm thay đổi phương thức tiến hành chiếntranh, phương thức bảo vệ Tổ quốc và nghệ thuật quân sự Tình hình đó làm cho nhiệm vụquốc phòng ngày nay đã có nhiều thay đổi cả về nội dung, phương thức và đối tượng.Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ IX về quốc phòng – an ninh đã chỉ
rõ những yêu cầu mới về bảo vệ Tổ quốc: “Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là bảo vệvững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ an ninh quốc gia, trật
tự an toàn xã hội và nền văn hoá; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN;bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia, dân tộc”
Yêu cầu mới về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi phải nâng cao hơn nữa chấtlượng, hiệu quả công tác quốc phòng bảo đảm cho đất nước nói chung và từng khu vựctỉnh, thành phố phải luôn chủ động, sẵn sàng, không để bị bất ngờ trước mọi tình huốngxảy ra; giữ vững ổn định, ngăn ngừa, đẩy lùi mọi nguy cơ chiến tranh, để tập trung xâydựng đất nước Điều đó đặt ra yêu cầu quan trọng là phải tăng cường GDQP toàn dân.Phải gắn kết chặt chẽ quá trình giáo dục –đào tạo với việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng– an ninh, nhằm tăng cường tính hiệu quả trong việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược.Thực hiện tốt các mặt công tác quốc phòng, trong đó có nhiệm vụ GDQP cho sinh viên là
Trang 14thiết thực góp phần ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội tạo điều kiện thuận lợi để pháttriển sự nghiệp giáo dục – đào tạo GDQP góp phần nâng cao dân trí, tăng cường tiềm lực
về tri thức phòng thủ đất nước Con đường hiệu quả nhất để đưa đường lối chủ trương củaĐảng về quốc phòng – an ninh vào cuộc sống phải bằng con đường giáo dục –đào tạo.Chỉ có giáo dục – đào tạo mới làm cho mỗi người nhận thức đầy đủ, đúng đắn về nhiệm
vụ bảo vệ đất nước GDQP làm cho thế hệ trẻ sinh viên nhận thức được giá trị độc lập, tự
do, sự hy sinh lớn lao của các thế hệ ông cha để bảo vệ đất nước Trong mỗi giai đoạncách mạng và đổi mới giáo dục – đào tạo chương trình môn học GDQP, từ tên gọi đến nộidung đều được đổi mới kịp thời, đáp ứng những vấn đề cơ bản về đường lối xây dựng nềnquốc phòng toàn dân của Đảng
Từ năm 1961, thực hiện Nghị định 219/CP của Hội đồng Chính phủ, việc huấnluyện quân sự phổ thông đã được chính thức đưa vào các nhà trường Ngày 28/12/1961Hội đồng chính phủ (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định số 219/CP về việc huấn luyệnquân sự cho quân nhân dự bị và dân quân tự vệ, trong đó quy định: "Trong các trường đạihọc và các trường chuyên nghiệp trung cấp, việc học tập quân sự phải đặt thành một mônhọc chính Sinh viên các trường đại học được huấn luyện theo chương trình đào tạo sĩquan, học sinh các trường chuyên nghiệp trung cấp được huấn luyện theo chương trìnhđào tạo hạ sĩ quan” Theo đó, môn học Huấn luyện quân sự phổ thông qua những chặngđường phát triển thành môn học Giáo dục quốc phòng và Giáo dục quốc phòng - an ninhtrong hệ thống giáo dục quốc dân, đến nay vừa tròn nửa thế kỷ
Năm 1966, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp quyết định ban hành chươngtrình huấn luyện quân sự thống nhất trong các trường Đại học, CĐ và Trung học chuyênnghiệp
Năm 1983, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 749/QP về việc ban hànhchương trình huấn luyện quân sự phổ thông bậc 1, 2 cho các trường học
Cùng với GDQP từ những năm 70, công tác đào tạo sĩ quan dự bị từ sinh viên tốtnghiệp đại học đã được triển khai ở nhiều trường đại học trong cả nước Đã có hàng vạn
sĩ quan dự bị được đào tạo từ sinh viên tốt nghiệp đại học Đây là nguồn cán bộ khoa học
kĩ thuật, chuyên môn nghiệp vụ và quản lí kinh tế đáng kể cho nhiệm vụ dự bị động viên,sẵn sàng làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Hàng ngàn sĩ quan dự bị đã tình nguyện vào phục
vụ lâu dài trong quân đội, nhiều người đang đảm nhiệm những vị trí quan trọng và đã cónhiều đóng góp cho nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân
Qua mỗi giai đoạn cách mạng và sự phát triển của giáo dục đào tạo chương trìnhGDQP-AN cho HS, SV đã được đổi mới nhiều lần cả nội dung và hình thức giảng dạy.Năm 1991, chuyển đổi chương trình từ Huấn luyện quân sự phổ thông sang môn học giáodục quốc phòng đã có sự thay đổi cơ bản nội dung cho phù hợp với giáo dục thời bình,theo hướng tăng cường tri thức về quốc phòng-quân sự, giảm bớt thực hành kỹ năng
Với việc chương trình huấn luyện quân sự phổ thông được đổi thành chương trìnhmôn học GDQP với mục tiêu rõ ràng hơn, rộng lớn hơn, phù hợp với yêu cầu phát triểncủa giáo dục – đào tạo và nhiệm vụ bảo vệ đất nước trong thời bình GDQP không chỉtrang bị các kĩ năng quân sự cần thiết, mà quan trọng hơn là trang bị cho sinh viên một số
Trang 15vấn đề cơ bản về đường lối quốc phòng và quân sự của Đảng, ý thức và kiến thức quốcphòng để người cán bộ khoa học kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ và quản lí kinh tế biếtkết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, quốc phòng-an ninh và đối ngoạingay trên từng cương vị công tác.
Môn học GDQP - AN tạo điều kiện cho sinh viên có thể học tập theo năng lực củamình, tích luỹ kiến thức theo học phần, chứng chỉ Sinh viên khi đã tích luỹ đủ học phần,chứng chỉ được dự thi lấy chứng chỉ môn học GDQP - AN theo Nghị định của Chínhphủ, quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Kế tục và phát huy những kết quả thực hiện chương trình môn học GDQP nhữngnăm qua, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới và phù hợpvới quy chế quản lí giáo dục – đào tạo bậc đại học, năm 2000 Bộ Giáo dục và Đào tạo đãban hành chương trình môn học GDQP đổi mới, thay thế cho chương trình môn họcGDQP ban hành năm 1991
Như vậy, trong từng giai đoạn cách mạng, chương trình môn học GDQP - AN đều
có những đổi mới phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước và công tác quốc phòngtrong từng thời kì, gắn kết chặt chẽ các mục tiêu của giáo dục – đào tạo với quốc phòng –
an ninh
Đến năm 2007 thực hiện Chỉ thị số 12-CT/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sựlãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục quốc phòng, an ninh trong tình hình mới vàNghị định số 116/2007/NĐ-CP của Chính phủ về GDQP-AN, môn học giáo dục quốcphòng được chính thức đổi tên thành môn học GDQP-AN (kiến thức giáo dục an ninhđược lồng ghép trong giáo dục quốc phòng) Môn học đã được khẳng định trong nhómcác môn học chung của trình độ đào tạo đại học, chuyên nghiệp và dạy nghề; trongchương trình văn hoá của các trường trung học phổ thông
Việc đánh giá kết quả học tập đã được thực hiện theo quy chế chung của các cấphọc và quy chế môn học GDQP-AN Sinh viên ĐH, CĐ kết thúc môn học có đủ điểmtheo quy định được cấp chứng chỉ GDQP-AN, là một trong những điều kiện xét cấp bằngtốt nghiệp Học sinh trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề và trung học phổ thông kết quảhọc tập được tính điểm trung bình chung như các môn học khác
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đã chỉ ra phải đổi mới căn bản, toàn diện giáodục đào tạo, là cơ hội thuận lợi nhất đổi mới GDQP-AN cho HS, SV, gắn kết chặt chẽgiữa giáo dục đào tạo với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; đáp ứng yêu cầuphát triển kinh tế-xã hội, sự nhiệp CNH, HĐH đất nước trong xu thế hội nhập và toàn cầuhóa
Đảng và Nhà nước đang chủ trương "luật hóa” nhiệm vụ GDQP-AN Tại kỳ họpthứ 5 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII đã thông qua “LuậtGiáo dục quốc phòng – An ninh” ngày 19 tháng 6 năm 2013 Luật này có hiệu lực thihành từ ngày 01 tháng 01 năm 2014 Đây là những điều kiện cơ bản, có tính pháp lý caođối với môn học và nhiệm vụ GDQP-AN cho HS, SV
GDQP-AN cho sinh viên không riêng ở Việt Nam mà nhiều nước trên thế giới,
Trang 16không phân biệt chế độ chính trị, quy mô quốc gia, trình độ kinh tế, khoa học – kỹ thuật
và công nghệ đều được quan tâm và đưa vào chương trình chính khoá trong các nhàtrường
1.1.2.2 Giáo dục quốc phòng góp phần giáo dục toàn diện con người mới xã hội chủ nghĩa
GDQP là môn học bao gồm kiến thức khoa học xã hội, nhân văn, khoa học tựnhiên và khoa học kỹ thuật quân sự Là môn học được thể hiện trong đường lối giáo dụccủa Đảng và thể chế hoá bằng các văn bản pháp quy của Nhà nước, nhằm góp phần đàotạo ra những con người có đủ phẩm chất và năng lực làm tốt hai nhiệm vụ chiến lược xâydựng và bảo vệ Tổ quốc
Luật Giáo dục 1998 đã xác định : “Mục tiêu đào tạo con người Việt Nam phát triểntoàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lítưởng độc lập dân tộc và CNXH; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và nănglực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Thế hệ trẻ HS, SV là chủ nhân của đất nước và đặc biệt là trong thế kỉ XXI –thế kỷcủa nền kinh tế tri thức, phải có những phẩm chất toàn diện về tri thức, sức khoẻ, thẩm
mỹ và nghề nghiệp; trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và CNXH GDQP, giáo dụccông dân, giáo dục thể chất, thẩm mỹ cùng nhiều môn học khác góp phần hình thành vàbồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng các mục tiêu đào tạonhân trí, nhân lực, nhân tài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước;bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN
1.1.2.3 Giáo dục quốc phòng - an ninh là môn học được luật pháp quy định
GDQP-AN là môn học có Chỉ thị của Bộ Chính trị chỉ đạo, môn học duy nhất đượcluật pháp quy định Điều 17 chương III Luật Nghĩa vụ quân sự 1991 quy định: Việc huấnluyện quân sự phổ thông (nay là GDQP) cho học sinh ở trường trung học phổ thông,trường dạy nghề, trường trung học chuyên nghiệp, trường CĐ và trường đại học thuộcchương trình chính khoá
Trong điều kiện hiện nay, nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tácgiáo dục quốc phòng, an ninh, ngày 03/5/2007 Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 12-CT/TW thay thế
Chỉ thị số 62-CT/TW: Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng đối với nhiệm
vụ giáo dục quốc phòng, an ninh; công tác giáo dục quốc phòng, an ninh phải đặt dưới sựlãnh đạo trực tiếp của cấp uỷ đảng, sự quản lý, điều hành của chính quyền… Bộ Giáo dục
và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, Học viện Chính trị
- Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Ban tuyên giáo Trungương đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục quốc phòng, anninh cho phù hợp với từng đối tượng Chỉnh sửa, bổ sung và biên soạn giáo trình, giáokhoa, tài liệu giáo dục quốc phòng, an ninh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Tiếp đó, Chínhphủ ban hành Nghị định số 116/2007/NĐ-CP ngày 10/7/2007 về GDQP-AN, thay thếNghị định số 15/2001/NĐ-CP
Trang 17Qua mỗi giai đoạn cách mạng và sự phát triển của giáo dục đào tạo chương trìnhHuấn luyện quân sự phổ thông cho HS,SV đã được đổi mới nhiều lần cả nội dung và hìnhthức giảng dạy Đặc biệt từ năm 1991 đã chuyển đổi chương trình huấn luyện quân sự phổthông thành môn học giáo dục quốc phòng, đến năm 2000 đã có sự thay đổi cơ bản nộidung cho phù hợp với giáo dục thời bình, theo hướng tăng cường tri thức về quốc phòng,giảm bớt thực hành kỹ năng quân sự Thực hiện Chỉ thị của Bộ Chắnh trị, Nghị định củaChắnh phủ về GDQP-AN, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành chương trình GDQP-ANcho các cấp học và trình độ đào tạo, kể cả đào tạo chuyên ngành giảng viên GDQP-AN.Như vậy, từ năm 2007 môn học chắnh thức được đổi tên là GDQP-AN.
Trong những năm qua, giáo dục quốc phòng và an ninh tuy còn một số hạn chế,nhưng đã góp phần làm chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và trách nhiệm của toànĐảng, toàn dân, toàn quân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần bảo
vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước,nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hòa bình, ổn định chắnh trị, bảo đảm anninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn và làm thất bại mọi âm mưu,hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân
ta
Nhằm khắc phục những hạn chế của công tác giáo dục quốc phòng và an ninh;hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý vững chắc, đồng bộ; ngŕy 19 tháng 6 năm
2013, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội (khóa XIII) nýớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã thông qua Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh số 30/2013/QH13 Luật có hiệu lựcthi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2014 Đây là đạo luật quan trọng, là cơ sở pháp lý caonhất để thực hiện giáo dục quốc phòng và an ninh thống nhất trên phạm vi toàn quốc, qua
đó góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan, tổchức và của mọi công dân đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hìnhmới
1.2 Những quy định cơ bản của "luật GDQP và AN năm 2013"
Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủnghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xãhội chủ nghĩa là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo
vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhândân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ắch quốc gia, dân tộc Đểbảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống, Đảng ta chủ trương xâydựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh; trong đó, giáo dục quốcphòng và an ninh là một mắt xắch, một nhiệm vụ rất quan trọng
Đảng, Nhà nước ta luôn xác định giáo dục quốc phòng và an ninh là một nhiệm vụnhằm giáo dục lòng yêu nước, truyền thống cách mạng, lòng tự hào, tự tôn dân tộc; nângcao ý thức trách nhiệm của toàn dân đối với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh Chắnh vì vậy,giáo dục quốc phòng và an ninh có vị trắ quan trọng hàng đầu trong chiến lược xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trong những năm qua, giáo dục quốc phòng và an ninh tuy còn một số hạn chế,
Trang 18nhưng đã góp phần làm chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và trách nhiệm của toàn
Đảng, toàn dân, toàn quân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần bảo
vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước,nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, bảo đảm anninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn và làm thất bại mọi âm mưu,hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân
ta
Để khắc phục những hạn chế của công tác giáo dục quốc phòng và an ninh; hoànthiện hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý vững chắc, đồng bộ; ngày 19 tháng 6 năm
2013, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội (khóa XIII) nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã thông qua Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh số 30/2013/QH13 Luật có hiệu lựcthi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2014 Đây là đạo luật quan trọng, là cơ sở pháp lý caonhất để thực hiện giáo dục quốc phòng và an ninh thống nhất trên phạm vi toàn quốc, qua
đó góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan, tổchức và của mọi công dân đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hìnhmới
1.2.1 Bố cục Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh
Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh gồm 8 chương, 47 điều
Chương I Những quy định chung; Chương này gồm 9 điều (từ Điều 1 đến Điều 9).Chương II Giáo dục quốc phòng và an ninh trong nhà trường; Chương này gồm 4điều (từ Điều 10 đến Điều 13)
Chương III Bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh; Chương này gồm 04 điều(từ Điều 14 đến Điều 18)
Chương IV Phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho toàn dân; Chương nàygồm 04 điều (từ Điều 19 đến Điều 22)
Chương V Giáo viên, giảng viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên giáo dục quốcphòng an ninh; Chương này gồm 06 điều (từ Điều 23 đến Điều 28)
Chương VI Kinh phí giáo dục quốc phòng và an ninh; Chương này gồm 03 điều(từ Điều 29 đến Điều 31)
Chương VII Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức về giáo dục quốcphòng và an ninh; Chương này gồm 14 điều (từ Điều 32 đến Điều 45)
Chương VIII Điều khoản thi hành; Chương này gồm 02 điều (Điều 46 và Điều47)
1.2.2 Nội dung cơ bản của Luật Giáo dục quốc phòng
Chương I Những quy định chung
Chương này gồm 9 điều (từ Điều 1 đến Điều 9): quy định chung về: Phạm vi điềuchỉnh; đối tượng áp dụng; giải thích từ ngữ; mục tiêu, nguyên tắc GDQP - AN; chính sáchcủa Nhà nước, quyền và trách nhiệm của công dân, Trung tâm GDQP - AN và các hành vi
Trang 19bị nghiêm cấm khi thực hiện GDQP - AN
Chương II Giáo dục quốc phòng và an ninh trong nhà trường
Chương này gồm 4 điều (từ Điều 10 đến Điều 13): quy định về GDQP - AN trongcác nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân; từ bậc tiểu học, trung học cơ sở, trườngtrung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề, CĐ nghề đến các cơ sởgiáo dục đại học; các trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -
xã hội
Chương III Bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh
Chương này gồm 04 điều (từ Điều 14 đến Điều 18): quy định về bồi dưỡngKTQPAN cho các đối tượng, cá nhân đang công tác tại các cơ quan, tổ chức của Nhànước, tổ chức chính trị và tổ chức chính trị - xã hội; người quản lý doanh nghiệp ngoàikhu vực nhà nước, các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập; cá nhân tiêu biểu, người có uy tíntrong cộng đồng dân cư; đồng thời quy định về thẩm quyền triệu tập, cơ sở bồi dưỡng (địađiểm tổ chức bồi dưỡng) và chế độ, quyền lợi của người được triệu tập, tham gia và hoànthành chương trình bồi dưỡng KTQPAN
Chương IV Phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho toàn dân
Chương này gồm 04 điều (từ Điều 19 đến Điều 22): quy định về nội dung, hìnhthức phổ biến KTQPAN cho toàn dân nói chung, phổ biến KTQPAN cho người dân ở khuvực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng sâu, vùng xa và trong doanh nghiệp, đơn vị sựnghiệp nói riêng; đồng thời quy định cơ quan chỉ đạo, cơ quan chủ trì và phối hợp trong tổchức bồi dưỡng
Chương V Giáo viên, giảng viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên giáo dục quốcphòng an ninh
Chương này gồm 06 điều (từ Điều 23 đến Điều 28): quy định về giáo viên, giảngviên; quy định về đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn, tuyển dụng giáo viên, giảng viên; tráchnhiệm và quyền lợi của giáo viên, giảng viên; quy định về báo cáo viên, tuyên truyềnviên, trách nhiệm và quyền lợi của báo cáo viên, tuyên truyền viên GDQP - AN
Chương VI Kinh phí giáo dục quốc phòng và an ninh
Chương này gồm 03 điều (từ Điều 29 đến Điều 31): quy định về nguồn kinh phíđược huy động cho GDQP - AN; quy định về nội dung chi; việc lập dự toán; chấp hành vàquyết toán kinh phí GDQP - AN
Chương VII Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức về giáo dục quốcphòng và an ninh
Chương này gồm 14 điều (từ Điều 32 đến Điều 45): quy định về Nội dung quản lýNhà nước về GDQP - AN; cơ quan quản lý Nhà nước về GDQP - AN; nhiệm vụ, quyềnhạn của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan, tổ chức ở Trungương; đồng thời nêu rõ nhiệm vụ, quyền hạn của các Bộ: Quốc phòng, Công an, Bộ Giáodục và Đào tạo, Bộ Nội vụ, Bộ Lao động, Thương binh và xã hội, Bộ Thông tin và Truyềnthông; nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp; trách
Trang 20nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên; các quy định về Hộiđồng GDQP - AN các cấp và trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức đối vớiviệc thực hiện pháp luật về GDQP - AN
Chương VIII Điều khoản thi hành
Chương này gồm 02 điều (Điều 46 và Điều 47): quy định về thời điểm Luật bắtđầu có hiệu lực thi hành; trách nhiệm của Chính phủ, cơ quan có thẩm quyền quy định chitiết, hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao, được xác định trong Luật GDQP -
Trang bị, phương tiện dạy học quốc phòng phải có chế độ sử dụng, bảo quản đặcbiệt theo một quy chế riêng, không để mất an toàn; không để thất lạc, mất mát Cáctrường phải có sân tập, bảo đảm đủ mô hình học cụ và trang bị dạy học do các nhà máy, xínghiệp quốc phòng sản xuất
Các trường lớn và trung tâm GDQP, cần xây dựng thao trường, bãi tập, phòng họcchuyên dùng đáp ứng yêu cầu của môn học Vũ khí sử dụng luyện tập do cơ quan quân sựđịa phương bảo đảm theo thông tư liên Bộ và chỉ thị của Bộ Quốc phòng
Đội ngũ giảng viên gồm nhiều nguồn: giảng viên là sĩ quan biệt phái của Bộ Quốcpḥng, giảng viên chuyên trách hoặc kiêm nhiệm trong biên chế cơ hữu của trường, giảngviên hợp đồng, thỉnh giảng
Hình thức tổ chức đào tạo đa dạng: ở trung tâm GDQP, tại các trường; liên kết đàotạo giữa các trường, giữa các trường với các đơn vị, nhà trường quân đội
1.3.2 Chương trình môn học GDQP - AN (Ban hành kèm theo Thông tư số:
31/2012/TT-BGDĐT ngày 12 tháng 9 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)
a) Đối tượng áp dụng
Chương trình Giáo dục quốc phòng - an ninh dùng cho sinh viên khối khôngchuyên ngành Giáo dục quốc phòng - an ninh trình độ đại học, CĐ, loại hình đào tạochính quy
b) Mục tiêu đào tạo
- Mục tiêu chung:
Trang bị cho HS, SV kiến thức cơ bản về đường lối quân sự, công tác quốc phòng,
an ninh của Đảng và Nhà nước; những kỹ năng quân sự, an ninh cần thiết nhằm đáp ứngyêu cầu xây dựng, củng cố lực lượng vũ trang nhân dân, sẵn sàng tham gia lực lượng dân
Trang 21quân tự vệ, dự bị động viên và làm nghĩa vụ quân sự, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, sẵnsàng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
- Mục tiêu cụ thể:
+ Về kiến thức: Có kiến thức cơ bản về đường lối quân sự của Đảng trong sựnghiệp bảo vệ Tổ quốc; các quan điểm của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân,chiến tranh nhân nhân, an ninh nhân dân; đấu tranh, phòng chống chiến lược “diễn biếnhòa bình” bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch với cách mạng Việt Nam trong tìnhhình mới
+ Về kỹ năng: Thuần thục trong thao tác các kỹ năng quân sự cần thiết, biết sửdụng một số loại vũ khí bộ binh, thành thạo trong sử dụng súng tiểu liên AK (CKC)
+ Về thái độ: Rèn luyện phẩm chất, bản lĩnh chính trị vững vàng, yêu nước, yêuCNXH; xây dựng tác phong nhanh nhẹn; hình thành nếp sống có kỷ luật trong sinh hoạttập thể, ý thức cộng đồng ở trường, lớp và khi ra công tác
c) Số lượng học phần, tín chỉ
Chương trình bao gồm 3 học phần, thời lượng 8 tín chỉ
Học phần 1: Đường lối quân sự của Đảng, 3 tín chỉ; học phần 2: Công tác quốcphòng, an ninh, 2 tín chỉ; học phần 3: Quân sự chung và chiến thuật, kỹ thuật bắn súngtiểu liên AK (CKC), 3 tín chỉ
d) Đánh giá kết quả học tập
Thực hiện theo Quy định tổ chức dạy, học và đánh giá kết quả học tập môn họcGiáo dục quốc phòng - an ninh, hiện hành
e) Nội dung chương trình
Nội dung chương trình có 3 học phần, 8 tín chỉ; cụ thể:
Học phần 1: Đường lối quân sự của Đảng (3 tín chỉ)
- Mục tiêu:
Trang bị cho HS, SV những kiến thức cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc; nhận thức đúng về nguồn gốc,bản chất chiến tranh; các quan điểm của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, lựclượng vũ trang nhân dân để tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt NamXHCN
Giúp HS, SV bước đầu tìm hiểu nghệ thuật đánh giặc của ông cha ta và nghệ thuậtquân sự Việt Nam từ khi có Đảng
- Yêu cầu:
+ Nắm vững đường lối quân sự của Đảng trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân
và an ninh nhân dân, chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, kết hợp phát triển kinh tế xãhội với củng cố quốc phòng, an ninh; trên cơ sở đó góp phần nâng cao nhận thức và ýthức trách nhiệm đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN;
Trang 22+ Xác lập phương pháp luận trong nghiên cứu các học phần, môn học Giáo dụcquốc phòng - an ninh, xây dựng niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
- Điều kiện tiên quyết:
Bố trí sau khi học Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Mô tả tóm tắt nội dung:
Đối tượng, phương pháp nghiên cứu môn học Giáo dục quốc phòng - an ninh;Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội vàbảo vệ Tổ quốc; Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; Chiến tranh nhândân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dânViệt Nam; Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng - anninh; Nghệ thuật quân sự Việt Nam
Học phần 2: Công tác quốc phòng, an ninh (2 tín chỉ)
- Mục tiêu:
Giúp sinh viên nhận thức được âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch đối vớicách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, trên cơ sở đó đấu tranh, phòng chốngchiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; đấu tranh phòngchống địch lợi dụng vấn đề dân tộc và tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam để giữ gìn
an ninh chính trị và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam XHCN
Trang bị cho sinh viên kiến thức về chiến tranh công nghệ cao; kiến thức về xâydựng lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên, phong trào toàn dân đấu tranhphòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội, bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn
xã hội; bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ biên giới, biển đảo Việt Nam
- Yêu cầu:
+ Xây dựng niềm tin chiến thắng trong phòng chống chiến lược "diễn biến hòabình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt NamXHCN
+ Nắm vững các nội dung công tác quốc phòng, an ninh; vận dụng linh hoạt, sángtạo kiến thức đã học vào hoạt động thực tiễn
- Điều kiện tiên quyết: không
- Mô tả tóm tắt nội dung:
Phòng chống chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thùđịch đối với cách mạng Việt Nam; Phòng chống địch tiến công hoả lực bằng vũ khí côngnghệ cao; Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên và động viêncông nghiệp quốc phòng; Xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia;Một số nội dung cơ bản về dân tộc, tôn giáo và đấu tranh phòng chống địch lợi dụng vấn
đề dân tộc và tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam; Những vấn đề cơ bản về bảo vệ
an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; Những vấn đề cơ bản về đấu tranh
Trang 23phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội; Xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổquốc.
Học phần 3: Quân sự chung và chiến thuật, kỹ thuật bắn súng tiểu liên AK(CKC) (3 tín chỉ)
- Mục tiêu:
Trang bị cho sinh viên kiến thức chung về quân sự phổ thông, những kỹ năng quân
sự cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng, củng cố lực lượng vũ trang nhân dân, sẵnsàng tham gia lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên và thực hiện nghĩa vụ quân sựbảo vệ Tổ quốc
Hiểu biết và sử dụng được một số loại phương tiện, vũ khí thông thường; có kiếnthức về chiến thuật bộ binh; biết cách phòng, tránh vũ khí hủy diệt lớn và thành thạo kỹthuật băng bó, chuyển thương
- Yêu cầu:
+ Hiểu biết một số kỹ năng cơ bản của người chiến sĩ bộ binh trong huấn luyện vàchiến đấu; biết vận dụng các kỹ năng quân sự trong hoạt động dân quân tự vệ, phòng thủdân sự và hoạt động thể thao quốc phòng
+ Nắm vững và thành thạo kỹ thuật bắn súng tiểu liên AK (CKC)
- Điều kiện tiên quyết: không
- Mô tả tóm tắt nội dung:
Đội ngũ đơn vị và ba môn quân sự phối hợp; Sử dụng bản đồ địa hình quân sự;Giới thiệu một số loại vũ khí bộ binh; Thuốc nổ; Phòng chống vũ khí hủy diệt lớn; Cấpcứu ban đầu vết thương chiến tranh; Từng người trong chiến đấu tiến công và phòng ngự;
Kỹ thuật bắn súng tiểu liên AK (CKC)
Kết luận: Từ những quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác GDQP - AN nóichung cũng như đối với bộ môn GDQP - AN nói riêng chúng ta thấy được sự cần thiếtphải không ngừng nâng cao trách nhiệm của toàn xã hội đối với GDQP – AN, trong đónâng cao chất lượng môn học GDQP - AN là cấp bách và cần thiết; đặc biệt là trong giaiđoạn hiện nay khi mà đất nước ta đang trên đường hội nhập thế giới toàn diện hơn, khi màthế giới có nhiều thay đổi; tình hình khu vực và thế giới có nhiều diễn biến phức tạp vàkhó lường; sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc đối mặt với nhiều thử thách; nhất là công tác bảo vệđộc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ chủ quyền biểnđảo quê hương
Chương II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG – AN NINH
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
Trang 24Nhiệm vụ GDQP cho SV-HS được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và GDQP đã trở thành môn học chính khóa trong các trường ĐH, CĐ, TC, THPT và
đã được tổ chức thực hiện ngày càng nghiêm túc, hiệu quả Hệ thống văn bản pháp quy đã được ban hành khá đầy đủ và đồng bộ Nội dung chương trình, phương pháp tổ chức giảng dạy và học tập môn GDQP không ngừng được đổi mới và hoàn thiện.
Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và an ninh Đại học Trà Vinh được thành lập theo Quyết định số 1830/QĐ-UNBD ngày 03 tháng 10 năm 2017 của Ủy ban nhân dân Tỉnh Trà Vinh Thực hiện theo quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm Giáo dục quốc phòng và an ninh sinh viên theo Quyết định số 82/2007/QĐ- BGDĐT ngày 24/12/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và hiện nay được thay thế bởi thông tư liên tịch số 123/2015/TTLT-BQP-BGDĐT-BLĐTBXH, ngày 05 tháng 11 năm 2015, quy định tổ chức, hoạt động của trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh; liên kết giáo dục quốc phòng và an ninh của các trường cao đẳng, cơ sở giáo dục đại học.
Chỉ thị số 12/CT/TW của Bộ chính trị - Ban chấp hành Trung ương đảng CSVN,ngày 3/5/2007 khẳng định “Giáo dục quốc phòng, an ninh là một bộ phận của nền giáodục quốc dân, việc phổ cập và tăng cường GDQP-AN là nhiệm vụ chung của Đảng, Nhànước và toàn xã hội, phải được chỉ đạo, tổ chức thực hiện chặt chẽ, thống nhất từ Trungương đến địa phương bằng các hình thức phù hợp với từng đối tượng, kết hợp giáo dụcthường xuyên với giáo dục tập trung có trọng tâm, trọng điểm, chú trọng giáo dục lòngyêu nước, yêu chế độ xã hội chủ nghĩa, lịch sử truyền thống của Đảng và dân tộc, ý thứcsống và làm việc theo pháp luật, trong đó xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi công dân” Nắm vững quan điểm chỉ đạo của Đảng,trong những năm qua trường Đại học Trà Vinh đã xác định được mục tiêu, yêu cầu côngtác GDQP-AN một cách chủ động thiết thực, đã được triển khai thực hiện thống nhấtđồng bộ ở các bậc học, hình thức phương pháp chỉ đạo, tổ chức dạy và học có sự cải tiến,đổi mới phương pháp, ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình biên soạn tài liệu, giáotrình, nghiên cứu khoa học và đổi mới phương pháp giảng dạy Những nỗ lực đối với việcGDQP-AN đã thực sự góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của mọi người nhất là thế hệtrẻ đối với nhiệm vụ củng cố thế trận quốc phòng – an ninh toàn dân Qua đó cũng gópphần thực hiện chiến lược giáo dục con người mới phát triển toàn diện về thể chất, nănglực, tinh thần Trường Đại học Trà Vinh đã và đang từng bước được khẳng định vị thế, vaitrò, tầm quan trọng trong chiến lược giáo dục, đào tạo con người, cũng như trong nhiệm
vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước và hộinhập Quốc tế
2.1 Những kết quả đạt được
2.1.1 Kết quả
2.1.1.1 Thực hiện đầy đủ nhiệm vụ GDQP – AN hàng năm
Mục tiêu giáo dục quốc phòng và an ninh là nhằm “Giáo dục cho công dân về kiến
Trang 25thức quốc phòng và an ninh để phát huy tinh thần yêu nước, truyền thống dựng nước vàgiữ nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, nâng cao ý thức, trách nhiệm, tự giác thực hiệnnhiệm vụ quốc phòng và an ninh, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”
Giáo dục quốc phòng - an ninh là Tổng thể các hoạt động giáo dục nhằm xây dựng,nâng cao phẩm chất và năng lực về quốc phòng và an ninh cho công dân Việt Nam trongcác hoạt động nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốcViệt Nam xã hội chủ nghĩa
Giáo dục quốc phòng và an ninh có vị trí quan trọng hàng đầu trong chiến lược xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Cùng với việc xây dựng nhân tốchính trị tinh thần, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, giáo dục quốc phòng và an ninhcòn thiết thực góp phần gắn các hoạt động xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội…với quốc phòng, an ninh, nhằm phát huy mọi tiềm lực của đất nước và toàn dân vào côngcuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đảm bảo cho sự phát triển bền vững Vì vậy, giáo dụcquốc phòng và an ninh là một trong những chủ trương chiến lược quan trọng của Đảng
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác GDQP - AN nên Đảng ủy, Ban giámhiệu nhà trường luôn quan tâm, lãnh đạo các cơ quan, phòng ban phải luôn quán triệt vàthực hiện nhiệm vụ GDQP - AN hàng năm Trong đó có cả nhiệm vụ quốc phòng an ninhđược triển khai từ Ban chỉ huy quân sự Quận ninh kiều, cũng như nhiệm vụ GDQP - ANhàng năm của Bộ giáo dục và đào tạo triển khai
Quán triệt và triển khai thực hiện nghị quyết trung ương 8 khóa XI về “Chiến lượcbảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, cũng như các văn bản khác liên quan đến công tácGDQP - AN
Luôn thực hiện đầy đủ và hoàn thành các nhiệm vụ quân sự được giao Tổ chứcthành lập lực lượng tự vệ của trường đáp ứng yêu cầu cả về số lượng, chất lượng; tiếnhành huấn luyện, tinh thần sẵn sàng chiến đấu Huấn luyện HS, SV tham gia hoạt độngHội thao quốc phòng do Sở GD- ĐT tổ chức 2 năm một lần
2.1.1.2 Đội ngũ giảng viên GDQP - AN được tham gia bồi dưỡng, học tập nâng cao trình độ hàng năm.
Giáo dục quốc phòng - an ninh cho HS, SV là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước,vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược đào tạo con người mới XHCN Mục tiêucủa công tác này là giáo dục cho HS, SV lòng yêu nước, yêu CNXH, niềm tự hào và sựtrân trọng đối với truyền thống của dân tộc; trang bị cho họ những kiến thức cơ bản vềquốc phòng - an ninh, rèn luyện đạo đức cách mạng và những kỹ năng quân sự cần thiết,
để HS, SV sẵn sàng thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ViệtNam XHCN
Ý thức được vai trò quan trọng của việc thực hiện các nhiệm vụ GDQP - AN; màđặc biệt là công tác giảng dạy môn học GDQP - AN tại trường nên từ năm học 2009-2010nhà trường bắt đầu chú trọng đến công tác tuyển dụng giảng viên GDQP - AN để cán bộ,giảng viên tham gia học tập nâng cao trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu của nhàtrường
Trang 26Bên cạnh đó để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động giảng dạy môn học Nhàtrường đã thành lập Tổ bộ môn Giáo dục quốc phòng trực thuộc Khoa Giáo dục thể chất -Quốc phòng, để cho việc giảng dạy cũng như công tác quản lí môn học được thuận lợi vàđem lại hiệu quả cao nhất.
Để góp phần hoàn thành mục tiêu công tác GDQP-AN như đã nói trên thì đội ngũgiáo viên, giảng viên GDQP-AN có vai trò rất quan trọng, họ là người trực tiếp làm côngtác giảng dạy; là người truyền đạt kiến thức, nhưng đồng thời cũng là người khơi dậytruyền thống lòng tự hào dân tộc Chính vì lẽ đó mỗi người làm công tác giảng dạy bộmôn này phải là người có kiến thức, chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đức cách mạng; nhất
là những kiến thức về quốc phòng - an ninh, những kĩ năng quân sự cần thiết đáp ứng yêucầu của môn học Để làm được điều đó bản thân mỗi người giảng viên phải không ngừnghọc tập, rèn luyện nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, hoàn thiện những kĩ năng quân sự
và trau dồi phẩm chất đạo đức Đất nước không ngừng phát triển thì việc học hỏi, cậpnhật kiến thức là vấn đề tất yếu
Đối với mỗi giảng viên đều không ngừng bồi dưỡng về phẩm chất chính trị, đạođức cách mạng, lương tâm và trách nhiệm nghề nghiệp Phẩm chất chính trị, đạo đức cáchmạng là một trong những tiêu chuẩn của người giảng viên GDQP - AN Đối với giảngviên giáo dục quốc phòng, điều này càng cần thiết, có nhiệm vụ truyền thụ kiến thức, màcòn là người truyền đạt cho HS, SV về đạo đức và hình thành lý tưởng, cho thế hệ trẻ,tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, của Nhà nước Bên cạnh đó, việc nâng caotrình độ chuyên môn cho đội ngũ giảng viên giáo dục quốc pḥng - An ninh là việc làm cấpbách, cần tiến hành thường xuyên Để giảng dạy tốt, giảng viên giáo dục quốc phòng - Anninh trước hết phải có kiến thức sâu rộng Có ý thức tự trau dồi, tích luỹ kiến thức quaviệc tự học, tự nghiên cứu, nhằm làm giàu tri thức phục vụ chuyên môn Ngoài ra, việccập nhật thông tin qua các phương tiện thông tin đại chúng đóng vai trò hết sức quantrọng, giúp cho giảng viên có nhiều kiến thức mới, phong phú
Mặt khác, đối với mỗi giảng viên công việc giảng dạy phải gắn liền với nghiên cứukhoa học Đây là con đường ngắn nhất để không ngừng tích luỹ kiến thức, nâng cao trình
độ, góp phần tìm ra những hình thức, biện pháp thích hợp truyền đạt tri thức tới người
học Là một giảng viên GDQP - AN cũng không là ngoại lệ trong vấn đề này, và công tác nghiên cứu khoa học của Tổ bộ môn giáo dục quốc phòng bước đầu đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, khi vào tháng 3/2014 vừa qua đề tài cấp trường với tên
gọi “Nghiên cứu, thiết kế bộ đề thi trắc nghiệm môn Giáo dục quốc phòng dùng cho hệ Trung học chuyên nghiệp và CĐ” được thông qua và hiện tại đang tiến hành nghiên
cứu, hoàn thiện để đề nghị lên cấp cao hơn Bên cạnh đó hàng năm còn có các bài báo, bài nghiên cứu của giảng viên khác.
2.1.1.3 Hoạt động giảng dạy GDQP - AN luôn được quan tâm, chú trọng; chất lượng GDQP - AN ngày càng nâng lên góp phần hoàn thành nhiệm vụ chung của nhà trường
Giáo dục quốc phòng và an ninh là “…nhiệm vụ chung của Ðảng, Nhà nýớc vàtoàn xã hội; phải được chỉ đạo, tổ chức thực hiện chặt chẽ, thống nhất từ Trung ương đếnđịa phương” Theo đó, mục tiêu giáo dục quốc phòng và an ninh nhằm “Giáo dục cho
Trang 27công dân về kiến thức quốc phòng và an ninh để phát huy tinh thần yêu nước, truyềnthống dựng nước và giữ nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, nâng cao ý thức, trách nhiệm,
tự giác thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và an ninh, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủnghĩa”
Nắm vững quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với công tác GDQP - AN, trong nhữngnăm qua hoạt động giảng dạy môn GDQP - AN luôn được nhà trường quan tâm, chútrọng Chính sự sát sao và kịp thời của Đảng ủy, Ban giám hiệu nhà trường mà môn họcGDQP - AN đã được triển khai thực hiện thống nhất đồng bộ ở các bậc học, hình thứcphương pháp chỉ đạo, tổ chức dạy và học có sự cải tiến, đổi mới phương pháp, ứng dụngcông nghệ thông tin vào quá trình biên soạn tài liệu, giáo trình, nghiên cứu khoa học vàđổi mới phương pháp giảng dạy
Hiệu quả, chất lượng dạy và học môn GDQP - AN luôn được nâng lên Qua đócũng góp phần thực hiện chiến lược giáo dục con người mới phát triển toàn diện về thểchất, năng lực, tinh thần
Bên cạnh đó từ năm học 2010-2011 hình thức đào tạo của nhà trường chuyển
từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo quy chế tín chỉ cũng đã góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn GDQP – AN, kết quả cụ thể như sau (Bảng thống kê và biểu đồ kết quả học tập):
Năm học Tổng số Xuất sắc Giỏi Khá Trung bình Yếu
Bảng 2.1: Thống kê kết quả học tập môn GDQP - AN theo niên chế
Năm học Tổng số Xuất sắc Giỏi Khá Trung bình Yếu
2010-2011 2807 2 0,1 172 6,1 933 33,2 1567 55,8 133 4,7
2011-2012 3906 0 0 31 0,8 890 22,8 2743 20,2 242 6,2
Bảng 2.2: Thống kê kết quả học tập môn GDQP - AN theo học chế tín chỉ
2.1.1.4 Giáo trình, tài liệu phục vụ cho môn học GDQP - AN được đảm bảo;
cơ sở vật chất, vũ khí trang bị cho môn học được đầu tư mua sắm hàng năm
Mục tiêu của GDQP - AN là giáo dục con người toàn diện Nội dung chương trìnhmôn học GDQP - AN là rất phong phú và đa dạng; nó không chỉ là đơn thuần là các nội
Trang 28dung về mặt chính trị, truyền thống mà bên cạnh đó việc giáo dục kĩ năng quân sự cũngtương đối nhiều Trong khi đó khối lượng tri thức mà thầy cô giáo truyền đạt trong phạm
vi thời gian lên lớp không nhiều thì khối lượng tri thức truyền đến người học cũng hết sứchạn chế Chính vì vậy nhà trường luôn trang bị đầy đủ số lượng đầu sách, giáo trình phục
vụ cho HS, SV học tập; bên cạnh đó trung tâm thông tin thư viện nhà trường cũng trang bịmáy tính có kết nối mạng internet để sinh viên nghiên cứu tài liêu trên các trang mạng,cùng với đó là trang bị nhiều đầu sách, nhiều tài liệu tham khảo phục vụ cho việc mởmang tri thức cho người học
Bên cạnh các tri thức về mặt chính trị tư tưởng thì để cho việc giáo dục, rèn luyệncác kĩ năng quân sự an ninh có kết quả thì hàng năm nhà trường luôn lập kế hoạch và muasắm bổ sung trang thiết bi, cơ sở vật chất vũ khí trang bị phục vụ cho quá trình dạy và họcmôn GDQP - AN đạt kết quả tốt
2.1.2 Nguyên nhân đạt được các kết quả nói trên
Luật Giáo dục 1998 đã xác định: Mục tiêu của giáo dục đào tạo là đào tạo conngười Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghềnghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và CNXH; hình thành và bồi dưỡng nhâncách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Thấm nhuần tư tưởng nói trên cán bộ, giảng viên nhà trường luôn không ngừng cố gắng
để hoàn thành sứ mênh giáo dục đào tạo của mình
2.1.2.1 Nguyên nhân chủ quan
Để có được những kết quả như vậy trước hết phải nói đến sự đoàn kết, gắn bó và
sự cố gắng, quyết tâm của toàn thể nhà trường; từ Ban giám hiệu, cho đến tập thể cán bộgiáo viên, giảng viên cũng như các ban ngành khác trong thực hiện nhiệm vụ giáo dục vàđào tạo Sự nhận thức sâu sắc về nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc ViệtNam XHCN
Sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lí của Đảng ủy, Ban giám hiệu nhà trường một cách kịpthời, sự quan tâm của các cơ quan đơn vị đối với công tác GDQP - AN là nguyên nhânquan trọng nhất giúp cho việc GDQP - AN ở tại trường có được những kết quả nói trên
Đội ngũ giáo viên GDQP-AN luôn luôn đóng vai trò quyết định trong đổi mới vànâng cao chất lượng môn học và hoàn thành nhiệm vụ GDQP - AN của nhà trường Chính
vì thế trường đã đầu tư chăm lo xây dựng đội ngũ giáo viên trong biên chế, cơ hữu vàthực hiện một số hợp đồng giảng viên thỉnh giảng là các sĩ quan Quân đội
Bên cạnh đó, đội ngũ giáo viên, giảng viên của trường là những người có trình độ,
có năng lực và luôn tận tâm với nghề Không ngừng học hỏi, nghiên cứu, rèn luyện lànguyên nhân cơ bản để công tác GDQP - AN đạt được kết quả như trên
2.1.2.2 Nguyên nhân khách quan
Sự chỉ đạo của cơ quan quân sự cấp trên như: Ban chỉ huy quân sự Quận 9, vụGiáo dục quốc phong – Bộ Giáo dục đào tạo, cơ quan quân sự Bộ Công thương là hết sứcquan trọng để nhà trường luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ GDQP – AN
Trang 29Điều kiện sân bãi rộng rãi, thoáng mát; trang bị phục vụ cho môn học được đầu tưđáp ứng yêu cầu dạy và học GDQP – AN.
2.2 Những hạn chế, tồn tại
Công tác GDQP - AN tại trường trong thời gian qua đã đạt được những kết quả nổibật; tuy nhiên bên cạnh đó vì nhiều nguyên nhân, nhiều khó khăn khác nhau nên công tácGDQP - AN vẫn còn một số tồn tại Cụ thể như sau:
2.2.1 Những hạn chế, tồn tại
- Việc thực hiện nhiệm vụ GDQP - AN hàng năm ở nhiều đơn vị, các phòng ban vàmột số khoa chuyên nghành là hiệu quả, kết quả chưa cao; còn xem nhẹ công tác GDQP -
AN, thực hiện nhiệm vụ mang tích chất đối phó
- Chuyển biến về nhận thức ở một số cán bộ quản lý và một bộ phận HS, SV cònchậm so với yêu cầu mục tiêu môn học và nhiệm vụ GDQP-AN trong tình hình mới Xemnhẹ và tìm cách thanh toán môn học có ở một số trường và một bộ phận HS, SV Nhữngsuy nghĩ đơn giản về môn học đã dẫn đến tổ chức thực hiện tùy tiện nhiệm vụ GDQP-AN,tính toán hiệu quả kinh tế, chỉ thấy lợi ích trước mắt chưa thấy lợi ích chung và lâu dài Vìvậy còn có một bộ phận nhỏ không coi GDQP-AN là môn học mà cho rằng đó là nhiệm
vụ quốc phòng, thuộc Bộ Quốc phòng
- Chất lượng GDQP - AN ngày càng được nâng cao, kết quả môn học cũng cónhiều bước tiến tuy nhiên nhìn chung vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế, như:
+ Tỷ lệ HS, SV hàng năm không đạt yêu cầu còn cao (năm học 2010-2011 sốlượng loại yếu là 133 chiếm tỷ lệ 4,7%; năm học 2011-2012 số lượng loại yếu là 242chiếm tỷ lệ 6,2%)
+ Tỷ lệ HS, SV xếp loại giỏi và xuất sắc còn rất hạn chế (năm học 2008-2009 và2009-2010 tỷ lệ này là 0%)
+ Tỷ lệ HS, SV xếp loại giỏi và xuất sắc không những không tăng lên mà còn giảm
đi so với năm trước (năm học 2010-2011 số lượng loại xuất sắc là 2, giỏi là 172; năm học2011-2012 số lượng loại xuất sắc là 0, giỏi là 31)
- Chưa chính quy trong quá trình học tập môn GDQP – AN, chưa chính quy đượcthể hiện ở việc mang mặc trang phục, đồng phục trong qúa trình học tập Việc mang đồngphục khi học tập GDQP - AN ở trường hiện tại chưa thể đảm bảo trang phục GDQP - ANcho HS, SV mà khi học chỉ mang đồng phục chung của Nhà trường, điều này ảnh hưởngđến sự thống nhất, cũng như tác động đến chất lượng chung của quá trình học tập
Trên đây là một số hạn chế, tồn tại trong công tác GDQP - AN ở trường CĐ CôngThương TPHCM, những vấn đề đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, gồm cảnguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan Bên cạnh đó còn nhiều khó khăn mà
để giải quyết Nhà trường, tập thể cán bộ, giảng viên đặc biệt là đội ngũ giảng viên GDQP
- AN phải nổ lực cố gắng rất nhiều
2.2.2 Nguyên nhân