* Tài nguyên du lịch là toàn bộ cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử, văn hóa, các công trình kiến trúc, công trình lao động sáng tạo của con người và các giátrị nhân
Trang 1CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN TUYẾN, ĐIỂM DU LỊCH VIỆT
NAM (2tc)
HÌNH THỨC: VẤN ĐÁP
1 Các khái niệm cơ bản về du lịch được học trong Học phần Tuyến, điểm du lịch Việt Nam?
* Khái niệm về du lịch:
- Tổng cục Du lịch
- Luật du lịch: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngườingoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giảitrí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định
* Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp di du lịch, trừ trường hợp đi học, làm
việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến
* Sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất cần thiết trên cơ
sở khai thác các tài nguyên du lịch nhằm để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch
* Tài nguyên du lịch là toàn bộ cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử,
văn hóa, các công trình kiến trúc, công trình lao động sáng tạo của con người và các giátrị nhân văn khác… nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch…(Xem lại đềcương quy hoạch)
* Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch cụ
du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy (đường thủy nộiđịa và đường biển) và đường hàng không
* Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của
khách du lịch
* Chương trình du lịch (tour) là lịch trình, các dịch vụ và giá bán các chương trình
được định trước cho chuyến đi của khách du lịch từ nơi xuất phát đến điểm kết thúcchuyến đi
* Các khái niệm khác:
Trang 2- Đô thị du lịch
+ Là đô thị trong phạm vi không gian lãnh thổ của mình chứa đựng một hay nhiềuloại tài nguyên du lịch nổi trội hoặc tự thân nó là một tài nguyên du lịch có sức hấp dẫncao, tỷ trọng GDP dịch vụ du lịch chiếm hơn 60% GDP, dân số tham gia hoạt động dịch
cụ du lịch (kể cả trực tiếp và gián tiếp) cũng chiếm hơn 60% dân số của đô thị
+ Việc phân cấp đô thị du lịch dựa trên tiêu chuẩn phân cấp đô thị đã được Chínhphủ phê duyệt năm 2001
+ Về phân vị lãnh thổ, trọng điểm phát triển du lịch không nhất thiết nằm gọntrong ranh giới một tiểu vùng, vì vậy không thuộc vào hệ thống phân cấp lãnh thổ du lịch
+ VD về các trọng điểm phát triển du lịch của nước ta
2 Đặc điểm của tuyến, điểm du lịch ?
-1 Các điểm du lịch, các khu du lịch được nối với nhau tạo thành tuyến du lịch Là sảnphẩm du lịch đặc biệt
-2 Phân loại tuyến du lịch theo tổ chức lãnh thổ du lịch
+ Tuyến nội tỉnh
+ Tuyến nội vùng
+ Tuyến liên vùng+ Tuyến quốc tế
-3 Phân loại tuyến du lịch theo phương tiện vận chuyển:
+ Tuyến du lịch đường bộ
Trang 3+ Tuyến du lịch đường sắt
-4 Tiêu chí xác định các tuyến du lịch:
+ Định hướng tổ chức không gian du lịch chính của toàn lãnh thổ
+ Tài nguyên du lịch và sự hấp dẫn của các điểm du lịch trên toàn tuyến
+ Các khu, điểm nghỉ ngơi vui chơi giải trí với khả năng thu hút khách du lịch
+ Các điều kiện về cơ sở hạ tầng (cửa khẩu quốc tế, hệ thống giao thông) và cơ sở vậtchất kỹ thuật du lịch
+ Sự phân bố và xu hướng của các luồng khách
+ Môi trường tự nhiên và văn hóa xã hội
+ An ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội
+ Nhu cầu giao lưu, hội nhập khu vực và quốc tế
3 Vai trò của tuyến, điểm du lịch ?
* Đối với địa điểm du lịch:
- Tạo ra cơ hội việc làm cho hoạt động du lịch trực tiếp và gián tiếp
- Mang lại thu nhập cho quốc gia, địa phương và người dân
- Khuyến khích bảo tồn di sản và truyền thống văn hóa, bảo vệ tài nguyên và môitrường
- Phát triển du lịch bền vững
* Đối với khách du lịch:
- Mang đến cho khách du lịch những sự lựa chọn thông qua sự kết hợp chính xác cáctour địa phương và tour du lịch trọn gói
- Tạo cơ hội tiếp xúc, học hỏi kinh nghiệm về văn hóa, di sản, lịch sử, di tích, danhthắng
4 Nguyên tắc xây dựng tuyến, điểm du lịch?
Trang 44.1 Phân tích quy mô môi trường bao gồm: việc nghiên cứu môi trường hiện tại và môi
trường trong tương lai gần, các xu hướng liên quan cũng như ảnh hưởng của chúng đếnngành du lịch bao gồm:
- Phân tích môi trường kinh tế, những yếu tố kinh tế có thể ảnh hưởng đến quyết định
đi du lịch như:
+ tỷ giá hối đoái
+ thuế
+ tình trạng lạm phát
+ sự tăng trưởng và phát triển kinh tế
+ hệ thống 2 giá đối với khách du lịch và người dân địa phương
- Phân tích môi trường xã hội bao gồm: phân tích xu hướng thay đổi trong việc nhận
thức về phát triển du lịch, nhận định thức giá trị cá nhân cũng như sự thay đổi này có ảnhhưởng rất lớn tới việc xây dựng tuyến và tour du lịch mới
- Phân tích môi trường chính trị:
+ Phân tích những thay đổi về chính trị, về sự thu hút vốn đầu tư, về chính sáchphát triển du lịch của quốc gia cũng như là của địa phương
+ Bên cạnh đó, phải đề cập đến những thông tin về tình hình chính trị ổn định,chiến tranh, khủng bố, nội chiến, thủ tục cấp – miễn visa cho người nước ngoài…
- Phân tích môi trường công nghệ: Nhà thiết kế tuyến, tour du lịch phải biết nắm bắt
và tận dụng thành tựu của khoa học công nghệ trong việc thu hút sự chú ý của khách dulịch và bán sản phầm tour
- Phân tích môi trường sinh thái: Sự gia tăng nhận thức về vấn đề môi trường toàn câu
dẫn đến việc tăng áp lực lên các nhà phát triển du lịch để du lịch phải có trách nhiệm vàphát triển bền vững, bảo vệ môi trường sinh thái là một nhân tố quan trọng trong việc lựachọn đi du lịch và các hoạt động trong chương trình du lịch
4.2 Phân tích thị trường: phân tích thị trường hiện tại và thị trường tiềm năng, lập kế
hoạc cho sản phẩm Bao gồm 3 nhiệm vụ chính:
- Đo lường và dự báo thị trường
- Xác định khúc, đoạn thị trường
Trang 5- Phân tích khách hàng (khách du lịch): xác định đặc điểm của du khách, nhu cầu, thịhiếu, sự cảm nhận hành vi của họ có ảnh hưởng đến sản phẩm tour hay không.
4.3 Phân tích tình hình cạnh tranh: Việc phân tích tình hình cạnh tranh phải đạt được
+ xác định được xu hướng và những thay đổi của ngành du lịch hiện tại,
+ phát hiện những cơ hội tốt có thể khai thác
+ định hướng được những hiểm họa trong kinh doanh
4.4 Phân tích nguồn lực: Mục tiêu của phân tích nguồn lực là
- nhằm đánh giá những điểm mạnh và điểm yếu của chính doanh nghiệp cũng như làcủa điểm du lịch
- từ những kết quả của sự phân tích này thì nhà điều hành tour sẽ:
+ tận dụng và phát huy được những điểm mạnh và hạn chế những điểm yếu củadoanh nghiệp,
+ đồng thời cùng với việc khai thác những điểm yếu của đối thủ cạnh tranh
4.5 Nguyên tắc định giá: được định giá theo 4 yếu tố
- Định giá theo chi phí:
- Định giá theo cạnh tranh
- Định giá theo nhu cầu
- Định giá cho sản phẩm mới
Trang 65 Qui trình chung xây dựng tuyến du lịch ?
- Nghiên cứu nhu cầu thị trường: đặc điểm tâm lý, sở thích, thị hiếu…
- Nghiên cứu khả năng đáp ứng: giá trị hấp dẫn và khả năng đáp ứng của các tàinguyên du lịch, các nhà cung cấp dịch vụ, mức độ cạnh tranh trên thị trường…
- Xác định khả năng và vị trí của đơn vị quản lý, doanh nghiệp kinh doanh
- Xác định mục đích, ý tưởng của tuyến, chương trình du lịch
- Xác định mức độ giới hạn cũng như quỹ thời gan và mức giá của chương trình dulịch
- Xây dựng lộ trình tuyến tham quan với những điểm du lịch chủ yếu, bắt buộc củachương trình du lịch
- Lên kế hoạch về phương tiện vận chuyển phù hợp, phương án lưu trú, ăn uống
- Chi tiết hóa chương trình với những nội dung, hoạt động tham quan, nghỉ ngơi, giảitrí, mua sắm…
- Xác định giá thành và giá bán chương trình du lịch
- Những quy định bắt buộc của chương trình du lịch
6 Nêu và trình bày khái quát một tuyến du lịch chính theo ĐƯỜNG BỘ của vùng trung du và miền núi Bắc Bộ?
Tuyến Hà Nội – Bắc Kạn (đi đường quốc lộ 3 qua tỉnh Thái Nguyên)
6.1 Khái quát các điểm tham quan du lịch ở tỉnh Bắc Kạn
Bắc Kạn là tỉnh có diện tích 4.795.5km2, số dân là 731,9 nghìn người (năm 2004), cótỉnh lỵ là thị xã Bắc Kạn và các huyện là : Ba Bể, Ngân Sơn, Chợ Đồn, Chợ Mới, Na Rì,Bạch Thông
Bắc Kạn là tỉnh thuộc miền núi trung du phía Bắc, giáp với các tỉnh Cao Bằng, TháiNguyên, Lạng Sơn, Tuyên Quang Tỉnh nằm trên trục Quốc lộ 3
Bắc Kạn là tỉnh miền núi có nhiều phong cảnh đẹp, thơ mộng, hữu tình, có nhiều rừngnguyên sinh với sự đa dạng sinh học cao Bắc Kạn cũng là một tỉnh có truyền thống cáchmạng nên có nhiều di tích lịch sử cách mạng có giá trị Bắc Kạn là nơi sinh sống củanhiều dân tộc ít người, còn giữ được nhiều giá trị văn hóa truyền thống Vì vậy, Bắc Kạn
Trang 7là tỉnh có tiềm năng để phát triển du lịch, có nhiều danh lam thắng cảnh hấp dẫn, đặc sắcvới du khách như chùa Thạch Long, Vườn quốc gia Ba Bể…
6.1.1 Chùa Thạch Long
Chùa Thạch Long nằm bên trong một hang đá vôi thuộc xã Cao Kỳ, huyện BạchThông, cách thị xã Bắc Kạn 20km về phía Bắc, cách quốc lộ 3 chừng 500m Hang độngnày có 2 tầng, được gọi là hang Dương và hang Âm
Từ thế kỷ XVII đã có các vị sư tới đây tu hành, bài trí tượng thờ nên hang đượcgọi là chùa Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, quân đội ta đã sử dụng hang này làmxưởng sản xuất vũ khí
Hiện nay, đây là nơi thờ Phật, thực hiện các nghi lễ Phật giáo của nhân dân địaphương và các ni sư
6.1.2 Vườn quốc gia Ba Bể
* Thông tin chung
- Vườn quốc gia Ba Bể được thành lập ngày 10/11/1992 theo Quyết định số 83/TTG của Thủ tướng Chính phủ và được giao cho UBND tỉnh Cao Bằng quản lý Đến
1996 giao cho Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn quản lý, Quyết định số 911/TTGngày 3/12/1996 của Thủ tướng Chính phủ
- Vườn quốc gia Ba Bể thuộc huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, cách Hà Nội 250km
Có diện tích 7.610 ha gồm :
+ Khu bảo vệ nghiêm ngặt : 3.226,2 ha+ Khu phục hồi sinh thái : 4.083,6 ha+ Khu dịch vụ : 300,2 ha
- Địa hình của Vườn quốc gia có độ cao từ 150 – 1.098m, nằm trong vùng địahình kastr, tuổi tuyệt đối trải qua chế độ lục địa trên 300 triệu năm, tạo thành nhiều hangđộng như Động Puông, động Nà Phòng, động Tiên…
- Trong vườn quốc gia có hồ Ba Bể diện tích 500ha, phần nước cho sông Năng,sông Gâm, có Ao Tiên
- Trong phạm vi Vườn quốc gia có 452 hộ với 2.871 nhân khẩu thuộc xã NamMẫu sinh sống Trong đó có 45% dân tộc Tày, 55% dân tộc Dao, H’Mông
- Vùng đệm là các xã : Khang Ninh, Cao Thượng, Cao Trí, Quảng Khê, HoàngTrì, Đồng Phúc có trên 2.000 hộ, khoảng 15.000 dân, trong đó 50% là người H’Mông,Dao
Trang 8* Tiềm năng du lịch sinh thái chủ yếu
- Vườn quốc gia Ba Bể được xếp vào khu đa dạng sinh học loại A, với 1281loài thực vật, thuộc 140 họ, 672 chi, trong đó có 602 loài thực vật thân gỗ bậc cao, thuộc
425 chi, 126 họ Trong đó có 25 loài hiếm cần được bảo vệ và có 2 loại đặc hữu là trúcdây và táo đỏ
- Những loài cây quý hiếm như : đinh, lát hoa, sa nhân, sơn tuế, đá vôi…
- Hệ thực vật thủy sinh của Vườn quốc giá Ba Bể có các loài quen thuộc như :lau sậy, tóc tiên, rong đuôi chó… Ngoài ra còn có các loài phù du như : ngành tảo giáp,ngành tảo lục, ngành tảo silic, đặc biệt là loài tảo đỏ
+ Cá có giá trị kinh tế gồm các loài : chày đất, cá trắm đen, cá lăng, cá vền,
cá dầm gai, cá chép kính
+ Chim quý có các loài phượng hoàng đất, cốc đế, bói cá lớn, gà tiền (67loại được ghi trong Sách đỏ : 23 loài thú, 6 loài chim, 13 loài bò sát, 2 loài ếch nhái, 10loài cá) và có 9 loài đặc hữu Việt Nam
* Một số hệ sinh thái của Vườn quốc gia Ba Bể
- Hệ sinh thái rừng thường xanh mưa mùa nhiệt đới trên núi đá vôi, phân bốtrên độ cao 400 – 700m, có các loài cây gỗ quý : nghiến, trai, đinh, lát hoa, tràm trắng,tràm vối, dẻ…
- Hệ sinh thái rừng thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở thung lũng, phân 4 tầngvới các loài sấu, thung…
- Hệ sinh thái rừng thường xanh trên núi đất, phân bố ở độ cao 200 – 800mgồm các loài cây : dâu, lát, đinh, sấu ; từ 800m trở lên gồm : dẻ, thích, cốm, lòng mang
Trang 9* Một số điểm phong cảnh trong Vườn quốc gia Ba Bể
Động Puông thuộc hệ thống núi Lung Nham, có sông Năng chảy qua dài200m, sâu 6 – 10m, trong động có nhiều nhũ đá măng rất đẹp Là nơi cư trú của các loàidơi, chim nhạn, chim yến…
Động Nà Phòng nằm ở xã Pó Lù, xã Nam Mẫu, độ cao của động là 200m sovới mựa nước biển, động cao 60 – 70m, rộng 80 – 100m Động còn là di tích lịch sử Đàitiếng nói Việt Nam đã đóng tại đây trong kháng chiến chống Pháp
Thác Đầu Đẳng nằm ở phía Tây Bắc của Vườn quốc gia trên sông Năng, chảyqua 3 bậc chính, mỗi bậc cao 7 – 8m, từ thác đi khoảng 0,5km tới bản Tà Kén của đồngbào Tày, du khách có thể tìm hiểu, tham quan các giá trị văn hóa truyền thống của dântộc Tày
Hồ Ba Bể là hồ được hình thành do đứt gãy kết hợp với sự phong phú của địahình đá vôi Hồ có diện tích gần 500ha, dài 8km, rộng khoảng 2km, nước trong xanh Hồ
Ba Bể được Hội thảo về hồ thế giới họp tháng 3 – 1995 đánh giá là một trong 20 hồ tựnhiên có giá trị của thế giới cần được bảo vệ, ven hồ có loài trúc dây Trên hồ có cácđảo : An Mã, Bà Góa, Khan Củm
Ao Tiên nằm cách hồ Ba Bể khoảng 120m, có diện tích 3 ha, nước trong xanh,
có rừng cây phủ quanh
Động Tiên : nằm ở phía Bắc hồ Ba Bể, cửa động cao 15m, rộng 35m, có nhiềunhũ đá đẹp
Đảo Bà Góa, như một hòn non bộ nổi trên mặt hồ, đã đi sâu vào truyền thuyết,
có nhiều cây đại thụ như si, đa, sung, vối nước…
Đảo An Mã cao hơn mặt nước 25 – 30m, có 92 bậc của trạm thủy văn cũ, trênđảo có đền vua Thủy Tề, có các di tích thời nhà Lê, diện tích khoảng 1km2
Động Ba Cửa cách bến phà Bắc 1,2km, cửa hang quay về xóm Pắc Ngòi cách
hồ 20m, có 3 cửa vào với đường kính 2 – 3m, hang rộng, có phòng ngăn, có nhiều nhũ đáđẹp, có một ngách dài 70m thông ra hồ
Động Thẩm Kít : men theo đường mòn từ bến phà Bắc xuống bản Pắc Ngòikhoảng 2km là gặp động, động cao 15 – 20m, có nhiều phòng, vách ngăn, có phòng rộngtới 100 – 150m2 Động là nơi có nhiều kiến tạo Karst như cột đá, măng nhũ đá đẹp, tránglệ
Vườn quốc gia còn có tiềm năng du lịch văn hóa phong phú, găn với các dântộc Dao, H’Mông, Tày
Trang 10Hiện nay trong khu vực Vườn Quốc gia Ba Bể và ở thị trấn Chợ Rã đã có hệthống nhà nghỉ, bến tàu thuyền đáp ứng nhu cầu lưu trú, ăn uống, tham quan của dukhách.
Hệ thống giao thông trong Vườn quốc gia có chất lượng tốt, thuận tiện choviệc tham quan, nghiên cứu của du khách
6.2 Các tour du lịch chính trên tuyến
- Hà Nội – Vườn quốc gia Ba Bể (3 ngày 2 đêm, đi theo quốc lộ 3 và tỉnh lộ từ PhủThông đến Chợ Rã)
- Hà Nội – Bắc Kạn – Cao Bằng – Lạng Sơn (5 ngày 4 đêm)
7 Nêu và trình bày khái quát một tuyến du lịch chính theo ĐƯỜNG BỘ của vùng du lịch đồng bằng và duyên hải Bắc Bộ?
Tuyến du lịch HÀ NỘI – BẮC NINH
Bắc Ninh là một tỉnh có diện tích nhỏ nhất Việt Nam thuộc đồng bằng sông Hồng vànằm trên Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ Bắc Ninh tiếp giáp với vùng trung du Bắc bộtại tỉnh Bắc Giang Thành phố Bắc Ninh nằm cách trung tâm Hà Nội30 km về phía đôngbắc phía tây và tây nam giáp thủ đô Hà Nội, phía bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phíađông và đông namgiáp tỉnh Hải Dương, phía nam giáp tỉnh Hưng Yên Trong quy hoạchxây dựng, tỉnh này thuộc vùng Thủ đô Ngoài ra, Bắc Ninh còn nằm trên 2 hành langkinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và Nam Ninh - LạngSơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh
Bắc Ninh là tỉnh nổi tiếng với dân ca quan họ Bắc Ninh là trung tâm xứ Kinh Bắc cổxưa Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh có khoảng 41 lễ hội đáng chú ý trong năm đượcduy trì Trong đó có những lễ hội lớn như: hội chùa Dâu, hội Lim, hội đền Đô, hội đền BàChúa Kho Con người Bắc Ninh với truyền thống văn hoá, hiếu khách, cần cù và sángtạo, với những bàn tay khéo léo mang đậm nét dân gian của vùng trăm nghề như tơ tằm,gốm sứ, đúc đồng, trạm bạc, khắc gỗ, làm giấy, tranh vẽ dân gian nổi bật là những lànđiệu dân ca quan họ
Bắc Ninh có định hướng trở thành vùng đô thị lớn: Văn hiến, văn minh, giàu bản sắc (củavăn hóa Kinh Bắc), hiện đại, sinh thái và bền vững, trên nền tảng kinh tế trí thức; có cơ
sở hạ tầng đồng bộ và hiện đại; có môi trường sống tiện nghi, trong lành đáp ứng nhu cầuvật chất ngày một cao của nhân dân Đến năm 2020, Bắc Ninh đạt tiêu chí đô thị loại I,
Trang 11trở thành TP trực thuộc Trung ương Điều chỉnh, cải tạo, nâng cấp các KĐT, KCN cũtheo hướng hiện đại, bền vững, gắn chương trình phát triển nông thôn mới với lộ trìnhphát triển đô thị toàn tỉnh theo phương châm "Chùm đô thị hướng tâm, nhất thể hóa đôthị nông thôn".
Bắc Ninh có một nền văn hoá nhân văn đặc sắc, một vùng quê văn hiến có nhiều di tíchlịch sử văn hoá, lễ hội dân gian, làng nghề truyền thống Những dấu ấn lịch sử sống độngtruyền thống văn hoá Việt Nam, đậm đà bản sắc Kinh Bắc, được kết tinh trong những disản văn hoá, các lễ hội dân gian Bắc Ninh là địa phương thứ 3 xây dựng văn miếu có tầm
cỡ, qui mô, trang trọng Văn miếu Bắc Ninh nổi tiếng với 677 vị đại khoa, chiếm 1/3 tổng
số vị đại khoa của cả nước đã được vinh danh Văn miếu Bắc Ninh với những trang lịch
sử văn hóa, giáo dục còn lưu giữ được cho đến ngày nay là những cứ liệu vô cùng giá trịcủa nền văn minh ở vùng Kinh Bắc, nơi có Luy Lâu cổ, nơi Sỹ Nhiếp lần đầu dạy ngườiViệt học chữ Chùa Dâu, Chùa Phật Tích là những nơi phát tích của Phật giáo ViệtNam, Chùa Dận Bắc Ninh nổi tiếng với các làn điệu quan họ, các làng nghề như làngtranh Đông Hồ, làng gốm Phù Lãng, gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, rèn sắt Đa Hội, đúc đồng ĐạiBái, dệt Hồi Quan Các di tích lịch sử đáng kể có đền Đô - thờ tám vị vua triều Lý,đềnPhụ Quốc, đình làng Đình Bảng, đình Tam Tảo v.v Bắc Ninh có nhiều đặc sản Bắc Ninhnhư bánh phu thê Đình Bảng, bánh tẻ làng Chờ, bánh khúc làng Diềm, bánh đúc Đình Tổ,nem Bùi (bùi xá), rượu nếp làng Cẩm , cháo cá Bắc Ninh, tương Đình Tổ, bánh tro, bánhgai tươi, bánh gio Phủ Từ Con người Bắc Ninh mang trong mình truyền thống văn hoá,hiếu khách, cần cù và sáng tạo, với những bàn tay khéo léo mang đậm nét dân gian củavùng trăm nghề như tơ tằm, gốm sứ, đúc đồng, trạm bạc, khắc gỗ, làm giấy, tranh vẽ dângian
1 Lễ Hội
Hàng năm, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh diễn ra hơn 300 lễ hội lớn nhỏ khác nhau Một số
lễ hội tiêu biểu được liệt kê dưới đây (Theo âm lịch)
Lễ hội Làng Đại Lâm (xã Tam Đa, huyện Yên Phong) được tổ chức vào 24-25-26 thắnggiêng, hội có môn bơi bơi chải kỉ niệm chiến thắng Sông Như Nguyệt -
Lễ hội Lim (thị trấn Lim, huyện Tiên Du) được tổ chức vào 13 - 15 tháng giêng
Lễ hội làng Tam Tảo, xã Phú Lâm, huyện Tiên Du; được tổ chức vào mồng 10 tháng 02hàng năm
Lễ hội làng Kim Chân (làng Tiến sỹ) Được tổ chức vào ngày 26 đến 28 tháng 2
Trang 12Lễ hội Đền Đô (Đình Bảng, thị xã Từ Sơn) để kỷ niệm ngày đăng quang của vua Lý Thái
Tổ - 15 tháng 3 năm Canh Tuất 1010, và tưởng niệm các vị vua nhà Lý
Lễ hội Phù Đổng (của bốn xã trong đó có xã Phù Đổng huyện Tiên Du) ngày 9- tháng 4
để kỷ niệm vị anh hùng dân tộc Phù Đổng Thiên Vương
Lễ hội Thập Đình (của mười làng thuộc hai huyện Quế Võ và Gia Bình) để kỷ niệm trạngnguyên đầu tiên của Việt Nam tức Thái sư Lê Văn Thịnh và Doãn Công (Cao DoãnCông)
Lễ hội Cao Lỗ Vương ngày 10 - tháng 3 ở làng Tiểu Than (làng Dựng) xã Vạn Ninh vàlàng Đại Than (làng Lớ) ở xã Cao Đức, huyện Gia Bình
Vua Lý Thái Tổ
Lễ hội Đồng Kỵ ngày 4 - tháng Giêng
Lễ hội Chùa Dâu ngày 8 - tháng 4
Có câu:
Mùng bảy hội Khám, mùng tám hội Dâu
Mùng chín đâu đâu cũng về hội Gióng
Lễ hội làng Diềm - Từ ngày mồng 5 đến ngày mồng 7 tháng 2 âm lich hằng năm - Tạilàng Viêm Xá (còn gọi là làng Diềm), thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
2 Di tích, di sản văn hóa
Bắc Ninh có 1.259 di tích lịch sử văn hoá, trong đó có 495 di tích được nhà nước côngnhận xếp hạng (trong đó có 194 di tích xếp hạng cấp Quốc gia, 301 di tích xếp hạng cấptỉnh) Quan họ Bắc Ninh đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên HiệpQuốc xếp vào Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại
3 Làng nghề truyền thống
Bắc Ninh từ lâu đã nổi tiếng với nhiều làng nghề truyền thống có tuổi đời hàng trăm năm,làm ra những sản phẩm thủ công tinh xảo, độc đáo Hiện nay, Bắc Ninh có 62 làng nghề,chủ yếu trong các lĩnh vực như đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu, sản xuất giấy, gốm, sắt, thép táichế, đúc đồng Các làng nghề đã góp phần rất lớn trong việc giải quyết công ăn việc làm
Trang 13cho nhân dân trong tỉnh (trên 72.000 lao động thường xuyên và trên 10.000 lao động thờivụ).
4 Giao thông
Bắc Ninh là tỉnh có hệ thống giao thông đa dạng, gồm cả đường bộ, đường sắt và đường sông Trong đó, hệ thống đường bộ được đánh giá là tương đối đồng bộ so với các tỉnh khác trong cả nước
Về đường bộ, tỉnh có 5 quốc lộ chạy qua là:
Tuyến Quốc lộ 1A chạy từ Hà Nội lên Lạng Sơn)
Tuyến Quốc lộ 18 (Nội Bài - Hạ Long - Cảng Cái Lân - Móng Cái)
Tuyến Quốc lộ 38 từ thành phố Bắc Ninh đi Hà Nam
Cao tốc quốc lộ 3 mới Hà Nội - Bắc Ninh - Thái Nguyên
Quốc lộ 18B được nâng cấp theo Quyết định số 2546/QĐ-BGTVT từ tỉnh lộ 282 đoạn (Quế Võ - Gia Bình - Thuận Thành thuộc tỉnh Bắc Ninh) nối Quốc lộ 18 (tại Quế Võ) vớiQuốc lộ 5 (Hà Nội - Hải Phòng) tại Thị trấn Trâu Quỳ - Gia Lâm - Hà Nội (cách cầu vượtThanh Trì khoảng 2 km) Ngoài ra, Quốc lộ 5 nằm liền kề với Bắc Ninh
Cùng với quy hoạch vành đai 3, 4 của Hà Nội đều đi qua hầu hết các huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Bắc Ninh tạo ra một mạng lưới giao thông đồng bộ, liên hoàn giữa Hà Nội với Bắc Ninh, và giữa Bắc Ninh với các tỉnh lân cận Trong tỉnh có các tỉnh lộ như
179,276, 280, 281, 283, 285, 287, 291, 295 kết nối các địa phương trong tỉnh với nhau.Tỉnh Bắc Ninh hiện có nhiều tuyến xe buýt đi tới các tỉnh thành lân cận và tất cả các huyện trong tỉnh:
Liên tỉnh
Long Biên - Từ Sơn
B Long Biên - Trung Mầu (giáp ranh với các xã Tri Phương và Đại Đồng, Tiên Du)
54 Long Biên - Bắc Ninh (khoảng 30 km nối Trung tâm Hà Nội với Trung tâm Bắc Ninh)
52 Công viên Thống Nhất - Lệ Chi (giáp ranh với huyện Thuận Thành)
203 Hà Nội - Bắc Ninh - Bắc Giang
Trang 14204 Hà Nội - Thị trấn Hồ (Huyện Thuận Thành)
Hà Nội - Từ Sơn - Yên Phong - Hiệp Hòa (Bắc Giang)
Hà Nội (Long Biên)- Gia bình - Lương Tài
Bắc Ninh - Quế Võ - TX Chí Linh (Hải Dương)
217 Bắc Ninh - Cầu Hồ - TP Hải Dương
Trong tỉnh
Bắc Ninh - Cầu Hồ - Lương Tài
Bắc Ninh - Sao Đỏ (Hải Dương)
Bắc Ninh - Yên Phong
Bắc Ninh - Cầu Hồ - Kênh Vàng
Bắc Ninh - Đông Xuyên (Yên Phong) - TX Từ Sơn
Đền Đô - Phật Tích - Thị trấn Lim
Từ Sơn - Thị trấn Chờ - Bến đò Đông Xuyên
Đền Đô - Phật Tích - Cầu Hồ - Chùa Bút Tháp - Chùa Dâu - Đông Côi
KCN VSIP - Phù Khê (Công viên Nguyễn Văn Cừ)
Đền Đô - Chợ Chì (Quế Võ)
Về đường sắt, Bắc Ninh có tuyến đường sắt Hà Nội - Đồng Đăng chạy qua và tuyến đường sắt Hà Nội - Bắc Ninh - Hạ Long (Quảng Ninh) đang được xây dựng
Về đường thủy, Bắc Ninh có hệ thống sông Cầu, sông Thái Bình và sông Đuống nối
ra sông Hồng; các sông nhỏ như sông Ngũ Huyện Khê, sông Dâu, sông Đông Côi, sông Bùi, ngòi Tào Khê (đang được nâng cấp để thoát nước cho thành phố), sông Đồng Khởi, sông Đại Quảng Bình
Cảng nội địa, Bắc Ninh có 5 cảng: Cảng Đáp Cầu,Cảng Á Lữ, Cảng Đức Long, Cảng Bến Hồ, Cảng Kênh Vàng
Về đường hàng không, Bắc Ninh nằm liền kề với Sân bay Quốc tế Nội Bài Từ trung tâm Tp.Bắc Ninh đến Sân bay Quốc tế Nội Bài khoảng 30 km được nối bằng QL 18
Trang 158 Nêu và trình bày khái quát một tuyến du lịch chính theo ĐƯỜNG KHÔNG của vùng du lịch đồng bằng và duyên hải Bắc Bộ?
9 Nêu và trình bày khái quát một tuyến du lịch CHUYÊN
ĐỀ của vùng du lịch đồng bằng và duyên hải Bắc Bộ?
Tuyến du lịch Làng nghề truyền thống BẮC NINH
10 Nêu và trình bày khái quát một tuyến du lịch chính theo ĐƯỜNG BỘ của vùng du lịch Bắc Trung Bộ?
11 Nêu và trình bày khái quát một tuyến du lịch CHUYÊN
ĐỀ của vùng du lịch Bắc Trung Bộ?
Tuyến du lịch DI SẢN CỐ ĐÔ Huế
1.1.2 Trung tâm du lịch Thừa Thiên- Huế:
a.Vị trí địa lý: Tỉnh Thừa thiên – Huế cách Hà Nội 660 km, TPHCM 1.080 km về đường
bộ Diện tích 5.010 km2, dân số 1.041.900 người Tỉnh Thừa Thiên-Huế gồm có TP Huế
và 8 huyện Dân tộc có người Kinh, Tà ôi, Cà tu, Bru, Vân kiều, Hoa… Địa hình miềnnúi chiếm khoảng ¼ diện tích, trung du chiếm khoảng ½ diện tích, đồng bằng chiếm1.400 km2 Hầu hết các con sông lớn của Thừa thiên – Huế như sông Ô lâu, sông Bồ,sông Hương, sông Truôi, sông Cầu hai đều bắt nguồn từ dãy Trường sơn chảy qua đồngbằng đổ ra biển Bờ biển dài 120 km có cảng Thuận an và vịnh Chân mây với độ sâu 18-
20 m,có sân bay Phú bài, Thừa thiên-Huế là tỉnh có sự đa dạng về cảnh quan thiên nhiên
và yếu tố nhân tạo đã tạo cho Huế một nét đẹp hài hòa Huế còn lưu giữ được hàng trăm
di tìch lịch sư – văn hóa và Huế đã được tổ chức UNESCO của Liên hiệp quốc công nhận
là di sản văn hóa thế giơi ngày 11.12.1993
b.Lễ hội ở Thừa Thiên – Huế:
+ Lễ hội điện Hòn chén: diễn ra 1 năm 2 kỳ: tháng 2 (lễ Xuân tế), tháng 7 (lễ Thu tế) Lễhội điện Hòn chén được tổ chức trên ngọn núi Ngọc trản và đình làng Hải cát – huyệnHương trà
Trang 16+ Lễ hội Cầu ngư ở Thái dương hạ: là hội làng của nhân dân làng Thái dương hạ- huyệnPhong điền tổ chức vào ngày 12 tháng giêng âm lịch hàng năm để tưởng nhớ vị thànhhoàng của làng là Trương Quí Công có công dạy cho dân nghề đánh cá và buôn bán ghemành
+ Hội chợ Xuân Gia lạc: ở làng Nam phổ có từ thời Minh Mạng (1820 – !840), chợ Gialạc trở thành chợ phiên ngày tết họp từ mồng 1- mồng 3 Trong ngày hội có diễn ra cuộcchơi bài chòi, bài ghế, hát giả gạo, bài thái
+ Hội vật võ làng Sình: huyện Hương phú Hàng năm cứ đến ngày 10.1 âm lịch, các lòvật trong vùng nô nức kéo đến hội vật võ làng Sình để tranh tài, giật giải, ngoài trai trángdân làng còn có hàng ngàn thanh niên nam nữ từ các nơi khác kéo đến
+ Hội bơi trải: là lễ hội dân gian được tổ chức vào đầu mùa xuân Tục đua trải có nguồngốc cầu mưa từ thời cổ sơ có cư dân sống bằng nông nghiệp, được tổ chức ở Phu vân lâu(sông Hương)
c.những điểm tham quan ở Thừa Thiên – Huế
* Kinh thành Huế: Được xây dựng từ đời vua Gia Long 1805 và hoàn thành vào đời
vua Minh Mang năm 1832 Kinh thành Huế được xây dựng theo kiến trúc phương Tây,kiểu vauban với kiến trúc thành quách của phương Đông Có 3 vòng thành: Phòng thành( kinh thành ), Hoàng thành và Tử cấm thành
- Phòng thành (kinh thành):Có mặt bằng hình vuông, diện tích khoảng 5 km2, tường
thành chu vi 11 km Phòng thành có 10 cửa ra vào xây dựng năm 1809
+ Ở phía Nam : cửa Thượng tứ (cửa Đông nam), cửa Thể nhơn (cửa Ngăn), cửa Quảngđức (cửa Sập), cửa Chánh nam (cửa nhà Đồ)
+ Ở phía Đông : cửa chánh Đông (cửa Đông ba), cửa Đông bắc (cửa Kẻ trái)
+ Ở phía Tây : cửa Chánh tây, cửa Tây nam (cửa Hữu)
+ Ở phía Bắc : cửa Chánh bắc (cửa Hậu), cửa Tây bắc (cửa An hoà)
Những công trình xây dựng ở phòng thành gồm có:
• TRẤN BÌNH ĐÀI : là 1 pháo đài hình lục giác không đều, xây ở phía Đông bắc kinhthành Thành được đắp vào đời Gia long (1805) được gọi là Thái bình đài Năm 1836 vuaMinh Mạng đổi tên là Trấn bình đài Bên trong có 2 cái hồ nằm châu đầu lại với nhau nênđược gọi là đồn Mang cá
Trang 17• PHU VĂN LÂU : là một cái lầu duyên dáng mặt quay về hướng Nam, là nơi niêm yếtchiếu thư của nhà vua hay kết quả của các cuộc thi Hội, thi Đình, đặt ở phía trước Kỳ đài.Phía trước Phu Văn lâu có 1 cái sân rộng dẫn đến Nghinh lương đài Phu Văn lâu đượcxây dựng từ thời Gia Long (1819) Năm 1829 đã từng có cuộc đấu giữa voi và cọp để vuaMinh Mạng ra xem Cơn bão năm Thìn 1904 đã làm bay mất PhuVăn lâu, sau đóvuaThành Thái đã cho làm lại giống như cũ
• KỲ ĐÀI: cột cờ được xây dựng vào tháng 10.1807 Sau đó vua Minh Mạng sữa sang lạicho đẹp hơn Kỳ đài cao 17m4, chia làm 3 tầng Trên đài có 8 cái đài nhỏ để 8 khẩu đạibác và 2 cái điếm canh ở 2 bên tầng thứ 3 Năm 1846 vua Thiệu Trị cho thay cột cờ mới.Năm 1904 cơn bão đã làm gãy Kỳ đài Năm 1948 kỳ đài được làm bằng bê tông cốt thépcao 37m, chia làm 4 tầng
• TAM PHÁP TY : là cơ quan nhận đơn khiếu nại của những người bị triều đình xử oan
ức Tam Pháp ty gồm có đại diện của 3 cơ quan : Bộ hình, Viện đô sát, Đại lý tự TamPháp ty được lập dưới thời Minh Mạng 1832 Hàng tháng vào các ngày 6, 16, 26 thì TamPháp ty khai hội để nhận các đơn kiện Nếu không gặp đúng ngày ấy, người nộp đơn phảiđánh trống Đăng văn Năm 1901 vua Thành Thái lập lại nhưng đến năm 1906 thì bị bãi
bỏ Một phần của Tam Pháp ty ngày xưa được sử dụng làm Tỳ bà viện ngày nay
• PHỦ TÔN NHƠN : là cơ quan quản lý những người trong dòng họ nhà Nguyễn PhủTôn nhơn được thành lập năm 1832 dưới triều Minh Mạng Năm 1890 phủ đã được trùng
tu Những người làm việc ở phủ Tôn nhơn phải là người trong hoàng tộc, giải quyết về hộtịch, xét phong tước, gả công chúa, xử kiện, cúng kỵ, tế lễ ở các đền miếu, lăng tẩm PhủTôn nhơn bị hư hại nặng năm 1968
• BẢO TÀNG CỔ VẬT HUẾ : tòa nhà nguyên là điện Long an trong cung Bảo định xâydựng năm 1845 Năm 1885 Pháp chiếm cung Bảo định, điện Long an bị tháo dở và xếpvào kho Năm 1909 vua Duy Tân cho dựng điện Long an làm thư viện cho Quốc tử giámgọi là Tân thơ viện Ngày 16.11.1913 Hội Đô thành hiếu cổ được thành lập sưu tậpnhững cổ vật có giá trị về lịch sư – văn hóa ở kinh thành Huế và những hiện vật Chăm.Ngày 24.8.1923 Khâm sứ Trung kỳ Pasquier và vua Khải Định đã ban sắc lệnh dùng tòanhà này làm Bảo tàng Khải Định Năm 1947 đổi tên là Tàng cổ viện Năm 1958 mang tên
là Viện bảo tàng Huế Hiện nay nó được mang tên là Bảo tàng cổ vật hay Bảo tàng mỹthuật cung đình Huế
Ngoài sân của Bảo tàng có khoảng 20 hiện vật bằng đá và kim loại như: bia đá, súng thầncông, tượng quan, vạc đồng, chuông đồng
Nội thất trưng bày khoảng 300 hiện vật và chia thành 6 khu vực:
Trang 18• TRƯỜNG QUỐC TỬ GIÁM : là trường đại – trung học độc nhất của VN ở kinh thànhHuế Ngôi nhà trung tâm của Quốc tử giám là Di luân đường ghi năm tạo lập Minh Mạng
1829 và dời về chỗ mới Duy Tân 1908 Học sinh của trường gồm có 3 loại tôn sanh (concháu nhà vua), ấm sanh (con các quan), học sanh (con dân học giỏi)
• TÒA THƯƠNG BẠC : là nơi tiếp xúc việc buôn bán giữa các quan triều Nguyễn và đạidiện nước Pháp dựng ở trước kinh thành Huế Dưới thời vua Gia Long, Minh Mạng ởphía Đông bắc của kinh thành có Cung quán để đón tiếp sứ thần Đến năm 1875 vua TựĐức đã cho dời Cung quán ra chỗ hiện nay Tòa Thượng bạc ngày nay không còn vết tích
gì, địa điểm cũ được xây dựng nhà hát Hưng đạo
• CỬU VỊ THẦN CÔNG : là 9 khẩu súng đặt trong 2 ngôi nhà gần cửa Thể nhơn vàQuảng đức ở kinh thành Huế Ngày 31.1.1803 vua Gia Long ra lệnh tịch thu tất cả những
đồ dùng bằng đồng của triều đại Tây sơn để đúc thành 9 khẩu súng Người ta đã lấy tên 4mùa: xuân – hạ- thu – đông và ngũ hành: kim – mộc – thủy – hỏa – thổ để đặt tên cho 9khẩu súng và được phong “Thần oai vô địch thượng tướng quân”
- Hoàng thành : (Đại nội)
Ở giữa kinh thành là nơi đặt những cơ quan cao nhất của chế độ quân chủ và là nơi thờ tựcác vua chúa Xây dựng vào năm 1804, hình chữ nhật, chu vi khoảng 2.456m Hoàngthành có 4 cửa:
+ Cửa Ngọ môn : dành cho vua đi khi có đoàn ngự đạo theo hầu
+ Cửa Hòa bình : cho vua đi chơi
+ Cửa Hiển nhơn : (phía trái) dành cho quan lại và lính tráng ra vào làm việc
+Cửa Chương đức : (phía phải) dành cho các bà trong nội cung
- CỬA NGỌ MÔN – LẦU NGŨ PHỤNG:
Lúc xây hoàng thành năm 1804 vua Gia long đã đặt ở đây là Nam khuyết đài Năm 1806xây dựng điện Càn nguyên trên Nam khuyết đài Năm 1833 vua Minh Mạng cho tháo dởđiện Càn nguyên làm cung Càn thành, cải tạo Nam khuyết đài thành cửa Ngọ môn CửaNgọ môn là 1 toà nhà hình chữ U gồm có 2 phần: phần dưới là đài xây bằng gạch, đáThanh hóa, Quảng nam, phần trên là lầu kiến trúc bằng gỗ và ngói
Trang 19Lầu Ngũ phụng có 2 tầng: dưới lớn, trên nhỏ, làm bằng gỗ lim Tòa nhà có 100 cây cột,phần phía dưới để trống, chỉ trừ tòa nhà ở chính giữa, có hệ thống cửa kính để vua ngồi
dự lễ, còn tầng lầu giành riêng cho bà Hoàng thái hậu và các bà phi trong cung cấm
- SÂN ĐAI TRIỀU NGHI – ĐIỆN THÁI HÒA :
Là cái sân rộng ở trước điện Thái hòa, lát đá Thanh hóa chia làm 2 bậc: bậc trên giànhcho cac quan văn, quan võ (từ tam phẩm trở lên) Hai bên sân có 2 hàng trụ đá là Phẩmsơn Dưới cùng còn một nửa giành cho các kỳ cựu hương lão, thích lý, 2 con kỳ lân ở 2bên nhắc nhở mọi người phải trang nghiêm ở chốn triều nghi Kế tiếp là hồ Thái dịch đàonăm 1833, ở 2 đầu cầu Trung đạo có dựng 2 phường môn
Điện Thái hòa là nơi tổ chức các buổi đại triều, lễ lên ngôi, lễ phong Hoàng thái tử, tiếpđón sứ thần các nứơc lớn, lễ vạn thọ Điện được vua Gia Long xây dựng năm 1805 Năm
1833 vua Minh Mạng xây dựng điện Thái hòa ở vị trí như hiện nay, phía trong là ngaivàng để trên 1 cái bệ 3 tầng Năm 1899 vua Thành Thái cho lát gạch hoa kiểu Tâyphương Năm 1923 Khải Định cho làm 2 lớp gương ở phía trước và phía sau
- Khu vực thờ các vua chúa nhà Nguyễn :
• TRIỆU MIẾU : thờ ông bà Triệu tổ của dòng họ nhà Ngyễn Triệu miếu được vua GiaLong xây dựng năm 1803 Gian giữa thờ ông bà Nguyễn Kim, trong miếu có thần Khố(phía Đông) và Thần trù (phía Tây), phía sau miếu có 2 cửa: Tập Khánh (bên trái), DiễnKhánh (bên phải) Phía trái đối với cửa Tập Khánh là cửa Nguyên chí, phía phải đối vớicửa Diễn Khánh là cửa Trường hựu
• THÁI MIẾU: thờ 9 đời chúa Nguyễn, được xây dựng năm 1804 dưới triều Gia Long.Gian chính giữa thờ Thần khám và Thần vị ông bà Nguyễn Hoàng (chúa Tiên) – thất thờông bà Nguyễn Phúc Nguyên (chúa Sãi) – ông bà Nguyễn Phúc Lan (chúa Thượng) –ông bà Nguyễn Phúc Tần (chúa Hiền) – ông bà Nguyễn Phúc Trăn (chúa Ngãi) – ông bàNguyễn Phúc Chu (chúa Minh) – ông bà Nguyễn Phúc Chú – ông bà Nguyễn Phúc Khoát(Võ Vương) – ông Nguyễn Phúc Thuần
• HƯNG MIẾU: thờ ông bà Nguyễn Phúc Luân thân sinh vua Gia Long Miếu xây dựngnăm 1821 Khám thờ Nguyễn Phúc Luân ở giữa trước miếu có thần Khố, Thần trù, bêntrái cửa Chương Khánh, bên phải cửa Dục Khánh Mặt tường phía Bắc bên trái có cửa Tritường, bên phải cửa Ưng tường
• THẾ MIẾU: thờ 10 vị vua đới nhà Nguyễn, xây dựng năm 1821 Chính giữa thờ vuaGia Long – vợ chồng vua Minh Mạng – vợ chồng Thiệu Trị – vợ chồng Tự Đức – vợ
Trang 20chồng Kiến Phúc – vợ chồng Đồng Khánh – vợ chồng Khải Định ngày 25.1.1959 chínhquyền Sài gòn đã đưa 3 vị vua: Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân về thờ ở Thế miếu
• HIỂN LÂM CÁC : xây dựng năm 1821 có 3 tầng Toàn bộ 3 tầng lầu của Hiển lâm cácxây dựng trên nền hình chữ nhật (21m*13m) Tầng 2 có đặt án thư và sập ngự sơn sonthếp vàng Hiển lâm các được xem như đài kỷ niệm để ghi công tích của các vua triềuNguyễn
• CỬU ĐỈNH : là 9 đỉnh đồng lớn nhất VN được đặt trước Hiển lâm các, là sản phẩm củathợ thủ công nổi tiếng phường đúc Huế được đúc từ năm 1835 – 1837 Mỗi đỉnh có 1 tênriêng ứng với niên hiệu của mỗi vị vua Cho đến năm 1958 chỉ mới dùng 7 đỉnh, còn 2đỉnh: Dụ và Huyền chưa dùng đến Mỗi đỉnh đều khác nhau về kích thích và trọng lượng,
có 17 hình ảnh tiêu biểu của đất nước được chạm khắc trên Cửu đỉnh
- Khu vực Hoàng Thái hậu và Thái Hoàng thái hậu ăn ở :
• ĐIỆN PHỤNG TIÊN : dành cho các bà trong nội cung đến cúng bái trong những ngàykhánh tiết, đản kỵ Trong điện đặt 7 án thờ vua và hoàng hậu giống như ở Thế miếu
• CUNG DIÊN THỌ : là nơi dành riêng cho các bà Hoàng Thái hậu ở Cung được dựng
từ thời Gia Long ( 1803 ) có tên là Trường thọ, năm 1820 vua Minh Mạng đổi là Từ Thọ,năm1848 Tự Đức đổi là Gia Thọ, năm 1904 Thành Thái đổi là Ninh thọ, năm 1916 KhảiĐịnh đổi là Diên thọ
• CUNG TRƯỜNG SINH : dùng làm nơi tiêu khiển cho các bà trong nội cung Năm
1822 Minh Mạng đặt là cung Trường ninh, năm 1843 Thiệu Trị đặt là Ngũ đại đồngđường Đến thời Khải Định cung Trường ninh được đổi thành cung Trường sinh
• TỬ CẤM THÀNH : (Đại nội) là khu vực dành riêng cho vua và gia đình nhà vua.Thành được xây dựng năm 1804 có tên là Cung thành, năm 1822 Minh Mạng đổi tên là
Tử cấm thành Tử cấm thành liên lạc với hoàng thành bằng 7 cửa : Đại cung môn, Tườngloan, Nhi trượng, Hưng khánh, Đông an, Gia tường, Tây an
• ĐIỆN CẦN CHÁNH : là nơi làm việc thường ngày của các vua Nguyễn, xây dựng năm
1811 và được vua Khải Định sơn son thếp vàng vào đầu thế kỷ XX Gian giữa điện Cầnchánh để 1 cái long sàng và nhiều gối tựa để nhà vua ngồi làm việc
• ĐIỆN KIẾN TRUNG : năm 1827 vua Minh Mạng cho xây Minh viễn lầu Năm 1915vua Duy Tân cho xây dựng trên nền cũ một kiến trúc Tây phương gọi là lầu Du cửu.Khoảng năm 1916-1917 Khải Định cho xây dựng lớn hơn gọi là điện Kiến trung
Trang 21• DUYỆT THỊ ĐƯỜNG : là nhà hát trong cung đình xây dựng năm 1826 Nhà hát hìnhchữ nhật, sân khấu hình vuông đặt ngay giữa sân nhà Phía sau bức tường là một phòngrộng chứa các bản tuồng, hia mão, đạo cụ biểu diễn Vị trí cao nhất ở trong phòng là cáikhán thờ ông tổ sư nghề hát bội Dưới thời Mỹ chính quyền miền Nam đã sử dụng Duyệtthị đường làm trường Am nhạc Huế ( nay là trường Cao đẳng nghệ thuật miền Trung ).
• THÁI BÌNH LÂU : là nơi vua nghỉ hoặc đọc sách, xây dựng năm 1821 có tên là Trínhân đường ( nhà làm văn ) Năm 1887 Đồng Khánh cho xây dựng 1 lầu mới có tên làThái bình ngự lãm thư lâu
* Khu vực lăng tẩm của các vua Nguyễn
LĂNG GIA LONG : là một quần thể lăng tẩm của nhiều thành viên trong gia đình vàdòng họ của nhà vua
- Lăng Trường phong của chúa Nguyễn Phúc Chú
- Lăng Quang hưng của 1 bà vợ chúa Nguyễn Phúc Tần
- Lăng Vĩnh mậu của 1 bà vợ chúa Nguyễn Phúc Trăn
- Lăng Thoại thánh của mẹ vua Gia Long
- Lăng Hoàng cô của công chúa Long Thành ( chị ruột vua Gia Long)
- Lăng Thiên thọ hữu của Thuận Thiên Cao hoàng hậu ( vợ thứ vua Gia Long )
- Lăng Thừa Thiên Cao hoàng hậu ( vợ chính vua Gia Long )
Công việc xây dựng lăng mộ vua Gia Long bắt đầu từ ngày 11.5.1814 và đã phong núi đó
là Thiên thọ sơn và kéo dài trong 6 năm từ 1814-1820 Lăng Gia Long ở vị trí xa xôi nhấtđối với trung tâm cố đô nhưng là khu lăng hoành tráng nhất về cảnh quan thiên nhiên,mật độ kiến trúc thưa, đơn giản nhất là khu mộ vua và hoàng hậu
LĂNG MINH MẠNG :
Năm 1826 vua Minh Mạng đã cho các nhà địa lý đi xem đất để chuẩn bị xây lăng chomình Tháng 4.1840 nhà vua lên núi Cẩm kê và đổi tên thành Hiếu sơn Tháng 9.1840triều đình huy động hơn 3.000 quân lính và thợ xây dựng vòng la thành chung quanh.Ngày 21.1.1841nhà vua băng hà lúc 50 tuổi Ngày 20.2.1841 vua Thiệu Trị đã cho gần1vạn lính và thợ để xây dựng lăng Lăng Minh Mạng là một tổng thể kiến trúc qui môgồm khoảng 40 công trình lớn nhỏ nằm trên một khu đồi núi, sông hồ thoáng mát Bố cụckiến trúc được bố trí đối xứng nhau từng cặp qua trục chính xuyên tâm lăng Tất cả được
Trang 22sắp xếp chặt chẽ như xã hội đương thời, được tổchức theo chính sách trung ương tậpquyền
LĂNG THIỆU TRỊ : khi vua Thiệu Trị vừa băng hà ( 4.11.1847 ) vuaTự Đức đã cho thầyđịa lý đến núi Thuận đạo xây dựng Xương lăng Số binh lính và thợ thuyền được huyđộng rất đông nên chỉ sau 3 tháng thi công các công trình kiến trúc chính đã hoàn thành.Trong lăng Thiệu Trị còn có 3 ngôi mộ khác của gia đình nhà vua :
- Lăng Hiếu đông của mẹ vua ( bà Hồ Thị Hoa )
- Xương thọ lăng của vợ vua ( bà Từ Dũ )
- Khu lăng Tảo thương ( con vua Thiệu Trị chết lúc còn nhỏ )
LĂNG TỰ ĐỨC : khi xây dựng xong lăng nhà vua còn sống thêm 16 năm nữa (1883 ).Lăng Tự Đức còn gọi là Khiêm cung, Khiêm lăng xây dựng ở làng Dương xuân thượng.Riêng bài Khiêm cung ký dài gần 5.000 chữ do chính vua Tự Đức viết năm 1871 và đếnnăm 1875 mới được khắc vào tấm bia đá khổng lồ nặng khoảng 20 tấn và dựng tại Biđình Trong vòng la thành rộng khoảng 12 ha, có gần 50 công trình lớn nhỏ Mỗi côngtrình kiến trúc trong lăng Tự Đức đều mang những đường nét khác nhauvề nghệthuật tạohình, không trùng lắp, rất sinh động Bố cục các công trình kiến trúc trong lăng đã phá bỏ
đi sự đối xứng cổ điển
LĂNG DỤC ĐỨC : khi vua Tự Đức băng hà vua Dục Đức 32 tuổi lên nối ngôi nhưng chỉ
3 ngày sau thì bị phế truất ( 23.7.1883 ) bị quản thúc rồi chuyển sang giam ở Thái y viện
và cuối cùng chết đói ở ngục Thừa thiên sau 7 ngày không cho ăn uống (6.10.1883) Thihài vị phế đế chỉ bó sơ sài bằng chiếu và chôn cất ở chùa Trường quang Khi Thành Tháilên ngôi vua đã cho xây cất mộ của cha mình đàng hoàng, đặt tên là An lăng, đến năm
1897 đổi tên là cung Tôn miếu Tháng 8.1899 vua Thành Thái xây dựng điện Long ângần khu vực mộ vua Dục Đức để thờ cha Năm 1954 vua Thành Thái mất được chôn ở
An lăng Năm 1987 hài cốt vua Duy Tân được đưa về an táng cạnh lăng vua Thành Thái.Trong khu lăng này còn có lăng mộ 3 bà vợ của vua Thành thái : bà Nguyễn thị Gia Anh,
bà Nguyễn Thị Định ( mẹ vua Duy Tân ), bà Hồ Thị Phương Năm 1994 người ta còn tổchức lễ cải táng hài cốt bà Mai Thị Vàng ( vợ vua Duy Tân mất năm 1980 ) về chôn cạnhvua Duy Tân Lăng Dục Đức còn có 39 ngôi mộ của các ông hoàng bà chúa
LĂNG ĐỒNG KHÁNH : trước đây ở gần lăng Đồng Khánh có mộ của Kiên Thái vương
là cha đẻ của 3 vua Kiến Phúc, Hàm Nghi và Đồng Khánh Sau khi lên ngôi, ĐồngKhánh đã xây dựng điện Truy tư để thờ cha Phần lớn những công trình kiến trúc ở lăngĐồng Khánh được thực hiện dưới thời Khải Định Ở lăng Đồng Khánh nền mỹ thuật
Trang 23thuần túy của Á đông đã bị pha trộn, sử dụng nhiều vật liệu mới như xi măng, gạch carô,gạch hoa tráng men màu, kính màu ở các cửa sổ Công trình có giá trị nhất là điện Ngưnghy.
LĂNG KHẢI ĐỊNH : công trình xây dựng lăng Khải Định đòi hỏi về thời gian nhiềunhất, đến 11năm ( 1920-1931 ) Lăng này đánh dấu kiến trúc mới lạ trong lịch sử mỹthuật VN như dùng vật liệu bêtông, trang trí nổi bằng cách ghép mảnh sành sứ và thủytinh Khải Định chọn núi Châu chữ để làm lăng cho mình Trong lăng Khải Định có 2pho tượng đồng đúc hình nhà vua kích thước như người thật, những bức hoạ long vân vớidiện tích hàng chục m2 trên trần 3 phòng, giữa của cung Thiên định là những bức hoạhoành tráng có giá trị mỹ thuật
* Những công trình xây dựng ngoài phòng thành
ĐÀN NAM GIAO :
Dưới thời chúa Nguyễn Phúc Lan đàn tế trời được thiết lập ở làng Kim long, đến đời Tâysơn ở ngọn đồi gần núi Ngự bình Khi vua Gia Long lên ngôi đã cho đắp đàn ở làng Anninh Nhưng sau đó triều đình nhà Nguyễn đã xây dựng ở làng Dương xuân như hiện nay.Các vua chúa nhà Nguyễn tế lễ trời hàng năm hoặc 3 năm 1 lần Khuôn viên đàn Namgiao hình chữ nhật dài 390m*rộng265m, giới hạn bằng vòng tường thành xây bằng đábao bọc chung quanh Trong khuôn viên này ngày xưa trồng rất nhiều thông Đàn tế Namgiao được xây dựng thành 3 tầng : tầng trên cùng là Viên đàn, hình tròn tượng trưng chotrời, đường kính 40,5m, cao 2m8, tầng kế hình vuông gọi là phương đàn tượng trưng chođất, mỗi cạnh 83m, cao 1m, tầng cuối cùng hình vuông là Xích tử tượng trưng cho conngười, mỗi cạnh 165m, cao 0m85
HỔ QUYỀN : là đấu trường giữa voi và cọp được xây dựng dưới thời nhà Nguyễn đểvua, quan, dân chúng giải trí và luyện tập cho voi quen với không khí lúc lâm trận Dướithời chúa Nguyễn tổ chức ở cồn Dã viên trên sông Hương Dưới thời Gia Long tổ chức ởbãi đất trống trước kinh thành Năm 1830 vua Minh Mạng xây dựng ở gần đồi Long thọ,
vị trí như ngày nay Trận đấu cuối cùng diễn ra năm 1904 dưới đời vua Thành Thái.VĂN MIẾU HUẾ : các chúa Nguyễn đã xây dựng Văn miếu ở nhiều địa điểm : làngTriều sơn, làng Lương quán, làng Long hồ Năm 1808 vua Gia Long chọn một ngọn đồithấp ở phía trên chùa Thiên mụ tức vị trí hiện nay để xây dựng Văn miếu uy nghi đồ sộhơn Có khoảng 50 công trình lớn nhỏ, 32 tấm bia tiến sĩ, 4 tấm bia khác được xây dựngtrong mặt bằng hình vuông, mỗi cạnh khoảng 160m chung quanh có la thành bao bọc.Điện thờ chính thờ Khổng Tử và Tứ Phối, Thập nhị triết, Đông vu và Tây vu thờ Thất
Trang 24thập nhị hiền và các tiên nho, Thần trù, Thần khố, nhà Tổ công, Đại thành môn, Vănmiếu môn.
* Những công trình văn hoá và thắng cảnh thiên nhiên ở Thừa thiên-Huế
CHÙA THIÊN MỤ : xây dựng ở đồi Hà khê – xã Hương long – cách trung tâm TP Huế
5km Chùa Thiên mụ là ngôi chùa cổ kính nhất, kiến trúc đồ sộ nhất và cũng là ngôi chùađẹp nhất ở Huế Tương truyền có một bà tiên hiện lên ở đồi Hà khê cho dân chúng biết sẽ
có một vị chân chúa đến đây dựng lên chùa, thờ phật Năm 1601 Nguyễn Hoàng quavùng đát này nghe kể lại mới mở rộng qui mô xây dựng chùa đặt tên là chùa Thiên mụ.Đến đời vua Tự Đức đổi tên chùa là Linh mụ Năm 1665 chúa Nguyễn Phúc Chu cho đúc
1 quả chuông lớn đường kính 1m4, cao 2m4, nặng 3.285 cân lớn nhất ở Huế Năm 1844vua Thiệu Trị cho xây dựng tháp bát giác cao 21m24 gồm 7 tầng gọi là tháp Từ nhân sauđổi thành tháp Pháp duyên Bố cục chùa chia ra làm 2 khu vực Phía trước là những côngtrình mang tính chất lưu niệm như chuông đồng, bia đá, tháp Phước duyên, đình Hươngnguyện, phía sau là điện Đại hùng, điện Địa tạng, điện Quan âm, nhà trai, nhàkhách,vườn hoa, vườn thông
ĐIỆN HÒN CHÉN : xây dựng trên núi Ngọc trản, trên đỉnh núi có một chỗ trũng xuống,
đường kính vài mét, nước mưa thường đọng lại trông giống như cái chén đựng nướctrong Từ xưa người Chăm đã dựng đền để thờ nữ thần Ponagar Về sau người Việt theoThiên tiên thánh giáo, là một tôn giáo bình dân ở địa phương với danh xưng Thánh mẫuThiên y A na Từ năm 1854 Liễu Hạnh công chúa ( tức Vân Hương thánh mẫu ) có nguồngốc từ miền Bắc cũng được đưa vào thờ ở đây Ngoài ra ở điện Hòn chén còn thờ Phật,Quan Công và hơn 100 vị thần thánh khác thuộc hàng đồ đệ của các thánh thần nói trêntrong đó có vua Đồng khánh Khi lên ngôi vua Đồng Khánh cho xây dựng điện khangtrang hơn gọi là Huệ Nam điện Điện thờ chính là Minh kính đài bao gồm : Thượng cung(Thượng điện ), Cung hội đồng, tiền điện Bên phải Minh kính đài là nhà Quan cư Trinhcát viện, chùa Thánh, bên trái là dinh Ngũ vị thánh bà, động thờ ông Hổ, am ngoại cảnh,
am thủy phủ
CẦU TRƯỜNG TIỀN : trong những thế kỷ trước muốn qua lại trên sông Hương người
ta phải dùng các chuyến đò ngang như : bến đò Kim long,Thừa phủ, bến đò Cồn CầuTràng tiền được xây dựng từ năm 1897-1899 Cầu có 6 vài, 12 nhịp, chiều dài 401,10cm,chiều ngang 6m20, mặt cầu lúc đầu chỉ lát gỗ lim Cầu Tràng tiền từ khi xây dựng đếnnay đã có 5 tên gọi khác nhau : cầu Thành thái ( 1899-1907 ), cầu Clemanceau (1914-
1918 ), cầu Nguyễn Hoàng ( 1945 ), cầu Tràng tiền ( 1995 ), cầu Trường tiền