Luận án nghiên cứu nhằm hướng đến các mục tiêu: hệ thống hóa một cách có căn cứ vấn đề phương pháp luận giảng văn của Đặng Thai Mai và cũng là của khoa giảng văn trong nhà trường Pháp Việt gần một thế kỷ nước đây, từ đó góp phần đúc kết thành tựu, đóng góp của một nhà khoa học đi trước đối với lịch sử khoa giảng văn Việt Nam, phân tích những mặt hạn chế để rút ra bài học kinh nghiệm. Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
Giáo sư PHAN TRỌNG LUẬN
HÀ NỘI 2000
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
Giáo sư PHAN TRỌNG LUẬN
HÀ NỘI 2000
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tối Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì một công trình nào
Tác giả luận án :
Hoàng Thị Mai
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 3
BẢNG KÍ HIỆU NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT 8
MỞ ĐẦU 8
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 8
2 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: 8
3 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ: 9
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU: 10
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 11
5.1 Khảo sát, phân tích, miêu tả, tổng kết lí luận một cách khách quan: 11
5.2 Thực nghiệm: 11
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN: 12
6.1 Về lí thuyết: 12
6.2 Về thực tiễn: 12
7 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN : 12
NỘI DUNG 13
CHƯƠNG 1: ĐẶNG THAI MAI VỚI MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VĂN HỌC TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG 15
1.1 Đặng Thai Mai với một vài quan niệm về chương trình, sách giáo khoa văn ở nhà trường phổ thông: 15
1.1.1 Về "những bài văn không có văn", những "bài thuyết lí khô khan và dài dòng" [120,tr1] .15
1.1.2 "Phải chú ý đến yêu cầu chung của chương trình và trình độ phát triển của lứa tuổi " [120,tr 2] 16
1.2 Quan niệm của Đặng Thai Mai về sự phối hợp khoa học liên ngành trong dạy học văn ở nhà trường phổ thông: 17
1.2.1 Quan niệm của Đặng Thai Mai về tầm quan trọng của sự phối hợp khoa học liên ngành trong dạy học văn ở NTPT 17
1.2.2 Đặng Thai Mai với vấn đế tiếp nhận văn học: 18
1.2.3 Đặng Thai Mai quan niệm tiếp nhận văn học là một hoạt động sáng tạo 20
1.3 Đặng Thai Mai với quan niệm về mối quan hệ giữa việc dạy văn và dạy tiếng ở nhà trường phổ thông 22
1.3.1 Về tầm quan trọng của việc gắn liền dạy văn với dạy tiếng ở nhà trường phổ thông .22
1.3.2 Về việc dạy tiếng trong mối quan hệ với dạy văn ở cấp I (tiểu học) : 23
Trang 51.3.3 Về nội dung chương trình, SGK, Đặng Thai Mai gợi ý : 23
1.3.4 Về phương pháp : 23
1.3.5 Về việc dạy tiếng trong mối quan hệ với dạy văn ở cấp II (THCS) : 24
1.3.5.1 Về yêu cầu, nhiệm vụ : 24
1.3.5.2 Nội dung chương trình: 24
1.3.5.3 Một số lưu ý về phương pháp, thủ pháp : 24
1.3.6 Về việc dạy tiếng trong mối quan hệ với dạy văn ở cấp III (PTTH) .24
1.3.6.1 Về mục đích, yêu cầu : 24
1.3.6.2 Nội dung chương trình : 24
1.3.6.3 Về phương pháp, Đặng Thai Mai lưu ý: 25
1.4 Đặng Thai Mai với quan niệm về vai trò, vị trí, yêu cầu đối với người giáp viên văn học : 26
1.4.1 Thầy giáo dạy văn phải là người có tâm hồn lớn, tình cảm lớn : 26
1.4.2 Giáo viên dạy văn phải là người có vốn tri thức văn học và khoa học liên ngành sâu rộng 28
1.4.3 "Vai trò của ông thầy ở đây là khêu gợi, là hướng dẫn, là truyền cảm" [119,tr 200] .29
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN GIẢNG VĂN CỦA ĐẶNG THAI MAI 34
2.1 Về khái niệm giảng văn và khái niệm giảng văn theo quan niệm của Đặng Thai Mai: .34
2.2 Quan niệm của Đặng Thai Mai về tác phẩm văn chương và tác phẩm văn chương trong nhà trường : 37
2.2.1 Quan niệm của Đặng Thai Mai về "một áng văn chương kiệt tác" .37
2.2.2 Đặng Thai Mai với một vài luận điểm về tác phẩm văn chương trong nhà trường 39
2.2.3 Tác phẩm như : 40
2.2.4 " Một áng văn là một tác phẩm có sinh mệnh, có cơ thể, có phát triển, có cả một đường lối phát triển" [112,tr48] .41
2.3 Quan niệm của Đặng Thai Mai về mục đích, tác dụng của giảng văn ở nhà trường phổ thông : 43
2.3.1 Quan điểm cùa Đặng Thai Mai về mục đích, tác dụng của môn giảng văn trong nhà trường cũ .43
2.3.2 Quan niệm của Đặng Thai Mai về mục đích, tác dụng của giảng văn ở nhà trường phổ thông 47
2.4 Những khuynh hướng giảng văn cần phê phán theo quan niệm của Đặng Thai Mai : .49
Trang 62.4.1 "Lối học tầm chương trích cú" và "Lối giảng văn tán rộng máy móc, khen từ
đầu chấm phết khen đi" [113,tr 231 ] 50
2.4.2 "Giảng văn không chỉ là nói lại mấy câu văn xuôi không xuôi tý nào" [112,tr12] 51
2.4.3 "Giảng văn không phải là một phương tiện thời miên vô ý thức làm HS ngáp sái cả quai hàm" [112,tr12] .52
2.4.4 Lối giảng văn theo "nguyên tắc quyền uy" [120,tr 9] 53
2.5 Đặng Thai Mai với một số quan điểm, nguyên tắc tiếp cận phân tích và dạy học tác phầm văn chương ở nhà trường phổ thông 54
2.5.1 "Điều cần thiết là nhận định giá trị chân thật và tưởng đối của một tác phẩm theo trình độ văn hoá của thời đại" [112,tr18] .54
2.5.2 "Tất cả vấn đề là tìm ra trọng tâm hứng thú - Le centre d' intérêt - của áng văn Khi đã nhận ra trọng tâm đó, chúng ta sẽ xét xem trong công trình xây dựng của nhà văn sĩ, nhà thi sĩ, mọi tiết mục đã quy tụ cùng nhau thế nào để làm cho cái hứng thú đó như là đã được nâng nổi hẳn lên" [112,tr19] .58
2.5.3 "Sự mô tả thực tế cũng như lối bình phẩm trong lĩnh vực nghệ thuật vẫn phải theo những quy luật và bút pháp của nghệ thuật" [113,tr100] 60
2.5.4 "Giảng văn trước hết là chỉ rõ sự thống nhất giữa hình thức và nội dung, giữa kỹ thuật và tư tưởng trong một tác phẩm văn chương" [112,tr12] .63
2.5.5 "Cảm thấy hay chưa đủ Có hiểu là hay, sự thưởng thức mới có nghĩa lí và có tác dụng" [112,trl4] .65
2.5.6 "Vấn đề là khi đã nhận định, đã hiểu thấu tinh thần áng văn rồi thì lựu chọn một đích để mà trình bãy lối lĩnh hội của mình về áng văn đó" [112,tr 8] .68
2.5.7 "Chớ nên bao giờ o ép khả năng hấp thụ của HS" [120,tr 2] 69
2.5.8 "Giảng văn không thể không có áng văn trước mắt" [112,tr19] 71
2.6 Đặng Thai Mai với một số kỹ thuật cơ bản trong giảng văn .72
2.6.1 Về khái niệm kỹ thuật giảng văn .72
2.6.2 Đặng Thai Mai quan niệm giảng văn là "theo dõi" và "mở nếp" áng văn 76
2.6.3 Đặng Thai Mai với kỹ thuật đọc diễn cảm 78
2.6.4 Đặng Thai Mai với kỹ thuật tái hiện chi tiết hình tượng .79
2.6.5 Đặng Thai Mai với kỹ thuật so sánh trong giảng văn 82
2.6.6 Đặng Thai Mai với kỹ thuật nêu vấn đề trong giảng văn .88
2.6.7 Đặng Thai Mai với kỹ thuật gợi mở trong giảng văn .91
2.6.8 Đặng Thai Mai với kỹ thuật giảng bình trong giảng văn 93
2.7 Những điểm hạn chế trong phương pháp luận giảng văn của Đặng Thai Mai 99
Trang 72.7.1 Phương pháp luận giảng văn của Đặng Thai Mai với vấn đề phương pháp dạy
học tác phẩm văn chương theo đặc trưng loại thẻ .99
2.7.2 Phương pháp luận giảng văn của Đặng Thai Mai với vấn đề HS 100
2.7.3 Phương pháp luận giảng văn của Đặng Thai Mai với vấn đề thiết kế bài dạy học tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông .101
2.7.4 Nguyên nhàn của những hạn chế trẽn 102
CHƯƠNG 3: THỂ NGHIỆM PHƯƠNG PHÁP LUẬN GIẢNG VĂN CỦA ĐẶNG THAI MAI VÀO VIỆC SOẠN GIẢNG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG Ở NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG 105
3.1 Những vấn đề chung của thể nghiệm : 105
3.1.1 Mục đích, yêu cầu thể nghiệm .105
3.1.2 Giả thuyết thực nghiệm 105
3.1.3 Đối tượng, địa bàn, thời gian thể nghiệm, đối chứng .106
3.1.4 Phương pháp, biện pháp, quy trình thể nghiệm đối chứng và kiểm tra kết quả 107
3.1.5 Yêu cầu đối với hai thiết kế và giờ dạy thể nghiệm: 107
3.2 Tình hình dạy học hai đoạn trích được chọn thể nghiệm ở nhà trường phổ biến hiện nay 109
3.2.1 Về tình hình dạy học đoạn trích "Trông bốn bề" .110
3.2.2 Về tình hình dạy học đoạn trích:" Nỗi nhớ nhung sầu muộn của người chinh phụ" : 111
3.3 Thiết kế giáo án thể hiện 111
3.3.1 Đoạn trích: Trông bốn bể 111
KẾT LUẬN 183
TÀI LIỆU THAM KHẢO 187
PHỤ LỤC 199
Trang 9MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Bên cạnh hướng nghiên cứu tìm tòi lí luận mới, việc tổng kết khai thác kinh nghiệm của quá khứ của những người đi trước, đặc biệt là những người uyên bác, có uy tín để rút ngắn con đường, tìm tòi chân lí luôn là một đòi hỏi bức thiết của mọi ngành khoa học, trong
đó có khoa học phương pháp dạy học (PPDH) Văn Công việc đó càng có ý nghĩa chúng ta còn gặp phải không ít khó khăn trong việc bổ sung, cụ thể, hoàn thiện hóa hệ thống lí thuyết PPDH Văn mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy văn, học văn ở nhà trường phổ thông (NTPT) hiện nay
Ngoài sự uyên thâm của một nhà khoa học, sự lịch lãm của một nhà văn hoá lớn, sinh thời, Đặng Thai Mai là người có quan tâm đặc biệt đến việc dạy văn, học văn ở NTPT, Rất bận bịu với những trọng trách xã hội như Bộ trưởng; Bộ giáo dục, Viện trưởng Viện văn học Chủ tịch Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Việc Nam, nhưng thỉnh thoảng ông vẫn dành thời gian xuống tận trường phổ thông để dư giờ, trao đổi kinh nghiệm giảng văn với giáo viên Mối quan tâm trăn trở ấy còn được thể hiện qua nhiều bài viết, công trình nghiên cứu, lí luận, phê bình văn học, Đặc biệt Đặng Thai Mai đã dành hẳn một chuyên luận để bàn về vấn đề giảng văn chuyên luận " Giảng vawnChinh phụ ngâm" (NXB Tư tưởng Thanh Hóa 1950) tác phẩm năm trong cụm công trình được giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 vừa qua Hơn nữa, chính Đặng Thai Mai đã từng là mojt thầy giáo giảng văn xuất sắc được nhiều thế hệ học trò tôn quý, ngưỡng mộ
Ngoài ra gần đây khi cuốn " Giảng văn Chinh phụ ngâm" ("GVCPN") được tái bản, nhiều nhà khoa học đã đánh giá rất cao tư tưởng cũng như kinh nghiệm giảng văn của Đặng Thai Mai
Những tư tưởng, kinh nghiệm đó rất cần được tổng kết một cách đầy đủ, sâu sắc, có hệ thống khai thác và vận dụng một cách sáng tạo, có hiệu quả vào phương pháp giảng văn ở NTPT hiện nay Chọn Đặng Thai Mai với phương pháp luận giảng văn của ông làm đối tượng nghiên cứu, tiếp tục phát triển, nâng cao tiểu luận thạc sĩ đã bảo vệ thành công, người viết mong được góp thêm một phần nhỏ vào một công việc lớn kể trên
2 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
Nghiên cứu đề tài này, người viết nhằm hướng đến ba mục đích chính:
Trang 10Hệ thống hoá một cách có căn cứ vấn đề phương pháp luận giảng văn của Đặng Thai Mai và cũng là của khoa giảng văn trong nhà trường Pháp Việt gần một thế kỷ nước đây
Từ đó góp phần đúc kết thành tựu, đóng góp của một nhà khoa học đi trước đối với lịch
sử khoa giảng văn Việt Nam, phân tích những mặt hạn chế để rút ra bài học kinh nghiệm Thể nghiệm khoa học giảng văn theo tư tưởng giảng văn của Đặng Thai Mai nhằm góp phần kháng định thành lựu của Đặng Thai Mai cũng như phương hướng đổi mới PPDH Văn
ở NTPT hiện nay
3 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ:
Kể từ bài viết "Đọc sách Văn thơ Phan Bội Châu của Đặng Thai Mai" của Vũ Ngọc Phan đăng trên trên tạp chí "Văn nghệ" - 4/1959 cho đến bài "Kỷ niệm về thầy Đặng Thai Mai" của GS Lê Hoài Nam đăng trên tạp chí "Thế giới mới" số 231 - 1/1999, thư mục nghiên
cứu về Đặng Thai Mai không ít Nhưng nhìn chung, tát cả chỉ mới dùng lại trong khuôn khổ những bài viết ngắn đề cập đến một công trình hoặc vài ba khía cạnh trong phong cách của một nhà phê bình uyên thâm
Riêng đóng góp của Đặng Thai Mai về phương diện giáo dục, đặc biệt là vấn đề giảng dạy văn học ở NTPT chưa được các tác giả chú tâm nghiên cứu Hình ảnh GS Đặng Thai Mai, một người thầy có tâm hồn lớn, có kinh nghiệm, có phương pháp giảng văn hiện đại
cũng chỉ được xuất hiện thấp thoáng qua một số bài hồi ức, kỉ niệm như bài "Thầy Mai và việc dạy văn tại trường Thăng Long" của GS Vũ Đức Phúc (TCVH 5/1982), "Đặng Thai Mai
- người giảng văn" của Hoàng Trung Thông (TCVH 2/1985), '' Tưởng nhớ Thầy Mai" của
GS Nhan Bảo, "Thầy Đặng Thai Mai của chúng tôi" của nhà văn Vũ Tú Nam, "Thầy Đặng Thai Mai thầy tôi" của Võ Thuần Nho, "Thầy Đặng Thai Mai ở trường tư thực Thăng Long"
của Đào Thiện Thi,vv (Đặng Thai Mai và văn học - NXB Nghệ An 19-94)
Về tư tưởng, quan niệm giảng văn của Đặng Thai Mai, trước 1992 hầu như chưa có
công trình, bài viết nào (đã công bố) đề cập tới Năm 1992, cuốn "Giảng văn Chinh phụ ngâm" của Đặng Thai Mai được tái bản, GS Trần Đình Sử có lời bạt sau sách bằng bài viết:
"GVCPN - một công trình viết cho hôm nay" Bài viết này sau được tác giả sửa chữa thêm và
in lại trong cuốn "Đặng Thai Mai và văn học" dưới một tiêu đề khác: "Một số vấn đề lí thuyết giảng văn và thi pháp văn học cổ trong GVCPN" Trong bài viết này, GS Trần Đình Sử đánh
giá cao quan niệm cũng phương giảng văn của Đặng Thai Mai như: Quan điểm lịch sử, quan
điểm thi pháp, phương pháp so sánh văn học Tiếp đó năm 1994, với cuốn "Đặng Thai Mai
và văn học" có thể kể thêm các bài viết của GS Hoàng Tuệ, GS Phan Trọng Luận, GS Đỗ
Trang 11Hữu Châu là ít nhiều có trực tiếp bàn đến Với nhan đề "Đọc lại GVCPN của Đặng Thai Mai", bài của GS Hoàng Tuệ điểm qua vài nét về thuật ngữ "giảng văn" (Explication de texte) và khái niệm "nếp" áng văn trong "GVCPN" "Nghĩ về GVCPN" , GS Đỗ Hữu Châu
nêu một số phương pháp, kỹ thuật phân tích khúc ngâm trong "GVCTN" như phương pháp gợi mở, đối chiếu, so sánh, hệ thống Đặc biệt, từ góc độ ngôn ngữ học, tác giả bài viết này chú tâm nhiều nhất đến "kỹ thuật" phân tích ngôn ngữ tác phẩm cùa tác giả "GVCPN" như kỹ thuật phân tích từ ngữ, điệu thơ, tiết tấu, đối thoại, vv
Từ góc độ sư phạm, GS Phan Trọng Luận nong bài "Nhớ về thầy, một nhà sư phạm, một học giả chân chính" đã phát hiện thêm những đóng góp quan trọng của Đặng Thai Mai
trong việc đề cao vấn đề trực cảm và sự vận dụng các khoa học liên ngành trong phân tích và dạy học tác phẩm văn chương (DH TPVC) Đồng thời, tác giả bài viết cũng khái quát được một số phẩm chất quan trọng kết tinh trong một nhà khoa học, một Thầy giáo giảng văn xuất sắc - Đặng Thai Mai như: tâm hổn nhạy cảm, thái độ khách quan, khoa học trong phân tích, đánh giá tác phẩm, sự nhạy cảm với tri thức mới và ý thức vươn lên trên mọi hoàn cảnh chật hẹp để tự hoàn thiện Nhìn chung, cả bốn bài viết đều có những phát hiện quan trọng về quan niệm, phương pháp giảng văn của Đặng Thai Mai Tuy nhiên, xuất phát từ những góc độ khác nhau, các bài viết mới chỉ dừng sự tìm tòi ở một số phương pháp, "kỹ thuật" phân tích bản thân TPVC của Đặng Thai Mai Những phát hiện ở đây lại mới có tính chất nêu vấn đề Khuôn khổ có hạn của một bài viết chưa cho phép các tác giả đi sâu nghiên cứu một cách cụ thể, đầy đủ, sâu sắc và có hệ thống hơn phương pháp luận giảng văn của Đặng Thai Mai Khảo sát của các tác giả cũng mới chỉ giới hạn trong công trình "GVCPN"
Tóm lại, cho đến nay, chưa có một công trình chuyên biệt nào nghiên cứu một cách đầy
đủ, sâu sắc và có hệ thống vấn đề phương pháp luận giảng văn của Đặng Thai Mai Thừa kế thành tựu của người đi trước, trên cơ sở một số luận điểm đã được khái quát ở luận văn thạc
sĩ, ở luận án này, chúng tôi sẽ cố gắng tìm hiểu một cách tương đối có hệ thống, đầy đủ và sâu sắc hơn phương pháp luận giảng văn của Đặng Thai Mai
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Đặng Thai Mai là một nhà nghiên cứu phê bình văn học có uy tín, một nhà sư phạm mẫu mực, một thầy giáo dạy văn xuất sắc có cống hiến lớn cho sự nghiệp giáo dục nước nhà
Để tổng kết đánh giá một cách toàn diện tư tưởng, kinh nghiệm cũng như đóng góp của Đặng Thai Mai về các phương diện trên phải cần đến một công trình có quy mô hơn Do khuôn khổ và thời gian có hạn, ở luận án này, người viết chỉ dừng lại tìm hiểu Đặng Thai Mai với vấn đề phương pháp luận giảng văn ở NTPT
Trang 12Ngoài "GVCPN" được viết theo "tinh thần cấp học chuyên khoa" (cấp III) và một số bài viết khác về việc dạy văn trong nhà trường, còn lại, Đặng Thai Mai không giả định rõ quan niệm giảng văn của ông là hướng về trường phổ thông Nhưng trong thực tế, từ kinh nghiệm bản thân giáo sư cũng như nội dung các bài viết thì mối quan tâm của ông chủ yếu hướng về việc DH TPVC ở NTPT, đặc biệt là phổ thông trung học
Vì vậy, để làm sáng tỏ luận điểm, phạm vi khảo sát chủ yếu của luận án là: "GVCPN"
"Hồi ký", "Về việc dạy văn nong nhà trường" (TCVH 2/1974) và một số công trình bài viết khác của Đặng Thai Mai có liên quan đến nhà trường như "Văn học khái luận", "Trên đường học tập và nghiên cứu", "Văn thơ Phan Bội Châu", vv
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Trên cơ sở nhận thức luận mácxít và quan điểm khoa học liên ngành, luận án vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau
5.1 Khảo sát, phân tích, miêu tả, tổng kết lí luận một cách khách quan:
Các công trình bài viết của Đặng Thai Mai trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến vấn đề giáng văn
Các bài viết, ý kiến của các nhà văn, nhà khoa học viết về vấn đề phương pháp luận giảng văn của Đặng Thai Mai
Đối chứng, so sánh giữa lí thuyết và thể nghiệm:
Đối chứng giữa phương pháp luận giảng văn của Đặng Thai Mai với thể nghiệm của ông trong "GVCPN" và các bài viết liên quan đến nhà trường
Đối chứng giữa nhộn định của các nhà khoa học với bản thân phương pháp luận giảng văn của Đặng Thai Mai
Đối chứng giữa phương pháp luận giảng văn của ông với lí thuyết giảng văn ngày nay Đối chiếu, so sánh giữa phương pháp luận giảng văn của Đặng Thai Mai với các quan niệm và phương pháp giảng văn của một số nhà phê bình, giảng văn Việt Nam
Đối chiếu giữa thiết kế và giờ dạy thể nghiệm với giờ dạy đối chứng ở
NTPT
5.2 Thực nghiệm:
Vận dụng sáng tạo phương pháp luận giảng văn của Đặng Thai Mai vào việc soạn và dạy một số tác phẩm văn chương ở NTPT
Trang 13Những thành tựu và hạn chế trong phương pháp luận giảng văn của Đặng Thai Mai là bài học kinh nghiệm quý góp phần khắc phục những khuynh hướng giảng văn lệch lạc, nâng cao chất lượng dạy văn, học văn ở NTPT hiện nay
Gợi ý, bổ sung một số vấn đề lí luận cần thiết cho một khoa trình PPDH Văn ở Đại học
Sư phạm, Cao đẳng Sư phạm, tạo điều kiện giúp sinh viên học tập tốt hơn môn học này
7 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN :
Luận án gồm 210 trang: Phần Mở đầu 7 trang, phần Nội dung 176 trang chia làm ba chương, phần Kết luận 6 trang, Tài liệu tham khảo 13 trang (gồm 211 tài liệu) và cuối cùng là
8 trang Phụ lục
Trang 14NỘI DUNG
Phát biểu tại buổi lễ kỷ niệm 90 năm ngày sinh của Đặng Thai Mai, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói: "Tôi muốn nói một vài câu để bày tỏ cái tình cảm cực kỳ sâu đậm của tôi với người bạn đã khuất ( ) Tôi muốn kể câu chuyện về một nhà văn lớn của nước Pháp là Voltaire Vào lúc cuối đời của nhà văn, người ta ca ngợi những tác phẩm lớn trong đời hoạt động của ông Đáp lại, Voltaire chỉ nói một câu: "Trong đời tôi, tôi đã làm được một đôi điều tốt đẹp Đó là sư nghiệp duy nhất của tôi" Kể lại câu chuyện đó, tôi muốn bày tỏ tình cảm của tôi, lòng biết ơn của tôi đối với Đặng Thai Mai Trong đời mình, Đặng Thai Mai cũng đã làm được một đôi điều tốt đẹp" [145,tr 40] Đặt Đặng Thai Mai bên cạnh một nhà văn lớn của thế giới, câu nói giản dị một cách trí tuệ của đồng chí Phạm Văn Đồng đã gói gọn những đóng góp lớn lao của Đặng Thai Mai cho sự nghiệp chung trong suốt cuộc đời hoạt động và cầm bút của ông Giữa thế kỷ XX đầy biến động, Đặng Thai Mai là một trong những nhà văn hoá lớn của dân tộc Việt Nam
Đặng Thai Mai (1902 - 1984) sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà nho yêu nước ở làng Lương Điền, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An Ngay từ khi còn học ở trường Cao đẳng sư phạm Hà Nội (1925 - 1928), Đặng Thai Mai đã sớm đi theo cách mạng Kể từ đó, trải qua hơn 50 năm hoạt động, theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đặng Thai Mai bao giờ cũng là một trí thức yêu nước, "một đồng chí cách mạng, một con người sống vì lí tưởng, trung thành với lí tưởng", sẵn sàng gánh vác mọi trọng trách nặng nề mà Đảng, Bác Hồ tin tưởng giao phó vào những thời điểm cam go của cách mạng như Bộ trưởng Bộ giáo dục (1945 - 1947), Chủ tịch UBHC tỉnh Thanh Hoá (1947 - 1948), Hội trưởng Hội văn hoá Việt Nam (1948 - 1949)
Tuy nhiên, trước hết, Đặng Thai Mai là một học giả Ông vừa là một dịch giả vừa là một nhà nghiên cứu, lí luận phê bình văn học xuất sắc; là tác giả của các công trình khoa học
có giá trị như: "Văn học khái luận" (1944), "Lỗ Tấn -thân thế, văn nghệ" (1944), "Chủ nghĩa nhân văn dưới thời kỳ văn hoá phục hưng" (1950), "GVCPN" (1950), ''Văn thơ Phan Bội Châu" (1958), "Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX" (1960)
Bên cạnh đó, Đặng Thai Mai còn là một nhà sư phạm mẫu mực, người có công lớn trong sự nghiệp giáo dục nước nhà Hơn 50 năm tận tâm dạy dỗ, GS Đặng Thai Mai đã đào tạo được nhiều thể học trò nối tiếp nhau trưởng thành Trong số đó, không ít người đã trở thành những cán bộ có chức trách quan trọng của Đảng và Nhà nước; nhiều người đã trở thành nhà văn, nhà thơ, nhà khoa học có tên tuổi, có cống hiến xuất sắc cho đất nước, "kế tục được sự nghiệp khoa học và giáo dục mà Đặng Thai Mai để lại" [145,tr 19]
Trang 15Tuy không phải là một chuyên gia PPDH Văn, nhưng Đặng Thai Mai là một nhà khoa học tâm huyết với nhà trường, tâm huyết với việc dạy văn, học văn Di sản khoa học của ông
về vấn đề giảng văn không nhiều, song người đọc có thể gặp lại trong các công trình bài viết của ông, đặc biệt trong "GVCPN", hầu như tất cả các vấn đề cơ bản của khoa phân tích và
DH TPVC hiện đại Và điều quan trọng là, tuy đi trước chúng ta hàng nửa thế kỷ, song tư tưởng và phương pháp giảng văn, dạy văn của Đặng Thai Mai, về nhiều điểm, vẫn phát huy ý nghĩa và tác dụng trong công cuộc: đổi mới PPDH Văn ở NTPT hôm nay
Chúng ta còn có thể nói được nhiều và phải nói nhiều, nói đầy đủ thoả đáng hơn ở những điểm mà Đặng Thai Mai chưa nói tới và chưa nói hết Mặc dù vậy, với những gì còn lại, Đặng Thai Mai vẫn xứng đáng là người đặt nền móng cho khoa giảng văn hiện đại Việt Nam
Trang 16CHƯƠNG 1: ĐẶNG THAI MAI VỚI MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VĂN HỌC TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG
Giảng văn là một phân môn quan trọng của môn Văn ở NTPT Tâm đắc với vấn đề giảng văn, nhưng việc dạy văn nói chung cũng là mối quan tâm thường xuyên của Đặng Thai Mai Ông từng có những phát biểu quan trọng về nội dung chương trình, SGK Văn và Tiếng Việt, về mối quan hệ giữa việc dạy Tiếng và dạy Văn ở các cấp phổ thông, về việc vận dụng khoa học liên ngành trong dạy học văn, về người giáo viên văn học, vv Đây là những tư tưởng lớn có tính chất chỉ đạo chung cho quá trình dạy văn Vì vậy, hệ thống hoá một số luận điểm của ông về những vấn đề nêu trên sẽ giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn đóng góp của Đặng Thai Mai cho lịch sử khoa PPDH Văn Việt Nam đồng thời tạo thêm tiền đề lí luận giúp chúng ta có thể hiểu, đánh giá đúng, đầy đủ, sâu sắc hơn phương pháp luận giảng văn của ông
1.1 Đặng Thai Mai với một vài quan niệm về chương trình, sách giáo khoa văn ở nhà trường phổ thông:
1.1.1 Về "những bài văn không có văn", những "bài thuyết lí khô khan và dài dòng" [120,tr1]
Bên cạnh yếu tố phương pháp, nội dung chương trình, SGK luôn là một trong những yếu tố cơ bản quyết định chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học ở NTPT Hạn chế của chương trình SGK Văn những năm 80 trở về trước là thường quá chú trọng đến nội dung giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức mà chưa chú ý đúng mức đến yêu cầu giáo dục thẩm mĩ Trong khi đánh giá, phê phán chương trình SGK Văn những năm 70, Đặng Thai Mai đồng thời cũng thể hiện quan điểm của mình về một trong những tiêu chí cơ bản để lựa chọn chương trình Văn ở phổ thông là: Tác phẩm được chọn dạy phải có chất văn
Ông viết: "Chương trình dạy văn của chúng ta chưa thật sự hợp lí ( ) nhiều khi HS phổ thông của chúng ta phải đọc những bài văn không có "văn", phải "ngốn" nhiều thuật ngữ quá trừu tượng, nhiều bài thuyết lí khô khan và dài dòng" [120,tr1] Chú ý nâng cao chất văn là vấn đề đang được sự quan tâm của lí luận dạy học văn hiện đại Nhưng "chất văn" là gì thì cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất Trên cơ sở quan điểm của các nhà khoa học, có thể hiểu chất văn là yếu tố đặc thù của TPVC, là vẻ đẹp toát lên từ sự "thấm nhập" hài hoà giữa nội dung và hình thức dệt bằng chất liệu ngôn từ, là yếu tố có khả năng khơi dậy mạnh mẽ các cảm xúc thẩm mĩ ở người đọc
Như vậy, tuy không giảng giải cụ thể nhưng điều có thể khẳng định là: Quan niệm về chất "văn" của Đặng Thai Mai rất gần với quan niệm của chúng ta hôm nay Bởi theo ông,
Trang 17"một " một áng kiệt tác văn nghệ cũng là một hình tượng đẹp đẽ biểu hiện được một chân
lí mĩ thuật, một thứ chân lí chủ quan thực hơn sự thực" mà mục đích của giảng văn là phải tìm ra "cái tinh vi về tư tưởng, cái độc đáo về nghệ thuật" là chỉ rõ sự thống nhất giữa hình thức và nội dung, nhằm bồi dưỡng cho người đọc, người nghe "những hứng thú văn chương dồi dào và đứng đắn" [112,tr 2] Không coi nhẹ tiêu chí giáo dục đạo đức, ngược lại Đặng Thai Mai xem đó là một trong nhưng tiêu chỉ quan trọng bậc nhất mà ngay từ ở chương trình Văn cấp I, ông đã lưu ý: "Nội dung các bài tập đọc nên bao gồm nhiều đề tài và chú trọng đặc biệt đến những khía cạnh hàng ngày của đời sống: Vấn đề đạo đức và vấn dề ý thức chính trị" [120,tr 4] Thế nhưng, trong quan niệm của ông, không tách rời với tiêu chí giáo dục tư tưởng
là tiêu chí thẩm mĩ Tư tưởng phải được biểu hiện một cách "thi vị" , "ý nhị" tế nhị" trong
"tiếng nói văn học" (chữ dùng của Đặng Thai Mai) Nói cách khác, tác phẩm được chọn dạy trong nhà trường theo Đặng Thai Mai phải là những tác phẩm có giá trị nghệ thuật đặc sắc vừa có khá năng bồi dưỡng choHS những tư tưởng, tình cảm, lí tưởng sống tích cực, đúng đắn, vừa phải có khả năng khêu gợi hứng thú thẩm mĩ, đáp ứng nhu cầu, thị hiếu, lí tưởng thẩm mĩ cao đẹp, lành mạnh
Đầu những năm 70, quan điểm trên của Đăng Thai Mai là một cách đặt vấn đề thẳng thắn và tiến bộ Nó thể hiện bản lĩnh và tầm nhìn của một nhà văn chân chính, một nhà sư phạm xuất sắc Phải đến năm 1986 ở THCS và 1990 ở PTTH, chương trình, SGK của chúng
ra mới dần dần có những điều chỉnh, cải cách theo tinh thần mà Đặng Thai Mai từng đề xuất: Tăng cường chất văn, chú trọng hơn đến nhiệm vụ giáo dục thẩm mĩ, đến sự cân đối hài hoà giữa tính tư tưởng và tính thẩm mĩ của môn Văn, vv
1.1.2 "Phải chú ý đến yêu cầu chung của chương trình và trình độ phát triển của lứa tuổi " [120,tr 2]
Theo Đặng Thai Mai, "nhà trường của mỗi chế độ đều nhằm mục đích phục vụ cho chế
độ đó" [120,tr 7] Vì vậy ông thừa nhận sự phụ thuộc tất yếu của nội dung chương trình vào mục đích, yêu cầu chung của chế độ xã hội, của lịch sử, của thời đại: "Chương trình học, SGK, phương pháp dạy học cũng như cách thức bồi dưỡng giáo viên đều được sắp xếp theo mục đích ấy Một mặt nữa yêu cầu của mỗi một học chế cũng đối khác tuy theo diễn tiến lịch
sử của dân tộc, tuy theo tiến bộ của khoa học, tuỳ theo những biến cố lớn trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá của mỗi một thời đại" [120,tr 7] Tuy nhiên, song song với mục đích phục vụ cho chế độ, không thể dạy văn mà không tính đến quy luật tiếp nhận, đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi HS Quan điểm của Đặng Thai Mai là: Tác phẩm được chọn dạy trong nhà trường vừa phải theo sát yêu cầu chung của chương trình, vừa phải phù hợp với
"trình độ phát triển của lứa tuổi" Đây không phải là một yêu cầu hoàn toàn mới Ngoại trừ
Trang 18nhà trường phong kiến ép buộc HS vỡ lòng với "Tam tự kinh", còn bắt đầu từ nhà trường
Pháp Việt chương trình Văn đã bước đắn chú ý đến đặc điểm nhận thức của HS ở từng cấp học Tuy nhiên, "tính chất muốn như tiến bộ ở đây đã biến chất trong mục đích của giáo dục"
là nhằm "đào tạo những con người cần thiết cho việc cai trị và khai thác thuộc địa, "những người môi giới" trung thành giữa người bản xứ với bọn cai trị" [120,tr11]
Sau cách mạng tháng Tám, nhà trường chúng ta đã từng bước có những thay đổi, điều chỉnh lại chương trình, SGK Tuy nhiên, do yêu cầu của lịch sử dân tộc, do thành tựu còn hạn chế của khoa học PPDH Văn và các khoa học liên ngành như tâm lí học, giáo dục học nên chương trình Văn trước đây chưa thực sự phù hợp và gây được hứng thú mĩ cảm đối với lứa tuổi HS Góp phần khắc phục tình trạng này, theo Đặng Thai Mai, việc lựa chọn chương trình cần "phải chú ý đến mọi cạnh khía của tâm lí các em thanh thiếu niên như là trí nhớ, tình cảm, hứng thú, khả năng tập trung tư tưởng, trí tưởng tượng, liên tưởng, khả năng phán đoán, khiếu thẩm mĩ "[ 120,tr 2] Nghĩa là phải tính toán, cân nhắc kỷ lưỡng các năng lực nghệ thuật và tâm hồn nhận của HS ở từng lứa tuổi, từng cấp học Đây cũng là một quan điểm khoa học liên ngành đúng đắn và tiến bộ Quan điểm đó cũng là một giải pháp giúp chúng ta hạn chế tình trạng "o ép khả năng hấp thụ của HS" như thường thấy trong quá trình dạy học văn ở NTPT trước nay
1.2 Quan niệm của Đặng Thai Mai về sự phối hợp khoa học liên ngành trong dạy học văn ở nhà trường phổ thông:
1.2.1 Quan niệm của Đặng Thai Mai về tầm quan trọng của sự phối hợp khoa học liên ngành trong dạy học văn ở NTPT:
Sức mạnh mới làm nên những thành tựu mới trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học hiện đại ngày nay là sự chuyên môn hoá ngày càng cao và sự thâm nhập ngày càng rõ rệt giữa các khoa học đa ngành, liên ngành, kế cận Đổi mới phương pháp bằng cách hiện đại hoá lí thuyết dạy văn trên cơ sở khoa học liên ngành đang là một đòi hòi bức xúc của khoa học PPDH Văn hiện đại Đó cũng là tư tưởng quán triệt trong toàn bộ phương pháp luận giảng văn, dạy văn của Đặng Thai Mai Trong quan niệm của ông TPVC có "liên quan chật chẽ với
sự phát triển của các bộ môn nghệ thuật khác, với chính trị, với trình độ trí thức khoa học, với lịch sử " [112,tr18| Vì vậy, ông khẳng định một cách dứt khoát: "Không thể hiểu văn học nếu không nắm được lịch sử và triết học" [119,tr 382] ông lưu ý ngay từ việc soạn thảo chương trình sao cho các môn học có thể hỗ trợ nhau, hỗ trợ cho việc dạy văn: "Tôi mong rằng các đồng chí giáo viên phổ thông sẽ góp ý nhiều hơn nữa vào việc sửa lại chương trình văn và các môn học hỗ trợ cho môn dạy văn" [120,tr1] Đánh giá những mặt mạnh, yếu của
Trang 19môn Văn trong nhà trường Pháp Việt, Đặng Thai Mai cũng đề cao đóng góp của nền giáo dục thuộc địa về việc "đã chú ý đến việc phối hợp giữa các giờ học làm văn, giảng văn, ngữ pháp,
tu từ học, lịch sử văn học nghệ thuật, phương pháp suy luận cho đến luận lí học, triết học đều góp phần vào việc bổi dưỡng cho người HS tập viết văn" [120,tr 12-13] Và cuối cùng, chính Đặng Thai Mai đã quán triệt một cách sâu sắc, nhất quán tinh thần trên trong suốt các công trình nghiên cứu phê bình, bài giảng của mình Ông từng thổ lộ: "Có người nhận xét trong bài giảng về văn học của tôi khó tách rời được mối quan hệ giữa văn, triết, sử và đó chính là chỗ khác biệt giữa cách giảng của tôi với các giáo sư khác" [119,tr 382] Đọc "GVCPN", người đọc thấy ở đó không chỉ có những kiến thức về triết, sử mà còn có cả một vốn liếng sâu rộng
về thi pháp học, tâm lí học, tôn giáo, âm nhạc, hội hoạ, điêu khắc, mĩ thuật Đông Tây kim
cổ uyên thâm Những kiến thức đó đã "góp sức cùng nhà giảng văn" hướng đến đáy sâu những cái hay, vẻ đẹp của tác phẩm
Đương thời, những năm 50, khi giảng văn cũ thường chỉ là "ngồi nhận định và dẫn chứng với HS về nghĩa đen của một chữ hay là về xuất xứ của một điển tích, của một hình tượng, một câu văn", hoặc chỉ là "nói lại mấy câu văn xuôi không xuôi tý nào" thì sự vận dụng sáng tạo thành tựu của các khoa học liên ngành, kế cận đã giúp cho bài giảng của Đặng Thai Mai có những giá trị khoa học và có sức thuyết phục lâu dài nhất định Mãi những năm gần đây, chúng ta mới nói nhiều đến vấn đề về sự phân hoá và thâm nhập sâu sắc giữa các ngành khoa học Điều đó gợi cho chúng ta những kết luận thú vị khi từ những năm 50, Đặng Thai Mai đã ý thức sâu sắc vai trò, tác dụng của khoa học liên ngành trong dạy học văn Đặc biệt, cũng trong quan niệm về sự phối hợp khoa học liên ngành, Đặng Thai Mai đã đề cập đến một lĩnh vực còn rất mới mẻ với những kiến giải vô cùng bổ ích Đó là vấn đề lí thuyết tiếp nhận văn học
1.2.2 Đặng Thai Mai với vấn đế tiếp nhận văn học:
1.2.2.1 Về vai trò của tiếp nhận văn học trong quan niệm của Đặng Thai Mai Tiếp nhận văn học là giai đoan hoàn tất vòng đời đích thực của một sáng tác văn học Bàn về sản xuất và tiêu dùng Mác nói: "Chỉ có sử dụng mới hoàn tất hành động sản xuất, mang lại cho sản phẩm một sự trọn vẹn với tư cách là sản phẩm" Quan điểm đó cũng đúng với cả sáng tác và tiếp nhận văn học
Từ những năm 40, trong "Văn học khái luận", vấn đề tiếp nhận văn học đã được Đặng
Thai Mai ý thức như "một yếu tố quan trọng vào loại hàng đầu" có tác động sâu sắc đến
"nguồn cảm hứng", "thế giới quan" và tài năng sáng tạo của nhà nghệ sĩ
Trang 20Tất nhiên, chúng ta không thể tìm thấy ở Đặng Thai Mai một hệ thống lí thuyết đầy đủ cho một vấn đề khoa học còn rất mới mẻ đối với Việt Nam vào cuối những năm 90 Nhưng
"trên đường học tập và nghiên cứu", Đặng Thai Mai đã rút ra được một số luận điểm khoa học quan trọng có ý nghĩa phương pháp luận về vấn đề này Đây cũng là những foiwj mở bổ ích đối với hoạt động DH TPVC ở NTPT với tư cách là một kiểu hình thức tiếp nhận văn học đặc biệt
1.2.2.2 "Khả năng lĩnh hội của một độc giả đối với nghệ thuật cũng có những điều kiện chủ quan, khách quan" [122, tr9]
Theo chúng tôi, trong phát biểu trên, Đặng Thai Mai đã đề cập đến một trong những luận điểm cơ bản của lú thuyết tiếp cập hiện đại, rằng : Tiếp nhận là một hoạt động vừa mang tính chủ quan vừa mang tính khách quan Theo ông, mỗi công chúng độc giả là một chủ thể tiếp nhận độc lập có "khẩu vị", " khiếu thẩm mĩ", khả năng "nhận thức" riêng [119,tr 336-337] Nói theo cách nói của chúng ta thì hứng thú và thị hiếu thẩm mĩ, khả năng nhận thức và đành giá nghệ thuật, "tầm đón nhận" (Erwartungshorizont) và động cơ, tâm thế tiếp nhận của độc giả là những nhân tố chủ quan tham gia quá trình tiếp nhận và quy định kết quả tiếp nhận Vì vậy, ông cho rằng không thể có một cách hiểu hoàn toàn trùng khít về một tác phẩm
ở mọi độc giả Yếu tố chủ quan không chỉ làm phong phú sự tiếp nhận mà còn là cơ sở của sáng tạo trong tiếp nhận Tuy nhiên, Đặng Thai Mai không cho rằng tiếp nhận là một hoạt động hoàn toàn chủ quan TPVC tự mang trong bản thân nó những "giá trị chân thực và tương đối" do sự "thấm nhập hài hoà giữa nội dung và hình thức" [112,tr 18] Vì vậy, thưởng thức văn chương "không chỉ là câu chuyện chủ quan" mà trước hết phải "theo dõi trong nếp (pli) áng văn", xuất phát từ văn bản tác phẩm để tìm ra "tất cả cái tinh vi về tư tưởng, cái độc đáo về nghệ thuật của một tác giả"
Phê bình mới cho rằng, tác phẩm chỉ là một "cái bình trống rỗng" để các thế hệ độc giả
"thay thế nhau làm cho chúng chứa đầy nội dung mới, ý nghĩa mới" [70,tr 308] Thừa nhận
"khoảng cách thẩm mĩ" (aesthetic distance) là tất nhiên và có ý nghĩa, nhưng Đặng Thai Mai không đi đến cách quan niệm cực đoan như Phê bình mới Theo ông, lịch sử tiếp nhận của
"đại chúng" về tác phẩm cuối cùng sẽ gặp nhau ở "giá trị chân thật và tương đối" của tác phẩm và sẽ "khai phục" cho tác phẩm vị trí "xứng đáng" như nó vốn có Ông viết: "Nói cho đúng thì lời phê bình của một thế hệ, một thời đại về các tác phẩm văn học không phải hoàn toàn là công bình: Nhiều người đồng thời đã hiểu lầm ý nghĩa một tác phẩm vĩ đại và chỉ khen hão! Lại còn những nhà văn, nhà nghệ sĩ lúc sinh thời đã bị thời đại bỏ rơi mà sau này thời gian mới khai phục lại cho tác phẩm của họ cái giá trị xứng đáng! Nhưng ta cũng không
Trang 21nên quên rằng so sánh những quyển sách đã được người đương thời hoan nghênh và giá trị lại được thời gian đảm bảo và những quyển sách mới dược xuất bản bị bỏ rơi mà sau này lại được thưởng thức thì hạng trên văn nhiều hơn hạng sách dưới Thời đại có thể nhầm nhưng tình trạng bất công vẫn là phần ít và sự nhầám của một thời kỳ vẫn có thể đính chính lại trong một thời kỳ sau" [109,tr 87-88]
Như vậy, lí thuyết tiếp nhận hiện đại có thể gập lại trong quan niệm của Đặng Thai Mai những ý tưởng tương tự về tính chủ quan và khách quan trong quá trình chiếm lĩnh một TPVC
1.2.3 Đặng Thai Mai quan niệm tiếp nhận văn học là một hoạt động sáng tạo Tính chủ quan là tiền đề của tiếp nhận sáng tạo Tuy nhiên, tính sáng tạo trong tiếp nhận văn học còn được khởi nguồn từ đối tượng tiếp nhận, tức TPVC Được "bẩm thụ" từ ý thức chủ quan của nhà văn, trên cơ sở một chất liệu ngôn từ đặc biệt, tính đa nghĩa đã trở thành một đặc trưng quy định số phận của tác phẩm văn học Theo đó, tính đa nghĩa cũng trở thành một trong những ngọn nguồn của tính sáng tạo trong tiếp nhận văn học Đặng Thai Mai
đã đến rất gần luận điểm tương tự như vậy khi ông nhấn mạnh đến "sinh mệnh vĩnh viễn" của một tác phẩm vĩ đại: "Một kiệt tác văn chương bao giờ cũng có một sức sống tuyệt đẹp, vô cùng phong phú và cái phong phú, cái đẹp đó thật sự cũng khó mà diễn tả cho hết bằng những lời lẽ tầm thường" [115,tr 75] Hay: "Một bài thơ hay, một bài văn hay bao giờ cũng là một hiện tượng sống, một sinh mệnh Mà đã là sinh mệnh thì không một công trình phân tích nào
có thể giải thích được đầy đủ về chiều sâu cũng như về chiều rộng" [115,tr 69] Quan niệm được phát biểu hàm súc nhưng khá rõ ràng Tác phẩm lớn (Đặng Thai Mai luôn xác định giới hạn này: tác phẩm kiệt tác) luôn là một sự "thách thức" đối với khả năng tiếp nhận của đông đảo độc giả Cũng có nghĩa rằng, tác phẩm lớn trong quan niệm của Đặng Thai Mai là một " cấu trúc mơr" một " đề án tiếp nhận", một "tiềm năng tiếp nhận" có khả năng khêu gợi hứng thú sáng tạo ở mỗi độc giả và trong nhiều thời đại Bởi đúng như ông quan niệm: " Khi ta nói đến tính vĩnh cửu của một kiệt tác thì đồng thời cũng có nghĩa là ta thừa nhận tính hiện đại của những tác phẩm thiên tài qua các thời đại" [115,tr 334] Tuy nhiên, ngay cả khi kết luận:
"Chỉ có nghệ thuật chân chính mới có thể có sinh mệnh vĩnh viễn" [109,tr 92], Đặng Thai Mai cũng không nói rằngtiềm năng sáng tạo hay "phạm vi không hiểu" của tác phẩm là vô tận Luận điểm về "tính vĩnh cửu", nói như Khrápchencô "chỉ đúng về phương diện là ý nghĩa của những khái quát sáng tạo của tác phẩm nghệ thuật không hạn chế trong phạm vi một thời gian nhất định nào" [70,tr 303] Điều Đặng Thai Mai muốn nhấn mạnh ở đây là: Không có một sự phân tích, lí giải, tiếp nhận duy nhất đúng, duy nhất đầy đủ về một TPVC có giá trị
Trang 22Điều này bảo đảm cả "một chân trời tự do" cho tiếp nhận và phát triển nhân cách ở người đọc Để khẳng định lập trường của mình, Đặng Thai Mai thường bao giờ cũng có những dẫn chứng cực kỳ sinh động và thuyết phục: "Trong lĩnh vực nghệ thuật, nói cho cùng thì ai là người hiểu ai được hoàn toàn, thấu triệt? Nhà nghệ sĩ vẫn tự an ủi với một ông (hay một bà) rằng: Chung Kỳ sắp tới! Nhưng thế gian được mấy Chung Kỳ? Và Chung Kỳ cùng Bá Nha
có gặp nhau là cùng ở chỗ cao sơn lưu thủy chứ nào có bao giờ hiểu nhau đến từng kẽ tóc chân tơ! Trong cung điện của Louis XIV và vua chúa đương thời kể ra mấy người đã hiểu hết cái tinh vi trong nghệ thuật của Comeille, Racine, Molière, hoặc của Claude Lorrain, của Rubens, của Van Dyck cho đến nơi đến chốn! Ngay trong các nhà nghệ sĩ ai là người có thể
tự hào là đã biết chắc cái dáng điệu cặp tay (gãy mất rồi) của pho tượng Vénus de Milo hay là
ý nghĩa của nụ cười La Joconde là thế nào Đặc tính của nghệ thuật, của những tác phẩm độc đáo là thế: Không ai hiểu hết, hiểu hoàn toàn được, nhưng cũng không ai là không hiểu được một mảy may nào trong tất cả cái tinh vi của nó" [113,tr 124]
Trong ví dụ này, Đặng Thai Mai có đề cập đến một khía cạnh thú vị: Kiểu tiếp nhận Bá Nha - Tử Kỳ Không phủ nhận cách tiếp nhận tri âm, tri kỷ truyền thống nhưng cũng như Lưu Hiệp, ông cho rằng, đó là một yêu cầu vô cùng khó khăn và hiếm hoi Hơn nữa, theo ông, tri
âm đến như Bá Nha và Tử Kỳ không phải là không có giới hạn, ở chỗ, họ chỉ gặp nhau ở cái
"chí" "cao sơn lưu thủy" chứ nào có hiểu nhau đến từng kẽ tóc chân tơ!" Cũng có nghĩa rằng, tiếp nhận văn học theo Đặng Thai Mai không đóng khung trong phạm vi sự "gập gỡ" với
"dụng ý", "tâm sự", "tấm lòng" của tác giả Đó mới là "một nửa" của nghệ thuật Cái làm giàu đời sống lịch sử của tác phẩm còn ở nghệ thuật độc đáo - hình thức chứa đựng những "ý chỉ tình tứ sâu sắc" ấy Câu kết luận trên của Đặng Thai Mai, vì vậy, đã vượt qua giới hạn khó khăn và chật hẹp của lí luận tiếp nhận truyền thống bao hàm tư tưởng hoài nghi về khả năng tiếp nhận khách quan phổ biến của đông đảo độc giả, đảm bảo cho "tiếp nhận là một chân trời"
Như vậy, trong khi đề cao "sức sống vĩnh cửu", tiềm năng sáng tạo dồi dào của một
"tác phẩm vĩ đại", các ý kiến của Đặng Thai Mai đồng thời đã gợi mở vấn đề về "khoảng cách thẩm mĩ", về tính sáng tạo, xem nó như một đặc điểm bản chất tất yếu của hoạt động tiếp nhận văn chương
Chúng ta đang nói rằng, tiếp nhận là sự bảo toàn cái cá tính, "cái tôi" một cách bền vững Nếu vậy thì, trước chúng ta khá lâu, Đặng Thai Mai đã xem cá tính tiếp nhận là phần
"phong phú", sâu sắc nhất của chủ thể bạn đọc - HS: "Trong văn chương, phần tâm đắc phong phú nhất vẫn là tình cảm của người đọc, là suy nghĩ của cá tính để bồi dưỡng một khẩu
Trang 23vị lành mạnh và một nếp suy nghĩ, một sức nhớ phong phú trên cư sở thích và hiểu" [120,tr 14] Quan điểm này đã nêu bật ý tưởng mà Đặng Thai Mai ấp ủ, rằng: Tiếõp nhận là một hoạt động sáng tạo Đây cũng là tiên đề lí luận quan trọng cho việc phát huy vai trò chủ thể HS trong DH TPVC ở NTPT mà vì nhiều lí do khách quan và chủ quan Đặng Thai Mai đã chưa giành cho nó một sư nghiên cứu sâu sắc, đầy đủ hơn
Mãi hơn một thập kỷ gần đây, vấn đề lí thuyết tiếp nhận văn học mới thật sự được coi trọng ở Việt Nam Và như vậy, điều chúng ta tìm được ở đây không chỉ là những luận điểm
có giá trị khoa học mà còn là một bài học bổ ích về khả năng nhạy cảm với tri thức mới "ý thức vươn lên trên mọi hoàn cảnh chật hẹp để tự hoàn thiện mình của một nhà khoa học chân chính
1.3 Đặng Thai Mai với quan niệm về mối quan hệ giữa việc dạy văn và dạy tiếng
ở nhà trường phổ thông
Gắn liền việc dạy văn với dạy tiếng cũng là một vấn đề thuộc quan điểm khoa học liên ngành Nhưng trong bài "Về việc dạy văn trong nhà trường" đăng trên TCVH 2/1974, Đặng Thai Mai đã phát biểu rất nhiều ý kiến bổ ích góp phần xử lí mối quan hệ giữa dạy văn và dạy tiếng ở các cấp học phổ thông Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề, luận án tách ra mục 3 này nhằm muốn tìm hiểu quan điểm của ông được thấu đáo và có hệ thống hơn
1.3.1 Về tầm quan trọng của việc gắn liền dạy văn với dạy tiếng ở nhà trường phổ thông
Tách khỏi môn Văn, trở thành một môn học độc lập trong nhà trường từ năm học 1986
- 1987 ở THCS và 1990 - 1991 ở PTTH, nhưng điều đó không làm giảm đi mối quan hệ gắn
bó, gần gũi vốn có giữa môn Văn và Tiếng Việt Về ý nghĩa mối quan hệ này, Đặng Thai Mai phân tích một cách rõ ràng, cụ thể: "Không ai có thể phủ nhận quan hệ giữa việc dạy tiếng và việc dạy văn ở trường phổ thống và cả ở trường đại học nữa Bởi một lẽ rất giản dị: Tiếng nói
là chất liệu của văn, không hiểu tiếng nói không hiểu ý nghĩa, nội dung chính xác của một từ, không hiểu ngữ pháp thì cố nhiên là không hiểu cái hay trong một áng văn và cũng không thể viết văn được Chính vì vậy mà giảng văn phải đặc biệt chú ý đến ngữ nghĩa, ngữ pháp, tu từ học Giảng văn, người giáo sư cần phải làm sao cho HS có thể nhấm nháp được ít nhiều cái hay của bài văn trong cách bố cục, trong từng đoạn, từng câu, từng chữ" [120,tr 2]
Thiết tưởng, không cần phải nói thêm về mối quan hệ hiển nhiên này Vấn đề là kết hợp như thế nào đế tạo được hiệu quả cao cho cả hai môn Văn và Tiếng Việt Theo Đặng Thai Mai, để xử lí tốt mối quan hệ đó cần phải có "một chương trình có tuần tự, từ cấp I lên đến đại học" mà ông đề cập đến trong một số gợi ý sau
Trang 241.3.2 Về việc dạy tiếng trong mối quan hệ với dạy văn ở cấp I (tiểu học) :
Về mục đích - yêu cầu: Căn cứ vào vị trí môn Tiếng Việt trong nhà trường, căn cứ vào trình độ phát triển của lứa tuổi hay là nguyên tắc về tính vừa sức, theo Đặng Thai Mai, "Một
em HS học xong cấp I ít ra cũng hiểu được một số từ ngữ nhất định, hiểu một cách chính xác, phải biết đặt câu, phải hiểu rõ tính chất một mệnh đề, phải nhận thức được mối liên hệ giữa các mệnh đề trong một câu phức tạp Và cuối cùng phải biết làm những bài văn tả cảnh, tự
sự hết sức giản dị'' [120,tr 3] Như vậy, việc dạy tiếng ở cấp I, theo Đặng Thai Mai phải chú trọng trước nhất đến việc hình thành và cung cấp tri thức công cụ cho HS
1.3.3 Về nội dung chương trình, SGK, Đặng Thai Mai gợi ý :
"Về việc dạy tiếng và dạy văn ở cấp I, theo ý tôi nên bắt đầu học từ và đến năm cuối thì dạy cho HS biết đặt những câu giản dị, rồi đến những câu phức tạp, sắp xếp theo một trật tự hợp lí Nếu có thể nên quy định một số lượng từ nhất định cần thiết cho mỗi cấp học, đi từ những từ cụ thể đến từ trừu tượng, từ nghĩa đen đến nghĩa bóng" [120,tr 3-4] Ông nhấn mạnh đến nguyên tắc trực quan khi giảng dạy từ ngữ ở cấp I, đặc biệt là ở lớp 1 và 2: "Nên chú trọng nhiều hơn đến vấn đề hình vẽ, màu sắc kèm theo bài dạy" Để mở rộng vốn từ, để bài học Tiếng Việt có nhiều hứng thú và có kết quả cao, theo ông: "Những bài học hai năm cuối cấp I ( ) nên bao gồm nhiều đề tài và chú trọng đặc biệt đến những khía cạnh hàng ngày của đời sống Vấn đề đạo đức và vấn đề ý thức chính trị đối với lứa tuổi các em cấp I nên được giảng dạy qua những bài tả cảnh, kể chuyện cụ thể ( ) sẽ để lại trong đầu óc các em bé những ấn tượng sâu sắc hơn là những bài giảng thuyết lí, trừu lượng" [ 120,tr 4]
1.3.4 Về phương pháp :
Phương pháp thiết thực nhất, hữu hiệu nhất vẫn là gắn liền việc dạy tiếng với dạy văn, dạy tiếng qua dạy văn Để minh hoạ cho tư tưởng này, Đặng Thai Mai lấy một ví dụ cụ thể :" Thầy giáo cô giáo nên lắng nghe những câu nói của HS và sửa chữa câu trả lời trong lúc kể một câu chuyện cổ tích hoặc một mẩu chuyện rất ngắn ở lớp ba và lớp bốn Vấn đề chính là làm cho HS hiểu đúng nghĩa một từ và phân biệt được cách đặt một câu khẳng định, phủ định, một câu hỏi, một câu nghi vấn cùng với cách dùng các giới từ cần thiết Thêm nữa:"Nên dạy bằng cách nói chuyện giữa HS với nhau, giữa thầy và trò" [120,tr 4]
Trong gợi ý này, Đặng Thai Mai đã đề cập đến vấn đề giờ học đối thoại, một hướng dạy học đang được lí luận dạy học văn hiện đại quan tâm nghiên cứu
Trang 251.3.5 Về việc dạy tiếng trong mối quan hệ với dạy văn ở cấp II (THCS) :
1.3.5.1 Về yêu cầu, nhiệm vụ :
Lên cấp II, năng lực nhận thức của HS đã phát triển một bước cao hơn, vì vậy, theo Đặng Thai Mai nhiệm vụ của việc dạy tiếng trong mối quan hệ với dạy văn là bước đầu "tuần
tự dạy cho HS có thể phát triển khiếu thẩm mĩ" [ 120,tr 3]
1.3.5.2 Nội dung chương trình:
"Có thể mở rộng dần dần vào lĩnh vực trừu tượng hơn nhưng cũng nên gắn chật theo bài giảng để chú ý đặc biệt đến vấn đề sử dụng từ ngữ cho chính xác và đến cách đặt câu đúng mẹo luật ( ) cho đến tu từ học" [120,tr4]
1.3.5.3 Một số lưu ý về phương pháp, thủ pháp :
Gắn chặt việc dạy tiếng với dạy văn ở cấp II, Đặng Thai Mai nêu ra một số biện pháp,
ví dụ cụ thể Trước hết là vấn đề chọn mẫu lời nói : "Nên lấy ví dụ về ngữ nghĩa, ngữ pháp,
về tu từ qua các bài văn tuyển của những tác giả được chọn là mẫu mực" [120,tr 3-4] Đây là một ý tưởng khoa học Bởi ví dụ mẫu là phương tiện để cho HS quan sát, phân tích phát hiện, khắc sâu tri thức mới Vì vậy, chọn được mẫu từ những câu, đoạn văn bản tiêu biểu về chuẩn ngôn ngữ, có giá trị thẩm mĩ cao là một điều kiện cần thiết cho thành công của một giờ Tiếng Việt Thứ hai: "Dạy tiếng cần xếp đặt những bài tập thích hợp với bài giảng Dạy văn cần nhớ tới những đề tài ngữ pháp được giảng dạy trong mỗi lớp, mỗi cấp" [120,tr 3]
1.3.6 Về việc dạy tiếng trong mối quan hệ với dạy văn ở cấp III (PTTH)
1.3.6.1 Về mục đích, yêu cầu :
Đề cao chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ, căn cứ vào đặc trưng nghệ thuật của môn Văn và trình độ tri thức của HS cấp III, theo Đặng Thai Mai, dạy tiếng ở cấp III cần chú trọng đặc biệt đến việc "phát triển khiếu thẩm mĩ" cho HS ở một bước cao hơn so với cấp II
1.3.6.2 Nội dung chương trình :
Để thực hiện được mục đích trên, nội dung chương trình cần đi vào một số yêu cầu chính như sau: "Phải chú trọng đặc biệt đến ý vị của tiếng nói văn học, đến yêu cầu của mẹo luật và ngay cả đến quyền tự do sáng tạo của những ngòi bút thật sự độc đáo, thật sự có cá tính" [120,tr 4] Hiểu theo quan niệm của Đặng Thai Mai, việc dạy tiếng ở cấp III cần phải tập trung vào hai nội dung cơ bản sau
Thứ nhất: Thông qua dạy tiếng, chỉ cho HS thấy được cái hay, cái độc đáo, cái "ý vị"
của tiếng nói văn học so với các tác phẩm khoa học, nghệ thuật khác Văn học không nói bằng cách nói khách quan chuẩn xác như khoa học Văn học cũng không nói bằng màu sắc,
Trang 26âm thanh, hình khối, hoa văn như các loại hình nghệ thuât khác Sức mạnh của văn học là ở nghệ thuật ngôn từ cụ thể hơn là ở tài năng sử dụng ngôn ngữ, hay " kỹ thuật dùng chữ" của nhà văn để biểu hiện vào trong đó "bao nhiêu những ý chí, tình tứ sâu sắc" "tinh vi"
Thứ hai: Giúp HS khám phá ra cá tính sáng tạo, phong cách độc đáo của nhà văn thông
qua nghệ thuật ngôn từ Cá tính phong cách ấy, theo Đặng Thai Mai, được bộc lộ qua việc giải quyết một số mối quan hệ sau Một là: Giữa sự "ràng buộc của ngữ pháp" với "cái phóng túng , của nhà văn" Nhà văn không thể thoát ly khỏi những quy tắc, luật lệ của ngôn ngữ, thể loại Nhưng "dẫu luật lệ nghiêm khắc đến đâu thì nhà thi sĩ đại tài cũng không phải là người
bó tay chịu chết trong khuôn khô chật hẹp của cú điệu" và nếu cần thì "không ngần ngại gì
mà không đánh gẫy bao nhiêu xiềng xích của quy luật để tóm cho được ý vị và tinh thần của tâm linh" [112,tr 69] Đó là tài hoa, là cái phóng túng (fanraisic) của nhà văn mà giảng văn phải tìm cho ra Hai là: "Quyền tự do sáng tạo" của nhà văn còn được thể hiện trong việc giải quyết mối quan hệ giữa "sự nhận thức của khoa học ngữ ngôn và trí tưởng tượng của sáng tạo", giữa một phương tiện giao tiếp chung với sự "thuần thục", "nắn nót" nó theo ý đồ chủ quan và một phong cách nghệ thuật độc đáo nhất định Ba là: "Ngòi bút thật sự độc đáo, thật
sự có cá tính" của nhà văn còn được thể hiện trong việc giải quyết mối quan hệ giữa "cái góc gách của thực tế với cái uyển chuyển của văn chương" Hiện thực dù trần trụi đến đâu nhưng khi đi vào tác phẩm luôn được khúc xạ qua "bức kính tam lăng của tình cảm", thuần thục theo cách nhìn, cách cảm và "sự nắn nót của nhà nghệ sĩ" [112,tr 69] Vì vậy, tác phẩm không sao chép nguyên si hiện thực mà luôn phản ánh hiện thực theo "quy luật của cái đẹp" Dạy tiếng phải góp phần tìm ra cái hiện thực được "ấp nghén" theo quy luật của cái đẹp này
Tóm lại: Mục đích của việc dạy Tiếng ở cấp III theo Đặng Thai Mai là phải nhằm khám
phá ra cá tính sáng tạo, tài năng, phong cách của nhà văn trong việc sử dụng ngôn từ nghệ thuật để từ đó giúp HS có thể nhận thấy "cái tinh vi trong văn chương", tức "cái tế nhị của cuộc sống" Đề ra những nội dung, yêu cầu này, Đặng Thai Mai cho rằng đó là một giáo trình
"hết sức khó" Nhưng ông giải thích: "Nếu không nâng cao chương trình giảng dạy của chúng
ta lên một mức lí luận có thể bổ ích cho nhận thức của HS về văn học thì tôi e rằng vấn đề dạy tiếng sẽ hết sức buồn tẻ và khô khan" [120,tr 5] Quan niệm này đúng cả khi Tiếng Việt
đã trở thành một môn học độc lập trong nhà trường
1.3.6.3 Về phương pháp, Đặng Thai Mai lưu ý:
"Nên phát huy tinh thần suy nghĩ của HS" Tuy chưa đưa ra những giải pháp, biện pháp
cụ thể nhưng đây là một ý tưởng tiến bộ, một tiền đề lí luận cho việc đổi mới PPDH Văn cũng như Tiếng Việt sau này
Trang 27Không phải là một chuyên gia PPDH Tiếng Việt, Đặng Thai Mai cũng không có chủ định bàn kỹ về vấn đề này Tuy nhiên, vào những năm 70, khi môn Tiếng Việt chưa được coi trọng trong nhà trường thì Đặng Thai Mai là người đã sớm ý thức được vai trò, tầm quan trọng của nó, đặc biệt là trong quan hệ với việc dạy văn, học văn Khoa phương pháp giảng dạy Tiếng Việt về sau có thể tìm thấy trong phát biểu của Đặng Thai Mai những gợi ý, định hướng, những phác thảo khoa học tương đối có hệ thống từ mục đích, nội dung chương trình, SGK cho đến PPDH Tiếng Việt ở các cấp phổ thông
1.4 Đặng Thai Mai với quan niệm về vai trò, vị trí, yêu cầu đối với người giáp viên văn học :
1.4.1 Thầy giáo dạy văn phải là người có tâm hồn lớn, tình cảm lớn :
Từng chứng kiến nỗi tủi nhục của tiếng mẹ đẻ và văn học tiếng me đẻ trong nhà trường Pháp Việt, từng được học qua những ông giáo dạy Việt văn mà quay lưng lại với Việt văn, khi tổng kết, đánh giá những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của nhà trường Pháp Việt, Đặng Thai Mai thấm thía kết luận: Yếu tố quyết định để bồi dưỡng cho HS một "nhân sinh quan, thế giới quan và lập trường tư tưởng đúng đắn, vững vàng ( ) rút cục lại vẫn là tác dụng của ông thầy" Nhưng "cái học văn" trong nhà trường Pháp Việt không làm được điều đó bởi mục đích của nền giáo dục ấy là nhằm đào tạo những "tâm hồn nô lệ" [120,tr 14;23] Điều có thể chứng minh được là, cùng với sức mạnh của môn Văn, lập trường tư tưởng tình cảm và nhân cách người thấy dạy văn có tác động sâu sắc đến sự hình thành lí tưởng sống, nhân sinh quan, thế giới quan cũng như lập trường tình cảm của người HS Sự từng trài đã giúp Đặng Thai Mai có ý thức sâu sắc về "địa vị đặc biệt quan trọng" này của người giáo viên văn học Ông viết: "Trong văn học, thầy giáo bao giờ cũng có thể ảnh hưởng tốt hay xấu để bồi dưỡng cho
HS một hứng thú, một khẩu vị, một nếp suy nghĩ, một khối óc giản dị mà sâu sắc, độc đáo mà không gàn dở, phong phú mà không rườm rà, nhưng phần bổ ích của một ông thầy có tinh thần yêu nước lại nằm ngoài yêu cầu của chế độ thuộc địa" [120,tr14;23] Quan điểm trên cho phép chúng ta liên tưởng đến một yêu cầu hết sức quan trọng đối với người giáo viên văn học Rằng, giáo viên phải là một người có tâm hồn lớn, tình cảm lớn Bởi muốn làm cho người ta khóc, trước hết "tự anh, anh phải khóc đã" Để HS có thể rung động trước mỗi áng thơ văn bất hủ của dân tộc, những áng thơ văn tràn đầy cảm hứng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và cảm hứng nhân đạo; để hun đúc trong HS tình yêu quê hương đất nước, để hình thành
ở HS những tình cảm thẩm mĩ cao đẹp, trước hết giáo viên phải là người có tâm hồn rộng
mở, có tình yêu Tổ quốc và niềm tự hào dân tộc sâu đậm
Trang 28Hình ảnh nhà giáo Lê Thước được Đặng Thai Mai ghi lại trong "Hồi ký" như một tấm
gương tiêu biểu có sức lay động sâu xa trong tâm hồn những lớp "học trò thuộc địa": "Thầy chúng tôi không những chỉ dạy những tri thức cơ bản trong chương trình lớp nhì Điều mà chúng tôi được học ở thầy chính là cái tinh thần tự hào dân tộc Với thầy Lê Thước, chúng tôi thấy được một người Việt Nam không sợ Tây, đầm, bất kỳ đó là đốc Tây hay bọn công sứ, phó sứ" [119,tr 250]
Tinh thần đó đã được Đặng Thai Mai lấy làm nếp sống, nếp nghĩ và hành động trong suốt cuộc đời và sự nghiệp của mình Đặng Thai Mai là một người thầy dạy văn có tâm hồn lớn, có tình cảm lớn Tình yêu Tổ quốc, tình cảm cách mạng đã mở rộng, nâng cao tầm cảm thụ của ông Tỉnh cảm đó đã giúp ông viết nên những trang văn xúc động, giàu chất văn về
Phan Bội Châu, về "Chinh phụ ngâm" về văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX mà
cho đến nay ít có công trình bài viết nào vượt qua được Tâm hồn lớn, tình cảm lớn đã giúp ông trau dồi khả năng nhạy cảm thẩm mĩ để hơn một lần các học trò ông được chứng kiến
"những ngấn lệ trên khóe mắt thâm quầng" của ông sau khi ông đọc diễn cảm xong "Bài học cuối cùng" của A.Đôđê hay "Sống như Anh" của Trần Đình Vân, vv [145.tr 279;.88] Cũng
con người yêu nước ấy đấu tranh chống Pháp, bị Pháp bắt tù tội lại đồng thời mang trong mình nền văn hóa Pháp GS.TS sử học người Pháp Sáclơ Phuốcniô nói: Từ Đặng Thai Mai, ông đã "nhận được một bài học đích đáng về sự nhún nhường và cả một niềm an ủi lớn nữa: qua tộc ác của sự thống trị thực dân, một vài phần tử đã thành công trong việc tạo dựng và sống một nền văn hoá đa diện song vẫn tổn tại như một kiểu mẫu" [145,tr 274] Không chỉ nhà trường mà cả dân tộc Việt Nam đều có quyền tự hào khi có những người con ưu tú như
Đặng Thai Mai Thuộc lòng "Chinh phụ ngâm" và cũng thuộc lòng từng tâm trạng của
Huygô, Đặng Thai Mai là một cái dấu nối đẹp đẽ giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân văn cao cả Tâm hồn lớn, tình cảm lớn cũng đã giúp ông xác định đúng đắn phương pháp giáo dục học trò: Luôn yêu cầu cao và "rất nghiêm minh trong đối đãi với HS", nhưng luôn yêu thương, tôn trọng và tận tình chỉ bảo họ hết lòng Hồi ký của các "cô cậu" học trò trường
tư thục Thăng Long như GS Nhan Bảo, GS Vũ Đức Phúc, nhà văn Vũ Tú Nam, nguyên bộ trưởng Bộ lao động Đào Thiện Thi, nguyên các thứ trưởng Bộ Giáo dục Võ Thuần Nho, Hồ Trúc, dường như vẫn còn ấm nóng bởi cảm giác "muốn mình thu lại nhỏ bằng con kiến để thầy khỏi gọi lên bảng" [145.tr 78] Chính Đặng Thai Mai cũng đã từng kể cho cô con gái còn nhỏ tuổi (nay là giáo sư văn học phương Tây Đặng Anh Đào) rằng: "Cả trường đều khét tiếng
"Mai đen" [145,tr 199] Nhưng, những hồi ức về "một thầy Mai đen rất hắc" ấy đã được kể lại trong nỗi xúc động da diết với một lòng biết ơn vô hạn "Tôi chấm bài khuya đến mấy cũng không ngại, chỉ cần trong cảnh thanh vắng đêm khuya được đọc một vài câu hay của các anh
Trang 29chị là nghĩ người đi trên sa mạc gặp được một vũng nước mát ngon lành" [145,tr 311] Theo hồi kí của họ câu nói đó Đặng Thai Mai đã thổi ra trong một giờ trả bài tập làm văn ở trường
tư thục Thăng Long với một nỗi ưu tư sâu sắc và một sự kỳ vọng tha thiết vào sự tiến bộ thực
sự ở học trò Câu nói đó không chỉ làm "xúc dộng cả tâm cơ" học trò mà còn gợi những điều sâu xa, tâm huyết đối với những người tự xem mình như cây nến cháy hết mình để soi sáng cho thế hệ mai sau Không chỉ học trò mà nhiều người có tên tuổi thường hay lui tới nhà Đặng Thai Mai cũng đều nhận thấy một điều rằng: Trong nhà Thầy, khi nào cũng có một, hai
HS nghèo được Thầy cô bảo trợ ăn học" [ 145,tr 305; 300; 43 ] Nói như nhà thơ Huy Cận,
"Bao trùm tất cả, xuyên qua tất cả, Đặng Thai Mai là nhà nhân bản và di sản quý báu mà Đặng Thai Mai để lại cho các thế hệ sau là một di sản nhân văn" [145,tr 52]
Như vậy, cùng với vốn tri thức uyên thâm và tài năng sư phạm, tâm hồn lớn, tình cảm lớn đã giúp Đặng Thai Mai trở thành một bậc thầy mà như phát biểu của GS Phong Lê: "Mỗi dịp nhắc đến là gợi cả một niềm tôn kính và ngưỡng mộ trong lòng các thế hệ học trò"
Luôn trau dồi tình yêu Tổ quốc, tình cảm cách mạng, mở rộng tâm hồn trước cuộc đời, trước con người để cảm hiểu hơn mỗi trang văn, trang thơ, để làm đấy lên ở HS những tình cảm cao đẹp tương tự - Bài học đó không bao giờ cũ đối với người giáo viên văn học, nhất là khi có sự hiện hữu của "nỗi lo giá lạnh tầm hồn" hay trong bối cảnh tình hình thế giới luôn có những diễn biến phức tạp đe dọa đến nền hòa bình an ninh thế giới và độc lập của các dân tộc
1.4.2 Giáo viên dạy văn phải là người có vốn tri thức văn học và khoa học liên ngành sâu rộng
Là người quán triệt sâu sắc quan điểm khoa học liên ngành, vì vậy, theo Đặng Thai Mai, uyên thâm là điều kiện tiên quyết cho thành công của một người giáo viên văn học, Ông nói: "Muốn hiểu văn thì phải đọc rộng về sử, triết, xã hội học, biết rõ lịch sử của từng tác giả, tác phẩm Phải đọc nhiều báo" [119,tr 355] Người thầy uyên thâm là niềm ngưỡng mộ của học trò Đặng Thai Mai đã học tập được rất nhiều ở những người thầy như vậy "Mấy năm học với cụ Milon - Đặng Thai Mai viết - tôi đã học được nhiều ( )- Điều mà mọi người sinh viên đều nhận thấy là giáo sư là một nhà học giả rất uyên bác, sâu và rộng Xuất phát từ một bài của Jean Jacques Rousseau viết về tâm trạng mình trong khi chơi thuyền trên hổ Vienne, giáo sư đã phân tích tâm trạng farniente của
Rousseau đem so với cái vô vị của Lão tử, với chữ "nhàn" của các nhà nho Trung Quốc
và Việt Nam, chỉ rõ sự khác biệt giữa triết lí nửa cuối thế kỷ XVIII nước Pháp với quan niệm
Trang 30nhân sinh phương Đông Cụ còn gợi ý với sinh viên nên phân tích tâm lí nhàn tản của các thi
sĩ Việt Nam" [119,tr 287-288]
"Trên đường học tập và nghiên cứu", Đặng Thai Mai đã tích lũy cho mình một kho tàng tri thức nhân loại "sâu và rộng" Nhiều nhà văn, nhà khoa học có tên tuổi trong nước và trên thế giới đã từng ví Đặng Thai Mai như "một cuốn bách khoa toàn thư sống" Có thể nói, uyên bác đã trở thành một đặc điểm nổi bật trong phong cách của một nhà sư phạm, một thầy giáo dạy văn - Đặng Thai Mai Với vốn tri thức Đông Tây kim cổ uyên thâm, những giờ giảng văn của ông đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tâm trí các thế hệ học trò Điều đó sẽ được thể hiện phần nào qua các công trình, bài giảng mà chúng tôi có dịp điểm qua ở các chương sau Luôn tích lũy cho mình một vốn tri thức uyên thâm là một trong những điều kiện quyết định để trở thành một thay giáo giảng văn giỏi Về mặt này, Đặng Thai Mai xứng đáng là một tấm gương tiêu biểu
1.4.3 "Vai trò của ông thầy ở đây là khêu gợi, là hướng dẫn, là truyền cảm" [119,tr 200]
Một quan niệm đúng đắn về vai trò vị trí của người giáo viên trong giờ giảng văn không chỉ làm cân đối một cơ chế dạy văn tối ưu mà còn là yếu tố trực tiếp quyết định đến chất lượng, hiệu quả cảm thụ và phát triển của HS ở NTPT Tuy nhiên, để đến được một quan niệm tiến bộ không phải là chuyện ngày một ngày hai Trong cơ chế dạy học văn cũ, giáo viên thường đóng vaitrò là người người truyền thụ, thuyết trình, áp đặt cảm xũ Quan niệm " phải dạy cho HS biết suy nghĩ, suy nghĩ bằng trí của mình " Được gióng lên khẩn thiết từ một bài viết của đồng chí Phạm Văn Đồng tháng 11-1973 Cho đến nay lời kêu gọi đó vẫn đang là những đòi hỏi bức thiết của khoa PPDH TPVC ở NTPT Trong bối cảnh đó, thiết nghĩ, luận điểm về vai trò, vị trí của người giáo viên trong giờ giảng văn của Đặng Thai Mai
là một cách đặt vấn đề rất tiến bộ, phù hợp với tư tưởng đổi mới PPDH Văn mà cốt lõi là phát huy chủ thể sáng tạo HS Quan niệm đó được đúc rút từ sự nghiền ngẫm, trải nghiệm sâu xa trên suốt chặng đường gắn bó với nghề dạy văn của ông Ghi lại những kinh nghiệm giảng văn của thầy cử Hồ Phi Thống, một trong những thầy dạy mà Đặng Thai Mai yêu kính nhất, ông rút ra kết luận: "Có lẽ đây cũng là con đường hiệu nghiệm để gây mĩ cảm cho lứa tuổi đồng ấu: Yêu mến cái đẹp của một cử chỉ, một hành động, một tâm trạng qua tiết tấu, âm hưởng một vần thơ, một câu văn Vai trò của ông thầy ở đây là khêu gợi, là hướng dẫn, là truyền cảm" [119, tr 200] "Khêu gợi, hướng dẫn, truyền cảm", ba từ đó đã thâu tóm gần như đầy đủ "chỗ đứng cần thiết" của người giáo viên trong giờ giảng văn Luận điểm đó đã đổi mới về cơ bản so với quan niệm cũ Thầy không phải là người áp đặt cảm xúc mà là người
Trang 31"khêu gọi" cho HS biết tự rung động Thầy không thuyết trình từ đầu đến cuối mà là người
"hướng dẫn" HS từng bước thưởng thức, đánh giá tác phẩm Thầy không truyền thụ thụ động
mà là người "truyền cảm" với tất cả tâm hồn mình để "đánh thức" ở HS những rung cảm sâu
xa, những cảm xúc cao đẹp Trong quan niệm đó, phương pháp giảng văn của thầy là hướng vào đối tượng HS, nhằm phát triển ở HS khả năng cảm thụ độc lập, sáng tạo Vì vậy "một bí quyết trong khoa học sư phạm - Đặng Thai Mai viết - hình như là ở chỗ đó: Ông thầy không bao giờ nên cắm rỗ vào cái ghế mình ngồi để rồi nói cho mình nghe mà trước hết phải ngồi vào chỗ HS để mà nói và phải biết nói thế nào cho HS hiểu, cho HS thích nghe " [119,tr198] Trong lối giảng văn truyền thống, giáo viên chỉ chú ý đến bài văn, cốt sao truyền đạt được thật kỹ nội dung bài văn Tình cảm, thái độ, đặc điểm hứng thú, nhu cầu, khả năng tiếp nhận của HS là điều giáo viên không cần biết đến Nhà văn Pháp Claude Aveline có một liên tưởng hóm hỉnh là: "Giáo sư chỉ là một bộ máy nhét đầy những phiếu ghi cần thiết và cắm vào các cậu HS đang nằm ngủ trong một giảng đường - phòng ngủ" [122,tr 23] Để
"đánh thức" học trò, mà cụ thể là đánh thức tư duy sáng tạo của các em, theo Đặng Thai Mai, người giảng văn không nên ngồi " nói cho mình nghe" mà trước hết phải "ngồi vào cho HS
mà nói" Nghĩa là cần chú ý đến HS như một chủ thể tiếp nhận có những nhu cầu, hứng thú, năng lực cảm thụ cụ thể, lấy đó làm cơ sở để lựa chọn những phương pháp, biện pháp giảng văn có hiệu quả Vai trò của giáo viên ở đây là khêu gợi, là tổ chức, hướng dẫn cho HS tham gia quá trình cảm thụ Tuy nhiên, trong khi đề cao vai trò tổ chức, hướng dẫn, Đặng Thai Mai cũng đồng thời rất coi trọng vai trò "truyền cảm" Trước đây, xuất phát từ một thứ mĩ học nghèo nàn, người ta đã từng phủ nhận vai trò bình giảng, diễn giảng của giáo viên, cho rằng
đó là "thừa" Gần đây, với cách quan niệm siêu hình về đổi mới PPDH Văn, có người cũng đi đến kết luận tượng tự như vậy khi cho rằng thuyết trình, giảng bình là những phương pháp đã
cũ , rằng phải thay thế bằng những phương pháp, phương tiện kỹ thuật đã cũ, rằng phải thay thế bảng ghi âm, ghi hình; rằng để phát huy chủ thể HS, giáo viên phải rút lui hoàn toàn khỏi giờ giảng nhường chỗ cho HS đối thoại với tác phẩm Nhưng nói như Vưgốtxki, nếu "đọc là hưởng khoái cảm" thì công thức đó mặc nhiên cũng không phủ nhận được mộtt điều rằng:
"Ngay cả nghệ thuật hưởng khoái cảm cũng có thể dạy được" Bên cạnh đố, thực tế cho thấy, hứng thú, sức lôi cuốn của một giờ giảng văn không chỉ được khơi nguồn từ bài văn mà còn được gợi lên bởi giọng nói truyền cảm và "kỹ thuật giảng văn sâu sắc và chính xác" của người thầy Hơn nữa, sự giao tiếp gần gũi, trực tiếp giữa thầy và trò trong khuôn khổ lớp học
là điều kiện làm "lây lan" mạnh mẽ niềm say mê và các cung bậc cảm xúc từ phía thầy sang phía HS; làm thức dậy ở HS hứng thú, niềm say mê đối với tác phẩm; gợi dậy ở HS khát khao tìm đến tác phẩm để cảm và hiểu tác phẩm sâu sắc hơn Giảng bình như vậy là kiểu mẫu
Trang 32cho học trò học tập Trong thực tế, kí ức về những giờ giảng văn truyền cảm có thể sẽ theo những "cô cậu" học trò đi suốt cuộc đời Một trong những niềm hạnh phúc lớn lao của Đặng Thai Mai là ông đã có không ít những lớp học trò mà mặc cho thời gian trôi đi, họ vẫn nâng niu cất giữ những ấn tượng sâu đậm về những giờ giảng văn truyền cảm mà Thầy là- "chiếc cầu nối kì diệu" giữa người học, người nghe với tác phẩm Về điểm này, cũng thật khó để phản bác lại quan điểm của Đặng Thai Mai khi ông cho rằng: Thầy giáo có một "địa vị đặc biệt quan trọng" trong việc làm cho HS yêu văn, thích văn" và giỏi văn [120,tr 2] Sự mẫu mực trong lời bình giảng, trong bài giảng của người thầy là một sự bồi đắp, khích lệ mạnh mẽ năng lực cảm thụ sáng tạo ở HS phát triển
Như một sư đối trọng với lối diễn giảng thuyết trình từ đầu đến cuối trước kia, trong quá trình thực nghiệm vừa qua, dự hơn 70 tiết giảng văn ở một số trường PTTH Thanh Hóa, người viết nhận thấy, có những giờ giảng văn, phương pháp giảng bình hầu như đã được thay thế hoàn toàn bởi phương pháp đọc diễn cảm, phương pháp hỏi - đáp và hỏi - đáp liên tục Cái đọng lại sau giờ giảng không phải là những "ấn tượng nghệ thuật đặc sắc" hay những cảm xúc nghệ thuật "hùng mạnh" mà là những cái gạch đầu dòng vụn vặt, rời rạc Khi đề cập đến
sự ảnh hưởng của nền "văn hoá nghe nhìn" đối với tương lai của văn học nghệ thuật, nhà văn Claude Aveline "đánh cuộc với chú Rôbốt của mình" rằng: "Tôi không thể biết rồi đây tập
Pantagruel hay tập Chiến tranh và hoà bình của thế kỉ thứ XXV sẽ xuất hiện dưới hình thức
nào, nhưng điều chắc chắn là tác giả những tập sách ấy quyết sẽ không phải là một guồng máy điện tử" [122,tr 4] Nhiều nhà văn, nhà giáo dục học ở ta và phương Tây cũng phân tích:
"Trí tuệ nhân tạo không chỉ nhân lên trí tuệ con người mà còn làm tăng sự ngu dốt của con người, ( ) có thể dẫn đến chỗ con người không cần giao tiếp trực tiếp với nhau" mà gián tiếp qua dây cáp, âm thanh, tín hiệu nổi [199,tr 10] Đó là "một nguy cơ thiếu vắng tình người", làm suy giảm "nội lực" con người và làm "xơ cứng tâm hồn có chiều hướng đóng kín" [63,tr 65] Giảng văn vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật "Chú Rôbốt" có thể góp phần làm tăng hiệu quả của một giờ văn nhưng không thể hoàn toàn Thay thế được sự hiện diện trực tiếp, sức lôi cuốn "truyền cảm" mạnh mẽ từ lời giảng, giọng giảng của người thầy Thầy giáo dạy văn không đem giản là "một guồng máy điện tử" mà là người "đánh thức tâm hồn" HS với tất cả tình cảm, cảm xúc và sự rung động của tâm hồn mình Giờ văn khác với giờ toán, thầy giáo giảng văn khác với thầy giáo dạy toán cũng chính là ở vai trò truyền cảm này Vì vậy, không thể "thủ tiêu" phương pháp giảng bình cũng như không thể không xem nghệ thuật truyền cảm như một năng lực cần có, một tiêu chí cơ bản để đánh giá năng lực sư phạm của người giáo viên văn học
Trang 33Như vậy, luận điểm về vai trò của người giáo viên trong giờ giảng văn là "khêu gợi",
"hướng dẫn", "truyền cảm" của Đặng Thai Mai, có thể nói, là một cách đặt vấn đề tiến bộ, tương đối đồng bộ và có ý nghĩa đối với khoa PPDH Văn hiện đại Một sự tuyệt đối hóa yếu
tố này hoặc phủ nhận vai trò của yếu tố kia không chỉ làm mất cân đối cơ chế giảng văn mà cũng không đưa lại chất lượng hiệu quả như mong muốn
Với Đặng Thai Mai, khoảng cách giữa lí thuyết và thể nghiệm, giữa lí luận và thực hành thường rất ngắn "Con đường hiệu nghiệm" của thầy Cử Hồ đã
được ông áp dụng khhi đứng trên bục giảng Ông tâm sự: "Tôi cảm ơn thầy đã làm cho tôi biết rung động trước cái đẹp của một cử chỉ, một hành động qua tiết tấu, âm hưởng một văn thơ, một câu văn với vai trò hướng dẫn, truyền cảm Tôi đã áp dụng phương pháp dạy văn của thầy sau này khi tôi là giáo sư và tôi nhận thấy tôi đã đạt được một số kết quả khả quan" [119, tr 381]
Dường như để chứng minh cho câu tổng kết của thầy, các bậc học trò của ông như GS.TS Niculin, GS Nhan Bảo GS Vũ Đức Phúc, nhà văn Vũ Tú Nam nhà văn Hoàng Văn Bổn, vv đều có chung một hồi ức: "Cách giảng của thầy không phải là nêu ra một khuôn mẫu để HS tiếp nhận thụ động mà gợi mở cho HS những suy tưởng và rung cảm, tự mình khám phá cái đẹp của văn chương phát triển những ý tưởng mới "khêu gợi" khuyến khích cho HS tự tìm hiểu sâu hơn, vv " [159,tr 62 và 145,tr 77] Nhà thơ Huy Cận thì nhận định :" Tôi thay Đặng Thai Mai đã dạy học như thực hiện một nhiệm vụ truyền giáo ( ) Đặng Thai Mai biết gọi sự đồng cảm giữa thầy và trò [145, tr 51-52].Như vậy, có tâm hồn, tình cảm lớn,
có tri thức uyên bác là điều kiện tiên quyết dẫn đến thành công Nhưng hiệu quả cuối cùng của một giờ giảng văn còn phụ thuộc một phần không nhỏ vào tài năng tổ chức, hướng dẫn, truyền cảm của người thầy Quan niệm cũng như kinh nghiệm của Đặng Thai Mai cho chúng
ta có thêm cơ sở để khẳng định rằng: Muốn đạt được hiệu quả giảng văn như mong muốn, người giáo viên phải luôn biết kết hợp chặt chẽ, thống nhất giữa cái uyên thâm về tri thức với phương pháp khoa học sư phạm
Ít bàn đến phương pháp học của HS nhưng bù lại, Đặng Thai Mai đặc biệt lưu tâm đến vấn đề nhân cách, phương pháp, đặc điểm lao động của người giáo viên văn học Giáo viên là người cuối cùng biến lí thuyết giảng văn thành chất lượng, biến phương pháp giảng văn thành hiệu quả và phát triển trong tâm hồn HS Vì vậy, quan tâm nghiên cứu đến cấu trúc năng lực, đặc điểm lao động, vai trò vị trí của người giáo viên trong DH TPVC ở NTPT là một vấn đề khoa học mà lí thuyết giảng văn hiện đại cần đi sâu nghiên cứu hơn nữa Những kiến giải
Trang 34Đặng Thai Mai nêu ra có thể chưa đầy đủ nhưng phần còn lại cũng cho chúng ta những lưu ý thực sự cần thiết cho vấn đề khoa học này
Như vậy, nếu so với yêu cầu của khoa PPDH Văn hiện đại thì quan niệm của Đặng Thai Mai về những vấn đề văn học trong nhà trường (ngoại trừ phương pháp luận giảng văn
sẽ tìm hiểu ở chương sau) chưa thể nói là đầy đủ và có hệ thống Chẳng hạn, ngoài phương pháp giảng văn, vấn đề PPDH tác phẩm văn học sử phương pháp hình thành khái niệm lí luận văn học cho HS, công tác ngoại khoa văn học,vv chưa được Đặng Thai Mai bàn đến Phát biểu của ông về các vấn đề nêu trên cũng chưa đầy đủ và mới chỉ dừng ở mức gợi mở, nêu vấn đề Tuy vậy về nhiều điểm, quan niệm của ông vẫn có giá trị của người đi tiên phong và cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị khoa học và thời sự Đó là kiến giải về "chất văn", về việc dạy tiếng gắn với dạy văn, vấn đề chủ quan, sáng tạo trong tiếp nhận, quan điểm khoa học liên ngành hay quan niệm về vai trò "khêu gợi, hướng dẫn, truyền cảm" của giáo viên trong giờ giảng văn
Trang 35CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN GIẢNG VĂN CỦA ĐẶNG THAI MAI
Phương pháp luận (methodology), theo một cách quan niệm truyền thống và phổ biến, bao gồm hai cấp độ lớn, Trước hết, nó là học thuyết triết học về phương pháp nhận thức khoa học và cải tạo thế giới Thứ hai, phương pháp luận là tổng thể nói chung những phương pháp nghiên cứu vận dụng trong một khoa học Thuật ngữ phương pháp luận trong "phương pháp luận giảng văn" được chúng tôi dùng với hàm nghĩa Thứ hai, Chúng tôi không quan niệm phương pháp luận giảng văn chỉ bao gồm những phương pháp đựac thù của chuyên ngành Bởi vì khi nói đến lí luận, đến khoa học tức thì nó phải được triển khai thành một hệ thống luận điểm hoặc tiêu chí Và vì vậy, trong " phương pháp luận giảng văn", ngoài những phương pháp, kỹ thuật cụ thể chúng tôi cũng nói đến cả tư tưởng, quan niệm, quan niệm, nguyên tắc những cái có thể chuyển hoá thành phương pháp
2.1 Về khái niệm giảng văn và khái niệm giảng văn theo quan niệm của Đặng Thai Mai:
Là một hình thức xuất hiện từ rất sớm, từ khi có trường học có thầy giáo và học trò nhưng "giảng văn" cho đến nay vẫn là khái niệm chưa có một định nghĩa và cách dùng thống nhất
Theo nghĩa gốc Hán, "giảng văn " ( ) nghĩa là giảng giải cắt nghĩa, diễn giảng tác phẩm văn học Trong từ ngữ của các nước phương Tây "giảng văn" (Explication) có gốc ở một động từ la tinh "pli" với nghĩa là "mở nếp" tức phân tích Trong lịch sử nghiên cứu phê bình văn học truyền thống "giảng văn" được dùng song song với "bình văn" để phân biệt hai khuynh hướng cảm thụ tác phẩm "Bình văn" là một truyền thống văn hoá lâu đời của người Việt Nam Còn "giảng văn", theo GS Hoàng Tuệ, là tên gọi tương ứng với Explication de texte trong truyền thống Pháp - một truyền thống có uy tín rộng rãi ở châu Âu (trước đây trong tiếng Anh cũng dùng nguyên Explication de texte chứ không dịch) và ảnh hưởng khá sâu sắc đến Việt Nam thông qua hệ thống giáo dục thuộc địa Trong thực tế, "giảng văn" và
"bình văn" gặp nhau và không tách biệt Nhưng nếu "bình văn" thường thiên về cách đọc tri
âm, tri kỷ, ký thác, đánh giá tác phẩm chủ yếu dựa vào tình cảm, rung động chủ quan, thì ngược lại, khuynh hướng giảng văn lại thiên về phân tích, cắt nghĩa tác phẩm xuất phát từ việc giải thích, giảng giải điển cố điển tích, bố cục, niêm luật, nghĩa đen, nghĩa bóng của từ
Cả hai truyền thống này đều có những mặt mạnh và phần cực đoan Nhưng khi nghiên cứu
Trang 36văn học chưa trở thành một khoa học thực sự thì "bình văn" và "giảng văn" (dưới ảnh hưởng của truyền thống giảng văn Pháp) cũng là một hình thức nghiên cứu, phê bình văn học
Theo lịch sử khoa cử và giáo dục Việt Nam, từ thời phong kiến, khái niệm "giảng văn"
đã được dùng để chỉ hoạt động giảng dạy văn học trên lớp của giáo viên và là một phân môn
cơ bản của môn Văn trong nhà trường
Như vậy, theo quan niệm truyền thống, "giảng văn" vừa là một hình thức nghiên cứu phê bình, một hoạt động cảm thụ văn học vừa là hoạt động dạy văn trong nhà trường Quan niệm đó phổ biến cho đến những năm 80 của thế kỷ XX, các nhà khoa học vẫn dùng "giảng văn" với hai nghĩa: Giảng văn "vừa là công việc lao động trên tác phẩm" ,"là môn phân tích văn học" [155,tr3 và 139,tr9], vừa là "một công việc của giáo viên trong mối quan hệ hữu cơ với HS [89,tr6-7], "là một môn học có tính chất nhà trường" [139,tr9 và 138,tr376] Bản chất của quá trình giảng văn trong nhà trường trước đây là truyền thụ - tái tạo Lối học ấy ngày càng tỏ ra không thể đáp ứng được những đòi hỏi bức xúc của thời đại đã đặt ra yêu cầu đổi mới PPDH Văn Cốt lõi của tinh thần đổi mới là: Thầy tổ chức hướng dẫn, HS chu động, sáng tạo-chiếm lĩnh tác phẩm Để phù hợp với tinh thần" này, môn "Giảng văn" được đổi tên thành "Phân tích và dạy học tác phẩm vãn chương" Khái-niệm "giảng vãn" hầu như đã được
"khai tử", nhưng hoạt động giáng văn thì ngược lại, nó được quan tâm hơn bất cứ lúc nào Tên gọi mới có vé rất phù hợp, nhưng đó đây trong các giáo trình "Phương pháp dạy học văn" hay một số sách tham kháo mới xuất bản, các tác già vẫn dùng khái niệm "giảng văn" Chẳng hạn GS Phan Trọng Luân thì dùng "giảng văn" khi phân biệt với "Văn học sử" và
"Tập làm văn" [95] GS Nguyễn Thanh Hùng thì dùng "giảng văn" (phân tích bản thân tác phẩm) phân biệt với "bài học tác phẩm" (lịch sử sáng tác và tiếp nhận tác phẩm) [94.tr 65]
GS Đặng Thanh Lê và GS Trần Đình Sử thì lấy tên "giảng văn" đặt cho cuốn sách chọn lọc những bài phân tích, bình giáng tác phẩm văn học trong nhà trường của mình [84], [172], vv Theo chúng tỏi vấn đề cơ bản ở đây khôn chỉ là một cái tên gọi Quan trọng là ở quan niệm và hệ thống lí thuyết của tên gọi, khái niệm ấy Khi chưa có một định nghĩa thống nhất
và quy định cách dùng "gỉảng văn" một cách nhất quán thì tùy ý muốn nhấn mạnh mặt này mặt kia mà các tác giả có thể sử dụng "giảng văn", hay "phân tích và dạy học tác phẩm chương"
Trong một số công trình, bài viết Đặng Thai Mai rất hay dùng thuật ngữ "giảng văn' Vậy theo chữ dùng của ông "giảng văn" hàm nghĩa là gì? Ở "GVCPN", ông viết: "Nêu như phê bình học cũng là một phương tiện xúc tiến xây dựng văn học thì thiết tưởng khoa giảng văn cũng là hình thức phê bình cần thiết cho học thuật nước nhà" [112,tr14] Nhưng nội dung,
Trang 37đối tượng của "hình thức phê bình cần thiết" này là gì? Lời phê bình văn học kiểu cổ chỉ chuyên tâm tìm kiêm ý đẹp lời hay trong tác phẩm, tập trung đánh giá phẩm bình hơn là phân tích, nghiên cứu toàn bộ những mối quan hệ trong ngoài phức tạp của sáng tác văn học Lời phê bình mới phê bình ấn tượng lại chủ trương chỉ nén "cảm thông lặng lẽ" chứ không phân tích không phê phán Những hình thức phê bình này không những không có tác dụng gì nhiều trong việc hướng dẫn gợi ý, mở đường cho sáng tác mà ngược lại, dễ dẫn sáng tác đi vào những thiên hướng lệch lạc, bệnh hoạn Trong bối cảnh đó, giảng văn theo Đặng Thai Mai là một hình thức phê bình cần thiết, bởi ông quan niệm giảng văn là những "công trình phân tích thấu đáo nội dung và hình thức của áng văn, tác dụng của thiên tài, ảnh hưởng của lịch sử và của thời đại trong công cuộc xây dựng văn nghệ, địa vị cùng ảnh hưởng của tác phẩm trong tư tưởng và văn học Việt Nam" [112, tr15] Quan niệm như vậy thì giảng văn bao gồm cả phê bình, phân tích tác phẩm, một phần của lịch sử văn học và nghiên cứu văn học Quan niệm đó góp phần tránh được cách hiểu và lối giảng văn thiển cận, chỉ đóng khung trong những tìm kiếm vế ý nghĩa luận lí, thần cú nhãn tự trong bản thân tác phẩm cũng như lối bình văn chú quan, thiêu cơ sở lí luận và thực tiễn
Trong bài đăng trên tạp chí Văn học số 2/1974, Đặng Thai Mai cũng nói nhiều đến khái
niệm "giảng văn" Nhưng "giảng văn" ở đây được dùng với nghĩa khác Thứ nhất, "giảng văn" là một hoạt dộng diễn giảng về văn của giáo viên trên lớp: "Giảng văn, người giáo sư cần phải làm sao cho HS có thể nhấm nháp được ít nhiều cái hay của bài văn" Thứ hai,
"giảng văn" là một phân môn của môn Văn bên cạnh Làm văn và Tiếng Việt" Cả hai nghĩa này đều chỉ có "tính cách nhà trường"
Như vậy, thuật ngữ "giảng văn" cũng được Đặng Thai Mai sử dụng với hai nghĩa: Giảng vănvăn vừa là một " hình thức phê bình cần thiết" vừa là một hoạt động giảng dạy văn học, một môn học ở NTPT
Trong không khí đổi mới PPDH Văn, thuật ngữ "giảng văn" có vẻ cũ kỹ, lỗi thời Bản thân âm hưởng của từ đó dễ gây cho người ta ấn tượng về lối dạy học cũ đã từng ngự trị hàng thế kỷ đằng dặc trong NTPT chúng ta Tuy nhiên, như đã nói ở trên, tên gọi không phải là tất
cả Quan niệm và hệ thống lí thuyết giảng văn của Đặng Thai Mai trong thực tế đã vượt quá giới hạn chật hẹp của cách hiểu cảm tính về khái niệm "giảng văn" và cách giảng văn phổ biến trong nhà trường cũ Để đảm bảo tính khách quan ở tiểu luận này người viết vẫn dùng nguyên khái niệm "giảng văn" của Đặng Thai Mai chứ không thay bằng những thuật ngữ hiện đại khác, chẳng hạn "Phân tích và dạy học tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông"
Trang 382.2 Quan niệm của Đặng Thai Mai về tác phẩm văn chương và tác phẩm văn chương trong nhà trường :
2.2.1 Quan niệm của Đặng Thai Mai về "một áng văn chương kiệt tác"
Trong bài đăng trên tạp chí "Văn nghệ" số 8/1961, Xuân Diệu viết: "Gợi ý cho các bạn trẻ mới làm thơ để các bạn có một khái niệm rằng, tác phẩm thơ còn có quy luật nội tại cùa
nó nữa, như vậy không phải bày ra lắm chuyện, lắm yêu cầu chỉ có thể làm nản lòng những, bạn mê việc làm thơ mà như vậy theo dụng ý của tôi là muốn đỡ bớt sự tiêu phí máu xương của các bạn"
Quả vậy, xác định được thế nào là một TPVC có giá trị sẽ giúp các nhà văn lao động có mục đích, có định hướng, có hiệu quả; giúp các nhà nghiên cứu, phê bình có cơ sớ, tiêu chí để đánh giá thẩm định vị trí, giá trị cùa tác giả, tác phẩm; đồng thời cung cấp cho các nhà làm chương trình, SGK các chuyên gia PPDH Văn và giáo viên văn học những cơ sở lí luận chắc chắn để xác định.đúng mục đích giảng văn lựa chọn sát hợp một chương trình tối ưu và xây dựng một hệ thống phương pháp "kỹ thuật giảng văn" thích hợp
Một nhận thức như vậy tưởng không có gì mới Thế nhưng cho đến nay một định nghĩa ngần gọn, chính xác và bao quát nhất về TPVC đặc biệt là TPVC có giá trị vẫn là vấn đề chưa thống nhất Những cuộc tranh luận gay gắt, kéo dài về một hiện tượng văn học nào đấy được đăng tải thường xuyên trên báo chí hay những giờ giảng văn hời hợt, buồn tẻ vẫn thường thấy
ở NTPT hiện nay đều có nguyên do một phần từ việc nắm khái niệm TPVC một cách phiến diện hời hợt, thiếu hệ thống
TPVC là chỉnh thể trung tâm cua hoạt động văn học Thế nhưng khi bàn đến văn học, truyền thống lí luận của ta và cả phương Tây (ít ra là trong vốn tư liệu tiếng Việt hiện có) thường chỉ chú trọng định nghĩa văn học là gì chứ chưa chú ý đúng mức đến việc đưa ra một khái niệm đầy đủ như thế nào là một PVC có giá trị Khi xem xét, bình giá, lí luận trước nay thường; chỉ mới đi sâu hiểu cấu trúc nội tại của tác phẩm Vì vậy, TPVC theo góc nhìn của nghiên cứu lí luận "là mối tổng hoà của hàng loạt tương quan" nội tại, là "một cấu trúc văn bản nghệ thuật được tổ chức một cách chặt chẽ thành một sinh mệnh, một hình thể" [104,tr 321]
Từ góc độ sáng tác, các nhà văn lại thường định nghĩa tác phẩm trong mối quan hệ với hành vi sáng tạo ra nó, với chủ quan biểu hiện của nhà văn và với đời sống thực tại mà tác phẩm phản ánh Hơn nữa, ý kiến của Lê Quí Đôn hay
Trang 39Phùng Khắc Hoan, Phan Huy Ích hay Ngô Thì Nhậm, cho đến Xuân Diệu hay Nguyễn Đình Thi, Tố Hữu hay Chế Lan Viên, cũng chỉ mới dừng lại ở những định nghĩa thơ là gì, tiểu thuyết là gì
Mác có một kết luận bất hủ : "Tác phảm nghệ thuật - và mọi sản phẩm khác cũng thế - đều tạo ra một thứ công chúng sính nghệ thuật-và có khả năng hưởng thức cái đẹp Như thế, sản xuất không những chỉ sản sinh ra một đối tượng cho chủ thể mà còn sản sinh ra một chủ thể cho đối tượng" [108,tr 96] tác phẩm viết ra là để thưởng thức Dù phản ánh đời sống, dù
là con đẻ của nhà văn, dù là một văn bản tồn tại độc lập nhưng tác phẩm chỉ sống trong sự tái sinh, nuôi dưỡng của bạn đọc Vì vậy, không thể định nghĩa TPVC tách rời với hoạt động cảm thụ của người đọc Và đó chính là chỗ đóng góp đáng trân trọng của Đặng Thai Mai khi ông đưa ra cách nhận diện TPVC trong vòng đời trọn vẹn vốn có của nó: Từ sáng tác đến tiếp nhận, từ tác phẩm đến công chúng Đặng Thai Mai định nghĩa: "Một áng văn chương kiệt tác không phải chỉ là cần cho phù hợp với trật tự nhân tạo của luận lí học hay chỉ để kích thích những nỗi bi ai dục vọng dễ dàng của con người tình cảm mà thôi Nó phải là một kiến trúc chặt chẽ, vững vàng, bao hàm những khí lực tiềm tàng, sâu sắc và chân thật của lí tính và tình cảm để có thể in lên tâm hồn độc giả những ấn tượng bạo dạn, màu mè, tế nhị và chắc chắn" [ 112.tr 40]
Trước hết phải hiểu khái niệm "trật tự nhân tạo của luận lí học", "lí tính", "tình cảm" ở đây nghĩa là gì ?
Cũng trong "GVCPN" Đặng Thai Mai viết: "Một giai đoạn quyết định trong vấn đề sáng tác là dàn xếp ý niệm để tổ chức và xây đựng văn phẩm ( ) Nhà thi sĩ, nhà văn sĩ có thể căn cứ vào các sứ trạng trong không gian, thời gian, trong nhân quả mà phân tích mô tả thực
tế lập trường kỹ thuật này cũng gọi là lập truờng luận lí học" Như vậy vấn đề "trật tự nhân tạo của luận lí học" và "lí tính" theo cách gọi của Đặng Thai Mai hay cũng chính là hình thức nghệ thuật, là cách nhìn, cách mô tả thế giới bằng những phương tiện nghệ thuật sao cho
"người đọc dể dàng theo dõi dung ý của người viết trong một công trình sáng sủa, mạch lạc, phân minh, cân xứng từng phân lượng" [112,tr 39] Còn "tình cảm" ở đây trước hết là lập trường tình cảm của văn sĩ, phần "chủ quan", "phần luận lí" (chữ dùng của Đặng Thai Mai) của người cầm bút và cũng là nội dung, ý , tình của tác phẩm Hay nói một cách khái quát,
đó là phần nội dung tư tưởng tác phẩm
Theo Đặng Thai Mai, một áng văn chương kiệt tác không phải là một cấu trúc ngôn ngữ thuần túy cũng không phải là "những lời rên rỉ liên miên những câu thơ than bệnh tưởng" [112.tr51] trước hết nó phải là "một kiến trúc chặt chẽ", một chỉnh thể nghệ thuật thống nhất
Trang 40trong đó "lí tính" và "tình cảm" hay nội dung và hình thức phải gắn bó máu thịt với nhau Nhưng như vậy chưa đủ Bản thân sự kết hợp ấy phải mang trong mình "những khí lực tiềm tàng sâu sắc và chân thật" Nghĩa là TPVC phải xây dựng được những hình tượng nghệ thuật
có khả năng khái quát sâu sắc các chân lí đời sống; có tiềm năng sáng tạo dồi dào; có sức sống mạnh mẽ, lâu bền trong lòng các thế hệ bạn dọc Đó là vế thứ nhất của định nghĩa Thứ hai, kiến trúc ấy phải có khả năng "in lên tâm hồn độc giả những ấn tượng bạo dạn, màu mè
tế nhị và chắc chắn" Có nghĩa rằng, tất cả những đặc điểm, tiêu chuẩn phẩm chất kể trên phải được kiểm nghiệm qua hiệu quả, tác dụng cảm thụ, phát triển ở bạn đọc Về thứ hai này có thể diễn đạt lại theo từ dùng của chúng ta như sau: Một tác phẩm lớn phải đọng lại được ở người đọc những ấn tượng mạnh mẽ, độc đáo ( "bạo dạn"), những ấn tượng hồn nhiên tươi tắn, đẹp đẽ ("màu mè"), những ấn tượng "tế nhị" sâu sắc và lâu bền ("chắc chắn") Tiêu chuẩn thứ hai này rất quan trọng nhưng nó thường bị bỏ quên trong định nghĩa của các nhà sáng tác cũng như các nhà nghiên cứu, lí luận trước đây Nguyên nhân cũng để hiểu bởi các nhà sáng tác luôn phải trăn trở, gian khổ, gắn bó với quá trình tạo ra, làm nên tác phẩm Còn lí luận văn học của ta trước kia chỉ quan tâm đến mảng sáng tác mà chưa coi trọng lí thuyết tiếp nhận Sớm tiếp cận được những tri thức mới, dựa trên quan điểm mácxít về mối quan hệ biện chứng giữa sáng tác và tiếp nhận, về vòng đời đích thực của TPVC, từ những năm 50, Đặng Thai Mai đã đưa ra được một định nghĩa tương đối ngắn gọn, sâu sắc, chính xác và bao quát
về một TPVC có giá trị Có gì đáng nói chăng là ở chỗ ông đã sử dụng những từ ngữ mà ngày nay chúng ta không quen dùng khi nói tới TPVC như "lí tính", "trật tự nhân tạo của luận lí học", "bạo dạn", "màu mè", vv Mặc dù vậy, quan niệm của Đặng Thai Mai đã góp phần hiện thực hoá lí thuyết về sự cần thiết phải có một định nghĩa ngắn gọn, đầy đủ về TPVC Tiếc rằng nó đã ít được chú ý phát triển lên
2.2.2 Đặng Thai Mai với một vài luận điểm về tác phẩm văn chương trong nhà trường
Quan niệm của Đặng Thai Mai về một áng văn chương kiệt tác rất có ý nghĩa và bổ ích cho công việc giảng văn ở NTPT: Bởi vì những tác phẩm được chọn dạy trong nhà trường thường phải là những tác phẩm có giá trị của các văn hào thi hào dân tộc và nhân loại Nhưng như thế nào là một TPVC trong nhà trường thì Đặng Thai Mai lại chưa có phát biểu đầy đủ Tuy nhiên, cũng trong "GVCPN" - "một công trình viết cho nhà trường" - Đặng Thai Mai đã
đề cập đến một số luận điểm quan trọng về phương diện tác động lịch sử - chức năng của tác phẩm Những luận điểm này rất gần gũi với quan niệm mới về TPVC trong nhà trường của chúng ta hôm nay