Môc ®Ých cuèi cïng cña viÖc häc lý thuyÕt vÒ c©u trong Nhµ trêng TiÓu häc lµ sö dông chóng mét c¸ch cã ý thøc ®Ó thùc hiÖn chÝnh x¸c t tëng, t×nh c¶m trong h×nh thøc nãi vµ viÕt... Dùa[r]
Trang 1cộng hoà x hội chủ nghĩa việt namã hội chủ nghĩa việt nam
Độc lập – Tự Do- Hạnh Phúc Tự Do- Hạnh Phúc
========&=======
báo cáo
thành tích của công đoàn trờng tiểu học vĩnh khê
huyện đông triều tỉnh quảng ninh
đề nghị liên đoàn lao động tỉnh quảng ninh khen thởng
=======%=======
Đơn vị : Công đoàn trờng tiểu học vĩnh khê
huyện đông triều tỉnh quảng ninh – tỉnh quảng ninh
năm học 2007 - 2008
========%=======
Tháng 5 năm 2008
năm học 2007 -2008
Trang 2mục lục
phần mở đầu :
I - Lý do chọn đề tài
I I - Mục đích nghiên cứu
III - Phạm vi nghiên cứu
IV- Nhiệm vụ nghiên cứu
V - Đối tợng và khách thể nghiên cứu
VI- Phơng pháp nghiên cứu
Phần nội dung Chơng I:
Một số vấn đề về lý luận
và thực tiễn liên quan đến đề tài
I - Một số vấn đề về lý luận liên quan đến đề tài
II - Một số vấn đề về thực tiễn liên quan đến đề tài
1/ Khảo sát nội dung dạy câu ở Tiểu học – Tự Do- Hạnh Phúc nhận xét khái quát
2/ Nhì n lại phơng pháp dạy câu ở Tiểu học
3/Thực trạng dạy câu ở Tiểu học
Chơng II :
đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy câu ở tiểu học
I - Đề xuất biện pháp
II - Thực nghiệm
Phần kết luận
Tài liệu tham khảo
Phần mở đầu
I -Lý do chọn đề tài :
Trong chơng trình Tiếng Việt, Ngữ pháp chiếm vị trí chủ đạo Ngay từ đầu của quá trình học tập ở trờng, học sinh đã bắt đầu làm quen với “ Lý thuyết ngôn ngữ -Ngữ pháp” -Ngữ pháp là một yếu tố quan trọng để phát triển năng lực trí tuệ, ngôn ngữ, những phẩm chất đạo đức của trẻ em ở trờng Tiểu học Ngữ pháp cha thể tồn tại một cách độc lập, ảnh hởng mạnh mẽ đến các bình diện khác của ngôn ngữ.Nó chi phối việc sử dụng các đơn vị ngôn ngữ để tạo thành lời nói, làm cho ngôn ngữ thực hiện đợc chức năng công cụ giao tiếp trong đời sống xã hội Câu là đơn vị nghiên cứu cơ bản và trọng tâm của bình diện ngữ pháp.Câu cũng chính là đơn vị nhỏ nhất có thể thực hiện đợc chức năng giao tiếp.Vì thế việc dạy câu cho học sinh Tiểu học là vấn đề quan trọng hàng đầu trong nhiệm vụ dạy tiếng
Trang 3Thành tựu ngôn ngữ học cũng cho thấy rằng : Câu là đơn vị trung tâm có ảnh h -ởng mạnh mẽ đến việc sử dụng các đơn vị ngôn ngữ Câu vừa tạo điều kiện thuận lợi
để gắn việc giảng dạy vừa hớng tới mục tiêu rèn luyện các kỹ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ Vai trò của câu trong hệ thống ngôn ngữ đã qui định tầm quan trọng của việc dạy câu ở tiểu học
Trong thực tế giảng dạy câu ở tiểu học,giáo viện gặp rất nhiều khó khăn lúng túng.Vể phía học sinh mặc dù đã đợc cung cấp một khối lợng kiến thức về câu khá lớn nhng việc sử dụng câu còn yếu.Vấn đề lỗi về câu của học sinh hiện nay đang là vấn đề nan giải.Những học sinh khá không mắc lỗi về ngữ pháp thì vẫn cha biết tạo ra những câu hay phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp của mình.Điều này ảnh hởng trực tiếp đến khả năng giao tiếp của các em ở trờng, ở nhà cũng nh trong xã hội.Mặt khác khi không biết sử dụng câu các em không thể viết đợc những câu văn hay,điều đó ảnh ởng trực tiếp đến chất lợng của môn Tiếng Việt và các môn học khác.Nó cũng ảnh h-ởng trực tiếp đến chỉ tiêu phấn đấu chung của lớp,của trờng
Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn vấn đề dạy câu ởTiểu học làm đề tài nghiên cứu
II- Mục đích nghiên cứu :
Trong qua trình nghiên cứu đề tài này,tôi sẽ đi khảo sát nội dung phơng pháp dạy câu ở tiểu học,thực trạng dạy câu ở tiểu học đồng thời xây dựng một hệ thống biện pháp có tính khả thi giúp giáo viên và học sinh phần nào đổi mới phơng pháp dạy câu
ở Tiểu học
III - Phạm vi nghiên cứu :
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này là phần dạy câu trong bộ sách Tiếng Việt ở Tiểu học
IV- Nhiệm vụ nghiên cứu:
1- Khảo sát,đánh giá nội dung và phơng pháp dạy câu ở tiểu học hiện nay
2- Thực trạng dạy câu ở tiểu học
3- Đề xuất một số ý kiến nhỏ về đổi mới phơng pháp dạy câu ở Tiểu học
V - Đối tợng và khách thể nghiên cứu :
1 - Đối tợng nghiên cứu :
Biện pháp sửa lỗi về câu ở Tiểu học
2- Khách thể nghiên cứu :
Phơng pháp dạy học môn Tiếng Việt đặc biệt là môn ngữ pháp, luyện từ và câu
ở Tiểu học
VI- Phơng pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này,tôi đã sử dụng phối hợp các phơng pháp sau :
1- Phơng pháp tổng hợp và ứng dụng lý luận
2- Phơng pháp nghiên cứu thực tiễn
3- Phơng pháp hệ thống
4- Phơng pháp tổng hợp
5- Phơng pháp phân tích
Phần nội dung
Chơng I:
Một số vấn đề về lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài
I – Tự Do- Hạnh Phúc Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
Là ngời Việt, chúng ta dùng Tiếng Việt.Chữ Việt,tiếng mẹ đẻ có vai trò vô cùng quan trọng,trong đời sống cộng đồng và đời sống của mỗi con ngời.Với cộng đồng đó
là công cụ để giao tiếp và t duy.Đối với trẻ em tiếng mẹ đẻ càng có vai trò quan trọng hơn
Trang 4Không chỉ ở Việt Nam mà đối với tất cả các nớc trong khu vực và trên thế giới,vấn đề dạy tiếng đang đi theo su thế mới “ Dạy tiếng là một công cụ t duy và giao tiếp ”.Câu là đơn vị giao tiếp tối thiểu và tự nhiên nhất.Hơn thế nữa thông qua câu có thể hình thành các tri thức và rèn luyện kỹ năng về từ loại,về giọng nói,dấu câu, các thao tác t duy và giao tiếp Vì thế vấn đề dạy câu là vô cùng quan trọng và cần thiết
Trong những năm gần đây những thành tựu của ngành ngữ dụng học về nghiên cứu lời nói đã ảnh hởng rất lớn đến việc dạy tiếng nói chung Việc dạy tiếng trên thế giới đợc chuyển từ su hớng dạy cấu trúc một ngôn ngữ sang su hớng mới coi việc dạy các kỹ năng nghe, đọc, nói,viết là một nội dung cốt yếu của chơng trình và phơng pháp dạy học, giúp cho ngời học nhanh chóng nắm vững đợc ngôn ngữ mình học rồi dùng nó làm công cụ giao tiếp , t duy, thởng thức văn học.Việc tiếp nhận các thành tựu nghiên cứu mới của ngôn ngữ nói chung và ngữ dụng học nói riêng để nghiên cứu,xác định nội dung và phơng pháp dạy học câu ở Tiểu học là một việc làm có ý nghĩa ứng dụng một ngành khoa học, ngôn ngữ học vào một việc giải quyết vấn đề cụ thể trong lĩnh vực giáo dục của đời sống xã hội Việc làm này thành công sẽ góp phần khẳng định một hớng đúng đắn trong việc nghiên cứu sử dụng lời nói trong môn học tiếng ở trờng phổ thông của nớc ta
Vậy câu là gì ?Trong giáo trình ngữ pháp Tiếng Việt của Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam định nghĩa về câu nh sau : “ Câu là đơn vị dùng từ hay đúng hơn dùng ngữ mà cấu tạo nên trong quá trình t duy,thông báo nó có ý nghĩa hoàn chỉnh có cấu tạo ngữ pháp và có tính chất độc lập”
Song theo cuốn giáo trình Tiếng Việt dùng trong các trờng cao đẳng và trung học chuyên nghiệp đào tạo giáo viên Tiểu học của trờng Đại học s phạm định nghiã về câu lại khác : “ Câu thể hiện thái độ, thể hiện đợc một ý tơng đối trọn vẹn, đồng thời thể hiện đợc tình cảm của ngời nói hay ngời viết, có một cấu tạo ngữ pháp nhất định
và có một ngữ điệu khi kết thúc Câu không phải là đơn vị có sẵn mà đ ợc tạo ra trong quá trình t duy.”
Điểm qua vài định nghĩa về câu, tôi thấy vấn đề dạy câu nói chung và dạy câu ở Tiểu học nói riêng đã và đang đợc các nhà ngôn ngữ học cũng nh các nhà giáo dục học quan tâm Song đó chỉ là những ý kiến riêng lẻ, cha có một tác giả nào đi vào nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống về nội dung và phơng pháp dạy câu ở Tiểu học
Hiện nay trơng trình sách giáo khoa dạy tiếng mẹ đẻ,tiếng phổ thông,tiếng nớc ngoài cho học sinh Tiểu học của phần lớn các nớc trên thế giới đều đợc biên soạn theo
xu hớng mới
Trong đó việc lựa chọn ngữ liệu,phiên chế các loại bài học, chọn lựa các phơng pháp Đều u tiên phục vụ cho việc dạy các kỹ năng lời nói.Chơng trình sách giáo khoa của nớc ta hiện nay so với trớc đã có nhiều tiến bộ,nhng cũng cha đáp ứng đợc yêu cầu chung của xã hội.Riêng phần dạy câu tuy dạy câu ở Tiểu học đã chú ý đến yêu cầu thực hành để nắm lý thuyết,để nhận diện, phân tích câu mà ít cho học sinh thực hành,
sử dụng câu trong ngữ cảnh Quá trình học câu, cách tổ chức học và hệ thống bài tập
về câu mà đề tài này làm rõ, một mặt đóng góp phần nào,tạo cơ sở để đổi mới các tài liệu dạy học câu và việc dạy câu Mặt khác có tác dụng định hớng cho những cố gắng
đổi mới cách dạy học câu hiện nay nhằm chuyển biến thực trạng dạy học câu ở tiểu học ngay từ bây giờ
Xuất phát từ quan điểm đổi mới trong việc dạy tiếng mẹ đẻ nói trên,tôi sẽ đi khảo sát nội dung và phơng pháp dạy câu ở Tiểu học
II- một số vấn đề về thực tiễn liên quan đến đề tài
1- Khảo sátnội dung dạy học câu ở Tiểu học
Với t cách là một môn độc lập,ở lớp 2,3 có bài luyện từ và câu riêng,hàng tuần
đợc dạy một tiết nhằm hình thành các khái niệm,cơ bản ban đầu cho học sinh về câu.ở lớp 4,5 có thêm cả phần lý thuyết trong bài ngữ pháp Riêng lớp 1 cha có.Vì vậy vấn đề dạy câu đợc tiến hành từ lớp 2 đến lớp 5
Trang 5- Nội dung vấn đề dạy câu đợc tiến hành ở lớp 2 gồm : Nhận biết về câu,dấu chấm câu,bộ phận chính của câu,cách điền dấu câu vào một đoạn văn bất kỳ,cách xác
định các bộ phận chính của câu
- Nội dung vấn đề dạy câu ở lớp 3 gồm : Câu,cách đọc và viết câu, câu đơn – Tự Do- Hạnh Phúc hai bộ phận chính của câu đơn, chủ ngữ,vị ngữ,dấu câu gồm : Dấu chấm,dấu phẩy,Dấu hỏi, dấu cảm, các bài ôn tập
- Nội dung vấn đề dạy câu ở lớp 4 bao gồm : Câu và từ, câu chia theo mục đích nói : Câu kể,câu hỏi,câu cầu khiến,câu cảm và các dấu câu tơng ứng,câu hội thoại ,dấu ngoặc kép,câu chia theo cấu trúc: Câu đơn, thành phần chính của câu đơn , chủ ngữ,vị ngữ, thành phần phụ của câu đơn : Trạng ngữ, định ngữ, bổ ngữ và một số bài ôn tập
t-ơng ứng
- Nội dung vấn đề dạy câu ở lớp 5 bao gồm : Ôn các thành phần câu đã học ở lớp 4, hô ngữ, bộ phận song song, câu rút gọn, câu đặc biệt, câu ghép, câu ghép không
có từ chỉ quan hệ,câu ghép đẳng lập,câu ghép chính phụ,các dấu câu, các bài ôn tập t
-ơng ứng
Qua thống kê trên cho thấy ngữ pháp ở Tiểu học lấy việc dạy câu làm trung tâm Bắt đầu từ câu và kết thúc cũng ở câu
2- Nhìn lại phơng pháp dạy câu ở tiểu học
2.1 Phơng pháp dạy các kiến thức về câu :
Tôi đã xem xét cách trình bầy những nội dung của sách giáo khoa và thấy rõ dụng ý của nhà biên soạn và phơng pháp khi thực hiện
Đặc điểm của câu : Là một đoạn lời, thông báo một ý trọn vẹn, làm cho ngời nghe hiểu đợc, câu đợc chuyển thành một quy tắc cho hành động “ Nói ,viết phải thành câu,nói viết không thành câu thì ngời nghe không hiểu đợc.” Nếu cái đích của dạy học là đặc điểm câu thì phơng pháp có thể hình dung là qui nạp Nghĩa là đa ra nhiều ví dụ câu đích thực rồi rút ra đặc điểm chung
Phơng pháp ở đây thì khác, thành câu xét trong quan hệ đã nêu chính là làm cho ngời khác hiểu đợc Để là rõ thế nào là thành câu, thế nào là không thành câu ng ời ta dùng phơng pháp đối chiếu Đa ra một đoạn lời là câu, một đoạn lời không là câu Để học sinh lớp 2 dễ nhận ra sự khác biệt ngời ta thờng đa ra một câu và một nửa của chính câu đó đã bỏ đi một thành phần chính Cách làm này gọi là đa ra các phản ví dụ khi không là câu thì ngời khác không hiểu đợc
Nh vậy cách tiến hành các bớc lên lớp ở đây là : Đối chiếu phân tích để thấy cơ
sở của qui tắc rồi rút ra bài học
Nắm khái niệm về câu và các thành phần câu là quá trình lâu dài và phức tạp
đối với học sinh nhỏ Trong khái niệm về câu, các thành phần câu, những dấu hiệu bản chất của các hiện tợng ngôn ngữ đã đợc khái quát hoá Giáo viên cần chỉ ra dấu hiệu bản chất và không bản chất Quá trình hình thành khái niệm về câu, các thành phần câu có thể chia làm bốn bớc sau :
Bớc 1 : Phân tích ngữ liệu với mục đích làm rõ những dấu hiệu bản chất của khái niệm về các thành phần câu, các kiểu câu
Bớc 2 : Khái quát hoá các dấu hiệu, thiết lập quan hệ giữa các dấu hiệu, đa thuật ngữ Học sinh nắm các thao tác so sánh và tổng hợp
Bớc 3 : Trình bầy định nghĩa, khái niệm, chính xác hoá bản chất của dấu hiệu
và các mối quan hệ giữa chúng
Bớc 4 : Cụ thể hoá khái niệm về các kiểu câu và các thành phần câu đợc xem xét trên tài liệu ngôn ngữ mới ứng dụng kiến thức đã học vào hoạt động lời nói thông qua các bài tập
2.2 Phơng pháp dạy thực hành về câu :
Mục đích cuối cùng của việc học lý thuyết về câu trong Nhà trờng Tiểu học là
sử dụng chúng một cách có ý thức để thực hiện chính xác t tởng, tình cảm trong hình thức nói và viết Vì vậy việc thực hành câu nhất thiết phải đợc dạy một cách có định h-ớng, có kế hoạch thông qua hệ thống bài tập về câu
Trang 6Dựa vào đặc tính hoạt động của học sinh , có thể chia làm hai loại bài tập Những bài tập có tính nhận diện, Phân tích và những bài tập có tính xây dựng tổng hợp
3- Thực trạng dạy câu ở Tiểu học
Để dạy học câu có hiệu quả, Ngời giáo viên cần nắm thực trạng dạy học câu ở Tiểu học.Thực trạng dạy học câu đợc làm rõ khi chúng ta phân tích 3 nhân tố tham gia vào quá trình dạy học.Nội dung dạy câu ở Tiểu học, Ngời dạy và nguời học
Giáo viên ( ngời dạy ) là một trong 3 nhân tố cần đợc xem xét trong quá trình dạy học câu là nhân tố quan trọng góp phần quyết định sự thành công của quá trình dạy học này
a/.Những khó khăn và hạn chế của giáo viên khi dạy câu ở Tiểu học
Việc khảo sát thực trạng dạy câu cho thấy,giáo viên gặp một số khó khăn,lúng túng trong quá trình tiến hành dạy câu,đã có những nhầm lẫn đối với nội dung dạy câu
nh sau :
+ Vấn đề dạy khái niệm câu:
Do ảnh hởng của quá trình ngữ pháp ở trờng phổ thông,nặng lề cấu trúc ngữ pháp hình thức ,giáo viên có những nhợc điểm là :
Khi xem xét câu nặng chú ý về mặt cấu trúc hình thức,ít chú ý đến nội dung thông báo.Vì vậy họ thờng xét câu một cách cô lập không đặt nó trong hoàn cảnh giao tiếp,trong văn bản Khi chữa bài tập cho học sinh,họ bỏ qua những lỗi về nghĩa của câu và các lỗi ngoài câu
Ví dụ:
Khi gặp câu : Hôm nay em dũng cảm
Nhà bác học không ngừng học
Nhiều giáo viên rất lúng túng vì không đủ kiến thức để lý giải tại sao những câu
đó lại sai,nên họ đành bỏ qua
+ Vấn đề phân tích các thành phần câu :
Sự phân biệt trạng ngữ và bổ ngữ trong nhiều trờng hợp cũng là cho giáo viên gặp nhiều khó khăn,đặc biệt là những trạng ngữ nằm ở cuối câu.Lúc này không phải rễ ràng xác định đợc chúng bổ nghĩa cho cả cụm chủ,vị hay chỉ bổ nghĩa cho động từ,tính từ làm vị ngữ
Định nghĩa về vị ngữ,định ngữ là khác nhau không thể lẫn với nhau đợc, nhng nhiều trờng hợp giáo viên cũng khó nhận diện đợc một bộ phận nào đó của câu là vị ngữ hay định ngữ
Ví dụ:
Con gà to, ngon và Con gà to ngon
ĐN VN
+ Vấn đề phân loại câu theo cấu tạo
Mô hình cấu trúc rễ ràng nhận ra câu đơn có trạng ngữ là :
(QHT) C V (QHT) C – Tự Do- Hạnh Phúc V ( 1 )
(QHT) : Quan hệ từ
Mô hình cấu trúc rễ ràng nhận ra câu đơn có trạng ngữ là :
(QHT) ( cụm từ ), C – Tự Do- Hạnh Phúc V ( 2)
Trong thực tế các câu lọt đợc hoàn toàn vào mô hình là không nhiều
Ví dụ :
“ Nếu ma thì tôi ở nhà ”
“ Trời ma thì tôi ở nhà ”
Khi gặp những câu có cấu trúc kiểu này thì giáo viên Tiểu học thờng lúng túng + Vấn đề phân loại câu theo mục đích giao tiếp
Qua khảo sát tôi nhận thấy khi phân loại câu theo mục đích giao tiếp,khó khăn xuất hiện trong những trờng hợp mục đích thông báo và các dấu hiệu hình thức không thống nhất
Ví dụ :
“ Em có im đi không ”
“ Thế thì có khổ tôi không ”
Trang 7Khi gặp những câu nh vậy giáo viên cũng rất bối rối không biết u tiên cho mục
đích giao tiếp hay dựa vào dấu hiệu hình thức để xếp loại câu cho đúng
b/ Những nguyên nhân :
1.Do sự thiếu hụt những kiến thức về câu ;
Nguyên nhân đầu tiên là do giáo viên cha đợc trang bị đầy đủ về mặt kiến thức Nhìn chung giáo viên Tiểu học đang thiếu hụt những kiến thức ngữ pháp,vì thế hạn chế những kiến thức về câu là điều tất nhiên.Những hiểu biết của họ về câu nhiều khi không chắc chắn,thiếu tính hệ thống Trong khi đó, nội dung luôn luôn quyết định
ph-ơng pháp dạy học, không thể dạy tốt hơn khi không nắm chắc nội dung Điều này đặt
ra cho công việc đào tạo và bồi dỡng giáo viên là nhiệm vụ khá nặng lề Về phần mình giáo viên cũng phải ý thức đợc những hạn chế về kiến thức,tự mình học hỏi tích cực bồi dỡng để nâng cao trình độ, nâng cao hiểu biết kiến thức về câu
2 Những vấn đề về nội dung dạy học
Có thể nói trong ngôn ngữ học có những khái niệm cơ bản còn thiếu hiển minh
nh : Câu, chủ ngữ Câu là gì? Cho đến nay việc định nghĩa câu còn là một chuyện rắc rối, cha rõ ràng Sự hiển minh nh vậy đã khiến cho việc xác định nội dung dạy học câu
ở Tiểu học có nhiều khó khăn hơn so với nội dung khác
3 Những giải pháp không thống nhất trong trờng học
ở nớc ta nguồn đào tạo giáo viên Tiểu học rất đa dạng : Đại học s phạm,Cao
đẳng s phạm,12 +2 : Ngoài ra còn một số giáo viên đựoc đào tạo để dạy mẫu giáo,trung học cơ sở cũng dạy Tiểu học Tuy các bộ giáo trình Tiếng Việt của các hệ khác nhau nhng cách trình bầy của chúng về câu cũng nh những ngời dạy cụ thể, th-ờng gây ra một số kết quả giống nhau, là một hiện tợng nào đó về câu thth-ờng chỉ có một cách giải thích mà thôi, dứt khoát phải thế này hoặc thế kia điều đó tạo nên một cách nhìn, một mối t duy tuyệt đối hoá, phiến diện, cứng nhắc ở học sinh
Sự thiếu hụt về kiến thức, những giải pháp không thống nhất từ nhiều nguồn tri thức khác nhau cùng với phơng pháp t duy thiếu tính mềm dẻo khiến cho giáo viên rất lúng túng trong việc dạy câu ở Tiểu học
c/ Lỗi về câu của học sinh Tiểu học
Chúng ta đều biết, dạy học câu là tổ chức quá trình sinh sản và lĩnh hội lời nói cho ngời học Nhng quá trình này diễn ra nh thế nào thì không phải dễ dàng nhìn thấy
đợc Khi câu nói đợc sinh sản một cách đúng đắn và suôn sẻ, chúng ta khó xác định
đ-ợc quá trình chuyển từ trong ra ngoài phải dựa vào lỗi sử dụng câu ngời ta mới biết quá trình này đã diễn ra nh thế nào để điều khiển nó Chính vì thế để dạy câu ở Tiểu học, chúng ta cần nghiên cứu lỗi về câu của học sinh
C1 Lỗi về khái niệm câu,các thành phần câu và kỹ năng nhận diện, phân tích các thành phần câu
Nh chúng ta đã biết bản chất của câu là diễn đạt một ý trọn vẹn Đây là dấu hiệu quan trọng nhất của khái niệm câu Về hình thức, ta thấy câu ứng với một kiểu cấu tạo nhất định và trên chữ viết câu đợc mở đầu bằng một chữ hoa và kết thúc bằng một dấu chấm câu Trong khi nắm khái niệm câu cần nhận diện đoạn lời là câu hay không là câu.Học sinh dễ nhầm trạng ngữ là câu
Ví dụ :
Giáo viên đa ra câu :
“ Trên nền trời xanh, những lá cờ đỏ sao vàng phấp phới”.Học sinh thờng nhầm trạng ngữ “ Trên nền trời xanh” là câu và xác định nh sau :
Trên nền / trời xanh
CN VN
Nhầm ngữ danh từ nh : “ Những cánh hoa xoan ” là câu Khi nắm kiến thức cấu tạo ngữ pháp của câu, các thành phần câu,học sinh thờng hay mắc các lỗi cơ bản sau :
+ Các em thờng nhầm trạng ngữ với chủ ngữ, nhất là trạng ngữ không đợc mở
đầu bằng quan hệ từ
Ví dụ :
Nhiều em cho rằng : “ Sáng nay” trong câu :“ Sáng nay tôi đi học” là chủ ngữ hay “Hôm qua ” trong “ Hôm qua trời ma ” là chủ ngữ
Trang 8+ Nhầm định ngữ với vị ngữ.
Ví dụ :
Nhiều em cho rằng : “Trong suốt nh thuỷ tinh ” trong câu: “ Những con chim bông biển trong suốt nh thuỷ tinh lăn tròn trên cát ” là vị ngữ
+Học sinh hay nhầm bổ ngữ với trạng ngữ
Ví dụ :
Nhiều em cho rằng : “ Trong sân trờng ” trong câu “ Học sinh vui chơi trong sân trờng ” là trạng ngữ
(Đề thi tốt nghiệp lớp 5 năm học 1997 – Tự Do- Hạnh Phúc1998 )
Hay câu: “ Em đợc nghỉ hè ở Hà nội ” thì các em nhầm “ ở Hà nội” là trạng ngữ, thực ra nó là bổ ngữ vì dấu hiệu để nhận ra trạng ngữ là nó đợc ngăn cách với bộ phân chính bởi dấu phẩy
+ Với những câu có nhiều danh từ, động từ, tính từ, nhiều định ngữ,bổ ngữ thì học sinh thờng không phát hiện ra đợc hết các định ngữ,bổ ngữ này
Ví dụ :
Các em không tìm thấy hết định ngữ trong câu : “ Ngay thềm lăng mời tám cây vạn tuế tợng trng cho một hàng quân danh dự đứng trang nghgiêm ”
C2 Lỗi về các khái niệm câu đơn – Tự Do- Hạnh Phúc câu ghép, câu bình thờng,câu đặc biệt,câu hai thành phần, câu rút gọn và kỹ năng phân loại nhận diện các kiểu câu theo cấu tạo
Học sinh thờng mắc các sai lầm trong các trờng hợp sau :
- Các em cho rằng các kiểu câu có cấu tạo :
“ Vì chăm học nên nó học giỏi ”
“ Tuy học giỏi nhng Lan rất khiêm tốn ”
“ Chẳng những Lan hát hay mà còn học giỏi ”
Là các câu ghép chính phụ :
Hoặc kiểu câu : “Để cha mẹ vui lòng em quyết tâm học tốt ”là câu ghép
Các em còn nhầm câu chỉ có một vế câu nhng có nhiều chủ ngữ,vị ngữ là câu ghép
Ví dụ :
“ Lớp 5A, lớp 5 B đang lao động ”
“ Lan,Hoa vừa hát hay vừa học giỏi ”
C3 Lỗi về các khái niệm câu kể, câu hỏi và câu cầu khiến,câu cảm thán
Trong quá trình giảng dạy ở trờng Tiểu học, khi cho học sinh phân loại,nhận diện các kiểu câu chia theo mục đích nói,học sinh cũng hay nhầm lẫn câu kể kiểu:
“Tôi cũng không biết có nên đi học hay không ” là câu hỏi vì các em cũng chỉ chú ý
đến từ để hỏi mà không chú ý đến mục đích của câu nói là nhằm kể lại một sự việc hay nêu một nhận xét.Những câu cảm có từ để hỏi cũng bị các em cho nhầm sang câu hỏi
Tóm lại : Có thể nói ngay rằng những hạn chế của trơng trình sách giáo khoa và những khó khăn nh tôi vừa nêu trên đã dẫn đến sự lúng túng của giáo viên khi truyền thụ kiến thức đã đợc phản ánh trong các lỗi nắm khái niệm câu và lỗi nhận diện,phân loại câu của học sinh Hiểu đợc điều này chúng ta sẽ có sự điều chỉnh, phơng pháp dạy câu phù hợp để từ đó đạt đợc mục tiêu dạy học mà chúng ta đã đề ra
Trang 9Chơng III
đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả
dạy học về câu cho học sinh tiểu học.
Qua việc khảo sát thực trạng dạy học câu ở Tiểu học trên các bình diện khác nhau của quá trình dạy học câu,nội dung và phơng pháp dạy học câu, những khó khăn của giáo viên và học sinh khi dạy câu ở Tiểu học, tôi nhận thấy cần có một số đổi mới
về phơng pháp dạy học câu sao cho phù hợp với đặc điểm học sinh Tiểu học để các em
dễ dàng lĩnh hội đợc những tri thức cơ bản về câu để việc phân loại, nhận diện câu có nhiều lợi ích cho học sinh khi sử dụng câu trong học tập và giao tiếp
I Để quá trình dạy học câu có hiệu quả, tôi xin có một số ý kiến đóng góp nh sau ;
1 Nh chúng ta đã thấy, khi dạy cấu tạo ngữ pháp của câu hay các thành phần câu ở Tiểu học,sách giáo khoa đã dùng phơng pháp minh hoạ, phân tích, học sinh không chủ động tiếp nhận ngôn ngữ Các thành phần câu đã đợc đa ra ở dạng có sẵn vì vậy chức năng của chúng, cái lý mà chúng tồn tại không đợc học sinh nhận ra với t cách ngời dùng để các em thấy chúng ứng với nội dung gì trong ý đồ thông báo của mình
Tôi cho rằng nên bắt đầu hình thành khái niệm các thành phần câu bằng phơng pháp tổng hợp, đặt học sinh trong vai chủ động là ngời sản sinh ngôn ngữ và là ngời tiếp nhận ngôn ngữ, giáo viên đóng vai trò là ngời tổ chức, hớng dẫn học sinh Thông qua sự hớng dẫn của giáo viên học sinh phân tích các vật liệu cho sẵn để từ đó rút ra những kết luận mang tính tổng hợp về một khái niệm, một hiện tợng nào đó về ngôn ngữ
Sử dụng phơng pháp này học sinh sẽ đợc tiếp cận ngôn ngữ dới dạng những nguyên liệu cho sẵn Học sinh ở vai tiếp nhận và sử dụng các thao tác phân tích để rút
ra những kết luận mang tính tổng hợp về một hiện tợng ngôn ngữ, một khái niệm ngôn ngữ
Do đó với phơng pháp tổng hợp học sinh hiểu rõ hơn sâu sắc hơn, học sinh tiếp thu những khái niệm, những kiến thức về ngôn ngữ một cách tự nhiên không có sự gò
bó, áp đặt mà là một kết luận tất yếu cho những hiện tợng,khái niệm về ngôn ngữ đã phân tích, tránh đợc sự bị động khi tiếp nhận những vấn đề có liên quan đến ngôn ngữ
2 Các bài tập yêu cầu xác định thành phần câu hay chính là bài tập phân tích cấu tạo ngữ pháp của câu thờng có mục đích giúp học sinh nhận ra cấu tạo ngữ pháp của câu
Từ đó học tập đợc cách đặt câu và vận dụng vào việc đặt câu khi nói, viết
Khi hớng dẫn học sinh giải các bài tập xác định thành phần câu, theo nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất giữa ý nghĩa ngữ pháp và hình thức ngữ pháp Cần phải lu
ý đến những điểm sau :
Một là : Cần giúp cho học sinh nhận ra tính cấp độ trong cấu tạo ngữ pháp của câu,quan hệ giữa các bộ phận lớn và bộ phận nhỏ, thành tố ở cấp độ cao, thành tố ở cấp độ thấp Tính cấp độ này không đợc biểu hiện ở tính hình tuyến của câu mà chỉ
đ-ợc thể hiện qua các mối quan hệ
Trang 10Chẳng hạn những bài tập yêu cầu tìm định ngữ, bổ ngữ ở những câu có nhiều danh từ, động từ,tính từ học sinh thờng không phát hiện ra hết các định ngữ, bổ ngữ
Ví dụ :
Tìm các định ngữ ở câu sau :
“ Ngay thềm lăng, mời tám cây vạn tuế tợng trng cho một hàng quân danh dự
đứng trang nghiêm ”
( trang 110 – Tự Do- Hạnh Phúc TV4 – Tự Do- Hạnh Phúc Tập 2 )
Giáo viên hớng dẫn học sinh theo các bớc sau :
Bớc 1:
Phân tích câu thành khối lợng lớn: Bộ phân chủ ngữ,bộ phận vị ngữ,bộ phận trạng ngữ
Bộ phận trạng ngữ : Ngay thềm lăng
Bộ phận chủ ngữ :Mời tám cây vạn tuế tợng trng cho một hàng quân danh dự
Bộ phận vị ngữ : Đứng nghiêm trang
Bớc 2:
Xác định các danh từ trong câu: Thềm,lăng,cây,vạn tuế,đội quân ,danh dự Bớc 3:
Tìm bộ phận phụ cho danh từ:
Định ngữ 1: Lăng ( cửa thềm )
Định ngữ 2 :Mời tám ( của cây vạn tuế )
Định ngữ 3 :Tợng trng cho một hàng quân danh dự( của cây vạn tuế )
Định ngữ 4 : Một ( của đoàn quân )
Định ngữ 5 :Danh dự ( của đoàn quân )
Có thể hình dung qua sơ đồ sau :
Ngay thềm lăng, m ời tám cây vạn tuế, t ợng tr ng
T ngữ chủ ngữ
cho một hàng quân danh dự/ đứng trang nghiêm
Vị ngữ
Hai là : Giúp học sinh chú ý đến dấu hiệu hình thức của các mối quan hệ,các quan hệ từ,các dấu câu
Ví dụ :
Học sinh vui chơi trong sân trờng ( trong sân trờng là bổ ngữ )
Trong sân trờng, học sinh vui chơi (trong sân trờng là trạng ngữ)
Trạng ngữ thờng đợc ngăn cách với bộ phận chính bởi dấu phẩy
Ba là : Giúp học sinh vận dụng các thao tác cải biến nh: lợc bỏ,đổi vị trí các thành phần câu hoặc thay thế từ ngữ bằng yếu tố tơng đơng
Bốn là :Khi câu nằm trong văn cảnh còn có thể dựa vào các câu xung quanh để xác
định các quan hệ trong câu
3 Phơng pháp dạy thực hành phân loại,viết các kiểu câu theo mục đích nói
Qua giảng dạy tôi xây dựng thành các kiểu bài tập sau :
Thứ nhất là dạng bài tập yêu cầu xác định kiểu câu theo mục đích nói cho những câu cụ thể.khi hớng dẫn học sinh làm bài tập loại này,giáo viên cần yêu cầu các
em đọc kỹ các câu mà bài tập yêu cầu làm để tránh sự nhầm lẫn giữa các câu kể có chứa câu hỏi
Ví dụ :
Cô giáo hỏi: “ Nó ở nhà có học bài không ? ” thì đây là câu hỏi chứ không phải câu kể
Thứ hai là dạng bài tập yêu cầu đặt từng kiểu câu theo mục đích nói,chuyển đổi câu theo mục đích nói
Ví dụ :
Từ ý “ Mẹ về ” viết đợc 4 kiểu câu khác nhau :
(1) Mẹ về rồi ( câu kể )
(2) A! Mẹ về rồi (câu cảm )
(3) Mẹ về đi ( câu khiến )