Tác giả đưa ra khái niệm “cách mệnh”: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”. - Giai cấp cách mệnh như công nông Nga đuổi tư bản và giành lấy chính quyền 1[r]
Trang 1TÀI LIỆU THI HSG LỊCH SỬ 9- TỈNH NGHỆ AN
Câu 1: Nhận dịnh về khai phá văn minh của thực dân Pháp.
- Pháp có âm mưu xâm lược Việt Nam từ thế kỉ XVII nhưng chưa có cơ hội Mãi Cuối thế kỉ XIX khi đã ổn định tình hình chính trị trong nước, nền kinh tếTB chủ nghĩa Pháp phát triển mạnh mẽ và chuyển mạnh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa , nhu cầu về nguyên liệu thi trường đặt ra cấp thiết vì vây tư bản pháp đẩy mạnh tốc độ
đi xâm lược Việt Nam có nhiều tài nguyên, nhân công dồi dào trở thành miếng mồi ngon cho tư bản Pháp.Để thực hiện được mục đích của chúng, Pháp đặt ra chiêu bài được gọi là khai Phá Văn Minh cho người bản xứ
- cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất: Ngay từ đầu Pháp đã chọn vị trí xâm lược , lấy cớ bảo vệ đạo gia tô…để nổ súng xâm lược nước ta và ý định thôn tính nhanh nước ta, sau đó ra sức vơ vét của cải đem về nước.Nhưng khi chúng vừa đặt chân đến mảnh đất Việt Nam, chúng đã gặp phải sự kháng cự mãnh liệt của nhân dân ta, vì vây gần 30 năm sau ( 1884) chúnh mới thực sự chiếm được nước ta.Ngay sau đó chúng đưa ra chương trình Khai thác thuộc địa lần thứ nhất.Kế hoạch vạch ngày 22.3 1897, gồm 7 điểm: thiết lập bộ máy cai trị; lập hệ thống thuế khoá mới; xây dựng các thiết bị kinh tế: đường sắt, đường bộ, sông đào, bến cảng; phát triển công cuộc thực dân của Pháp và sử dụng lao động bản xứ; tổ chức phòng thủ Đông Dương, lập căn cứ hải quân; đảm bảo an ninh vùng biên giới phía bắc Bắc Kỳ; mở rộng ảnh hưởng của Pháp
ở Viễn Đông Chương trình đã được Đume và những toàn quyền kế tiếp vừa thực hiện, vừa bổ sung, điều chỉnh cho thích hợp với điều kiện chủ quan, khách quan của từng thời điểm cụ thể
Trong chương trình đó, chúng ta thấy chúng không đầu tư vè công nghiẹp nặng, không đầu tư về KHKT vì nó sẽ trái với mục đích của chúng
- Kết quả: văn hoá, khoa học và kĩ thuật phương Tây từng bước du nhập vào
Đông Dương; một nền công nghiệp mới ra đời trên nguyên tắc "không phương hại đến nền công nghiệp chính quốc"; nhiều trung tâm đô thị lớn, nhỏ xuất hiện; nhiều công ti
tư bản khai thác, kinh doanh được thành lập và hoạt động trong các ngành: hầm mỏ, điện - nước, cầu - cống, giao thông vận tải, xuất - nhập khẩu, ngân hàng - tài chính, điện tín - điện thoại - bưu điện; nhiều cơ quan nghiên cứu khoa học phục vụ cho chính sách khai thác được thành lập: Sở Địa lí, Sở Địa chất, Viện Hải dương học, Viện Pastơ (Pasteur), Trường Viễn Đông Bác cổ; cảng Hải Phòng, cảng Sài Gòn được xây dựng và củng cố; tuyến đường sắt Hải Phòng - Hà Nội - Lào Cai - Vân Nam xây dựng xong từ 1910; tuyến đường sắt xuyên Đông Dương cơ bản hoàn thành, 16 tuyến đường bộ được gọi là "đường thuộc địa" đã hoàn thành, chính sách cải tạo lớp trí thức
"cựu học" nhằm phục vụ lợi ích của chế độ thực dân được thi hành Bộ mặt xã hội Việt Nam nói riêng, Đông Dương nói chung có nhiều biến đổi về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, lối sống Sự phân hoá giai cấp diễn ra sâu sắc: giai cấp địa chủ được củng cố, phát triển; giai cấp nông dân ngày càng bị bần cùng, thương nhân phát triển; một lớp người lao động mới xuất hiện và ngày càng đông trong quá trình hình thành một giai cấp riêng, tiền thân của giai cấp công nhân sau này Thuộc địa Đông Dương trở thành thị trường tiêu thụ sản phẩm của Pháp; tài nguyên, của cải bị vơ vét; người dân lao động bị đưa đi làm phu đồn điền ở trong nước và ở các thuộc địa khác của
Trang 2Pháp; hàng chục vạn thanh niên bị đưa sang chiến trường Châu Âu trong Chiến tranh thế giới I
Như vậy nhìn chung kinhtế việt nam có biến chuyển nhưng là một nền kinh tế què quặt, nông nghiệp vẫn lạc hâu ( Thiếu công nghiệp…)->phải lệ thuộc vào TB Pháp
Xã hội việt Nam biến đổi đó là xuất hiện thêm các giai cấp mới và tầng lớp mới , Giai cấp củ bị phân hoá, nông dân bị bần cùng hơn do chính sách vơ vét bóc lột của chúng
Văn hoá thì chúng thực hiện chính sách ngu dân,duy trì chế độ học thi cử của chế độ phong kiến, trường học chỉ dành riêng cho đào tạo tay sai , con em giàu có
- Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai: Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918), đế quốc Pháp tuy là nước thắng trận, nhưng nền kinh tế bị tàn phá nặng nề (các ngành sản xuất công, nông, thương, giao thông vận tải bị giảm sút nghiêm trọng; số nợ nước ngoài tăng lên; các khoản đầu tư ở Nga bị mất trắng; đồng phơrăng mất giá) Cuộc khủng hoảng thiếu trong các nước tư bản ngày càng gây nên khó khăn cho kinh tế Pháp
- Để hàn gắn những vết thương chiến tranh, bù đắp những thiệt hại to lớn trong chiến tranh, trên cơ sở đó khôi phục và củng cố lại đại vị kinh tế của mình trong hệ thống tư bản chủ nghĩa, đế quốc Pháp vừa bóc lột nhân dân lao động trong nước, vừa ráo riết đẩy mạnh khai thác các thuộc địa
- Thực hiện chương trình khai thác lần thứ hai ở Đông Dương sau chiến tranh, tư bản tài chính Pháp đã tăng cường đầu tư vào Đông Dương: Việt Nam – Miên (Campuchia) – Lào với quy mô lớn và tốc độ nhanh gấp nhiều lần so với thời kì trước chiến tranh Riêng đối với Việt Nam, từ 1924 đến 1929 tổng số vốn đầu tư vào Việt Nam đã hơn gấp 6 lần vốn đầu tư vào trong 20 năm trước chiến tranh
- Hai ngành được đầu tư nhiều nhất là nông nghiệp và công nghiệp Về nông nghiệp, thực dân Pháp đẩy mạnh cướp đoạt ruộng đất của nông dân để mở thêm đồn điền (chủ yếu là đồn điền cao su)
Về công nghiệp, đẩy mạnh khai mỏ (chủ yếu là mỏ than), đồng thời còn mở thêm một số xí nghiệp chế biến không cạnh tranh với công nghiệp nước Pháp (sợi, rượu, diêm, đường v.v…) Về thương nghiệp, độc chiếm thị trường (dựng hàng rào thuế quan, đánh thuế nặng vào hàng nhập của các nước khác v.v…) Giao thông vận tải được phát triển, cả về đường sắt lẫn đường bộ và đường biển Tất cả các hoạt động trên đều do ngân hàng Đông Dương nắm Để phục vụ đắc lực cho chính sách khai thác, bóc lột kinh tế, thực dân Pháp còn ra sức tăng cường bộ máy cai trị, đàn áp mang tính chất quân sự và thi hành chính sách văn hóa giáo dục nô dịch
Tình hình đó làm cho nền kinh tế thuộc địa ở Việt Nam có những chuyển biến quan trọng Nhưng chính sách khai thác thuộc địa về cơ bản vẫn không thay đổi Thực dân Pháp hết sức hạn chế công nghiệp phát triển, nhất là công nghiệp nặng, làm cho Việt Nam là một nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, què quặt phụ thuộc vào kinh tế Pháp
* Kết luận: Tóm lại, chính sách thống trị của thực dân Pháp đối với Việt Nam và
cả Đông Dương nói chung là một chính sách thống trị chuyên chế về chính trị, bóc lột nặng nề về kinh tế nhằm đem lại lợi nhuận tối đa về kinh tế, kìm hãm và nô dịch về văn hóa, giáo dục, chứ không phải đem đến cho nhân dân một sự "khai hoá văn minh"
Trang 3- một sự khai hoỏ và cải tạo thực sự theo kiểu phương Tõy Bản chất của "sứ mạng khai hoỏ" đú chớnh là sự khai thỏc thuộc địa diễn ra dưới lưỡi lờ, họng sỳng, mỏy chộm, bằng cỏc thủ đoạn tổ chức bộ mỏy hành chớnh cai trị chặt chẽ, xõy dựng hệ thống quõn sự, cảnh sỏt, toà ỏn và nhà tự ở nước ta, thực dõn Phỏp tổ chức khai thỏc
vơ vột cỏc cỏc tài nguyờn khoỏng sản, sản phẩm nụng lõm nghiệp quý của vựng nhiệt đới… Chỳng tập trung phỏt triển một số lĩnh vực như khai khoỏng hầm mỏ, đồn điến cao sư, hệ thống giao thụng đường sắt đường bộ, một số trung tõm thương mại ra đời, song tất cả cỏc nội dung đú thực chất là để phục vụ cho việc cướp búc, khai thỏc thuộc địa mà thụi
Hồ Chớ Minh từng núi về "nhà khai hoỏ" như sau: "Khi người ta đó là một nhà khai hoỏ thỡ người ta cú thể làm những việc dó man mà vẫn cứ là người văn minh nhất"1 Và nếu dõn bản xứ khụng chịu nhục được, phải vựng lờn, thỡ cỏc nhà khai hoỏ
"điều quõn đội, sỳng liờn thanh, sỳng cối và tàu chiến đến, người ta ra lệnh giới nghiờm Người ta bắt bớ và bỏ tự hàng loạt Đấy! Cụng cuộc khai hoỏ nhõn từ là như thế đấy!"
Tuy nhiờn, sau 2 cuộc khai thỏc thuộc địa, xó hội việt nam đó cú chuyển biến sõu sắc về mọi mặt, trong đú một số tiến bộ sản xuất cụng nghiệp bước đấu được du nhập, tạo cơ sở đầu tiờn về sản xuất cụng nghiệp ở nước ta; việc giao lưu buụn bỏn với nước ngoài được đẩy mạnh, tạo thành cỏc trung tõm đụ thị, thương cảng buụn bỏn tập trung,
là nền tảng ban đầu để xõy dựng đụ thị tập trung, phỏt triển thương mại dịch vụ, tạo dựng nền sản xuất hàng hoỏ tư bản ở Việt Nam Nhõn dõn Việt Nam được tiếp cận được với một số tiến bộ về khoa học cụng nghệ và tri thức của nhõn loại nhiều hơn chế độ quõn chủ phong kiến trước đõy
Câu 2: Những vấn đề cơ bản trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân “
Pháp và tác phẩm Đ” “ ờng cách mệnh của Nguyễn âi Quốc.”
1/ Tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp:
- Xuất xứ của tỏc phẩm: Bản ỏn chế độ thực dõn Phỏp (tiếng Phỏp: Le Procốs
bằng tiếng Phỏp và được ra mắt lần đầu tiờn năm 1925 tại thủ đụ Pari của nước Phỏp, trờn bỏo Inprộkor của Quốc tế Cộng sản Ở Việt Nam, tỏc phẩm được xuất bản lần đầu tiờn năm 1946 tại Hà Nội, bằng tiếng Phỏp; năm 1960 tỏc phẩm được xuất bản lần đầu bằng tiếng Việt và được tỏi bản vào cỏc năm
1975, 1976, 1985, 2008
- Nội dung cơ bản của tỏc phẩm: Tỏc phẩm gồm 12 chương và phần phụ lục
Chương 1: Thuế mỏu
Chương 2: Việc đầu độc người bản xứ
Chương 3: Cỏc quan thống đốc
Chương 4: Cỏc quan cai trị
Chương 5: Những nhà khai hoỏ
Chương 6: Tệ tham nhũng trong bộ mỏy cai trị
Chương 7: Búc lột người bản xứ
Chương 8: Cụng lớ
Trang 4 Chương 9: Chính sách ngu dân
Chương 10: Chủ nghĩa giáo hội
Chương 11: Nỗi khổ nhục của người phụ nữ bản xứ
Chương 12: Nô lệ thức tỉnh
Phụ lục: Gửi thanh niên Việt Nam
+ Nội dung tác phẩm là bản cáo trạng những tội ác không thể dung tha của chế độ thực dân Pháp đối với người dân An Nam, từ ấu nhi đến phụ lão, từ những thủ đoạn
dã man trắng trợn cướp miếng cơm manh áo hàng ngày của người dân nghèo khốn cùng đến âm mưu thâm độc dùng rượu và thuốc phiện, hạn chế tối đa việc mở mang dân trí để làm lụn bại tương lai của dân tộc Việt Nam Những nội dung, vấn đề mà tác phẩm lên án là: Thuế máu, việc đầu độc người bản xứ, các quan thống đốc, các quan cai trị, những nhà khai hoá, tệ tham nhũng trong bộ máy cai trị, bóc lột người bản xứ, chính sách ngu dân, chủ nghĩa giáo hội, nỗi khổ nhục của người phụ nữ bản xứ…
+ Với cách hành văn ngắn gọn, súc tích, hùng hồn, đanh thép cùng những sự kiện đầy sức thuyết phục, tác phẩm đã gây được tiếng vang lớn ngay từ khi ra đời, thức tỉnh lương tri của những con người yêu Tự do - Bình đẳng - Bác ái và thắp lên ngọn lửa đấu tranh của người dân An Nam thuộc địa theo một con đường sáng suốt và đúng đắn dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin
+ Bản án chế độ thực dân Pháp là một tác phẩm vốn có giá trị lớn về nội dung.
Nhưng giá trị ấy lại càng nổi bật lên với một nghệ thuật biểu hiện sắc sảo Tác phẩm
đề cập những vấn đề lớn của thời đại, nhưng lại không phân tích dài dòng, khô khan,
mà đi từ việc diễn tả những hiện tượng hằng ngày xảy ra trong những hoàn cảnh cụ thể, dẫn đến những kết luận sắc, gọn, súc tích Trên cơ sở diễn tả những sự việc cụ thể đó, rọi vào nó ánh sáng của tư tưởng mới, tác phẩm làm cho tư duy của người đọc
mở mang, dẫn đến những suy nghĩ rộng và xa hơn, rồi lại trở về vấn đề trọng tâm với một nhận định sâu sắc, sáng rõ hơn…
+ Hình thức biểu hiện của tác phẩm, về mọi mặt, từ cách diễn tả, cách sử dụng ngôn ngữ, cách chọn lọc những chi tiết, những hiện tượng, những hình ảnh, cách sử dụng các yếu tố của nghệ thuật châm biếm, đến cách bố cục từng chương, mục và toàn tác phẩm, đều có những nét rất độc đáo Trong các biện pháp nghệ thuật đó, nghệ thuật châm biếm là một biện pháp được sử dụng rất tài tình, tinh tế, sắc sảo
Ngoài tư cách chủ yếu là một tác phẩm chính trị, Bản án chế độ thực dân Pháp
còn là tác phẩm có giá trị về nhiều mặt như văn học, ngôn ngữ, lịch sử, v.v…
- Ý nghĩa của tác phẩm: Bản án chế độ thực dân Pháp - một trong những đỉnh
cao của văn chương chính luận cách mạng Việt Nam Tác phẩm là tổng hoà của tất cả các tri thức chính trị, triết học, xã hội, lịch sử, văn học và kinh nghiệm thực tiễn -được tiếp thu, bồi bổ, phát triển trong quá trình đấu tranh đầy sóng gió của Chủ tịch
Hồ Chí Minh Tác phẩm hướng các dân tộc bị áp bức đi theo con đường Cách mạng tháng Mười Nga, tiêu diệt hai cái vòi của con đỉa đế quốc – một vòi bám vào giai cấp
Trang 5vô sản ở chính quốc, một vòi bám vào nhân dân thuộc địa Tác phẩm đề ra cho nhân dân Việt Nam con đường đấu tranh giải phóng dân tộc theo chủ nghĩa Mác- Lê Nin
Tác phẩm này viết cách đây gần một thế kỷ nhưng khoảng thời gian đó không hề làm phai mờ những ý nghĩa, tác dụng, những giá trị lớn về lý luận và thực tiễn của nó Việc học tập, nghiên cứu để nhận thức đầy đủ và sâu sắc những giá trị của tác phẩm là việc làm hết sức có ý nghĩa và cần thiết hiện nay
2/ Tác phẩm Đường cách mệnh:
- Xuất xứ của tác phẩm: Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung
Quốc) Người đã liên lạc với các nhà cách mạng Việt Nam đang hoạt động ở đây thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và tích cực vận động, tổ chức, huấn luyện, đào tạo cán bộ cách mạng Để xây dựng tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên có hệ tư tưởng cách mạng và khoa học, có đường lối chính trị đúng đắn, có
tổ chức chặt chẽ để lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã biên soạn các bài giảng tại các lớp huấn luyện của tổ chức này Đầu năm 1927, những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện được xuất bản thành tác phẩm “Đường kách mệnh” Bản in của tác ơhẩm này do chính tay người viết và vẽ tranh minh hoạ, được dùng trong các lớp huấn luyện của Việt Nam thanh niên cách mạng đống chí hội và Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức pr Á đông
- Tư tưởng cơ bản của tác phẩm: Phải làm cách mệnh, thà chết tự do còn hơn
sống nô lệ, quyết chiến đấu cho nền độc lập tự do của dân tộc là tinh thần của tác phẩm Có thể nói, “Không có gì quý hơn độc lập tự do” là quan điểm bao trùm toàn bộ tác phẩm Tác phẩm cũng chỉ rõ kẻ thù nguy hiểm nhất của độc lập tự do và vạch con đường cụ thể để giành thắng lợi
Tinh thần xuyên suốt toàn bộ tác phẩm là vì độc lập tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân, phải giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân ra khỏi ách áp bức bóc lột của chủ nghĩa đế quốc
Kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội là quan điểm tư tưởng chỉ đạo con đường cách mạng Việt Nam Giải phóng nhân dân phải gắn với sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản Cách mạng giải phóng dân tộc phải theo quỹ đạo của cách mạng vô sản, kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa xã hội, lợi ích của dân tộc với lợi ích của giai cấp vô sản phải gắn bó với nhau Thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc đều phải giải quyết trên cơ sở quan điểm cách mạng vô sản để đưa cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa Cách mạng giải phóng dân tộc chuẩn bị cho cách mạng xã hội chủ nghĩa Cách mạng xã hội chủ nghĩa chi phối cách mạng giải phóng dân tộc
Cách mạng phải triệt để, tích cực, chủ động và sáng tạo Cách mạng phải độc lập
và sáng tạo, tự lực, tự cường, không ỷ lại ngồi chờ; phải tích cực tấn công, chủ động tiến công, quyết giành thắng lợi Biết tranh thủ sự giúp đỡ của cách mạng thế giới, nhưng cũng phải có đóng góp cho cách mạng thế giới, cùng cách mạng thế giới đạp đổ chủ nghĩa đế quốc tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội
- Nội dung cơ bản của tác phẩm:
Trang 6a) Tư cách một người cách mệnh
Tư cách một người cách mệnh được đặt lên vị trí hàng đầu của tác phẩm Nội dung gồm 3 phần:
- Tự mình phải cần kiệm - liêm chính - vị công vong tư Giữ chủ nghĩa cho vững…
- Đối người phải: với từng người thì khoan thứ Trực mà không táo bạo Hay xem xét người
- Làm việc phải : Xem xét hoàn cảnh kỹ càng Quyết đoán, dũng cảm, phục tùng đoàn thể
Tác phẩm đã nêu lên những vấn đề cơ bản của đạo đức mới - đạo đức của người cộng sản Đó là phải có đức và tài, trí và dũng, tư cách và năng lực theo kiểu người cộng sản Đó là con người một lòng một dạ Đó là con người có tổ chức, gắn bó với tổ chức, với đoàn thể Đồng thời biết phát huy năng lực cá nhân “Tư cách người cách mệnh” khác hẳn với chủ nghĩa anh hùng cá nhân, đặt mình lên trên tổ chức, đề cao cái tôi đạo đức của người đảng viên cộng sản được đề cập trong tác phẩm phù hợp với truyền thống đạo đức của dân tộc ta, đáp ứng yêu cầu của cách mạng và cũng rất đúng với nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về đạo đức của người cách mạng “Tư cách người cách mệnh” đã dễ dàng chinh phục lòng người, tiếp thêm sức mạnh và định hướng phấn đấu cho tất cả những ai yêu nước, thương nòi, muốn giải phóng quê hương xứ sở ra khỏi mọi áp bức bóc lột, xây dựng đất nước theo hướng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh
“Tư cách người cách mệnh” có giá trị khoa học và giáo dục lớn đặt cơ sở cho đạo đức học ở Việt Nam
b) Con đường cách mệnh
Tác giả đưa ra khái niệm “cách mệnh”: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”
Từ đó, tác giả xác định các loại cách mạng:
- Tư bản cách mệnh như cách mệnh Pháp năm 1789, Mỹ cách mệnh độc lập năm 1776; Nhật cách mệnh năm 1864
- Dân tộc cách mệnh như: Italia đuổi cường quyền Áo năm 1859; Tàu đuổi Mãn Thanh 1911
- Giai cấp cách mệnh như công nông Nga đuổi tư bản và giành lấy chính quyền 1917 Tác giả giải thích nguyên nhân sinh ra các loại cách mệnh ấy Từ phân tích mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn giai cấp, tác giả xác định tính chất cách mệnh Dân tộc cách mệnh là dân tộc nô lệ đồng tâm hiệp lực đánh đuổi tụi áp bức mình đi để giành độc lập
tự do Giai cấp cách mệnh là giai cấp bị áp bức cách mệnh để đạp đổ giai cấp đi áp bức mình
Về dân tộc cách mệnh và giai cấp cách mệnh, tác giả đều lấy ví dụ Việt Nam Khi kết luận, tác giả cũng nói đến sự cần thiết phải tiến hành dân tộc cách mệnh và giai cấp cách mệnh ở Việt Nam Cách mệnh Việt Nam phải tiến hành giải phóng dân tộc để tiến lên giải phóng giai cấp Việt Nam phải làm cả dân tộc cách mệnh và giai cấp cách mệnh
Tác giả cũng xác định rõ bạn và thù của cách mệnh Việt Nam Đế quốc Pháp đã chà đạp lên nền độc lập của dân tộc, đặt ách áp bức bóc lột đối với nhân dân ta Do đó,
Trang 7đế quốc Pháp vừa là kẻ thù của dân tộc và cũng là kẻ thù của giai cấp Tác giả phân biệt rạch ròi giữa đế quốc Pháp và nhân dân Pháp trước hết là công nông Pháp Từ đó, nêu mối quan hệ mật thiết giữa cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam với giai cấp cách mệnh Pháp nói riêng và mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản chính quốc nói chung
Còn giai cấp phong kiến địa chủ, tác giả có phân loại: điền chủ nhỏ là bầu bạn cách mệnh công nông, những đại địa chủ thì chớ có cho họ vào hội của dân cày Việc xác định đúng, chính xác kẻ thù cơ bản là chủ nghĩa đế quốc Pháp có ý nghĩa to lớn trong việc xây dựng chiến lược và sách lược cách mạng, trong việc tập hợp lực lượng, phân hóa, cô lập cao độ kẻ thù, nhằm tăng sức mạnh cho cách mạng Đây là tầm tư duy của thiên tài rất biện chứng, cách mạng và khoa học vượt lên tầm tư duy đương thời của nhiều người cho rằng, đã địa chủ tất nhiên sẽ là kẻ thù của cách mạng, là đối tượng đứng về phía đế quốc
c)Về lực lượng cách mạng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cũng chỉ rõ: Cách mạng là
sự nghiệp của quần chúng gồm sĩ, nông, công, thương trong đó công – nông là gốc cách mạng, còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ là bầu bạn của công – nông Công nông là người chủ cách mệnh “là vì công nông bị áp bức nặng hơn, là vì công nông là đông nhất cho nên sức mạnh hơn hết, là vì công nông là tay không chân rồi, nếu thua thì chỉ mất một cái kiếp khổ, nếu được thì được cả thế giới, cho nên họ gan góc” “Học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ cũng bị tư bản áp bức, song không cực khổ bằng công nông; 3 hạng ấy chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông thôi”
Người đã căn cứ vào điều kiện cụ thể của đất nước, thái độ của các giai cấp trong
xã hội, đối với cách mạng để vận dụng nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin cho phù hợp, không giáo điều, máy móc Vì vậy, lực lượng cách mạng vừa đông, vừa mạnh, nhưng vẫn đảm bảo vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân
d) Về đoàn kết quốc tế, Nguyễn Ái Quốc nêu 3 vấn đề lớn:
về đoàn kết quốc tế, Hồ Chí Minh
- Cách mạng Việt Nam phải đoàn kết với các lực lượng cách mạng thế giới, cách mạng Việt Nam là bộ phận của cách mạng thế giới Ai làm cách mệnh trên thế giới cũng đều là đồng chí của nhân dân Việt Nam Cách mạng Việt Nam phải đứng hẳn về phía phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc thế giới để đạp đổ tất cả
đế quốc chủ nghĩa trên thế giới
- Xác định rõ quan hệ lợi ích dân tộc và cách mạng thế giới, giữa quyền lợi và trách nhiệm, sự thống nhất của quan hệ này
- Xác định rõ quan hệ cách mạng thuộc địa và cách mạng chính quốc là tác động qua lại Cách mạng thuộc địa không thụ động ngồi chờ cách mạng chính quốc
Với những luận điểm trên, tác phẩm đã đặt nền tảng đúng đắn cho đường lối quốc tế của đảng, và đặt cơ sở cho sự giúp đỡ của quốc tế trong thời kỳ thành lập Đảng
đ)Về phương pháp cách mạng, Nguyễn Ái Quốc khẳng định rằng, phương
pháp cách mạng giữ vai trò hết sức quan trọng: “Sửa cái xã hội cũ đã mấy ngàn năm làm xã hội mới, ấy là rất khó Nhưng biết cách làm, biết đồng tâm hiệp lực mà làm thì chắc làm được” Đó là:
Trang 8- Phải làm cho dân giác ngộ
- Phải giảng giải lý luận và chủ nghĩa cho dân hiểu
- Phải hiểu phong trào thế giới, phải bày sách lược cho dân
- Phải đoàn kết toàn dân “Cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc của một hai người” “Đàn bà, trẻ con cũng giúp làm việc cách mệnh được nhiều Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại”
- Phải biết tổ chức dân chúng lại, tác giả nhấn mạnh vai trò của tổ chức: cách mạng phải có tổ chức rất vững bền thì mới thành công Tác giả đưa ra cách tổ chức quần chúng như công hội, dân cày, hợp tác xã, thanh niên, phụ nữ, quốc tế cứu tế đỏ
- Phải giành chính quyền bằng bạo lực cách mạng của quần chúng, phải biết chọn thời
cơ
Tóm lại, tác phẩm đã nêu lên những quan điểm cơ bản về phương pháp cách
mạng Việt Nam trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tổng kết kinh nghiệm cách mạng các nước Những quan điểm đó là cơ sở cho Đảng xây dựng
phương pháp cách mạng của mình
Về Đảng Cộng sản, Đảng là điều kiện đầu tiên để đảm bảo cho sự thắng lợi của
cách mệnh “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”
Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải theo chủ nghĩa Mác - Lênin “Đảng mà không
có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”
Nguyễn Ái Quốc luôn có ý thức xây dựng lập trường chính trị, bản chất giai cấp công nhân, tính cách mạng triệt để của Đảng Những tư tưởng về con đường cách mạng Việt Nam của Người là những phác thảo cho đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam Người phân tích sâu sắc lịch sử cách mạng Nga để quán triệt bài học kinh nghiệm về xây dựng Đảng vô sản kiểu mới ở Việt Nam
Vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên được Người đề cập gần như xuyên suốt tác phẩm Toàn bộ tác phẩm đã thể hiện nội dung đó
Bằng tư tưởng xây dựng Đảng Cộng sản ở Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã đáp ứng yêu cầu bức bách của lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX, chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
- Ý nghĩa của tác phẩm :
1 Tác phẩm Đường cách mệnh đã vũ trang lí luận cách mạng cho cán bộ của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên tuyên truyền vào giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân Việt Nam, có vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị về tư tưởng, chính trị, tổ chức cho sự thành lập chính Đảng cách mạng ở Việt Nam
- Về tư tưởng: Tác phẩm có ý nghĩa giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc cho cán bộ và đông đảo quần chúng nhân dân, nhằm xây dựng
sự thống nhất trong nhận thức tư tưởng, chuẩn bị thành lập Đảng
Tác phẩm khắc phục tư tưởng sai lầm, ám sát cá nhân, chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa quốc gia; xác lập hệ tư tưởng mới - tư tưởng của giai cấp công nhân
- Về chính trị: Tác phẩm xây dựng lập trường, quan điểm của giai cấp công
Trang 9nhận cho cán bộ và quần chúng công nông Vạch ra được đường hướng cơ bản của cách mạng Việt Nam, làm cơ sở cho việc xây dựng Cương lĩnh chính trị của Đảng Tác phẩm Đường cách mệnh ra đời đã chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối của cách mạng Việt Nam; thúc đẩy phong trào yêu nước, phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ
- Về tổ chức: Đào tạo ra một lớp cán bộ cách mạng kiểu mới chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Tác phẩm cũng đưa ra hệ thống tổ chức của Đảng và các tổ chức quần chúng như công hội, nông hội, thanh niên, phụ nữ để Đảng tập hợp quần chúng, chuẩn bị về mặt tổ chức cho sự ra đời của Đảng
2 Tác phẩm Đường cách mệnh có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc Lý luận của tác phẩm không sách vở mà vạch ra lý luận cách mạng Việt Nam thiết thực, tri thức lý luận cách mạng Việt Nam đã được hiện diện trong tác phẩm rất mácxít nhưng cũng rất Việt Nam, dễ hiểu, dễ tiếp thu, kết hợp rất tài tình phương pháp lịch sử và lôgích Dùng lịch sử để nói lý luận, từ Cách mạng Pháp đến Cách mạng Nga và kết luận ở Cách mạng Nga, rồi lấy lý luận soi sáng thực tiễn Việt Nam, và kết luận: Chỉ
có cách mạng vô sản mới giải phóng được dân tộc
Tác phẩm cũng là một hình mẫu của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam của tác giả Ví dụ: Lênin cho rằng, cách mạng thuộc địa chỉ có thể giành được thắng lợi khi có sự giúp đỡ của cách mạng chính quốc, khi cách mạng
vô sản chính quốc đã giành thắng lợi, nhưng tác phẩm phát hiện thêm rằng, cách mạng thuộc địa có thể thành công trước cách mạng vô sản ở chính quốc và tác động tích cực đối với cách mạng chính quốc
Chủ nghĩa Mác - Lê nin bàn nhiều về vấn đề giải phóng dân tộc Tác phẩm chỉ
rõ dân tộc và giai cấp kết hợp với nhau, giải phóng dân tộc bằng con đường cách mạng vô sản
Tác phẩm Đường cách mệnh đã thể hiện thiên tài lý luận cách mạng của Nguyễn
Ái Quốc, tác phẩm có giá trị thực tiễn lớn lao, tạo ra sự chuyển biến căn bản, nhanh chóng trong nhận thức và hành động cách mạng của cán bộ và đông đảo quần chúng, chuẩn bị tiền đề cho việc thành lập Đảng
Như vậy, trước khi Đảng ra đời, ở Việt Nam đã có sự thống nhất về tư tưởng chính trị và tổ chức Đó là điều kiện trực tiếp giữ vững sự thống nhất trong Đảng ngay
từ khi mới thành lập cũng như sau này Tác phẩm Đường cách mệnh là một kho tàng tri thức lý luận cách mạng Việt Nam, là sự thể hiện tư tưởng cơ bản của lãnh tụ Hồ Chí Minh Giá trị của tác phẩm càng được khẳng định khi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam tuyên bố rằng, Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động
Câu 3: Phân tích các khuynh hướng của phong trào yêu nước, giải phóng dân tộc ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX? Vì sao khuynh hướng yêu nước vô sản chiếm ưu thế?.
Giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là giai đoạn lịch sử Việt Nam có những biến đổi hết sức to lớn Nước Việt Nam đã có những biến chuyển sâu sắc về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Thực dân Pháp xâm lược và biến nước ta từ một xã hội phong kiến thuần tuý đã biến thành một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến Mặc dù thực dân còn duy trì một phần tính chất phong kiến, song khi đã thành thuộc địa thì tất cả các
Trang 10mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và giai cấp ở Việt Nam đều bị đặt trong quỹ đạo
chuyển động của xã hội đó Chính vì vậy, các phong trào yêu nước trong giai đoạn
này có nhiều đặc điểm và tính chất khác biệt so với các thời kỳ trước đây, ngoài phong trào yêu nước giải phóng dân tộc theo khuynh hướng phong kiến thì còn xuất hiện khuynh hướng dân chủ tư sản và khuynh hướng vô sản
1 Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến
Cuối thế kỷ XIX, mặc dù triều đình phong kiến nhà Nguyễn ký các Hiệp ước ácmăng
(Harmand) năm 1883 và Patơnốt (Patenôtre) năm 1884, đầu hàng thực dân Pháp, song
phong trào chống thực dân Pháp xâm lược vẫn diễn ra Phong trào Cần Vương (1885-1896), một phong trào đấu tranh vũ trang do Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết phát động, đã mở cuộc tiến công trại lính Pháp ở cạnh kinh thành Huế (1885) Việc không thành, Tôn Thất Thuyết đưa Hàm Nghi chạy ra Tân Sở (Quảng Trị), hạ chiếu Cần Vương Mặc dù sau đó Hàm Nghi bị bắt, nhưng phong trào Cần Vương vẫn phát triển, nhất là ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa: Ba Đình của Phạm Bành và Đinh Công Tráng (1881-1887), Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật (1883-1892) và Hương Khê của Phan Đình Phùng (1885-1895) Cùng thời gian này còn nổ ra cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo, kéo dài đến năm 1913 Thực chất đây là phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân nhằm đánh đổ Pháp và tay sai khôi phục lại nền độc lập dưới chế độ phong kiến Thất bại của phong trào Cần Vương chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến trong việc giải quyết nhiệm vụ giành độc lập dân tộc do lịch sử đặt ra
2 1 Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản:
tưởng Nho giáo ngày càng tỏ ra bất lực trước yêu cầu của công cuộc chống ngoại xâm
vì nền độc lập dân tộc Trong bối cảnh đó, một số nhà tư tưởng tiêu biểu, từ Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch… đến Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh,… đã thực hiện một bước chuyển tư tưởng chính trị có ý nghĩa lịch sử to lớn Chủ nghĩa quốc gia dân tộc với những cuộc vận động dân tộc- dân chủ của những tầng lớp xã hội mới đã xuất hiện
Từ sự phê phán hệ tư tưởng phong kiến, các ông đã đề xuất tư tưởng canh tân vào cuối thế kỷ XIX và sau đó, khởi xướng tư tưởng dân chủ tư sản vào đầu thế kỷ
XX, tạo nên ảnh hưởng lớn đối với xã hội Việt Nam Cùng với quá trình hình thành quan hệ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam và sự phát triển của ý thức dân tộc , những tư tưởng dân chủ tư sản đã thổi vào Việt Nam một làn gió mới, một ý niệm mới vượt qua khuôn khổ của tư tưởng phục hồi các vương triều phong kiến, hướng tới chế độ dân chủ tiến bộ hơn Quá trình mở cửa ra thế giới bên ngoài, tiến hành chấn hưng đất nước thông qua các cuộc cải cách Cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc đã mang những nội dung mới và có những hình thức mới Đây là phong trào giải phóng dân tộc theo con đường dân chủ tư sản, nó kế tục phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ
XIX nhưng đồng thời cũng mang nhiều nét mới khác trước Những họat động này đã
góp phần thức tỉnh lòng yêu nước, ý chí tự cường dân tộc của nhân dân Việt Nam, tạo điều kiện cho cuộc đấu tranh phát triển trong giao đoạn tiếp theo