1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích đánh giá biến động môi trường sống của người dân vùng đồng bằng sông hồng và đồng bằng sông cửu long giai đoạn 2002 2010

79 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích, đánh giá biến động môi trường sống của người dân vùng đồng bằng sông hồng và đồng bằng sông cửu long, giai đoạn 2002 - 2010
Tác giả Lê Thu Hiền
Người hướng dẫn PGS.TS. Lưu Đức Hải
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Khoa học môi trường
Thể loại Luận văn thạc sĩ khoa học
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có cơ sở cho việc tính toán và xây dựng, hoạch định chính sách đạt hiệu quả, phù hợp thực tiễn trong xây dựng phát triển kinh tế - xã hội hài hòa với bảo vệ môi trường, đảm bảo môi tr

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

LÊ THU HIỀN

PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG MÔI TRƯỜNG SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG VÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG, GIAI ĐOẠN 2002 - 2010

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

Hà Nội - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

LÊ THU HIỀN

PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG MÔI TRƯỜNG SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

VÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG, GIAI ĐOẠN 2002 - 2010

Chuyên ngành: Khoa học môi trường

Mã số: 60.440301

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS LƯU ĐỨC HẢI

Hà Nội - 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Lưu Đức Hải, đã tận tình hướng dẫn, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi để em hoàn thành luận văn này

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban lãnh đạo Khoa Môi trường, Bộ môn Quản lý môi trường cùng các thầy cô giáo đã truyền thụ những kiến thức quí báu và tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Em xin trân trọng cảm ơn tới Vụ Thống kê Xã hội Môi trường - Tổng cục Thống kê đã hỗ trợ, giúp đỡ em trong thời gian thực hiện đề tài này

Em xin chân thành cảm ơn tới các thành viên trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp, đã động viên, giúp đỡ, khuyến khích em trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Hà Nội, tháng 12 năm 2014

Lê Thu Hiền

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long 4

1.1.1 Vùng đồng bằng sông Hồng 4

1.1.2 Vùng đồng bằng sông Cửu Long 7

1.2 Tổng quan về các đặc trưng môi trường sống của người dân Việt Nam qua bộ số liệu thống kê 11

1.2.1 Khái niệm, định nghĩa các chỉ tiêu chính cần phân tích 11

1.2.2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 18

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Đối tượng và phạm vi 28

2.2 Thời điểm và thời gian nghiên cứu 28

2.3 Nội dung nghiên cứu 28

2.4 Phương pháp thu thập số liệu 30

2.5 Các chỉ tiêu nghiên cứu chính 31

2.5.1 Chỉ tiêu phản ánh điều kiện kinh tế - xã hội 31

2.5.2 Chỉ tiêu phản ánh điều kiện vệ sinh môi trường 31

2.6 Phương pháp xử lý số liệu 31

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33

3.1 Diễn biến về phát triển kinh tế - xã hội ở 2 vùng Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long, giai đoạn 2002 - 2010 33

3.1.1 Thu nhập bình quân đầu người 33

3.1.2 Hộ nghèo 34

3.1.3 Cơ sở hạ tầng (Tỷ lệ hộ có nhà kiên cố) 35

3.1.4 Trình độ giáo dục (Tỷ lệ dân số có bằng cấp cao nhất là từ cấp Trung học phổ thông trở lên) 36

3.1.5 Chỉ tiêu y tế: 38

Trang 5

3.2 Diễn biến về điều kiện vệ sinh môi trường của người dân ở 2 vùng Đồng

bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long, giai đoạn 2002 – 2010 40

3.2.1 Tình hình sử dụng nước sinh hoạt 40

3.2.2 Tình hình sử dụng hố xí 41

3.2.3 Tình hình xả rác sinh hoạt 43

3.3 Phân tích mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội với điều kiện vệ sinh môi trường 46

3.3.1 Phương trình mô hình hồi qui logistic sử dụng phân tích mối tương quan 46

3.3.2 Kết quả chạy mô hình: 47

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

PHỤ LỤC 70

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Các chỉ tiêu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư phục vụ cho công tác giám sát

việc thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 22

Bảng 1.2 Các chỉ tiêu cơ bản về sức khỏe liên quan đến nước và vệ sinh ở Việt Nam 27

Bảng 3.1 Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng của hộ dân tại 2 vùng ĐBSH và ĐBSCL, giai đoạn 2002 - 2010 33

Bảng 3.2 Tỷ lệ hộ nghèo của 2 vùng ĐBSH và ĐBSCL giai đoạn 2002 - 2010 34

Bảng 3.3 Tỷ lệ hộ có các loại nhà ở của 2 vùng ĐBSH và ĐBSCL, 2002 - 2010 36

Bảng 3.4 Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên có bằng cấp cao nhất của 2 vùng ĐBSH và ĐBSCL, giai đoạn 2002 - 2010 37

Bảng 3.5 Diễn biến số lượng người tham gia khám chữa bệnh ở 2 vùng ĐBSH và ĐBSCL 39

Bảng 3.6 Chi phí chi tiêu y tế và chăm sóc sức khỏe ở 2 vùng ĐBSH và ĐBSCL 39 Bảng 3.7 Danh sách các biến, tên biến đưa vào mô hình 47

Bảng 3.8 Bảng kết quả hồi quy của biến nước hợp vệ sinh 50

Bảng 3.9 Bảng hệ số dy/dx của biến nước hợp vệ sinh 50

Bảng 3.10 Bảng kết quả hồi quy của biến hố xí hợp vệ sinh 55

Bảng 3.11 Bảng hệ số dy/dx của biến hố xí hợp vệ sinh 56

Bảng 3.12 Bảng kết quả hồi quy của biến xả rác thải 58

Bảng 3.13 Bảng hệ số dy/dx của biến xả rác thải 62

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch (hợp vệ sinh) ở 2 vùng 40 Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ hộ sử dụng hố xí hợp vệ sinh ở 2 vùng 42 Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ hộ xả rác trực tiếp ra ao hồ, kênh rạch 44

Trang 9

MỞ ĐẦU

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và công cuộc đổi mới đất nước trong những năm vừa qua đã đem lại những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội (KTXH), nâng cao đáng kể đời sống vật chất và tinh thần của người dân Tuy nhiên, những biến đổi nhiều mặt trong đời sống xã hội và tăng trưởng kinh tế cũng nảy sinh nhiều vấn đề về môi trường thiên nhiên và môi trường sống của cộng đồng Sự suy thoái về môi trường là vấn đề đã được cảnh báo và đã giành được sự quan tâm của toàn xã hội, song vẫn là điều đáng lo ngại trong quá trình CNH, HĐH và phát triển kinh tế ở nước ta Với sự mở rộng về quy mô và tăng mật độ các khu công nghiệp, đồng thời với việc áp dụng nhiều công nghệ mới và nhiều hóa chất trong sản xuất nông nghiệp đang phát sinh nhiều thách thức mới trong việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững Nhu cầu phát triển kinh tế nhanh trên cơ sở đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế là điều cần thiết và cấp bách đối với đất nước đang trên đà phát triển, song những tác động tiêu cực của nó đến với môi trường là rất lớn và nếu không xử lý tốt thì đó cũng là tác nhân gây ra cản trở sự phát triển

Cùng với tốc độ CNH, HĐH, quá trình đô thị hóa cũng diễn ra với nhịp độ cao dẫn tới những hậu quả tiêu cực đối với môi trường sống của người dân Dân số thành thị năm 2010 là 26515,9 nghìn người, chiếm 30,5% so dân số nông thôn là 60431,5 chiếm 69,5%, song phần lớn dân cư thành thị chỉ tập trung ở một số vùng trọng điểm Tình hình này tạo ra một áp lực lớn đối với vấn đề quản lý đô thị, như vấn đề giao thông, rác thải, cung cấp nước sạch, hệ thống thoát nước và các dịch vụ công cộng khác Đây thật sự là một sức ép lớn vì tình trạng cơ sở hạ tầng và quản lý

đô thị hiện rất yếu kém Thêm vào đó, luồng di dân từ nông thôn ra thành thị sẽ tạo thêm gánh nặng lớn hơn đối với vấn đề quản lý đô thị Dân số thành thị tăng, tất yếu dẫn đến những thách thức lớn về môi trường Đây là bài toán chung khó giải đối với mọi quốc gia trên thế giới, nhất là các nước kém phát triển, trong đó có Việt Nam Những năm gần đây vấn đề môi trường đô thị ở Việt Nam đã trở thành vấn đề nghiêm trọng và đáng được báo động

Trang 10

Để có cơ sở cho việc tính toán và xây dựng, hoạch định chính sách đạt hiệu quả, phù hợp thực tiễn trong xây dựng phát triển kinh tế - xã hội hài hòa với bảo vệ môi trường, đảm bảo môi trường sống cho người dân được an toàn, thì việc phân tích, đánh giá các chỉ tiêu kinh tế - xã hội và môi trường cũng như các tác động qua lại giữa các chỉ tiêu với nhau để phản ảnh đầy đủ hơn tình hình KTXH, môi trường của khu vực, quốc gia trong điều kiện nền kinh tế chuyển đổi Tuy nhiên, trong những năm qua, việc đánh giá về chất lượng môi trường sống nói chung và điều kiện vệ sinh môi trường nói riêng trong hệ thống chỉ tiêu thống kê chưa thực sự được chú trọng và quan tâm đúng mức Trong giai đoạn 2002 - 2010, Việt Nam tập trung vào đẩy mạnh phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo… Mặc dù cũng đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, nhưng chưa quan tâm, đánh giá đúng mức tình hình

và các tác động giữa kinh tế - xã hội với môi trường sống, vệ sinh môi trường môi trường để các nhà hoạch định chính sách có cơ sở xây dựng những giải pháp điểu chỉnh những chỉ tiêu nào trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội có tác động tiêu cực đến môi trường sống của con người, để từ đó có hướng xử lý phù hợp giúp phát triển phát triển KTXH hài hòa với bảo vệ môi trường một cách bền vững

Việc nghiên cứu và phân tích mối tương quan giữa một số chỉ tiêu về KTXH với chỉ tiêu điều kiện vệ sinh môi trường của dân cư có thể là bước đi ban đầu trong việc đánh giá mối quan hệ giữa các chỉ tiêu phát triển KTXH và chỉ tiêu bảo vệ môi trường Xuất phát từ lý do trên, đề tài tiến hành nghiên cứu phân tích nhằm lựa chọn một số chỉ tiêu cơ bản trong phát triển kinh tế có tác động, ảnh hưởng đến biến động môi trường sống của người dân trên cơ sở sử dụng bộ dữ liệu thống kê từ kết quả của cuộc Điều tra Khảo sát mức sống hộ gia đình, giai đoạn 2002-2010 của cơ quan Tổng cục Thống kê

Trang 11

* MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Đánh giá diễn biến và phân tích mối tương quan của một số chỉ tiêu KTXH với chỉ tiêu về điều kiện vệ sinh môi trường của hộ dân cư tại 2 vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, giai đoạn từ năm 2002 đến 2010

* NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:

- Phân tích và đánh giá diễn biến môi trường sống của người dân vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long

- Sử dụng phần mềm phân tích thống kê STATA để chạy mô hình phân tích mối tương quan giữa một số chỉ tiêu phản ánh tình hình KTXH với chỉ tiêu phản ánh điều kiện môi trường sống của người dân giữa 2 vùng ĐBSH và ĐBSCL năm

-Các chỉ tiêu phản ánh điều kiện môi trường sống:

+ Sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh

+ Sử dụng hố xí hợp vệ sinh

+ Hình thức xả rác hợp vệ sinh

Sau khi chạy mô hình phân tích thống kê, sử dụng kết quả phân tích mối quan

hệ giữa tình hình phát triển kinh tế - xã hội với điều kiện môi trường sống của 2 vùng ĐBSH và ĐBSCL

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long

1.1.1 Vùng đồng bằng sông Hồng

1.1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Đồng bằng sông Hồng (hay còn gọi là vùng châu thổ sông Hồng) là một vùng đất rộng lớn nằm quanh khu vực hạ lưu sông Hồng thuộc miền Bắc Việt Nam, vùng đất bao gồm 11 tỉnh và thành phố như: Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hà Tây (cũ) nay thuộc

Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình Toàn vùng có diện tích năm 2010 là 14964 km², dân số 18610,5 nghìn người, mật độ dân số là 1244 người/ km², [14]

b Khí hậu:

- Đặc trưng khí hậu của vùng là mùa đông từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, mùa này cũng là mùa khô, mùa xuân có tiết mưa phùn Điều kiện về khí hậu của vùng tạo thuận lợi cho việc tăng vụ trong năm vụ đông với các cây ưa lạnh, vụ xuân, vụ hè thu và vụ mùa

c Tài nguyên khoáng sản

- Đáng kể nhất là tài nguyên đất sét, đặc biệt là đất sét trắng ở Hải Dương, phục vụ cho phát triển sản xuất các sản phẩm sành sứ Tài nguyên đá vôi phục vụ cho phát triển ngành công nghiệp vật liệu xây dựng Nhìn chung khoáng sản của vùng không nhiều chủng loại và có trữ lượng vừa và nhỏ nên việc phát triển công nghiệp phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu từ bên ngoài

d Tài nguyên biển

- Đồng bằng sông Hồng có một vùng biển lớn dài 400 km, với bờ biển kéo dài

Trang 13

từ Thuỷ Nguyên - Hải Phòng đến Kim Sơn - Ninh Bình Bờ biển có bãi triều rộng

và phù sa dày là cơ sở nuôi trồng thuỷ hải sản, nuôi rong câu và chăn vịt ven bờ

- Ngoài ra một số bãi biển, đảo có thể phát triển thành khu du lịch như bãi biển

Đồ Sơn, huyện đảo Cát Bà,

e Tài nguyên đất đai

- Đất đai nông nghiệp là nguồn tài nguyên cơ bản của vùng do phù sa của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp Hiện có trên 103 triệu ha đất đã được

sử dụng, chiếm 82,48 % diện tích đất tự nhiên của vùng và chiếm 5,5% diện tích đất

sử dụng của cả nước Như vậy mức sử dụng đất của vùng cao nhất so với các vùng trong cả nước

- Đất đai của vùng rất thích hợp cho thâm canh lúa nước, trồng màu và các cây công nghiệp ngắn ngày Vùng có diện tích trồng cây lương thực đứng thứ 2 trong cả nước với diện tích đạt 1242,9 nghìn ha

g Tài nguyên nước

Tài nguyên nước phong phú, có giá trị lớn về kinh tế là hệ thống sông Hồng

và sông Thái Bình Ngoài ra, còn có nước ngầm, nước nóng, nước khoáng

1.1.1.2 Tiềm năng và thế mạnh của vùng Đồng bằng sông Hồng

Vùng Đồng bằng sông Hồng là vùng phát triển mạnh về công nghiệp, dịch vụ, nông lâm ngư nghiệp Với 21,6% dân số cả nước năm 2010 vùng này đã đóng góp 52.310 tỷ đồng chiếm 22% GDP trong đó có tới 19,4% giá trị gia tăng nông nghiệp

và 28,8% giá trị gia tăng dịch vụ của cả nước Cơ cấu kinh tế ngành có xu hướng dịch chuyển tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng, giảm tỷ trọng ngành nông lâm ngư nghiệp, tỷ trọng ngành dịch vụ đạt tới gần 50%

a Ngành nông nghiệp

- Đồng bằng sông Hồng là một trong hai vựa lúa của Việt Nam, có nhiệm

vụ hỗ trợ lương thực cho các tỉnh phía Bắc và một phần dành cho xuất khẩu Diện tích đất sử dụng trong nông nghiệp chiếm tới 57,25% diện tích đất tự nhiên của toàn vùng

- Tỷ trọng ngành trồng trọt trong tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp là 23%, chủ yếu là lúa nước, sản lượng lúa chiếm tới 89,21% trong sản lượng lương

Trang 14

thực qui thóc 4,22 triệu tấn, còn lại là các loại lương thực hoa màu như: ngô, khoai, sắn Ngoài ra trong vùng còn phát triển các cây công nghiệp khác như lạc, đậu tương có thể trồng xen canh, gối vụ Cây công nghiệp chủ yếu là đay chiếm 55% diện tích đay cả nước và cói chiếm 41,28 % diện tích cói cả nước

- Về chăn nuôi gia súc gia cầm, sự phát triển đàn lợn gắn liền với sản xuất lương thực trong vùng Chăn nuôi thuỷ sản cũng được chú trọng phát triển để tận dụng lợi thế diện tích mặt nước đa dạng của vùng và phục vụ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân

b Ngành công nghiệp

- Đồng bằng sông Hồng có nền công nghiệp phát triển vào loại sớm nhất nước

ta Trong vùng tập trung nhiều xí nghiệp công nghiệp hàng đầu của cả nước, nhất là

về cơ khí chế tạo, sản xuất hàng tiêu dùng và chế biến thực phẩm

- Xét về tỷ trọng trong tổng GDP ngành công nghiệp toàn vùng thì công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm chiếm 20,9%, công nghiệp nhẹ (dệt, may, da) chiếm 19,3%; sản xuất vật liệu xây dựng 17,9%; cơ khí, điện, điện tử 15,2%; hoá chất, phân bón, cao su chiếm 8,1%; còn lại 18,2% là các ngành công nghiệp khác

- Đến nay trên địa bàn vùng đã hình thành một số khu, cụm công nghiệp có ý nghĩa lớn đối với việc phát triển KTXH của vùng như các khu công nghiệp ở Hải Phòng, Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương, Vĩnh Phúc,

- Tuy vậy trình độ phát triển công nghiệp của vùng còn thấp nhiều so với trình

độ phát triển công nghiệp của các vùng Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long

- Tỷ trọng lao động công nghiệp của vùng chiếm 32% tổng lao động công nghiệp trong toàn quốc nhưng mới chỉ sản xuất ra hơn 22% giá trị công nghiệp của

cả nước

c Ngành dịch vụ

- Là trung tâm thương mại lớn nhất của cả nước, Đồng bằng sông Hồng đã đảm nhận chức năng phân phối hàng hoá trên phạm vi các tỉnh phía Bắc và một phần cho các tỉnh ven biển miền Trung Đồng bằng sông Hồng là một trung tâm

Trang 15

dịch vụ lớn cho cả nước có tỷ trọng dịch vụ trong GDP của vùng đạt 45% so với cả nước là 41%

- Các hoạt động tài chính, ngân hàng, xuất nhập khẩu, du lịch, thông tin, tư vấn, chuyển giao công nghệ của Đồng bằng sông Hồng mở rộng trên phạm vi các tỉnh phía Bắc và cả nước

- Trong dịch vụ, thương mại chiếm vị trí quan trọng Tuy vậy nó lại là khâu yếu kém của vùng, chỉ chiếm 18% tổng giá trị thương mại của cả nước

- Về giao thông vận tải, vùng có nhiều đầu mối liên hệ với các tỉnh phía Bắc, phía Nam Vùng được coi là cửa khẩu quốc tế hàng đầu của cả nước Các hệ thống đường bộ, đường thuỷ, đường hàng không của vùng tương đối phát triển so với cả nước Lưu lượng vận chuyển của vùng chiếm tới 8,7% khối lượng hàng hoá vận chuyển; 7,5% hàng hoá luân chuyển; 11,2% vận chuyển hành khách và 11,5% luân chuyển hành khách của cả nước

- Về dịch vụ bưu điện và kinh doanh tiền tệ (tín dụng, ngân hàng, bảo hiểm, kho bạc, xổ số) phát triển nổi trội hơn hẳn các vùng khác Hai lĩnh vực này góp phần làm tăng GDP của ngành dịch vụ của vùng Đồng bằng sông Hồng là trung tâm tư vấn, thông tin, chuyển giao công nghệ hàng đầu, đồng thời còn là một trong hai trung tâm tài chính - ngân hàng lớn nhất của cả nước

1.1.2 Vùng đồng bằng sông Cửu Long

1.1.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bao gồm 13 tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, An Giang, Đồng Tháp, Hậu Giang Năm 2010, toàn vùng có tổng diện tích tự nhiên là 40518,5 km2

, dân số trung bình là 17272,2 chiếm 12,2 % diện tích của cả nước, mật độ dân số là 426 người/km2,[14]

Trang 16

dọc theo một số giồng cát ven biển và đất phèn trên trầm tích đầm mặn trũng thấp như vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên - Hà Tiên, Tây Nam sông Hậu và bán đảo Cà Mau Địa hình của vùng tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình là 3 - 5m, có khu vực chỉ cao 0,5 - 1m so với mặt nước biển

b Khí hậu

- Nền khí hậu nhiệt đới ẩm với tính chất cận xích đạo thể hiện rõ rệt Nhiệt độ trung bình hàng năm 24 - 270C, biên độ nhiệt trung bình năm 2 - 300C, chênh lệch nhiệt độ ngày và đêm thấp, ít có bão hoặc nhiễu loạn thời tiết Có hai mùa rõ rệt, mùa mưa tập trung từ tháng 5 - 10, lượng mưa chiếm tới 99% tổng lượng mưa của

cả năm Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, hầu như không có mưa

- Có thể nói các yếu tố khí hậu của vùng thích hợp cho các sinh vật sinh trưởng và phát triển, là tiền đề cho việc thâm canh, tăng vụ

c Tài nguyên khoáng sản

- Trữ lượng khoáng sản không đáng kể Đá vôi phân bố ở Hà Tiên, Kiên Lương dạng núi vách đứng với trữ lượng 145 triệu tấn Phục vụ sản xuất xi măng, vôi xây dựng; cát sỏi ở dọc sông Vàm Cỏ, sông Mê Kông trữ lượng khoảng 10 triệu mét khối; than bùn ở U Minh, Cần Thơ, Sóc Trăng, tứ giác Long Xuyên Ngoài ra

còn các khoáng sản khác như đá, suối khoáng…

d Tài nguyên biển

- Chiều dài bờ biển 732 km với nhiều cửa sông và vịnh Biển trong vùng chứa đựng nhiều hải sản quí với trữ lượng cao: Tôm chiếm 50% trữ lượng tôm cả nước,

cá nổi 20%, cá đáy 32%, ngoài ra còn có hải sản quí như đồi mồi, mực…

- Trên biển có nhiều đảo, quần đảo có tiềm năng kinh tế cao như đảo Thổ Chu, Phú Quốc

e Tài nguyên đất đai

Diện tích đất trong vùng bao gồm các nhóm đất sau:

+ Đất phù sa: Phân bố chủ yếu ở vùng ven và giữa hệ thống sông Tiền và sông Hậu, đất này có độ phì cao và cân đối, thích hợp đối với nhiều loại cây trồng lúa, cây ăn quả, màu, cây công nghiệp ngắn ngày

+ Nhóm đất phèn: Phân bố ở vùng Đồng Tháp Mười và Hà Tiên, vùng trũng

Trang 17

trung tâm bản đảo Cà Mau với tổng diện tích 1,2 triệu ha chiếm 40% diện tích toàn vùng Đất có hàm lượng độc tố cao, tính chất cơ lý yếu, nứt nẻ nhanh

+ Nhóm đất xám: Diện tích trên 134.000 ha chiếm 3,4% diện tích toàn vùng Phân bố chủ yếu dọc biên giới Campuchia, trên các bậc thềm phù sa cổ vùng Đồng Tháp Mười Đất nhẹ, tơi xốp, độ phì thấp, độc tố bình thường

+ Ngoài ra còn có các nhóm đất khác như đất cát giông, than bùn, đất đỏ vàng, đất xói mòn… chiếm diện tích không đáng kể khoảng 0,9% diện tích toàn vùng + Nhìn chung đất đai ở đây rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, thích hợp trồng lúa, dừa, mía, dứa, cây ăn quả

g Tài nguyên nước

- Với hệ thống hạ lưu sông Mê Kông ở Việt Nam là hai nhánh sông Tiền và sông Hậu tổng lượng nước sông Cửu Long là 500 tỷ mét khối Trong đó sông Tiền chiếm 79% và sông Hậu chiếm 21% Chế độ thuỷ văn thay đổi theo mùa Mùa mưa nước sông lớn vào tháng 9, tháng 10 làm ngập các vùng trũng Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên Về mùa này, nước sông mang nhiều phù sa bồi đắp cho đồng bằng Về mùa khô, lượng nước giảm nhiều, làm cho thuỷ triều lấn sâu vào đồng bằng làm vùng đất ven biển bị nhiễm mặn nghiêm trọng

- Chế độ nước ngầm khá phức tạp, phần lớn ở độ sâu 100 mét Nếu khai thác quá nhiều có thể làm nhiễm mặn trong vùng

1.1.2.2 Tiềm năng và thế mạnh của vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL bao gồm 4 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là: thành phố Cần Thơ, tỉnh An Giang, tỉnh Kiên Giang và tỉnh Cà Mau, có diện tích tự nhiên là 1.6616,3km2, dân số trên 6,2 triệu người, chiếm hơn 1/3 dân số của vùng ĐBSCL

a Ngành nông nghiệp

Trong những năm qua vùng này đã đóng vai trò là một trung tâm lớn về sản xuất lúa gạo, nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy hải sản, đóng góp lớn vào xuất khẩu nông thủy sản của cả nước

Trong những năm tới Chính phủ giao cho vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL tiếp tục đóng vai trò trung tâm lớn của đồng bằng sông Cửu Long về sản

Trang 18

xuất lúa gạo, nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản, đóng góp lớn vào xuất khẩu nông thủy sản của cả nước; đóng vai trò quan trọng trong chuyển giao công nghệ sinh học, cung cấp giống, các dịch vụ kỹ thuật, chế biến và xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp cho cả vùng ĐBSCL; là cầu nối trong hội nhập kinh tế khu vực và giữ

vị quan trọng về quốc phòng an ninh của đất nước

- Vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL có đất đai màu mỡ, rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, có bờ biển chiếm trên 10% chiều dài bờ biển cả nước, với vùng kinh tế đặc quyền; thềm lục địa có thế mạnh về hải sản, trữ lượng có khả năng khai thác từ 350 - 400 nghìn tấn/năm, vùng bãi triều có diện tích hàng trăm nghìn ha nuôi trồng thủy sản nước ngọt; có nhiều tài nguyên khoáng sản có trữ lượng lớn dưới lòng biển, thềm lục địa; có biên giới hữu nghị với đất nước bạn Campuchia, đã hình thành các cửa khẩu quốc tế và quốc nội, giao lưu kinh tế chính ngạch và tiểu ngạch với số lượng hàng hóa lớn và kim ngạch xuất khẩu năm sau cao hơn năm trước, đã tạo ra mối liên kết gắn bó nhiều năm qua giữa ĐBSCL với thị trường Campuchia, Thái Lan, Myanmar

b Ngành công nghiệp

Vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL có vị trí địa lý rất quan trọng trong giao thương kinh tế với các tỉnh trong vùng, với miền Đông Nam bộ, Tây Nguyên, với cả nước, và đặc biệt là với thị trường Campuchia, Thái Lan (qua các cửa khẩu đường thủy và đường bộ)

- Vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL còn là trung tâm năng lượng lớn của cả nước với ba trung tâm điện lực Ô Môn, Cà Mau, Kiên Lương với tổng công suất khoảng 9.000 - 9.400 MW, và các mỏ khí đốt vùng biển Tây Nam đã và đang được tập trung đầu tư

c Ngành dịch vụ

Đây là vùng còn đầy tiềm năng về lĩnh vực dịch vụ chưa được khai thác, nằm bên cạnh khu vực kinh tế năng động phát triển Đông Nam Bộ và bên cạnh Campuchia - một thị trường trẻ, còn đầy tiềm năng

Vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL với trung tâm là TP Cần Thơ là cửa ngõ đang có tốc độ phát triển nhanh chóng; là trung tâm dịch vụ lớn của cả vùng

Trang 19

ĐBSCL, là cầu nối trong hội nhập kinh tế với khu vực và quốc tế Vì vậy, trong những năm tới Chính phủ sẽ tập trung xây dựng TP Cần Thơ nói riêng, cả vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL trở thành một trung tâm dịch vụ (giáo dục - đào tạo, y tế, khoa học - công nghệ, thương mại, ) và trung tâm du lịch lớn của cả nước

- Mục tiêu phát triển Vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL đã được xác định là: “Xây dựng vùng này trở thành vùng phát triển năng động, có cơ cấu kinh tế hiện đại, có đóng góp ngày càng lớn vào nền kinh tế của đất nước, góp phần quan trọng vào việc xây dựng cả vùng ĐBSCL giàu mạnh, các mặt văn hóa, xã hội tiến kịp mặt bằng chung của cả nước; bảo đảm ổn định chính trị và an ninh quốc phòng vững chắc, có tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2011-2020 đạt 1,25 lần tốc độ tăng trưởng bình quân cả nước GDP bình quân đầu người đạt khoảng 3.000 USD Tỷ lệ đóng góp của vùng trong GDP của cả nước khoảng 13,3% vào năm 2020.”

1.2 Tổng quan về các đặc trưng môi trường sống của người dân Việt Nam qua

bộ số liệu thống kê

1.2.1 Khái niệm, định nghĩa các chỉ tiêu chính cần phân tích [16],[20]

Các nội dung cần phân tích và đánh giá là các chỉ tiêu thống kê phản ánh điều kiện môi trường sống của hộ dân cư vùng ĐBSH và ĐBSCL nói riêng và người dân Việt Nam nói chung

Môi trường sống là không gian sống của con người và sinh vật Trong quá

trình tồn tại và phát triển con người cần có các nhu cầu tối thiểu về không khí, độ

ẩm, nước, nhà ở cũng như các hoạt động vui chơi giải trí khác Tất cả các nhu cầu này đều do môi trường cung cấp Tuy nhiên khả năng cung cấp các nhu cầu đó của con người là có giới hạn và phụ thuộc vào trình độ phát triển của từng vùng và ở từng thời kỳ

Theo giáo trình “Cơ sở khoa học Môi trường” có định nghĩa về Môi trường như sau [6]:

Trang 20

Môi trường là tập hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người có ảnh hưởng tới con người và tác động qua lại với các hoạt động sống của con người như không khí, nước, đất, sinh vật, xã hội loài người

Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại như:

- Môi trường tự nhiên: Bao gồm các yếu tố tự nhiên như các yếu tố hóa học và sinh học, tồn tại khách quan ngoài ý muốn con người

- Môi trường xã hội: Là tổng thể các quan hệ giữa người và người tạo sự thuận lợi hoặc trở ngại cho sự tồn tại và phát triển của các cá nhân cộng đồng con người

- Môi trường nhân tạo: Là tất cả các yếu tố tự nhiên xã hội do con người tạo nên và chịu sự chi phối của con người

Môi trường theo nghĩa rộng là tổng các nhân tố như không khí, nước, ánh sáng, âm thanh, cảnh quan, xã hội, v.v… có ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của con người

Thêm một cách nhìn khác, môi trường là nơi cung cấp các nhu cầu về tài nguyên cho con người như đất, đá, nước, tài nguyên sinh vật Tất cả các tài nguyên này đều do môi trường cung cấp và giá trị của tài nguyên phụ thuộc vào mức độ khan hiếm của nó trong xã hội

Môi trường là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải của con người trong quá trình sử dụng các tài nguyên thải vào môi trường Các tài nguyên sau khi hết hạn sử dụng, chúng bị thải vào môi trường dưới dạng các chất thải Các chất thải này bị các quá trình vật lý, hóa học, sinh học phân hủy thành các chất vô cơ, vi sinh quay trở lại phục vụ con người Tuy nhiên chức năng là nơi chứa đựng chất thải của môi trường là có giới hạn Nếu con người vượt quá giới hạn này thì sẽ gây ra mất cân bằng sinh thái và ô nhiễm môi trường

Môi trường là tổng hợp tất cả các điều kiện xung quanh một điểm trong không gian và thời gian Môi trường là tổng hợp tất cả các ngoại lực, ảnh hưởng, điều kiện tác động lên đời sống, tính chất, hành vi và sự sinh trưởng, phát triển và trưởng thành của các cơ thể sống

Tuy nhiên, đề tài tập trung phân tích các yếu tố môi trường sống của người dân vùng ĐBSH và ĐBSCL chính là các chỉ tiêu thống kê về nhà ở, chăm sóc y tế,

Trang 21

trình độ giáo dục của người dân và điều kiện sử dụng nước, hố xí, xả rác thải của người dân

* Hộ dân cư: Là một hoặc một nhóm người ăn chung, ở chung trong một chỗ

ở từ 6 tháng trở lên trong 12 tháng qua và có chung quĩ thu chi Thời gian 12 tháng

qua tính từ thời điểm tiến hành cuộc phỏng vấn trở về trước

* Chỉ tiêu thống kê

Là tiêu chí mà biểu hiện bằng số của nó phản ánh quy mô, tốc độ phát triển, cơ cấu, quan hệ tỷ lệ của hiện tượng kinh tế - xã hội trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể Mỗi chỉ tiêu thống kê đều gắn với một đơn vị đo lường và phương pháp tính cụ thể

1.2.1.1 Các chỉ tiêu phản ánh điều kiện sống của người dân

a Chỉ tiêu Thu nhập bình quân đầu người

Thu nhập bình quân 1 người 1 tháng được tính bằng cách lấy tổng thu nhập của hộ trong năm chia cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng Thu nhập của

hộ là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền mà các thành viên của hộ tạo

ra hay nhận được trong một thời gian nhất định thường là một năm

b Chỉ tiêu chi tiêu dùng bình quân đầu người

Chi tiêu dùng bình quân 1 người 1 tháng được tính bằng các lấy tổng số tiền chi tiêu dùng của hộ chia cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng Chi tiêu dùng của hộ gia đình bao gồm các khoản chi cho các nhu cầu vật chất, văn hoá, tinh thần (kể cả cho nhu cầu lễ nghi và chi cho đời sống tình cảm) trong một thời gian nhất định, thường là 1 năm Các khoản chi này được thực hiện dưới hình thức: chi mua, đổi hàng hoá, dịch vụ và giá trị sản phẩm tự túc sử dụng cho đời sống trong

kỳ

Nếu xét theo tính chất các khoản chi thì chi tiêu dùng của hộ gia đình trong kỳ bao gồm chi tiêu lương thực, thực phẩm; chi không phải lương thực, thực phẩm và các khoản chi khác (chi cho biếu, đóng góp, )

c Các thước đo nghèo đói

Có 2 loại thước đo để đo lường sự đói nghèo:

- Trước đây, Tổng cục Thống kê chỉ tính chỉ số đói nghèo dựa trên số liệu thu

Trang 22

nhập từ lương thực, thực phẩm (2002)

- Từ 2004, World Bank (WB) sử dụng số liệu chi tiêu dùng trong các cuộc

khảo sát mức sống (KSMS) để đo lường nghèo đói và bất bình đẳng Sở dĩ chi tiêu dùng được chọn làm chỉ tiêu phúc lợi để đo lường nghèo đói và bất bình đẳng là

do nó tổng hợp được nhiều yếu tố có thể làm cải thiện chất lượng cuộc sống như chi cho ăn, ở, học hành, y tế, đồ dùng lâu bền,… Số liệu về chi tiêu dùng được thu thập trong các cuộc KSMS tương đối chính xác (5 nhóm thu nhập)

Tuy nhiên, khi nền kinh tế phát triển thì thu nhập (nếu có số liệu chính xác) sẽ phản ánh sự phân hóa giàu nghèo rõ nét hơn chi tiêu dùng

d Chỉ tiêu loại nhà ở của hộ gia đình sử dụng chính

Tỷ lệ hộ chia theo các loại nhà: Là cơ cấu các hộ gia đình có nhà chia theo loại nhà gồm nhà kiên cố, nhà bán kiên cố

* Các loại nhà kiên cố:

- Nhà kiên cố: Là nhà được xây dựng bằng chất liệu bền vững Nhà kiên cố

bao gồm nhà biệt thự, nhà xây nhiều tầng, nhà lắp ghép cấu kiện bê tông nhiều tầng, nhà một tầng mái bê tông, niên hạn sử dụng trên 20 năm

- Nhà biệt thự: Là loại nhà ở riêng biệt, có sân, vườn và tường rào xung quanh

Trong biệt thự có đầy đủ và hoàn chỉnh các buồng, phòng để ở, sinh hoạt, vệ sinh, bếp, kho, v.v Trang thiết bị trong biệt thự có chất lượng cao

- Nhà kiên cố khép kín: Là nhà kiên cố có khu phụ gắn liền với phòng ở (hoặc

ngôi nhà/ căn hộ đó) để dùng riêng cho hộ gia đình

- Nhà kiên cố không khép kín: Là nhà kiên cố có khu phụ không gắn liền với ngôi

nhà/căn hộ đó, thường khu phụ sử dụng chung với nhiều hộ khác

- Nhà bán kiên cố: Là nhà có chất lượng xây dựng và thời gian sử dụng thấp

so với nhà kiên cố, niên hạn sử dụng từ 10 đến 20 năm Nhà bán kiên cố bao gồm các nhà tường xây hay ghép gỗ, mái ngói, mái tôn (hoặc vật liệu tương đương)

* Các loại nhà không kiên cố:

- Nhà tạm và các loại nhà khác: Là các loại nhà không thuộc các nhóm trên,

bao gồm nhà có kết cấu cột, tường bằng các vật liệu đơn giản như gỗ tạp/tre, đất vôi/rơm, phiên/liếp/ván ép, mái tấm lợp, mái lá/rơm rạ/giấy dầu

Trang 23

e Trình độ giáo dục

Đánh giá trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật của các thành viên

hộ và những chi phí giáo dục trong 12 tháng qua Những thông tin này sẽ giúp phân tích mối quan hệ giữa mức sống với giáo dục, đào tạo và dạy nghề nhằm đề ra những chính sách, kế hoạch phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề phù hợp

Tỷ lệ dân số theo bằng cấp cao nhất: Là cơ cấu dân số từ 15 tuổi theo các loại

bằng cấp cao nhất người đó đạt được, thể hiện trình độ giáo dục đạt được của dân

Tỷ lệ dân số sử dụng các dịch vụ y tế chia theo loại cơ sở: Là cơ cấu dân số có

sử dụng các dịch vụ y tế chia theo các loại cơ sở như trạm y tế xã/phường, bệnh viện quận/huyện, bệnh viện tỉnh/thành phố, bệnh viện trung ương, phòng khám tư nhân, Thể hiện khả năng tiếp cận và sự lựa chọn của người dân đối với các dịch vụ y tế Đồng thời, chỉ tiêu này cũng thể hiện vai trò của các dịch vụ y tế trong khám chữa bệnh cho người dân

1.2.1.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng môi trường sống của người dân

* Chất lượng môi trường: Theo Charles, H.Southwick, (1976): Chất lượng môi trường được hiểu theo nghĩa như sau:

- Điều kiện ăn ở, đi lại, văn hóa, xã hội của con người

- Đầy đủ tiện nghi cho cuộc sống như điện, nước, lao động, nghỉ ngơi, không khí trong lành, nước sạch, có nhiều cây cối tự nhiên, yên tĩnh,…

- Nhiều ý kiến khẳng định rằng ô nhiễm không khí, nước, tiếng ồn, gia tăng dân số, thiếu hụt lương thực… đều làm giảm chất lượng cuộc sống Họ thống nhất rằng: chất lượng môi trường chính là chất lượng của các điều kiện tự nhiên, xã hội

Trang 24

bao quanh con người và có ảnh hưởng đến sức khỏe, hoạt động của từng con người

và cộng đồng

a Nguồn nước sử dụng chính của hộ gia đình dùng cho ăn uống

Tỷ lệ hộ chia theo nguồn nước ăn uống chính: Là cơ cấu các hộ gia đình sử dụng nguồn nước ăn, uống chính gồm: nước máy, giếng khoan, giếng khơi, giếng xây, nước mua, nước suối có lọc, nước mưa, nước hồ, ao, sông,…

Để thuận tiện trong việc phân tích trong phạm vi của đề tài này, chúng tôi tạm thời phân loại nguồn nước sinh hoạt chính được hộ dân sử dụng làm 02 loại: là nguồn nước hợp vệ sinh và nguồn nước không hợp vệ sinh

* Nguồn nước hợp vệ sinh: gồm các loại nguồn nước sau

- Nước máy vào nhà: là nước máy sản xuất theo phương pháp công nghiệp

được nối vào hệ thống các vòi đặt trong hoặc ngoài ngôi nhà nhưng trong khuôn viên của ngôi nhà đó

- Nước máy công cộng: là nước máy sản xuất theo phương pháp công nghiệp

được nối vào hệ thống các vòi đặt tại một địa điểm công cộng cho nhiều hộ sử dụng chung

- Nước giếng khoan: là nước được lấy từ giếng khoan sâu để lấy nước ngầm

qua một lỗ nhỏ được đặt ống bảo vệ, nước được lấy lên thường qua hệ thống bơm "Nước cây" cũng được tính là nước giếng khoan Nước cây nếu nhìn về hình thức cũng giống như nước máy, cũng được lấy từ các giếng khoan và đưa lên một tháp cao, sau dó dùng hệ thống đường ống để dẫn về từng hộ sử dụng Tuy nhiên, trước khi dẫn về nơi tiêu thụ, nó không được xử lý theo một quy trình công nghiệp (dàn mưa, hệ thống lọc, khử trùng, bể lắng)

- Nước giếng đào được bảo vệ: là nước lấy từ giếng đào được xây gạch hoặc

một loại chất liệu bảo vệ khác, ngăn không để nước thải ngấm vào trong và bên trên

có thành tránh không để cho phân hoặc động vật rơi xuống

- Nước khe/mó được bảo vệ: nước khe/mó là nước ở thượng nguồn của các

dòng sông, suối, chảy ra từ các mạch ngầm (khe) của các ngọn núi (núi đất hoặc núi đá) Nước khe/mó được bảo vệ là nước lấy từ khe nước được bảo vệ không để chất

Trang 25

thải hay vật bẩn rơi vào Thường là khe nước được xây thành bể, từ đó nước được dẫn qua hệ thống ống kín về nơi tiêu thụ

- Nước mua: gồm nước đóng chai, bình; nước xitéc ô tô; nước xe thùng nhỏ (chở

trong thùng hay két nhỏ bằng xe ngựa, xe máy, xe cải tiến, ) để bán cho người sử dụng

- Nước mưa: là nước được hứng từ các cơn mưa và được đựng vào các dụng

cụ chứa (thùng, bể, ) để sử dụng

* Nguồn nước không hợp vệ sinh:gồm các loại nguồn nước sau

- Nước giếng đào không được bảo vệ: là nước lấy từ giếng đào không có thành

ngăn nước thải ngấm vào trong hoặc không ngăn được vật bẩn rơi xuống giếng

- Nước khe/mó không được bảo vệ: là nước lấy từ khe nước không ngăn chặn

được các chất thải hay vật bẩn rơi vào Thường là khe nước không có bể

- Các nguồn nước khác: là các loại nước không được liệt kê ở trên, như: nước

ao, hồ, kênh, rạch, sông suối, v.v

b Loại hố xí mà hộ gia đình sử dụng

Tỷ lệ hộ chia theo loại hố xí hộ gia đình sử dụng: Là cơ cấu các hộ gia đình

sử dụng các loại hố xí/nhà tiêu mà hộ sử dụng gồm: hố xí tự hoại, bán tự hoại, hố xí thấm dội nước, hố xí hai ngăn, cầu cá,… Chỉ tiêu này liên quan đến vệ sinh cá nhân

hộ gia đình và môi trường cộng đồng, ảnh hưởng lớn đến tình trạng sức khoẻ của con người, một mặt phản ánh tập quán của các vùng, thói quen và ý thức của hộ gia đình, mặt khác phần nào cũng phản ảnh điều kiện kinh tế của hộ không có khả năng dùng các thiết bị hợp vệ sinh

- Loại hố xí hợp vệ sinh: gồm các loại Hố xí tự hoại, bán tự hoại, thấm dội,

hai ngăn

- Loại hố xí không hợp vệ sinh: gồm loại Cầu cá, các loại khác

c Loại hình xả rác của hộ gia đình

- Xả rác hợp vệ sinh: là hình thức xả rác có người đến thu gom và mang đi

- Xả rác không hợp vệ sinh: là hình thức xả rác xuống ao, hồ, sông, suối;

vứt gần nhà và các hình thức khác bao gồm cả chôn và đốt

Trang 26

1.2.2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

1.2.2.1 Một số nghiên cứu ngoài nước

 Mặt lợi của phát triển đô thị hóa: Theo kết quả nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) được công bố tại báo cáo “Những chỉ số chính Châu Á - Thái Bình Dương 2012” cho thấy: nếu quản lý một cách hợp lý, đô thị hóa sẽ mang lại nhiều lợi ích bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên, tiến tới phát triển bền vững Đô thị hóa giúp cải thiện hiệu quả sản xuất, giảm thiểu sử dụng tài nguyên và hạn chế hệ lụy đến hệ sinh thái khi xem xét cùng một yêu cầu sản phẩm đầu ra Những ngành công nghiệp phát triển dịch vụ và cơ sở hạ tầng liên quan đến môi trường như cung cấp nước sinh hoạt, quản lý rác thải, xử lý nước, cảnh quan, những ngành mang lại những lợi ích thiết thực cho môi trường sẽ có điều kiện thuận lợi hơn khi xây dựng và duy trì hoạt động so với vùng nông thôn Thêm nữa, đô thị hóa dẫn tới giảm tỷ lệ sinh sản và tăng cơ hội tiếp cận nền giáo dục tốt, từ đó tác động tích cực đến môi trường Bằng số liệu phân tích từ 31 quốc gia khác nhau trong khu vực, nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa sự suy giảm tỷ lệ sinh sản với sự tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người, đô thị hóa và điều kiện giáo dục Trường hợp của Việt Nam là một thí dụ minh chứng Tỷ lệ sinh sản giảm đáng

kể từ 5,4 trong thập kỷ 80 thế kỷ trước xuống còn 1,8 trẻ em/phụ nữ vào 2010 Cũng theo nghiên cứu, người được giáo dục tốt thường có xu hướng ủng hộ và gương mẫu thực hiện các quy định của nhà nước nhằm bảo về môi trường [29]

 Với kinh nghiệm của Úc trong phân tích các chỉ tiêu môi trường phục vụ báo

cáo quốc gia [16]:

+ Các chỉ tiêu thống kê môi trường giúp cho chính quyền địa phương và quốc gia giữ vững được sự tiến triển trong quá trình đáp ứng các mục tiêu phát triển bền vững

+ Có nhiều bộ chỉ tiêu môi trường được đề xuất, phát triển hoặc đang được áp dụng ở Úc Chẳng hạn như, Phòng Thống kê Úc sử dụng các chỉ tiêu cho việc thông tin liên lạc giữa các số liệu thống kê, chính quyền quốc gia có các chỉ tiêu để phát triển theo hướng phát triển nông nghiệp bền vững, chính quyền quốc gia sử dụng các bộ chỉ tiêu để báo cáo về thực trạng môi trường, và Chính quyền cấp thoát nước

Trang 27

của Sydney sử dụng các chỉ tiêu môi trường để làm báo cáo Cũng có một số trường hợp mà các chỉ tiêu được sử dụng "một lần"

+ Sử dụng các chỉ tiêu môi trường trong hệ thống báo cáo SOER quốc gia: Ở

Úc, các chỉ tiêu môi trường được xem là một phần quan trọng trong việc báo cáo nhằm đảm bảo tính nghiêm túc cao trong hệ thống báo cáo và trình bày các xu hướng về môi trường cho các nhà hoạch định chính sách Thông thường, hệ thống SOER bắt đầu bằng cách sử dụng nhiều chỉ tiêu và sau mỗi năm, số lượng giảm xuống còn một số chỉ tiêu cốt lõi Chẳng hạn như, ở Úc, năm 1996 đến 1998, hệ thống SOER đã sử dụng tất cả là 454 chỉ tiêu cho 7 chủ đề về môi trường, bao gồm các chỉ tiêu về áp lực lên môi trường, tình trạng của môi trường và các phản ứng đối với các áp lực đó Vào năm 2001, các nhà chức trách về môi trường nhận thấy nhiều chỉ tiêu là không thực tế và phân vân không biết họ đang cố gắng để đánh giá cái gì Trong nhiều trường hợp, các số liệu không có sẵn Chính quyền Trung ương và địa phương đã cộng tác với nhau để thành lập một bộ chỉ tiêu "cốt lõi" nhỏ hơn, bao gồm 75 chỉ tiêu, nhưng mặc cho những nỗ lực cố gắng, các chỉ tiêu này cũng không thành công Phương pháp của các chỉ tiêu này vẫn phải được phát triển và các chỉ tiêu khác phải kết hợp các yếu tố lên đến 4 chỉ tiêu gốc Năm 2006, bộ chỉ tiêu SOER đã được giảm xuống còn 20-30 và khung mẫu đã được phát triển để xác định các vấn đề trong mỗi chủ đề, xem thông tin nào là cần thiết và vì sao

+ Hệ thống báo cáo số liệu môi trường quốc gia: Một khía cạnh của quá trình

SOER năm 2006 của Úc là việc phát triển Hệ thống báo cáo số liệu quốc gia, một

hệ thống quản lý số liệu nhằm lưu trữ và trình bày các số liệu đã soạn và sử dụng cho báo cáo tình hình môi trường năm 2006 Đó là một hệ thống trực tuyến nơi mà các số liệu được lưu trữ và các đường link được liên kết đến các website Các số liệu cho mỗi chỉ tiêu được sử dụng đều được trình bày trong một dạng mẫu chỉ tiêu

trên website

 Chỉ số Đô thị thịnh vượng CPI được đánh giá qua các nhóm chỉ số đánh giá

về sự thịnh vượng của đô thị cụ thể như sau [3] : (1) Đầu tư cơ bản, việc làm; (2)

Cơ sở hạ tầng, nhà ở; (3) Giáo dục, Y tế; (4) Thu nhập/tiêu dùng; (5) Bất bình đẳng giới; (6) Chất lượng môi trường…

Trang 28

Mặc dù vậy trong khung mục tiêu phát triển thiên niên kỷ MDG của Liên Hợp Quốc đã thể hiện thành hệ thống chỉ tiêu phục vụ giám sát sự phát triển ở cấp quốc gia bao gồm:

+ Nhóm chỉ tiêu chỗ ở: Chỗ ở kết cấu lâu bền; Giá nhà-đất và chi phí thuê nhà so với thu nhập; Tài chính nhà ở; Tiếp cận nước hợp vệ sinh; Hệ thống vệ sinh cải tiến…

+ Nhóm chỉ tiêu phát triển xóa đói giảm nghèo: Tỷ lệ tử vong trẻ em < 5 tuổi; Tình trạng bạo lực ở đô thị; Số hộ nghèo; Tỷ lệ biết đọc, biết viết

+ Nhóm chỉ tiêu phát triển kinh tế: Thu nhập; Việc làm; Giao thông…

+ Quản lý môi trường: Khu dân cư được qui hoạch; Nước thải, chất thải rắn được thu gom và xử lý; Nhà ở ở các khu vực nguy hiểm

1.2.2.2 Một số nghiên cứu trong nước

a Các chỉ tiêu đánh giá phát triển KTXH và môi trường:

Trong năm 2005, Chính phủ bắt đầu phác thảo Kế hoạch phát triển KTXH

5 năm (SEDP) cho giai đoạn 2006-2010 Chỉ thị số 33/2004/CT-TTg của Thủ

tướng Chính phủ ngày 23/09/2004 yêu cầu Kế hoạch 5 năm phải bao gồm “Mục tiêu về chất lượng phát triển và mục tiêu phát triển chất lượng đời sống, phát triển con người và bảo vệ môi trường” và “Cụ thể hóa các mục tiêu được xác định trong các kế hoạch của khu vực, chiến lược tổng thể về Phát triển và xóa đói giảm nghèo, Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ/ Mục tiêu phát triển Việt Nam

và cam kết quốc tế của Việt Nam”, [1]

 Kế hoạch phát triển KTXH giai đoạn 2006-2010 nêu rõ phương hướng và nhiệm vụ mà Chính phủ phải thực hiện [1]:

+ Các chỉ tiêu phát triển KTXH chính được sử dụng để giám sát quá trình đạt được mục tiêu chiến lược quốc gia được đề ra trong Kế hoạch phát triển KTXH Tổng Cục Thống Kê (TCTK) có trách nhiệm đánh giá các chỉ tiêu này, phân tích kết quả và báo cáo cho Chính phủ

+ Kế hoạch phát triển KTXH sơ bộ năm 2006-2010 đã liệt kê 293 chỉ tiêu và quan trọng hơn là các nhà hoạch định chính sách có thể quản lý một cách có hiệu quả Vì vậy, các chỉ tiêu cần phải được xem xét, chọn lọc và ưu tiên giảm xuống ít

Trang 29

hơn 60 chỉ tiêu chính Trong năm 2006, kế hoạch phát triển KTXH gồm 45 chỉ tiêu

để thực hiện các cam kết do Chủ tịch Hội nghị Thượng đỉnh Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc đề ra Nhiều chỉ tiêu trong các chỉ tiêu này có liên quan trực tiếp đến mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ và nêu cụ thể các mục tiêu Phát triển Việt Nam (VDGs)

+ Căn cứ vào các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, Chính phủ đã xây dựng các mục tiêu phát triển Việt Nam đến năm 2010 với 12 mục tiêu và 45 chỉ tiêu tương tự như trong kế hoạch phát triển KTXH Yêu cầu các cơ quan ở các cấp, từ Trung ương đến địa phương chịu trách nhiệm trong việc đạt được các kết quả chiến lược quốc gia- cụ thể là các chiến lược được đề ra trong các mục tiêu phát triển Việt Nam và các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ có liên quan- các kết quả từ các chỉ

tiêu thực hiện việc giám sát cần phải được công bố rộng rãi

+ Các chỉ tiêu cho kế hoạch phát triển KTXH: Năm 2006, Bộ Kế hoạch và

Đầu tư đã ban hành danh mục các chỉ tiêu giám sát quá trình thực hiện Kế hoạch phát triển KTXH giai đoạn 2006-2010 bao gồm 18 chỉ tiêu “Tài nguyên thiên nhiên, Môi trường và Phát triển Bền vững”

Trang 30

Bảng 1.1: Các chỉ tiêu của Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ phục vụ cho công tác giám

sát việc thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội

2 Tỷ lệ người dân ở khu vực nông thôn được cấp nước sạch %

3 Tỷ lệ khu vực thành thị đã xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn qui định %

4 Tỷ lệ các khu công nghiệp và khu chế xuất đã xử lý nước thải đạt

tiêu chuẩn qui định

%

6 Tỷ lệ xoá nhà ổ chuột ở khu vực thành thị và nhà tạm ở khu vực

nông thon, nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long

%

7 Diện tích đất tự nhiện được bảo tồn để duy trì đa dạng sinh thái %

9 Tỷ lệ dân số được tiếp cận với các dịch vụ vệ sinh môi trường %

10 Tỷ lệ các đơn vị mới được xây sử dụng công nghệ sạch hoặc được

trang bị hệ thống xử lý ô nhiễm môi trường

%

14 Xử lý triệt để các chất ô nhiễm môi trường nguy hại %

17 Tỷ lệ doanh nghiệp được cấp chứng chỉ ISO %

18 Tỷ lệ các chương trình phát triển bền vững ở các ngành và các địa

phương theo kế hoạch và đã được thực hiện

Chương trình

Trang 31

GCI chính quyền thành phố sẽ điều chỉnh theo thời gian để hướng tới giải quyết các vấn đề mới nổi, thay đổi, cải thiện các chỉ số Cụ thể:

1) Dịch vụ của thành phố gồm 14 chủ đề: Quản trị nhà nước, tài chính, năng lượng, giáo dục, y tế, giải trí, an toàn, rác thải, nước thải, cấp nước, dịch vụ xã hội, giao thông vận tải, qui hoạch đô thị, cứu hỏa và cứu hộ khẩn cấp

2) Chất lượng cuộc sống gồm 8 chủ đề: Kinh tế, văn hóa, môi trường, nhà ở, bình đẳng xã hội, công nghệ và sáng kiến đổi mới, chỉ số hài lòng/hạnh phúc về cuộc sống, sự tham gia của công dân

+ Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) nhận định: Sự gia tăng sức ép về chất lượng cuộc sống và các vấn đề xã hội của thành phố thịnh vượng, thành phố công bằng, thành phố hạnh phúc ấm no cho tất cả mọi người đó là cơ sở hạ tầng chưa đầy

đủ, chưa đảm bảo công bằng xã hội bền vững về môi trường Các nhà hoạch định chính sách ngày càng thấy rõ tăng trưởng kinh tế và hạnh phúc không phải lúc nào cũng tỷ lệ thuận với nhau Thông qua việc đánh giá các chỉ số đã được xây dựng chủ yếu dựa vào các mục tiêu của chiến lược gành đô thị của ADB Bao gồm các chỉ tiêu KTXH và môi trường được đánh giá như: (1) Cấp nước sạch; (2) Vệ sinh; (3) Quản lý và phát triển đô thị; (4) Nhà ở và cấp vốn cho nhà ở; (5) Quản lý rác thải; (6) Quản lý đất đô thị; (7) Giao thông đô thị; (8) Quản lý môi trường đô thị; (9) Tài chính đô thị; (10) Y tế và giáo dục; (11) Du lịch; (12) Cơ sở hạ tầng; (13) Công nghệ mới; (14) Dịch vụ đô thị

 Một nghiên cứu về qui hoạch xây dựng vùng đồng bằng sông Cửu Long đến

2020, tầm nhìn 2050 cho thấy định hướng phát triển hạ tầng kỹ thuật vùng trong đó

có cấp nước, thoát nước và thu gom, xử lý rác thải tập trung Cụ thể cấp nước từng bước đầu tư nâng cấp, xây mới đồng bộ hệ thống cấp nước đảm bảo đáp ứng nhu cầu cho sản xuất và sinh hoạt của các đô thị Dự kiến xây dựng một số nhà máy nước mặt trên sông Hậu… Đối với các khu vực nông thôn, ven biển, hải đảo cần nghiên cứu các mô hình, qui mô cấp nước phù hợp với đặc điểm của từng tiểu vùng (vùng ngập lũ, ven biển, hải đảo), [7]

 Kết quả nghiên cứu vấn đề phát triển đô thị sông nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long hướng tới tăng trưởng xanh năm 2013 cho thấy kết cấu hạ tầng trong khu

Trang 32

vực Đồng bằng sông Cửu Long là rất yếu kém đặc biệt về nhà ở (còn nhiều nhà tranh, vách nứa), giao thông, điện và cung cấp nước Hệ thống đường bộ nhiều đoạn đường xuống cấp, đường làng xã còn ít, khoảng 400 xã vùng sâu đường nhỏ (ô tô con không vào được), cầu khỉ còn nhiều, [21]

 Việc xây dựng và qui hoạch thành phố bền vững việc đầu tiên cần phải đánh giá thực trạng đô thị đó (chính là đánh giá các chỉ tiêu kinh tế, xã hội, môi trường của khu vực) để làm cơ sở xây dựng qui hoạch thành phố bền vững phù hợp thực tiễn Những nhóm chỉ tiêu cần đánh giá đó là [26]:

+ Cung cấp nhà ở, ngành công nghiệp, dịch vụ…

+ Cung cấp năng lượng (đèn chiếu sáng, hệ thống sưởi…)

+ Quản lý chất thải

+ Cung cấp nước sạch và vệ sinh

+ Giao thông vận tải

+ Qui hoạch cảnh quan

+ Các nhân tố về thể chế: chính sách, pháp luật, tài chính, quản lý đất đai…

 Với kết quả thống kê các chỉ tiêu kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long cho thấy [22]: một số thách thức của vùng ĐBSCL phát triển thiếu bền vững

cụ thể như thách thức về mật độ dân số và người nghèo Theo thống kê năm 2010, mật độ dân số bình quân hơn 426 người/km2 gần gấp đôi mật độ dân số cả nước Tỷ

lệ người nghèo còn khá cao khoảng 19%, người nghèo còn cao rất gần 50% nông dân ĐBSCL (những người trực tiếp làm ra hạt thóc tại) có thu nhập chưa tới 1USD/ngày Trình độ học vấn của vùng còn khá thấp >15% dân số có trình độ dưới đại học và chỉ gần 1% trên đại học Chính những điều này dễ tác động tiêu cực đến các chính sách bảo vệ tài nguyên môi trường của nhà nước, do người dân phải ưu tiên cho cuộc sống hàng ngày mà bỏ qua những mối nguy còn xa vời

 Báo cáo kết quả nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo đói và bất

bình đẳng năm 2011 [10] cho biết:

+ Do các thước đo về nghèo đói và bất bình đẳng trong luận văn đều được tính toán dựa trên chi tiêu dùng nên các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo đói và bất bình đẳng cũng chính là các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu dùng

Trang 33

+ Từ mô hình hồi quy về nghèo đói và mô hình hồi quy về chi tiêu dùng của nhóm dân cư nghèo nhất và giàu nhất ở vùng Tây Bắc cho thấy khi quy mô hộ gia đình, tỷ lệ trẻ em trong hộ gia đình, tỷ số phụ thuộc, tuổi của chủ hộ tăng lên thì chi tiêu dùng sẽ giảm đi; nếu chủ hộ gia đình là người dân tộc thiểu số thì chi tiêu dùng

sẽ giảm so với hộ có chủ hộ là dân tộc Kinh Điều này sẽ làm tăng khả năng rơi vào nghèo đói của các hộ gia đình và là các nguyên nhân làm gia tăng sự bất bình đẳng

vì các đặc điểm này thường có ở các hộ nghèo

+ Chi tiêu dùng sẽ tăng lên khi chủ hộ có bằng cấp cao nhất là tốt nghiệp phổ thông trung học (THPT) trở lên; việc làm chính của chủ hộ là làm công ăn lương hoặc tự làm phi nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản; số người trong hộ có công việc chính là làm công hoặc tự làm phi nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản tăng lên; tiền

và trị giá hiện vật người ngoài cho, biếu hộ tăng lên; hộ có vườn cây lâu năm cho sản phẩm; đàn gia súc, gia cầm cơ bản; hộ có vay vốn từ ngân hàng Chính sách xã hội; ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn; các tổ chức chính trị xã hội; xã/phường nơi các hộ sinh sống có cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ hoặc làng nghề nằm trong phạm vi dân trong xã có thể tới đó và về nhà trong ngày

+ Ngoài ra trong mô hình hồi quy về chi tiêu dùng của nhóm dân cư nghèo nhất và giàu nhất ở vùng Tây Bắc còn có thêm 2 nhân tố có tác động làm tăng chi tiêu dùng đó là “hộ có vay vốn từ các ngân hàng khác” và “hộ có vay vốn từ các tổ chức tín dụng” Chi tiêu dùng tăng sẽ làm cho khả năng rơi vào nghèo đói của các

hộ gia đình giảm đi

b Mối liên quan giữa bệnh tật và điều kiện vệ sinh môi trường

 Kết quả điều tra vệ sinh môi trường nông thôn của Bộ Y tế năm 2007 cho thấy [30]:

+ Tỷ lệ nhà tiêu hộ gia đình vùng nông thôn Việt Nam đạt tiêu chuẩn vệ sinh theo Quyết định 08/2005/QĐ-BYT còn rất thấp Chỉ có 18% số hộ nông thôn có nhà tiêu đạt tiêu chuẩn vệ sinh về xây dựng và sử dụng bảo quản, bao gồm 7,9% nhà tiêu thấm dội nước, 7,7% nhà tiêu tự hoại, 2,0% nhà tiêu hai ngăn và 0,3% nhà tiêu Biogas Có 22,5% số hộ gia đình nông thôn Việt Nam có nhà tiêu đạt tiêu chuẩn vệ sinh về xây dựng, bao gồm 8,8% thấm dội nước, 8,6% nhà tiêu tự hoại, 4,8% nhà

Trang 34

tiêu hai ngăn, 0,4% nhà tiêu Biogas Có 22,2% số hộ gia đình nông thôn Việt Nam

có nhà tiêu đạt tiêu chuẩn vệ sinh về sử dụng bảo quản, bao gồm 10,2% nhà tiêu tự hoại, 9,0% nhà tiêu thấm dội nước, 2,3% nhà tiêu hai ngăn, 0,6% nhà tiêu Biogas 75% số gia đình ở các vùng nông thôn có nhà tiêu, nhưng chỉ có 33% số hộ nông thôn Việt Nam có nhà tiêu thuộc loại HVS mà chưa đánh giá chất lượng xây dựng,

sử dụng Số hộ gia đình không có nhà tiêu tập trung nhiều ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và vùng các dân tộc thiểu số Người nghèo, người có trình

độ học vấn thấp, người dân tộc thiểu số,người dân sống ở vùng núi ít có cơ hội tiếp cận với nhà tiêu hợp vệ sinh so với người không nghèo, người học vấn cao, người Kinh, người sống ở vùng đồng bằng, trung du Điều đó đã ảnh hưởng nhất định đến sức khỏe người dân, đến phát triển xã hội và kinh tế

+ Thực tế điều tra cho thấy, cơ cấu nguồn nước ăn uống, sinh hoạt chính ở các hộ gia đình vùng nông thôn hiện nay như sau: 33,1% giếng khoan, 31,2% giếng khơi, 1,8% nước mưa, 11,7% nước máy, 7,5% nước suối đầu nguồn, 11% nước sông ao hồ, 3,7% nguồn nước khác Có 11,6% đối tượng được phỏng vấn vẫn thường xuyên uống nước lã Thói quen uống nước lã sẽ đưa đến những hậu quả nghiêm trọng cho sứckhoẻ cộng đồng do mắc phải những bệnh dịch lan truyền theo nước Theo thống kê của Bộ Y tế năm 2008 các bệnh liên quan đến nước: tiêu chảy, hội chứng lỵ, lỵ trực khuẩn là 3 trong số 10 bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất, trong

đó tiêu chảy là bệnh đứng thứ 6 trong các bệnh có tỷ lệ tử vong lớn nhất (0,009/100

000 dân) Năm 2009 tình hình cũng chưa được cải thiên, tỷ lệ mắc/100 000 dân với bệnh tiêu chảy là 1081,66; tả là 0,56; lỵ trực khuẩn là 30,55; lỵ amip là 10,97; thương hàn là1,77 Tỷ lệ mắc các bệnh này chỉ đứng thứ 5 sau một số bệnh đường

hô hấp

+ Các chỉ tiêu cơ bản về sức khỏe liên quan đến nước và vệ sinh ở Việt Nam được nêu trong bảng sau:

Trang 35

Bảng 1.2 Các chỉ tiêu cơ bản về sức khỏe liên quan đến nước và vệ sinh

ở Việt Nam

Tỷ lệ trẻ em tử vong trước 1 tuổi/ 1000 trẻ em sinh 24 DALYs do các bệnh liên quan đến nước và vệ sinh (năm) 765 738

Tỷ lệ % DALYs do các bệnh liên quan đến nước trong tổng DALYs 6%

Số tử vong do các bệnh liên quan đến nước và vệ sinh/năm 14 531

Tỷ lệ chết do các bệnh liên quan đến nước và vệ sinh 3%

(Nguồn: WASH: VietnamWater, Sanitation and Hygiene Sector Brief, 2011)

Kết quả nghiên cứu đánh giá Chương trình Nước và Vệ sinh (WSP) thấy rằng thiệt hại về kinh tế do tình trạng kém vệ sinh hàng năm của Việt Nam khoảng

780 triệu USD, trong đó thiệt hại do nguồn nước không tốt và ảnh hưởng sức khỏe chiếm tỷ lệ đáng kể là khoảng 260 triệu USD (chiếm khoảng 1/3), [28]

Cũng trong nghiên cứu của Ngân hàng thế giới cho biết: việc cấp nước và vệ sinh môi trường góp phần nâng cao nếp sống văn hoá, văn minh, nâng cao ý thức giữ gìn và bảo vệ môi trường ở tất cả mọi nơi, nhất là ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa Xoá bỏ dần tập quán sinh hoạt lạc hậu, thiếu vệ sinh của người dân nông thôn, đồng bào dân tộc thiểu số Hạn chế sự chênh lệch về điều kiện sinh hoạt giữa nông thôn và đô thị, giữa các vùng nông thôn với nhau; góp phần hạn chế sự di dân ồ ạt vào đô thị và di cư tự do ở các vùng khan hiếm nước; hạn chế tình trạng mất vệ sinh nghiêm trọng đang diễn ra tại nhiều vùng Nhờ nâng cao sức khoẻ

và giải phóng phụ nữ trong nhiều công việc nặng nhọc liên quan đến nước sạch và

vệ sinh, cải thiện điều kiện vật chất thực hiện bình đẳng giới ngay cả vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, [28]

Trang 36

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi

a Đối tượng khảo sát: Hộ dân cư, các thành viên hộ được khảo sát

b Đơn vị khảo sát: Hộ dân cư được chọn khảo sát

c Phạm vi khảo sát: 24 tỉnh thuộc vùng ĐBSH và ĐBSCL

2.2 Thời điểm và thời gian nghiên cứu

a Thời điểm, thời kỳ khảo sát: Cuộc khảo sát được tiến hành trong 4 kỳ vào

các tháng 3, 6, 9 và 12 năm 2014

b Thời gian khảo sát: Thời gian thu thập thông tin tại địa bàn mỗi kỳ là 1

tháng

2.3 Nội dung nghiên cứu

Hộ dân cư: Là một hoặc một nhóm người ăn chung, ở chung trong một chỗ ở

từ 6 tháng trở lên trong 12 tháng qua và có chung quĩ thu chi Thời gian 12 tháng qua tính từ thời điểm tiến hành cuộc phỏng vấn trở về trước

Thành viên hộ: Những người được coi là thành viên của hộ phải có hai điều kiện

sau:

- Cùng ăn, ở chung trong hộ 6 tháng trở lên trong 12 tháng qua

- Có chung quỹ thu chi, nghĩa là mọi khoản thu nhập của thành viên đều được đóng góp vào ngân sách chung của hộ và mọi khoản chi tiêu của họ đều lấy từ ngân sách đó

Tuy nhiên, có 7 trường hợp ngoại lệ dưới đây khi xác định một người nào đó

có phải là thành viên của hộ hay không, cụ thể:

1) Người được xác định là chủ hộ luôn được coi là thành viên của hộ, ngay cả khi người đó không ăn, ở trong hộ dân cư hơn 6 tháng

Chủ hộ là người có vai trò điều hành, quản lý gia đình, giữ vị trí chủ yếu, quyết định những công việc của hộ Thông thường (nhưng không nhất thiết) chủ hộ

là người thường có thu nhập cao nhất trong hộ, nắm được tất cả các hoạt động kinh

tế và nghề nghiệp của các thành viên khác của hộ Đa số chủ hộ theo khái niệm trên trùng với chủ hộ theo đăng ký hộ khẩu, nhưng có trường hợp chủ hộ trong cuộc khảo sát này khác với chủ hộ theo đăng ký hộ khẩu

Trang 37

2) Trẻ em sinh ra chưa đầy 6 tháng vẫn được coi là thành viên của hộ

3) Những người tuy mới ở trong hộ chưa đủ 6 tháng nhưng tương lai sẽ ở lâu dài trong hộ, kể cả có/chưa có giấy chứng nhận (giấy đăng ký kết hôn, giấy chuyển đến, giấy xuất ngũ về với gia đình ) Những người này bao gồm: con dâu về nhà chồng, con rể về nhà vợ, người đi làm việc, học tập, lao động ở nước ngoài, hoặc các cơ quan xí nghiệp trong nước trở về hộ, người từ lực lượng vũ trang trở về, về nghỉ hưu, nghỉ mất sức,v.v vẫn được coi là thành viên của hộ

Lưu ý:

- Nếu những người này có thu nhập từ tiền lương, công và thu nhập khác thì toàn bộ thu nhập của họ trong 12 tháng qua sẽ được tính cho hộ khảo sát, kể cả những tháng trước khi là thành viên của hộ

- Đối với các khoản thu nhập từ hoạt động tự làm nông, lâm nghiệp, thủy sản

và phi nông, lâm nghiệp, thủy sản làm chung trong hộ chuyển đi sẽ không ghi vào

hộ mới chuyển đến

- Các khoản chi tiêu về y tế, giáo dục và các khoản chi hàng năm của những người này trong 12 tháng qua sẽ được tính cho hộ khảo sát, kể cả những tháng trước khi là thành viên của hộ

- Các đồ dùng lâu bền của những người này mang về sẽ được tính cho hộ khảo sát

+ Học sinh, sinh viên, cán bộ đi học ở nơi khác trong nước và những người đi chữa bệnh trong/ngoài nước trên 6 tháng nhưng hộ phải nuôi thì vẫn được coi là thành viên của hộ

+ Khách, họ hàng đến chơi đã ở trong hộ 6 tháng trở lên và hộ phải nuôi toàn

bộ thì được coi là thành viên của hộ

+ Những người giúp việc (ôsin) có gia đình riêng sống ở nơi khác thì mặc dù ở chung trong một mái nhà và ăn chung với hộ nhưng không được tính là thành viên của

hộ (vì họ có quĩ thu chi riêng)

+ Những người chuyển khỏi hộ có tính chất lâu dài và người chết trong 12 tháng qua không tính là thành viên của hộ, mặc dầu họ đã sống trong hộ hơn 6 tháng

Trang 38

Có nhiều kiểu hộ dân cư:

- Hộ dân cư 2 thế hệ, gồm bố mẹ và các con của họ

- Hộ dân cư nhiều thế hệ, cấu thành từ chủ hộ, vợ và các con của chủ hộ; bố/mẹ chủ hộ, cháu và những người khác, mà họ có thể có quan hệ huyết thống hoặc không, cùng ăn ở chung trong một chỗ ở với thời gian 6 tháng trở lên trong 12 tháng qua kể từ ngày phỏng vấn trở về trước

- Hộ dân cư gồm hai, ba cặp vợ chồng và không có con cái

- Hộ độc thân

Chỗ ở: Là một nhóm các cấu trúc (phòng, căn hộ, ngôi nhà) riêng rẽ hay kề

nhau được các thành viên hộ dùng để ở Có những dạng chỗ ở như sau:

- Có thể là túp lều, nhà tạm, hay một căn nhà kiên cố riêng rẽ

- Một phần của túp lều, nhà tạm hay một căn nhà kiên cố

- Một nhóm các túp lều, nhà tạm hay căn nhà kiên cố, có hoặc không có hàng rào hay tường bao quanh

- Căn hộ khép kín hoặc không khép kín

- Một phần của căn hộ khép kín hoặc không khép kín

2.4 Phương pháp thu thập số liệu

Cuộc Khảo sát mức sống Hộ gia đình năm 2010 áp dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp Điều tra viên đến gặp chủ hộ và những thành viên trong hộ có liên quan để phỏng vấn và ghi thông tin vào phiếu phỏng vấn hộ Đội trưởng đội khảo sát phỏng vấn lãnh đạo xã và các cán bộ địa phương có liên quan và ghi thông tin vào phiếu phỏng vấn xã Để bảo đảm chất lượng thông tin thu thập, cuộc khảo sát không sử dụng phương pháp điều tra gián tiếp hoặc sao chép các thông tin từ các nguồn có sẵn khác vào phiếu phỏng vấn

Thu thập thông tin phản ánh mức sống của hộ, bao gồm:

- Thu nhập của hộ: mức thu nhập và thu nhập phân theo nguồn thu (tiền công, tiền lương; hoạt động sản xuất tự làm nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản; hoạt động ngành nghề sản xuất kinh doanh dịch vụ phi nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản của hộ; thu khác)

Trang 39

- Chi tiêu của hộ: mức chi tiêu, chi tiêu phân theo mục đích chi và khoản chi (chi cho ăn, mặc, ở, đi lại, giáo dục, y tế, văn hoá, v.v… và chi khác theo danh mục các nhóm/khoản chi tiêu để tính quyền số chỉ số giá tiêu dùng)

- Một số thông tin khác của hộ và các thành viên trong hộ để phân tích nguyên nhân và sự khác biệt của mức sống: những đặc điểm chính về nhân khẩu học (tuổi, giới tính, dân tộc, tình trạng hôn nhân); trình độ học vấn; tình trạng ốm đau, bệnh tật và sử dụng các dịch vụ y tế; việc làm; đồ dùng, điện, nước, điều kiện vệ sinh; tham gia các chương trình trợ giúp; các loại đất do hộ quản lý và sử dụng

2.5 Các chỉ tiêu nghiên cứu chính

2.5.1 Chỉ tiêu phản ánh điều kiện kinh tế - xã hội

- Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng;

- Hộ nghèo;

- Loại nhà ở (kiên cố và không kiên cố);

- Trình độ giáo dục (có bằng cấp cao nhất từ cấp Trung học phổ thông trở xuống và trên cấp Trung học phổ thông);

- Chi tiêu y tế, khám chữa bệnh

2.5.2 Chỉ tiêu phản ánh điều kiện vệ sinh môi trường

- Sử dụng nguồn nước sinh hoạt;

- Sử dụng hố xí;

- Xả thải rác sinh hoạt

Trong khuôn khổ đề tài, chúng tôi tiến hành lựa chọn bộ số liệu từ các cuộc khảo sát mức sống hộ dân của các năm 2002, 2004, 2006, 2008 và 2010 của Tổng cục Thống kê Chính vì vậy, các chỉ tiêu về kinh tế - xã hội thì chúng tôi lựa chọn 5 chỉ tiêu cơ bản, còn chỉ tiêu về điều kiện vệ sinh môi trường được điều tra trong thời điểm 2002-2010 mới chỉ có 3 chỉ tiêu nêu trên Vì vậy, đây cũng là một hạn chế của

đề tài vì thông tin về môi trường sống còn thiếu rất nhiều để có thể đánh giá được toàn diện về điều kiện sống của người dân

2.6 Phương pháp xử lý số liệu

Để đạt được các mục tiêu đặt ra đề tài này sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

Ngày đăng: 17/04/2021, 16:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2]. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội – Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (MOLISA-UNDP), 2004, Đánh giá và lập kế hoạch cho tương lai: Đánh giá Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và Chương trình 135, Hà Nội, 11-2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá và lập kế hoạch cho tương lai: Đánh giá Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và Chương trình 135
[8]. Đông Thị Hồng (2013), “Chi ba ̉o đảm an sinh xã hô ̣i ở Viê ̣t Nam” , Tạp chí Tài chính số 12-2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chi bảo đảm an sinh xã hô ̣i ở Viê ̣t Nam”
Tác giả: Đông Thị Hồng
Năm: 2013
[9]. Ngân hàng Thế giới (2003) “Báo cáo phát triển Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển Việt Nam
[13]. Tổng cục Thống kê (2010), Kết quả Khảo sát Mức sống hộ gia đình năm 2010, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả Khảo sát Mức sống hộ gia đình năm 2010
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2010
[15]. Tổng cục Thống kê (2008), Kết quả Khảo sát Mức sống hộ gia đình năm 2008, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả Khảo sát Mức sống hộ gia đình năm 2008
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2008
[17]. Tổng cục Thống kê (2006), Kết quả Khảo sát Mức sống hộ gia đình năm 2006, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả Khảo sát Mức sống hộ gia đình năm 2006
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2006
[18]. Tổng cục Thống kê (2004), Kết quả Khảo sát Mức sống hộ gia đình năm 2004, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả Khảo sát Mức sống hộ gia đình năm 2004
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2004
[19]. Tổng cục Thống kê (2002), Kết quả Khảo sát Mức sống hộ gia đình năm 2002, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả Khảo sát Mức sống hộ gia đình năm 2002
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2002
[21]. Trần Anh Tuấn, Lê Hoàng Trung (2013), “Phát triển đô thị sông nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long hướng tới tăng trưởng xanh” Kỷ yếu Liên kết phát triển đô thị vùng Đồng bằng sông Cửu Long theo hướng kinh tế xanh, NXB Xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển đô thị sông nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long hướng tới tăng trưởng xanh”
Tác giả: Trần Anh Tuấn, Lê Hoàng Trung
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 2013
[22]. Kỷ Quang Vinh (2013), “Liên kết vùng hướng tới nền kinh tế xanh tại Đồng bằng sông Cửu Long” Kỷ yếu Liên kết phát triển đô thị vùng Đồng bằng sông Cửu Long theo hướng kinh tế xanh, NXB Xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết vùng hướng tới nền kinh tế xanh tại Đồng bằng sông Cửu Long”
Tác giả: Kỷ Quang Vinh
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 2013
[23]. Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 2007, Báo cáo cập nhật nghèo 2006: Nghèo và giảm nghèo ở Việt Nam giai đoạn 1993-2004, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo cập nhật nghèo 2006: Nghèo và giảm nghèo ở Việt Nam giai đoạn 1993-2004
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
[24]. Nicholas Minot, Michael Epprecht, Trần Thị Trâm Anh, và Lê Quang Trung, 2006, Đa dạng hóa thu nhập và giảm nghèo ở Miền núi phía Bắc Việt Nam.Báo cáo nghiên cứu, Viện nghiên cứu chính sách lương thực quốc tế.Washington D.C., 11/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng hóa thu nhập và giảm nghèo ở Miền núi phía Bắc Việt Nam. "Báo cáo nghiên cứu, Viện nghiên cứu chính sách lương thực quốc tế
[26]. Tomas Hertzman (2013), “Symbio city Mô hình của Thụy Điển cho phát triển đô thị bền vững ở Việt Nam” Kỷ yếu Liên kết phát triển đô thị vùng Đồng bằng sông Cửu Long theo hướng kinh tế xanh, NXB Xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Symbio city Mô hình của Thụy Điển cho phát triển đô thị bền vững ở Việt Nam”
Tác giả: Tomas Hertzman
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 2013
[27]. Weeks J,. Nguyễn Thắng, Roy R. Lim J, 2004, Việt Nam: Tìm kiếm bình đẳng trong tăng trưởng, UNDP, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam: Tìm kiếm bình đẳng trong tăng trưởng
[28]. World Bank (2011), Economics of Sanitation Initiative’ Tài liệu trên trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economics of Sanitation Initiative’
Tác giả: World Bank
Năm: 2011
[1]. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2010), Chương trình nghị sự Quốc gia và Kế hoạch Phát triển KTXH 2006-2010 Khác
[3]. Bộ Xây dựng (2013), Báo cáo hội thảo xây dựng hệ thống chỉ số đánh giá đô thị Việt Nam Khác
[4]. Bộ Y Tế (2013), Báo cáo Tổng kết tình hình khám chữa bệnh 2012 Khác
[5]. Lê Văn Dụy (2009), Nghiên cứu ứng dụng một số phương pháp và mô hình dự báo ngắn hạn để dự báo các chỉ tiêu thống kê xã hội chủ yếu Khác
[10]. Nguyễn Thế Quân (2009), Nghiên cứu thống kê nghèo đói và bất bình đẳng vùng Tây Bắc Việt Nam giai đoạn 2002-2006, Luận văn Thạc sỹ Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w