Luật đất đai năm 2003 đã có những đổi mới quan trọng trong việc thu hồi đất trong đó có việc khi Nhà nước thu hồi đất vào các mục đích quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Hoàng Mạnh Hải
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG DỰ ÁN XÂY DỰNG ĐƯỜNG Ô TÔ CAO TỐC HÀ NỘI-HẢI PHÕNG
(ĐOẠN QUA QUẬN DƯƠNG KINH, HẢI PHÕNG)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – Năm 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Hoàng Mạnh Hải
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG DỰ ÁN XÂY DỰNG ĐƯỜNG Ô TÔ CAO TỐC HÀ NỘI-HẢI PHÕNG
(ĐOẠN QUA QUẬN DƯƠNG KINH, HẢI PHÕNG)
Chuyên ngành: Địa chính
Mã số: 60.44.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Thái Thị Quỳnh Như
Hà Nội – Năm 2012
Trang 4CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG CỦA DỰ ÁN XÂY DỰNG ĐƯỜNG Ô
TÔ CAO TỐC HÀ NỘI-HẢI PHÕNG (ĐOẠN QUA QUẬN DƯƠNG KINH, HẢI PHÕNG) 47
2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội 47 2.2 Khái quát công tác thu hồi đất giải phóng mặt bằng tại quận Dương Kinh và kết quả đạt được giai đoạn 2008-2010 62 2.3 Khái quát về Dự án xây dựng đường ô tô cao tốc Hà Nội-Hải Phòng 63
Trang 52.3.1 Đánh giá thực trạng công tác thu hồi đất, bồi thương, hỗ trợ và tái định cư
của dự án 64
2.3.1.1 Căn cứ pháp lý của dự án 64
2.3.1.2 Tiến độ thực hiện dự án 66
2.3.2 Những bài học kinh nghiệm qua thực tế triển khai công tác thu hồi, bồi thường, giải phóng mặt bằng ở địa bàn nghiên cứu 84
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÔNG TÁC THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ DỰ ÁN XÂY DỰNG ĐƯỜNG Ô TÔ CAO TỐC HÀ NỘI-HẢI PHÕNG (ĐOẠN QUA QUẬN DƯƠNG KINH, HẢI PHÕNG) 87
3.1 Những ưu điểm, tồn tại 87
3.2 Đề xuất các giải pháp 90
3.2.1 Hoàn thiện chính sách pháp luật về đất đai 90
3.2.2 Kiên toa ̀ n nội dung chính sách về công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC 92
3.2.3 Tăng cươ ̀ ng vai trò cộng đồng trong viê ̣c tham gia công tác GPMB 93
3.2.4 Nâng cao năng lư ̣c cán bộ và hiê ̣u quả làm viê ̣c của ban bồi thường , hỗ trợ và TĐC (Trung tâm phát triển quỹ đất) 93
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn Tài nguyên thiên nhiên, tài sản quốc gia quý báu, là địa bàn
để phân bố dân cư và các hoạt động kinh tế, xã hội quốc phòng, an ninh; là nguồn vốn, nguồn nội lực để xây dựng và phát triển bền vững của quốc gia
Trong quá trình đổi mới ở nước ta, đặc biệt những năm gần đây, việc xây hệ thống giao thông đường bộ, cơ sở hạ tầng đã phát triển nhanh đáp ứng nhu cầu Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với mục tiêu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020
Thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ để giải phóng mặt bằng để thực hiện các công trình quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, công cộng, phát triển kinh tế là một khâu quan trọng, then chốt của quá trình phát triển Bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng là điều kiện ban đầu và tiên quyết để triển khai thực hiện các dự án Bồi thường, hỗ trợ và giải phóng mặt bằng cũng là một vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp liên quan tới mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội và cộng đồng dân cư, ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích của Nhà nước, của Chủ đầu tư, đặc biệt với các hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi trên phạm vi cả nước, của từng địa phương
Từ thực tế đó, tôi đã quyết định chọn đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giải phóng mặt bằng Dự án xây dựng đường ô tô cao tốc Hà Nội-Hải Phòng (đoạn qua quận Dương Kinh, Hải Phòng)”
2 Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng thực hiện công tác thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ và tái định cư của Dự án xây dựng đường ô tô cao tốc Hà Nội-Hải Phòng đoạn qua quận Dương Kinh thành phố Hải Phòng Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả cho
Trang 7công tác giải phóng mặt bằng của Dự án nghiên cứu nói riêng và cho công tác thu hồi đất, GPMB trên địa bàn thành phố Hải Phòng nói chung
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận liên quan đến công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
- Nghiên cứu tổng quan các chính sách, quy định pháp lý về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Nhà nước ta từ sau khi có Luật đất đai 2003 đến nay
- Đánh giá, phân tích thực trạng công tác thu hồi đất, GPMB, làm rõ những nguyên nhân, những khó khăn vướng mắc trong GPMB của Dự án
- Đề xuất các giải pháp
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra thu thập tài liệu số liệu: sử dụng để thu thập thông tin
tư liệu về công tác thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ và tái định cư tại Dự án xây dựng đường ô tô cao tốc Hà Nội – Hải Phòng đoạn quận Dương Kinh phục vụ cho mục đích đánh giá
- Phương pháp thống kê: sử dụng để thống kê các số liệu về giá đất bồi thường, nhà và tài sản trên đất, số liệu về hỗ trợ và nhà tái định cư phục vụ cho mục đích nghiên cứu
- Phương pháp điều tra giá đất thị trường: điều tra giá đất thị trường tại địa bàn nghiên cứu trong các năm 2008-2011 thông qua thông tin của cơ quan quản lý đất đai, ban bồi thường của quận (nay là Trung tâm phát triển quỹ đất), trên mạng internet và trực tiếp phỏng vấn người dân để có số liệu so sánh với giá đất áp dụng
để lập phương án bồi thường hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất và giá đất theo khung giá do Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng quy định
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn trực tiếp các hộ gia đình, cá nhân trong diện tích được bồi thường, hỗ trợ đất và tài sản gắn liền với đất để thu thập các thông tin về giá đất, về giá bồi thường, điều kiện ăn ở của các hộ khi được bố trí tái định cư
Trang 8- Phương pháp tổng hợp và phân tích để đánh giá làm rõ thực trạng công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án và đề xuất các giải pháp có tính khoa học và phù hợp với thực tiễn, góp phần hoàn thiện việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, nâng cao đời sống của người dân có đất bị thu hồi
5 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của Khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt
bằng
Chương 2: Đánh giá thực trạng công tác thu hồi đất, bồi thường, giải phóng
mặt bằng của dự án xây dựng đường ô tô cao tốc Hà Nội-Hải Phòng (đoạn qua
quận Dương Kinh, Hải Phòng)
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện
công tác thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ và tái định cư Dự án xây dựng đường ô tô cao tốc Hà Nội-Hải Phòng (đoạn qua quận Dương Kinh Hải Phòng)
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG
GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG
1.1 Một số khái niệm cơ bản
Đất nước ta đang trong giai đoạn phát triển, để thực hiện chiến lược đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa những năm qua đã có hàng nghìn dự án xây dựng nâng cấp các công trình, cơ sở hạ tầng phục vụ cho quá trình phát triển Công tác thu hồi, bồi thường, hỗ trợ là điều kiện tiên quyết để triển khai các dự án, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư Công tác này có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, chủ đầu tư và đời sống vật chất tinh thần của người bị thu hồi đất
Luật đất đai năm 2003 đã có những đổi mới quan trọng trong việc thu hồi đất trong đó có việc khi Nhà nước thu hồi đất vào các mục đích quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi đất tuỳ từng trường hợp cụ thể được bồi thường hỗ trợ về đất theo giá đất trên thị trường trong điều kiện bình thường có thể bằng đất, bằng tiền, bằng nhà, ngoài ra còn được hưởng chính sách hỗ trợ để ổn định cuộc sống và sản xuất
Một số khái niệm liên quan tới công tác bồi thường, hỗ trợ thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất:
- Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này [6]
- Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền
sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất [6]
Trang 10- Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới [6]
- Tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất: được hiểu là một quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất, tài sản; di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống, thu nhập, cơ sở vật chất tinh thần tại đó
1.2 Nhu cầu thu hồi đất để phát triển công nghiệp, dịch vụ đô thị hạ tầng kinh tế - xã hội
1.2.1 Sự cần thiết thu hồi đất để phát triển công nghiệp, dịch vụ, đô thị, hạ tầng kinh tế - xã hội
- Trong lịch sử phát triển của mọi quốc gia, việc GPMB để xây dựng công trình là không thể tránh khỏi Nhịp độ phát triển càng lớn thì nhu cầu GPMB càng cao và trở thành một thách thức ngày càng nghiêm trọng đối với sự thành công không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà trong cả ở trong các lĩnh vực xã hội, chính trị trên phạm vi quốc gia
- Vấn đề bồi thường hỗ trợ và tái định cư trong công tác GPMB trở thành một trong những điều kiện tiên quyết của sự phát triển, nếu không được xử lý tốt nó
sẽ trở thành dào cản đầu tiên mà các nhà phát triển phải vượt qua
Để tạo cơ sở vật chất kỹ thuật cho đất nước phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, vốn đầu tư cho các lĩnh vực này luôn chiếm trên 90% trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội và do vậy đặt ra nhu cầu cần thiết phải tăng diện tích đất phi nông nghiệp để hấp thụ nguồn vốn đó Việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đã tạo điều kiện cho việc hình thành các khu công nghiệp, dịch vụ, đô thị
Qua tổng hợp, so sánh các chỉ tiêu kinh tế với chỉ tiêu sử dụng đất theo diện tích các nhóm đất với giá trị tuyệt đối của GDP thì trong giai đoạn 1995 - 2000, GDP phi nông nghiệp tăng thêm 167.692 tỷ đồng, diện tích đất phi nông nghiệp tăng 166.049 ha; trong giai đoạn 2000 - 2005, GDP phi nông nghiệp tăng thêm 310.339 tỷ đồng, diện tích đất phi nông nghiệp tăng thêm 375.442 ha
Trang 11So sánh diện tích các nhóm đất với cơ cấu kinh tế trong giai đoạn 1996 -
2000, tỷ trọng GDP phi nông nghiệp cả nước tăng 2,9%, cơ cấu đất phi nông nghiệp tăng 0,5%, tương đương tăng 166.049 ha; trong giai đoạn 2001 - 2005, tỷ trọng GDP phi nông nghiệp tăng 3,4%, cơ cấu đất phi nông nghiệp tăng 1%, tương đương tăng 375.442 ha
So sánh tốc độ tăng diện tích các nhóm đất với tốc độ tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 1996 - 2000, tăng 1% GDP phi nông nghiệp thì đất phi nông nghiệp tăng 0,15% Trong giai đoạn 2001 - 2005, tăng 1% GDP phi nông nghiệp thì đất phi nông nghiệp tăng 0,29%
Như vậy, từ các phân tích so sánh cho thấy khi cơ cấu kinh tế thay đổi do tăng trưởng kinh tế thì diện tích các nhóm đất cũng như cơ cấu sử dụng đất cũng thay đổi theo vì đất đai là phục vụ cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ là tư liệu sản xuất, là một thành phần trong hàm sản xuất, do vậy khi mục tiêu kinh tế thay đổi (do tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế) thì diện tích đất cũng thay đổi và được chuyển đổi mục đích sử dụng Trong 8 năm qua, từ 2001-2008 đã có khoảng
540 nghìn ha đất nông nghiệp (dự kiến từ 2001-2010 là 618 nghìn ha) chuyển sang các mục đích phi nông nghiệp như xây dựng đường giao thông, thủy lợi, khu đô thị, khu công nghiệp , dự báo trong 10 năm tới (2011-2020), diện tích đất chuyển từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp sẽ là 750 nghìn ha
1.2.2 Nhu cầu đất đai và vấn đề thu hồi đất
Quá trình biến động sử dụng đất đai giai đoạn 1990 - 2010
Theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2010 (tính đến thời điểm 01/01/2010) và thống kê tình hình sử du ̣ng đất trong năm 2010 (tính đến thời điểm 31/12/2010) Tổng diện tích đất tự nhiên là 33.095 nghìn ha, trong đó:
- Đất nông nghiệp: 26.226 nghìn ha, chiếm 79,24% diện tích tự nhiên
- Đất phi nông nghiệp: 3.705 nghìn ha, chiếm 11,20% diện tích tự nhiên
- Đất chưa sử dụng: 3.164 nghìn ha, chiếm 9,56% diện tích tự nhiên
Trang 12Bảng 1: Biến động sử dụng đất giai đoạn 1990 - 2010
Trên cơ sở hiện trạng sử dụng đất, tiềm năng đất đai, mục tiêu phát triển kinh
tế - xã hội, quốc phòng, an ninh đến năm 2020 của cả nước; quy hoạch, chiến lược phát triển của các ngành, lĩnh vực; nhu cầu sử dụng đất của các Bộ, ngành và địa phương, cân đối và xác định các chỉ tiêu sử dụng đất đến năm 2020 như sau:
- Đất nông nghiệp 26.732 nghìn ha, chiếm 80,77% diện tích tự nhiên tăng
506 nghìn ha so với năm 2010;
- Đất phi nông nghiệp 4.880 nghìn ha, chiếm 14,75% diện tích tự nhiên, tăng 1.175 nghìn ha so với năm 2010;
- Đất chưa sử dụng 1.483 nghìn ha, chiếm 4,48% diện tích tự nhiên Năm
2010, cả nước còn 3.164 nghìn ha Trong thời kỳ quy hoạch sẽ khai thác khoảng 1.681 nghìn ha đưa vào sử dụng vào các mục đích nông nghiệp, phi nông nghiệp (trong đó 1.200 - 1.300 nghìn ha cho khoanh nuôi, trồng mới rừng, 150 nghìn ha cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, còn lại cho các mục đích phi nông nghiệp)
1.3 Vấn đề bồi thường hỗ trợ và tái định cư trong công tác giải phóng mặt bằng ở Việt Nam hiện nay còn rất nhiều bất cập
Trang 13- Chưa đảm bảo được sự cân bằng giữa lợi ích chung (Nhà nước, xã hội, cộng đồng) và lợi ích riêng (cá nhân, hộ gia đình , tổ chức bị ảnh hưởng)
- Kinh phí dùng để đền bù GPMB từ ngân sách Nhà nước trong khi lợi ích cho phát triển mang lại chưa trở thành nguồn thu đầy đủ, ổn định và hợp pháp của nhà đầu tư
- Việc dựa vào chứng cứ pháp lý để giải quyết đền bù chưa thỏa đáng bởi vì
hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, đang trong quá trình hoàn thiện
Đất nước chúng ta đang bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tốc
độ đo thị hóa rất nhanh Số lượng dân số tăng kéo theo đó là phương tiện giao thông cũng tăng nhanh dẫn đến việc quá tải, tắc nghẽn giao thông vì vậy để giải quyết vấn
đề này Nhà nước ta đã không ngừng cải tạo quy hoạch hệ thống giao thông phục vụ cho quá trình phát triển đất nước Để có mặt bằng xây dựng các công trình, dự án kèm theo đó là chỗ ở của các người dân có đất bị thu hồi không thể không có chỗ ở hoặc chỗ ở kém hơn nơi ở cũ dù đó là một gia đình
Xuất phát từ yêu cầu đó chúng ta cần hiểu rõ bản chất của việc bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Đó là việc Nhà nước bảo đảm cho lợi ích của những người dân phải di chuyển: phải được có chỗ ở ổn định, có điều kiện sống và tiện nghi bằng hoặc cao hơn nơi ở cũ tạo điều kiện cho người dân sống ổn định và phát triển
1.4 Nội dung chủ yếu về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất từ khi có Luật đất đai 2003 cho đến nay
Nước ta là nước duy nhất trên thế giới thực hiện chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước là đại diện chủ sở hữu thống nhất quản lý: bao gồm quản lý theo quy hoạch và theo pháp luật Vì vậy phải giải quyết hài hoà lợi ích của người bị thu hồi đất, chủ đầu tư và nhà nước Chính sách bồi thường thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất mà cụ thể ở đây là đất nông nghiệp, đất ở nằm trong tổng thể và đồng bộ với hệ thống các văn bản pháp quy hiện hành của nhà nước
Trang 141.4.1 Cơ sở pháp lý về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và sự chuyển đổi về chính sách bồi thường hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất cho đến nay
* Trước khi có luật đất đai 2003
- Từ đầu những năm 90 công cuộc đổi mới trên toàn đất nước đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước, ngày càng nhiều dự án đầu tư phát triển đòi hỏi phải sử dụng đất với quy mô lớn và tất yếu kèm theo là giải phóng mằt bằng, tái định cư cho người có đất bị thu hồi Trước tình hình đó các điều luật, Thông tư, Nghị định ra đời để hoàn chỉnh việc bồi thường hỗ trợ thiệt hại cho người có đất bị thu hồi Trong đó:
- Nghị định số 90/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ về đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thay thế tất cả các văn bản, chính sách trước đó của nhà nước
về đền bù, giải phóng mặt bằng
So với các văn bản trước, Nghị định 90/CP quy định mức đền bù và tính toán diện cao hơn, qui định rõ hơn đối tượng được hưởng chính sách đền bù thiệt hại, phân biệt rõ hộ gia đình, đơn vị sử dụng đất bất hợp pháp hay hợp pháp để có chế
độ đền bù hoặc không đền bù, mức độ đền bù tùy theo tính hợp pháp về quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản của người bị thu hồi đất Tuy nhiên trong quá trình triển khai, thực tế cho thấy, sau khi nhà nước thu hồi đất và thực hiện giải phóng mặt bằng người bị ảnh hưởng gặp nhiều khó khăn Theo Nghị định này giá đất do nhà nước qui định để đền bù thiệt hại khác xa so với giá thực tế Do vậy cần thiết phải có một văn bản pháp luật mới thay thế nghị định 90/CP
- Nghị định 22/1998/NĐ - CP ngày 24/4/1998 về đền bù thiệt hại khi nhà
nước thu hồi đất thay thế cho Nghị định 90/CP
So với Nghị định 90/CP, Nghị định này có rất nhiều điểm tiến bộ trong chính sách đền bù, GPMB, tái định cư của Nhà nước đối với người bị thu hồi đất, đặc biệt
là người có đất bị thu hồi có quyền lựa chọn một trong 3 phương án đền bù bằng đất, bằng tiền hoặc bằng nhà Theo Nghị định này giá đền bù thiệt hại về đất được
Trang 15tính như sau:
+ Giá đất để tính đền bù thiệt hại do chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương qui định cho từng dự án theo đề nghị của sở Tài chính- Vật giá, có
sự tham gia của các ngành có liên quan
+ Giá để tính đền bù thiệt hại xác định trên cơ sở giá đất địa phương ban hành theo qui định của chính phủ nhân với hệ số K để đảm bảo giá đất tính đền bù phù hợp với khả năng sinh lợi và giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở địa phương
Nghị định số 22/1998/ NĐ - CP có thêm chính sách hỗ trợ cũng như một số điều khoản mới về lập khu tái định cư cho các hộ phải di chuyển Đồng thời đã đưa
ra các nội dung về công tác tổ chức thực hiện, quy định trách nhiệm của UBND các cấp và hội đồng đền bù giải phóng mặt bằng cấp huyện trong việc chỉ đạo lập phương án đền bù, xác định mức đền bù hoặc trợ cấp cho từng tổ chức, hộ gia đình,
cá nhân và tổ chức thực hiện đền bù theo phương án được phê duyệt, tạo sự chủ động cho các địa phương trong việc lựa chọn phương án đền bù phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, quĩ đất của địa phương
Ngày 4/11/1998 Bộ tài chính ban hành Thông tư 145/1998/TT- BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 22/1998 nêu rõ phương pháp xác định hệ số k để định giá đất đền bù thiệt hại.Tuy nhiên trong quá trình thực hiện thông tư 145/ TT- BTC đã phát sinh một số vướng mắc, ngày 04/09/1999, Bộ tài chính đã ra văn bản
số 4448/TT- QLCS hướng dẫn xử lí vướng mắc trong đền bù, giải phóng mặt bằng theo Nghị định 22/1998 Cụ thể là:
+ Giá đất tính đền bù thiệt hại là giá tính theo khả năng sinh lợi đối với đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất làm muối, đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản và giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế ở địa phương đối với các loại đất khác
+ Giá đất do UBND cấp tỉnh ban hành đã phù hợp với giá đất tính theo khả năng sinh lợi và giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì áp dụng giá đất đã được ban hành để tính đền bù thiệt hại
Trang 16+ Các trường hợp phải xác định hệ số k thì sử dụng cách tính hệ số theo Thông tư 145/TT-BTC
+ Về chi phí đầu tư vào đất thì người sử dụng đất tạm thời, đất tạm giao, cho thuê, đất nhận đấu thầu không được đền bù thiệt hại về đất nhưng được đền bù chi phí đã đầu tư vào đất (nếu có) và đền bù tài sản cho các công trình gắn liền với đất
Sau vài năm thực hiện Nghị định 22/CP đã đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của xã hội, cơ bản phù hợp với ý trí của các đối tượng quản lí nhà nước về đất đai, phù hợp với nguyện vọng của người dân trong công tác đền bù, GPMB và tái định
cư, đảm bảo công bằng dân chủ trong xã hội Song còn rất nhiều bất cập, đặc biệt trong xu hướng phát triển kinh tế xã hội mạnh mẽ hiện nay thì nhiều chính sách đã lạc hậu không áp dụng được vào thực tiễn
* Sau khi có luật đất đai 2003
- Luật đất đai được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành luật đất đai
- Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
- Thông tư số 114/2004/TT-BTC ngày 26/11/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 188/2004/NĐ-CP về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất
- Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 về thu tiền sử dụng đất Nghị đinh số 120/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của
Trang 17Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 3/12 năm 2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất
- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền
sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/08/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
- Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ tài nguyên và môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất
Cho tới thời điểm này đây là những văn bản pháp lí quan trọng nhất của Nhà nước thể hiện chính sách bồi thường hỗ trợ và TĐC trong công tác GPMB Trong
đó giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng tại thời điểm có quyết định thu hồi đất do UBND cấp tỉnh công bố theo qui định của Chính phủ
Trên đây là những văn bản hướng dẫn việc bồi thường hỗ trợ và TĐC thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất được áp dụng chung trên phạm vi cả nước Ngoài ra do điều kiện, hoàn cảnh, tình hình cụ thể của mỗi tỉnh, mỗi dự án mà có những văn bản kèm theo để cụ thể hóa hoặc điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế ở mỗi địa phương và từng dự án đó
- Giá đất tính bồi thường hỗ trợ hiện nay của Nhà nước Việt Nam
+ Giá đất để tính bồi thường hỗ trợ hiện nay được xác định do chủ tịch UBND tỉnh, thành phố công bố vào 01/01 hàng năm theo quy định tại Nghị định số 188/2004/NĐ- CP ngày 16/11/2004 của chính phủ; Nghị định số 123/2007/NĐ –
CP ngày 27/7/2007 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/ NĐ – CP; nếu trong thời gian từ 01/01 đến 31/12 hàng năm có sự thay đổi về địa giới hành chính hoặc điều chỉnh từ xã thành phường, thị trấn thì phương pháp xác định và mức giá vẫn giữ nguyên như đã công bố, không bồi thường theo giá đất sẽ được chuyển mục đích sử dụng sau khi thu hồi
Trang 18Riêng đối với đất nông nghiệp thì UBND quận, huyện căn cứ mức giá đất nông nghiệp do UBND tỉnh ban hành và mức giá bồi thường hỗ trợ đối với đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư và hạng đất tính thuế sử dụng đất nông nghiệp cao nhất trong một dự án, một khu vực để xác định giá đất nông nghiệp làm căn cứ bồi thường, hỗ trợ
Trường hợp thửa đất thu hồi tại khu vực, tại vị trí chưa được xác định trong bảng giá đất hàng năm thì UBND quận, huyện báo cáo sở tài chính thẩm định và trình UBND tỉnh quyết định
+ Trường hợp thửa đất thu hồi không có đủ căn cứ pháp lí để phân biệt loại đất và mục đích sử dụng đất thì UBND quận, huyện căn cứ tình hình quản lí, sử dụng đất, tình trạng tranh chấp, khiếu kiện về đất để làm căn cứ bồi thường hoặc hỗ trợ
+ Khi việc bồi thường chậm do tổ chức, cá nhân được giao thực hiện việc bồi thường gây ra, nếu giá đất tại thời điểm bồi thường do UBND tỉnh công bố thấp hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm thu hồi; nếu giá đất tại thời điểm bồi thường do UBND tỉnh công bố cao hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm trả tiền bồi thường; ngoài ra các cá nhân, tổ chức này còn bị xử phạt theo quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Khi việc bồi thường chậm do người sử đụng đất bị thu hồi gây ra, nếu giá đất tại thời điểm bồi thường thấp hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm bồi thường, nếu giá đất tại thời điểm bồi thường cao hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi
* Các văn bản pháp lý chủ yếu của Thành phố Hải Phòng về thu hồi bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất từ năm 2006-2010
- Quyết định 1518/QĐ-UB ngày 12/7/2006 về việc ban hành Quy định về hạn mức công nhận quyền sử dụng đất ở, đất vườn ao liền kề trong cùng thửa đất có nhà ở của hộ gia đình cá nhân
Trang 19- Quyết định 1761/QĐ-UBND ngày 19/9/2007 của Ủy ban nhân dân thành phố về việc ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hải Phòng
- Quyết định số 2539/QĐ-UBND ngày 20/12/2007 của Ủy ban nhân dân thành phố về việc ban hành giá đất trên địa bàn thành phố Hải Phòng
- Quyết định số 393/QĐ-UBND ngày 11/3/2008 của Ủy ban nhân dân thành phố về việc thu hồi đất tại phường Hòa Nghĩa, quận Dương Kinh để bồi thường, giải phóng mặt bằng phục vụ việc giao đất cho Tổng Công ty Phát triển hạ tầng và Đầu tư tài chính Việt Nam để thực hiện Dự án xây dựng đường ô tô cao tốc Hà Nội-Hải Phòng
- Quyết định số 1237/2008/QĐ-UBND ngày 28/7/2008 của UBND thành phố Hải Phòng; Quyết định số 2640/QĐ-UBND ngày 31/12/2009 của Uỷ ban nhân dân thành phố Ban hành giá đất trên địa bàn thành phố Hải Phòng;
- Quyết định số 1240/QĐ-UBND ngày 29/7/2008, Quyết định 2235/2005/QĐ-UB ngày 26/9/2005 của Ủy ban nhân dân thành phố về việc ban hành đơn giá vật kiến trúc
- Quyết đinh số 1074/2008/QĐ-UBND ngày 30/6/2008 về việc sửa đổi, bổ sung dung một số điều tại quyết định số 1761/2007/QĐ-UBND ngày 19/9/2007 quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hải Phòng
- Quyết định 877/2008/QĐ-UBND ngày 28/5/2008 ban hành quy định trình
tự, thủ tục vêt thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất và bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hải Phòng
- Quyết định số 130/2010/QĐ-UBND ngày 22/01/2010 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng Ban hành quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hải Phòng;
- Công văn số 1231/UBND-ĐC ngày 12/3/2010 của UBND thành phố Hải Phòng về việc bồi thường giải phóng mặt bằng dự án đường ô tô cao tốc Hà Nội-
Trang 20Hải Phòng tại quận Dương Kinh;
- Quyết định 1609/2010/QĐ-UBND ngày 30/9/2010 ban hành quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất; giao đất; cho thuê đất; bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; cấp giấy chưng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và một số thủ tục hành chính khác trong quản
lý, sử dụng đất trên địa bàn thành phố Hải Phòng
- Quyết định 2295/2010 QĐ-UBND ngày 31/12/2010 ban hành quy định giá các loại đất trên địa bàn thành phố Hải Phòng năm 2011
1.4.2 Nguyên tắc chung của bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
* Ở một số nước như Đức, Thuỵ Điển… việc bồi thường GPMB được thực hiện theo 5 nguyên tắc sau:
1- Đảm bảo để người sử dụng đất có tình trạng kinh tế sau khi bị thu hồi đất giống hoặc tương tự với trước khi bị thu hồi
2- Người sử dụng đất được bồi thường theo giá thị trường kể cả những huỷ hoại khác
3- Giá trị bồi thường bằng giá trị mất đi hoặc giảm giá
4- Những ảnh hưởng khác tới kinh tế của người sử dụng đất (ngoài đất) cũng được tính, nếu bị giảm cũng được bồi thường
5- Bồi thường trên nguyên tắc đất được sử dụng tốt nhất và cao nhất (HBU)
* Ở Việt Nam việc bồi thường hỗ trợ GPMB được thực hiện theo 5 nguyên tắc sau:
1- Đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước, lợi ích của người sử dụng đất và lợi ích nhà đầu tư:
- Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đất đai, là người quản lý đất nước, phải quyết định chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, quyết định giá đất, giá tài sản để tính bồi thường đất và tài sản Đây vừa là quyền định đoạt của Nhà nước vừa
là biện pháp xử lý hài hoà lợi ích của người đang sử dụng đất với lợi ích của Nhà đầu tư Tất cả các quyền này của Nhà nước đã được quy định cụ thể tại các Điều 42,
Trang 2143, 45, 47 và 49 Nghị định 197/2004/NĐ – CP
- Người sử dụng đất ổn định được chuyển quyền sử dụng đất là một trong các quyền của người sử dụng đất đã được xác định tại Hiến pháp 1992 và Luật đất đai Thực hiện quyền này, người sử dụng đất có nguồn thu nhập từ quyền sử dụng đất của mình Do vậy, khi Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng đất để giao cho người khác sử dụng vì lợi ích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế, Nhà nước phải đảm bảo lợi ích cho người bị thu hồi đất một cách thoả đáng cụ thể:
+ Người bị thu hồi đất đang sử dụng vào mục đích nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tính theo giá đất do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh công bố tại thời điểm thu hồi đất (Khoản 2, Điều 6 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP)
+ Ngoài bồi thường hỗ trợ về đất, tài sản người bị thu hồi đất còn được hỗ trợ
di chuyển, hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất, đào tạo nghề, … ổn định đời sống cho người bị thu hồi đất (Các Điều 27, 28, 29 và 32 Nghị định 197/2004/NĐ – CP)
+ Người bị thu hồi đất ở được chuyển vào khu TĐC với hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ đủ điều kiện cho họ sống tốt hơn hoặc ít nhất cũng bằng nơi ở cũ (Điều 35 Nghị định 197/2004/NĐ – CP)
- Nhà đầu tư có nhu cầu về đất làm mặt bằng để đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng, cơ sở sản xuất kinh doanh với chi phí sử dụng đất hợp lý nhất
Để khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn vào đầu tư phát triển, Nhà nước không chỉ
ưu đãi tài chính như miễn giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế, mà còn hoàn lại chi phí bồi thường, hỗ trợ về đất mà họ đã chi trả cho người bị thu hồi đất với mức cao nhất, bằng số tiền sử dụng đất, hoặc tiền thuê đất mà họ phải nộp cho Nhà nước như đã quy định tại Điều 3 Nghị định 197/2004/NĐ-CP và khoản 4 Điều 5, khoản 3 Điều 6 Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 về thu tiền sử dụng đất Nhà nước đã phải dành nguồn thu từ đất của mình để đảm bảo lợi ích cho người
bị thu hồi đất, đồng thời giảm nhẹ chi phí sử dụng đất cho nhà đầu tư để thực hiện
Trang 22quyền thu hồi đất, phân bổ sử dụng đất phục vụ cho đầu tư phát triển của đất nước đưa đến dân giàu, nước mạnh
2- Đảm bảo công khai dân chủ trong thực hiện:
Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người bị thu hồi đất là quan hệ giao dịch về quyền sử dụng đất giữa người đang sử dụng đất với nhà đầu tư có sự can thiệp của Nhà nước, không phải giao dịch quyền sử dụng đất thông thường trên thị trường Tuy nhiên, người bị thu hồi đất chỉ chấp nhận chuyển quyền sử dụng đất của mình khi chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phù hợp với Luật đất đai và công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được thực hiện công khai và bàn bạc dân chủ
Thứ nhất, trước khi thu hồi đất chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp
và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo cho người bị thu hồi đất biết lý do thu hồi, thời gian và kế hoạch di chuyển, phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (Khoản 2 Điều 39 Luật đất đai 2003)
Thứ hai, người bị thu hồi đất được cử người đại diện của mình tham gia Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cấp quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh để phản ánh nguyện vọng của người bị thu hồi đất, đồng thời người bị thu hồi đất thực hiện các quyết định của Nhà nước, trực tiếp tham gia ý kiến đối với dự kiến phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được niêm yết công khai tại trụ sở làm việc của tổ chức được giao nhiệm vụ thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và trụ sở UBND cấp xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi
Thứ ba, người bị thu hồi đất có quyền khiếu nại nếu chưa đồng ý với quyết định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và được cấp có thẩm quyền ra quyết định giải quyết lâu dài Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu, người khiếu nại có quyền khởi kiện tại Toà án nhân dân hoặc tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch UBND cấp tỉnh là cấp quyết định giải quyết cuối cùng đối với khiếu nại của người
bị thu hồi đất Tuy nhiên để đảm bảo thực hiện nghiêm túc các quyết định thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong khi chờ giải
Trang 23quyết khiếu nại, người bị thu hồi đất vẫn phải chấp hành quyết định thu hồi đất, giao đất đúng kế hoạch và thời gian được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định (Điều 49, Nghị định 197/2004/NĐ – CP)
1.4.2 Các chính sách của Nhà nước về thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ và tái định cư từ khi có Luật đất đai 2003 đến nay
Luật đất đai 2003 qui định Nhà nước sử dụng đất vào mục đích quốc phòng,
an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế; Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế trong trường hợp đầu tư xây dựng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế và các dự án đầu tư lớn theo quy định tại Điều 36 Nghị định 181/2004/NĐ-CP, được bổ sung tại điều 34, 35 Nghị định 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ
* Chính sách bồi thường:
- Luật đất đai 2003 qui định Nhà nước thu hồi đất của người sử dụng đất mà người bị thu hồi đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 50 của Luật đất đai thì người bị thu hồi đất được bồi thường,
- Người bị thu hồi loại đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi
- Trường hợp thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất mà không có đất để bồi thường cho việc tiếp tục sản xuất thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền, người bị thu hồi đất còn được Nhà nước hỗ trợ để ổn định đời sống, đào tạo chuyển đổi ngành nghề, bố trí việc làm mới; quy định thời hạn thu hồi các loại đất
Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ qui định và nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ:
- Về bồi thường đất:
+ Người bị Nhà nước thu hồi đất có đủ điều kiện theo qui định của luât đất đai thì được bồi thường; trường hợp không đủ điều kiện được bồi thường thì Uỷ
Trang 24ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xem xét để hỗ trợ
+ Người bị thu hồi đất đang sử dụng vào mục đích nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi; trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới hoặc bằng nhà, nếu có chênh lệch về giá trị thì phần chênh lệch đó được thực hiện thanh toán bằng tiền
- Về giá đất để tính bồi thường:
Giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng tại thời điểm có quyết định thu hồi đất do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh công bố theo quy định của Chính phủ; không bồi thường theo giá đất sẽ được chuyển mục đích sử dụng;
Nghị định 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 1 năm 2006 của Chính phủ, Nghị định 123/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2006 của Chính phủ và Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ đã sửa đổi, bổ sung qui định Giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định và công bố; không bồi thường theo giá đất sẽ được chuyển mục đích sử dụng; trường hợp tại thời điểm
có quyết định thu hồi đất mà giá này chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường thì Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định giá đất cụ thể cho phù hợp
- Bồi thường về tài sản:
Chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất mà bị thiệt hại, thì được bồi thường; mức bồi thường tài sản theo Nghị định 197/2004/NĐ-CP, Nghị định 69/2009/NĐ-CP
Trang 25việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp cùng mục đích sử dụng còn được hỗ trợ bằng tiền; giá tính hỗ trợ từ 20% đến 50% giá đất ở liền kề; Nghị định 69/2009/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung qui định Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở trong khu dân cư nhưng không được công nhận là đất ở; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở riêng lẻ; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở dọc kênh mương và dọc tuyến đường giao thông thì ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp trồng cây lâu năm còn được hỗ trợ bằng 30% - 70% giá đất ở của thửa đất đó; diện tích được hỗ trợ không quá 05 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương; đất nông nghiệp trong địa giới hành chính phường, trong khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn, thửa đất nông nghiệp tiếp giáp với ranh giới phường, ranh giới khu dân cư thì ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp còn được hỗ trợ bằng 20% - 50% giá đất ở trung bình của khu vực có đất thu hồi theo quy định trong Bảng giá đất của địa phương; diện tích được hỗ trợ không quá 05 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương
- Hỗ trợ di chuyển:
Nghị định 197/2004/NĐ-CP qui định Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định phù hợp với thực tế tại địa phương đối với Hộ gia đình khi Nhà nước thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở trong phạm vi tỉnh, thành phố được hỗ trợ mỗi hộ cao nhất 3.000.000 đồng; di chuyển sang tỉnh khác được hỗ trợ mỗi hộ cao nhất 5.000.000 đồng; Người bị thu hồi đất ở, không còn chỗ ở khác; trong thời gian chờ tạo lập chỗ
ở mới (bố trí vào khu tái định cư), được bố trí vào nhà ở tạm hoặc hỗ trợ tiền thuê nhà ở; thời gian và mức hỗ trợ cụ thể do; Nghị định 69/2009/NĐ-CP Chính phủ không qui định mức cụ thể mà giao cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định phù hợp với thực tế tại địa phương
- Hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất:
Nghị định 197/2004/NĐ-CP qui định Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp được giao, được hỗ trợ ổn định đời sống trong thời gian 3 tháng nếu không phải di chuyển chỗ
ở và trong thời gian 6 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển
Trang 26đến các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ là 12 tháng Mức hỗ trợ bằng tiền cho 01 nhân khẩu/01tháng tương đương 30 kg gạo tính theo thời giá trung bình tại địa phương Nghị định 69/2009/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung qui định thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ ổn định đời sống trong thời gian 06 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 12 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 24 tháng; thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp đang
sử dụng thì được hỗ trợ ổn định đời sống trong thời gian 12 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 24 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải
di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 36 tháng;
- Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm
Nghị định 197/2004/NĐ-CP qui định Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi bị thu hồi trên 30% diện tích đất sản xuất nông nghiệp thì được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho người trong
độ tuổi lao động cho phù hợp với thực tế ở địa phương; Nghị định 17/2006/NĐ-CP sửa đổi bổ sung qui định hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp bị thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp mà không được Nhà nước bồi thường bằng đất nông nghiệp tương ứng thì được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng việc được giao đất có thu tiền sử dụng đất tại vị trí có thể làm mặt bằng sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ phi nông nghiệp; giá đất được giao bằng giá đất nông nghiệp tương ứng cộng với chi phí đầu tư hạ tầng trên đất; Nghị định 84/2007/NĐ-
CP, tiếp tục sửa đổi bổ sung qui định hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp bị thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp trong trường hợp không được Nhà nước bồi thường bằng đất nông nghiệp tương ứng mà không có nguyện vọng nhận bồi thường bằng đất làm mặt bằng sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ phi nông nghiệp theo quy định tại Nghị định số 17/2006/NĐ-CP thì được bồi thường bằng
Trang 27giao đất ở có thu tiền sử dụng đất tại khu tái định cư hoặc tại vị trí trong khu dân cư phù hợp với quy hoạch Giá đất ở được giao bằng giá loại đất nông nghiệp tương ứng đã thu hồi cộng với chi phí đầu tư hạ tầng khu dân cư Nghị định số 69/2009/NĐ-CP, Chính phủ đã qui định “Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không có đất để bồi thường hoặc giao theo qui định tại Nghị định số 17/2006/NĐ-CP, Nghị định 84/2007/NĐ-
CP thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền theo giá đất nông nghiệp còn được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm theo một trong các hình thức bằng tiền
từ 1,5 đến 5 lần giá đất nông nghiệp, diện tích được hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương;
* Hỗ trợ khác:
- Ngoài việc hỗ trợ quy định của Chính phủ, căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định biện pháp hỗ trợ khác để bảo đảm ổn định đời sống và sản xuất cho người bị thu hồi đất; trường hợp đặc biệt trình Thủ tướng Chính phủ quyết định;
- Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp có nguồn sống chính từ sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp đang sử dụng mà không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xem xét hỗ trợ phù hợp với thực tế của địa phương
* Chính sách tái định cư và hỗ trợ tái định cư:
- Luật đất đai năm 2003 và Nghị định số 197/2004/NĐ-CP qui định Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì được bố trí tái định
cư bằng một trong các hình thức bằng nhà ở, bằng giao đất ở mới, bằng tiền để tự lo chỗ ở mới Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập và thực hiện các dự án tái định cư trước khi thu hồi đất để bồi thường bằng nhà ở, đất ở cho người bị thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở Khu tái định cư được quy hoạch chung cho nhiều dự án trên cùng một địa bàn và phải có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ
Trang 28- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngoài việc kế thừa chính sách tái định cư của Nghị định Số 197/2004/NĐ-CP đã qui định bổ sung hổ trợ tái định cư “Hộ gia đình, cá nhân nhận đất ở, nhà ở tái định cư mà số tiền được bồi thường, hỗ trợ nhỏ hơn giá trị một suất tái định cư tối thiểu thì được hỗ trợ khoản chênh lệch đó; trường hợp không nhận đất ở, nhà ở tại khu tái định cư thì được nhận tiền tương đương với khoản chênh lệch đó”
1.5 Quan điểm khoa học về đổi mới việc thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Những thách thức trong sử dụng và thu hồi đất
Thách thức về bố trí lại vùng công nghiệp, đô thị theo hướng bảo vệ nghiêm ngặt đất chuyên trồng lúa và giải quyết được chuyển đổi cơ cấu lao động, ngành nghề nông thôn vùng đồng bằng:
Thách thức về việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo cơ chế thị trường với việc chịu tải của khả năng tài chính ngân sách, nguồn thu từ đất và thu hút đầu tư:
Quan điểm về thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Về sử dụng đất
- Trong quá trình phát triển của đất nước, nhu cầu của các ngành, lĩnh vực luôn luôn tăng, thu hồi đất để chuyển sang mục đích khác là điều tất yếu và điều này đồng nghĩa với việc giải bài toán quy hoạch một cách có hiệu quả, cân đối được nhu cầu sử dụng đất của các ngành Quy hoạch sử dụng đất là thành phần không thể thiếu được trong hoạch định chiến lược, lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -
xã hội quốc gia, đồng thời với đặc điểm tài nguyên đ ất là một trong nhóm tài nguyên có đặc thù là hạn chế bởi số lượng và cố định về vị trí vì vậy ở một khía cạnh khác quy hoạch sử dụng đất lại là những chỉ tiêu khống chế để điều chỉnh các chỉ tiêu trong quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội
- Trong tương lai cần phải đặt vấn đề khai thác hợp lý nguồn tài nguyên trong đó có tài nguyên đất, bảo vệ môi trường thành tiêu chí đầu tiên khi xét duyệt các dự án quy hoạch Cần nhìn nhận vấn đề quy hoạch sử dụng đất được thực hiện đối với một đối tượng tĩnh, hạn chế bởi số lượng và có vị trí cố định, vì vậy đối với
Trang 29quy hoạch sử dụng đất căn cứ đầu tiên lập quy hoạch là phải căn cứ trên tổng dự trữ tài nguyên quốc gia, sau đó mới đến các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội và sau nữa là nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực
Về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất:
- Liên quan đến tính chất sở hữu hoặc sử dụng đối với đất đai vì sự khác biệt
ở đây chính là quyền định đoạt (định đoạt thông qua mục đích sử dụng đất, thông qua thời hạn sử dụng và thông qua mức hạn điền) Tuy nhiên sự sở hữu hay sử dụng đối với đất đai cũng chỉ mang tính chất tương đối, vì dù có sở hữu tư nhân về đất đai đi chăng nữa thì khi Nhà nước cần đất để sử dụng vào các mục đích quốc gia, lợi ích công cộng thì người dân vẫn phải chấp hành việc giao lại đất cho nhà nước
và nhận mức bồi thường theo đúng quy định
- Liên quan đến các đối tượng sử dụng đất: Theo quy định của pháp luật việc công nhận quyền sử dụng đất cho các đối tượng khác nhau như: Hộ gia đình, cá nhân, tổ chức trong nước,cá nhân, tổ chức nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài Vì vậy, các chính sách bồi thường thiệt hại cũng cần nghiên cứu cho từng đối tượng khác nhau
- Liên quan đến các mục đích sử dụng đất: Theo quy định của pháp luật Việt Nam, mỗi thửa đất chỉ được sử dụng vào một mục đích nhất định, tuy nhiên trong thực tế một số thửa đất ở những vị trí nhất định có thể sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau (để ở, kinh doanh, văn phòng, cho thuê…) và lợi nhuận thu được chính
từ lợi thế của thửa đất mang lại Vì vậy, khi tính giá trị để bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất cần tính đến vấn đề này và đây cũng là nguyên nhân gây khiếu kiện nhiều nhất trong các khiếu kiện có liên quan đến đất đai
- Theo quy định của pháp luật hiện hành, khi thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì nhà nước đứng ra thu hồi, tính giá bồi thường theo quy định của nhà nước và giao đất “sạch” cho nhà đầu tư hoặc người sử dụng đất mới Còn trong trường hợp thu hồi đất cho các mục dích như kinh doanh, thương mại, đầu tư phát triển thì nhà đầu tư có thể tự thỏa thuận với người dân theo mức giá bồi thường được thỏa thuận Điều này sẽ dẫn đến
Trang 30việc không bằng bằng nều 2 thửa đất ở cạnh nhau, của cùng một chủ sử dụng hay của 2 chủ sử dụng khác nhau sẽ có mức giá bồi thường rất khác nhau nếu được thu hồi cho các mục đích phát triển khác nhau Điều này đi ngược lại với nguyên tắc về bồi thường thiệt hại chính là việc hoàn trả lại cho người sử dụng giá trị của đất dựa trên khả năng sinh lời của thửa đất mang lại (địa tô) chứ không phụ thuộc vào vào mục đích mà thửa đất đó sẽ được sử dụng sau khi thu hồi
- Về bồi thường thực hiện theo chính sách định giá theo cơ chế thị trường nhưng đổi mới việc sử dụng đất, phân bố lại dân cư, khu công nghiệp, phát triển hạ tầng kinh tế- xã hội để có giá đất rẻ hơn, vì đất đai vùng đồng bằng hầu như đã khai thác triệt để do lịch sử dân tộc Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp, với đa số dân
cư sống dựa chủ yếu vào ruộng đất và chuyên trong lúa nước đồng thời khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên (nước, rừng, biển, v.v.), đất đai là nguồn lực, là đầu vào chủ yếu, thậm chí là quan trọng bậc nhất của nền kinh tế Theo định hướng này thì tận dụng được lợi thế đất rẽ, chi phí bồi thường thấp; tuy nhiên phải đầu tư
hạ tầng kỹ thuật đến chân tường rào vào các khu dân cư, khu đô thị, khu công nghiệp và khu du lịch dịch vụ đồng thời có chính sách ưu đãi để khuyến khích nhà đầu tư đến vùng đất mới
1.6 Kinh nghiệm quốc tế về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư
và khả năng ứng dụng vào Việt Nam
Thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa để phát triển đất nước tất yếu phải chuyển đổi một phần diện tích đất đai từ khu vực nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp Nhu cầu chuyển đổi đất đai đang tạo nên một áp lực ngày càng tăng Trong 8 năm qua, từ 2001-2008 đã có khoảng 540 nghìn ha đất nông nghiệp (dự kiến từ 2001-2010 là 618 nghìn ha) chuyển sang các mục đích phi nông nghiệp như xây dựng đường giao thông, thủy lợi, khu đô thị, khu công nghiệp , dự báo trong 10 năm tới (2011-2020), diện tích đất chuyển từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp sẽ là 750 nghìn ha
Các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những nước có tốc độ phát triển kinh tế nhanh trong vòng 30 năm trở lại đây cũng đã trải qua những vấn đề trong quản lý và
Trang 31sử dụng đất tương tự như ở Việt Nam hiện nay Kinh nghiệm về quản lý và sử dụng đất của các quốc gia trên thế giới, nhất là ở các nước cũng đã trải qua thời kỳ chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, những nước có nhiều điểm tương đồng về chế độ sở hữu, văn hóa với Việt Nam trong việc giải quyết những vấn đề trên: làm thế nào
để có thể cân bằng được giữa nhu cầu đất cho phát triển các mục đích phi nông nghiệp nhưng lại phải đảm bảo ổn định xã hội, công bằng và phát triển bền vững? Chính vì vậy, việc nghiên cứu, học tập kinh nghiệm về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của một số quốc gia, tổ chức quốc tế sẽ rất hữu ích cho Việt Nam trong việc xây dựng và thực thi chính sách pháp luật đất đai về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với người sử dụng đất có đất bị thu hồi
1.6.1 Cơ chế thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ tái định cư trên thế giới và Việt Nam
1.6.1.1 Mô hình chuyển đổi đất đai
a) Mô hình chuyển đổi đất đai ở một số quốc gia:
- Mô hình chuyển đổi đất đai ở Hàn Quốc
Mô hình ở Hàn quốc cũng có một số điểm cần nghiên cứu áp dụng vào Việt Nam Ở Hàn Quốc, Chính phủ phê duyệt quy hoạch phân bổ đất đai, quy hoạch các vùng đất để phát triển công nghiệp và đô thị, sau đó thực hiện theo cơ chế điều chỉnh lại đất đai Kinh phí đầu tư dự án và lợi ích từ dự án được tính toán trên nguyên tắc chia sẻ lợi ích với các chủ sở hữu đất đai, các chủ sở hữu có thể được nhận lại một phần đất thuộc khu vực đã chuyển đổi Tổng Công ty đất đai (quốc gia) được thành lập để thực hiện chương trình phát triển các khu đô thị (tổ chức này tương tự như Tổ chức phát triển quỹ đất ở Việt Nam)
Cơ chế này cho phép thu lại hầu hết lợi ích từ dự án đầu tư hạ tầng và tạo các
vị trí xây dựng với giá rẻ cho các công ty đầu tư xây dựng Theo Luật Phát triển đô thị (năm 1999), các nhà đầu tư tư nhân được phép đề nghị các dự án đầu tư phát triển đô thị miễn là đạt được sự đồng thuận của 2/3 ý kiến của chủ sở hữu đất đai tại khu vực Tại Việt Nam, cần xem xét việc đổi mới Tổ chức phát triển quỹ đất nhằm đổi mới cơ chế chuyển đổi đất đai bắt buộc
Trang 32- Mô hình chuyển đổi đất đai ở Nhật Bản
Luật trưng dụng đất đai của Nhật Bản ban hành năm 1951 quy định việc trưng dụng đất có bồi thường để xây dựng công trình hạ tầng trọng yếu được pháp luật cho phép, chẳng hạn đường xá, công viên, đê điều, hồ chứa nước, cảng biển Khuyến khích mọi trường hợp sử dụng đất, kể cả trường hợp thuộc diện trưng dụng đất thực hiện chuyển đổi đất đai tự nguyện qua việc giao dịch đất đai thông thường Nhà nước sẽ quay trở lại biện pháp trưng dụng đất khi giao dịch đất đai thông thường bị trở ngại và phải được người có thẩm quyền cho phép khi thấy phù hợp lợi ích công cộng và hội đủ điều kiện cần thiết
- Mô hình chuyển đổi đất đai ở Đài Loan
Theo Luật, Nhà nước trưng thu đất vì lợi ích công cộng thuộc các ngành: Quốc phòng; Giao thông; Công dụng; Thuỷ lợi; Vệ sinh công cộng và bảo vệ môi trường; Trụ sở cơ quan Chính phủ, chính quyền địa phương và các công trình công cộng khác; Giáo dục, học thuật và văn hoá; Phúc lợi xã hội; Quốc doanh; Các ngành khác theo quy định của pháp luật
Mô hình chuyển đổi đất đai tự nguyện là một cơ chế được thực hiện dựa trên
sự thỏa thuận trực tiếp giữa nhà đầu tư dự án và người đang sử dụng đất trên cơ sở thực hiện việc chuyển quyền sử dụng đất giữa các bên theo quy định của pháp luật
và phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt Ở hầu hết tất cả các nước, cơ chế này được áp dụng cho tất cả các dự án đầu tư vì mục đích lợi nhuận của nhà đầu tư
- Mô hình chuyển đổi đất đai ở Trung Quốc
Mô hình ở Trung Quốc có khá nhiều điểm giống mô hình đang triển khai trong xây dựng các khu công nghiệp ở Việt Nam Bước thứ nhất là chuẩn bị khu vực đất phù hợp với quy hoạch sử dụng đất để chuẩn bị thu hồi và giao cho nhà đầu
tư hạ tầng sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp Bước thứ hai là thu hồi đất của hợp tác xã nông nghiệp bằng quyết định hành chính của cơ quan có thẩm quyền Bước thứ ba là nhà đầu tư nhận giao đất hoặc cho thuê đất từ Nhà nước để đầu tư hạ
Trang 33tầng, sau đó chuyển nhượng hoặc cho thuê đối với các nhà đầu tư sản xuất kinh doanh
Sự khác nhau về cách làm giữa mô hình ở Trung Quốc và ở Việt Nam thể hiện ở bước thứ hai: ở Trung quốc thì đất thu hồi thuộc các hợp tác xã nông nghiệp, còn ở Việt Nam thì đất thu hồi chủ yếu thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình, cá nhân Ngoài những dự án lớn có hạ tầng chung được thực hiện như trên, ở Việt Nam Nhà nước còn giao đất, cho thuê đất trực tiếp cho từng dự án đầu tư thông qua
cơ chế lựa chọn trực tiếp nhà đầu tư hoặc đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu
dự án có sử dụng đất
Kinh nghiệm của Trung quốc có thể xem xét, học tập để ứng dụng ở Việt Nam trong việc xác định ranh giới của các trường hợp được áp dụng cơ chế chuyển đổi đất đai bắt buộc Có thể, cơ chế này chỉ nên áp dụng cho các dự án lớn đòi hỏi lựa chọn nhà đầu tư sơ cấp để xây dựng hạ tầng chung, sau đó nhà đầu tư sơ cấp sẽ cho thuê hoặc chuyển nhượng mặt bằng gắn với hạ tầng cho các nhà đầu tư thứ cấp
để trực tiếp đầu tư sản xuất hoặc dịch vụ thông qua thương thảo trực tiếp, đấu thầu hoặc đấu giá
b) Mô hình chuyển đổi đất đai ở Việt Nam
Ở Việt Nam có 2 cơ chế chuyển đổi đất đai: Chuyển đổi đất đai bắt buộc và chuyển đổi đất đai tự nguyện theo quy định của pháp luật hiện hành về đất đai
- Cơ chế chuyển đổi đất đai bắt buộc
Phạm vi áp dụng: Cơ chế này được áp dụng cho các trường hợp bao gồm: chuyển đổi đất đai để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; các dự án đầu tư bằng vốn hỗ trợ phát triển chính thức của chính phủ các nước hoặc các tổ chức quốc tế (ODA) hoặc bằng 100% vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI); các dự án đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao, phát triển khu đô thị hoặc khu dân cư nông thôn, khu du lịch, khu chăn nuôi tập trung; các dự án đầu tư phát triển kinh tế bằng vốn đầu tư trong nước hoặc vốn liên doanh với nước ngoài có mức vốn đầu tư thuộc nhóm lớn nhất (gọi là nhóm A, mức vốn của nhóm này được quy định cụ thể cho từng ngành kinh tế)
Trang 34- Cơ chế chuyển đổi đất đai tự nguyện:
Phạm vi áp dụng: Cơ chế này được áp dụng cho các dự án đầu tư kinh tế vì mục tiêu lợi nhuận có vốn đầu tư trong nước hoặc vốn liên doanh với nước ngoài với tổng vốn đầu tư thuộc nhóm dưới nhóm A
Nhận xét về điểm mạnh và điểm yếu của 2 cơ chế chuyển đổi đất đai:
Đến nay, cơ chế chuyển đổi đất đai bắt buộc đã được triển khai trong khoảng thời gian 20 năm qua; cơ chế chuyển đổi đất đai tự nguyện đã được triển khai khoảng thời gian 10 năm qua, trong đó 5 năm trước được triển khai chưa chính thức
và 5 năm sau được triển khai chính thức Từ quy định của luật pháp và quá trình thực hiện luật pháp, có thể đưa ra những điểm mạnh và điểm yếu của mỗi cơ chế trong bảng dưới đây
Bảng 2: Cơ chế chuyển đổi đất đai:
Cơ chế chuyển đổi đất đai bắt
người bị thu hồi đất thì có thể rút
ngắn thời gian thực hiện vì được sự
trợ giúp của các cơ quan lãnh đạo
địa phương
Nếu đạt được sự đồng thuận cao,thời gian thực hiện khá ngắn Bảo đảm sự chia sẻ quyền lợi thỏa đáng giữa nhà đầu tư và người đang sử dụng đất; lợi ích của Nhà nước và của cộng đồng
Giảm đi đáng kể tình trạng khiếu kiện, tạo ổn định xã hội trong quá trình phát triển kinh tế
Giảm đáng kể chi phí, nhân lực của bộ máy hành chính và khắc phục được tình trạng có thể về quan liêu, tư lợi của bộ máy hành chính
Cơ chế này phù hợp với kinh tế thị trường, buộc nhà đầu tư phải
Trang 35năng động, v
Cơ chế này loại bỏ được các nhà đầu tư đưa ra dự án nhằm mục đích chiếm đất nhưng không có năng lực tài chính để đầu tư, chờ giá đất tăng cao để chuyển nhượng cho nhà đầu
tư khác
Điểm
yếu
Thường thiếu khách quan từ
phía các cơ quan hành chính do tâm
lý muốn ưu tiên phát triển kinh tế,
hay thiên vị về phía quyền lợi của
nhà đầu tư, giải quyết không thỏa
đáng quyền lợi của người bị thu hồi
đất
Đòi hỏi sự tham gia của nhiều
cơ quan hành chính nên phải tăng
nhân lực của bộ máy hành chính và
tăng chi phí hành chính
Tính quan liêu vốn có của bộ
máy hành chính có thể gây thiệt
thòi, bất lợi cho tất cả các bên tham
gia vào các thủ tục hành chính
Cơ chế này rất gần với cơ chế
"xin - cho" của nền kinh tế bao cấp,
từ đây dễ phát sinh tham nhũng, cán
bộ quản lý dễ gắn quyền lợi riêng
của mình vào quyết định phân chia
lợi ích của các bên tham gia
Trong triển khai ở Việt Nam,
Chưa có quy định của pháp luật
để giải quyết tình trạng người đang
sử dụng đất không muốn hợp tác với nhà đầu tư, nói giá đất rất cao để nhà đầu tư không thể tiếp cận được quỹ đất Vì điểm yếu này nên hiện nay hầu hết các nhà đầu tư đều mong muốn được áp dụng cơ chế chuyển đổi đất đai bắt buộc
Trang 36chưa có sự tham gia của hệ thống
định giá bất động sản theo giá thị
trường, từ đây dễ dẫn tới tình trạng
khó giải quyết các bất đồng ý kiến
về giá đất và tài sản trên đất
Pháp luật chưa quan tâm tới lợi
ích của cộng đồng nên thường nhà
đầu tư phải tăng thêm chi phí không
chính thức để bảo đảm lợi ích của
cộng đồng
Do không giải quyết thỏa đáng
giá trị bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
nên số lượng khiếu kiện của người
bị thu hồi ngày càng tăng, gây thiếu
bền vững xã hội
1.6.1.2 Kinh nghiệm về thu hồi, bồi thường hỗ trợ và tái định cư ở một số nước
a) Kinh nghiệm thu hồi, bồi thường, hỗ trợ tái định cư của nước Úc
Ở Ôxtrâylia có các quy định pháp luật về thu hồi cưỡng chế đất cho mục đích công cộng của Chính phủ khối thịnh vượng Anh, của Chính phủ mỗi Bang, của các
cơ quan có thẩm quyền khác theo Luật định Những cơ quan có thẩm quyền nói trên
là những tổ chức đáp ứng các dịch vụ công cộng như cấp, thoát nước, cung cấp điện, giao thông, nhà ở, và các dịch vụ khác liên quan đến nhu cầu của cộng đồng Quyền cưỡng chế thu hồi đất được Chính phủ giao cho một cơ quan có thẩm quyền thực hiện bằng cách mua trên cơ sở thỏa thuận, hoặc trong trường hợp không đạt được thỏa thuận giữa các bên thì áp dụng biện pháp cưỡng chế
Các chính quyền dân chủ không chiếm đoạt tài sản của công dân một cách thông thường là không chi tiền đền bù Chính phủ Ôxtrâylia ban hành Luật tạo cơ
sở luật pháp để đền bù cho các chủ có đất bị thu hồi Nói chung, pháp luật về đền bù
Trang 37chưa thống nhất trong toàn khối Liên hiệp Anh và cả trong từng bang cụ thể Sự khác nhau thể hiện ở các vấn đề cần được xem xét để xác định số tiền đề bù Điều này phụ thuộc vào các quy định luật pháp cụ thể ở các Đạo luật được áp dụng Vì vậy, điều quan trọng là các Nhà định giá đền bù phải nắm vững các quy định pháp luật liên quan đến đối tượng bị thu hồi cưỡng chế
Trừ một số ngoại lệ, các Đạo luật của Khối liên hiệp Anh của bang ít hay nhiều đều thống nhất quy định về đền bù trong trường hợp thu hồi cưỡng chế đất, nhưng cần nhấn mạnh thêm rằng Nhà định giá cần phải nghiên cứu và hiểu tình hình cụ thể ở nơi có đất bị thu hồi, Giá đền bù quy định riêng cho chủ nhà/đất trừ những trường hợp đặc biệt, các chủ đất bị thu hồi phải được đặt vào điều kiện tài chính ngang bằng với trước đây khi đất chưa bị thu hồi Chủ đất này được quyền nhận giá đất cũ của mình Giá này không bao gồm phần tăng giá do đã có hoặc sẽ
có các công trình công cộng
b) Kinh nghiệm thu hồi, bồi thường, hỗ trợ tái định cư của nước Cannada
Tại Canada, cũng như phần lớn các nước phát triển, Chính phủ nỗ lực rất nhiều để thu mua đất bằng cách đàm phán với chủ sở hữu đất Họ tham vấn ngay từ ban đầu trong quá trình thu mua, thậm chí kể cả tại những nơi mà luật pháp không bắt buộc làm điều này Thủ tục thu hồi quyền sở hữu không bắt đầu nếu rõ ràng có những chủ sở hữu đất không đồng ý (Không đặt bất kỳ thời hạn nào cho đến khi sự thu hồi quyền sở hữu chính thức bắt đầu) Chính phủ tiếp nhận quyền sở hữu đất ngay từ lúc đầu của quá trình, kể cả tại những nơi vẫn đang tranh chấp về số tiền bồi thường Chính phủ phải đề nghị bồi thường do các nhà thẩm định tính toán (thường
là thẩm định viên chính phủ, nhưng đôi khi có thể thuê ngoài), và người chủ sở hữu đất chấp nhận đề nghị này, nhận tiền mặt mà không từ bỏ yêu cầu bồi thường cao hơn, tuy nhiên cũng trong lúc này, Chính phủ tiếp nhận được quyền sở hữu đất và
có thể ban hành một thông báo thu hồi tài sản hợp pháp Quy trình này chỉ thích hợp cho những nơi mà quy định về luật pháp và quản trị tốt là mạnh, chi phí mà chủ sở hữu phải trả cho luật sư và thẩm định viên sẽ được bồi thường, và có một thị trường nhà đất tích cực và có đủ tiền bồi thường để mua đất/nhà thay thế
Trang 38Chính phủ liên bang và từng bang của Canada đều có luật thu hồi quyền sở hữu riêng biệt, nhìn chung khá thống nhất trên toàn Quốc gia
c) Kinh nghiệm thu hồi, bồi thường, hỗ trợ tái định cư của nước Mỹ
Tòa án tối cao năm 2005 dùng từ “sử dụng công” một cách rộng rãi, cho phép thu hồi quyền sở hữu với mục đích duy nhất là tăng doanh thu thuế Điều này cho phép tài sản được chuyển nhượng cho các nhà phát triển tư nhân 27 bang của
Mỹ đã phản ứng lại quyết định của Tòa án tối cao bằng cách thay đổi luật của bang
họ là hạn chế thu hồi quyền sở hữu cho mục đích tái phát triển Ví dụ ở bang Minnesota, “sử dụng công” ám chỉ “giảm thiểu khu vực hoang phế” hoặc giảm các tài sản bị bỏ hoang Đây có thể bao trùm một khu vực của một thành phố mà trong
đó các tòa nhà bị bỏ hoang hoặc bị dột nát nghiêm trọng
Tòa án có vai trò trung tâm trong hệ thống tại Mỹ Cơ quan có thẩm quyền thu hồi quyền sở hữu phải nộp hồ sơ xin phép lên tòa, trong đó có quyết định việc thu hồi quyền sở hữu là hợp pháp và chỉ định các ủy viên để xác định bồi thường Tại Mỹ, bồi thường cho những tổn thất kinh doanh là khá hạn chế, trong phần lớn trường hợp cơ quan thu hồi quyền sở hữu sẽ không thanh toán các khoản chi phí liên quan đến pháp luật và thẩm định của người chủ sở hữu
Thể chế luật pháp của các nước Canada, Mỹ, Úc đưa ra một vài tham khảo rất tốt về vấn đề quản trị, quy trình thủ tục, quản lý và nguyên tắc của bồi thường Tại những quốc gia này, không có điều khoản đối xử đặc biệt nào cho những người
có hoàn cảnh khó khăn hay cho sự phát triển khu thay thế, khu nhà ở Một số nguyên nhân của việc này là Thu hồi quyền sở hữu hiếm khi được sử dụng với mục đích tái phát triển các khu dân cư Quyền sở hữu và chiếm dụng đất rất rõ ràng, không có việc chiếm dụng đất không chính thức Hiếm có việc xây dựng và sử dụng đất bất hợp pháp, ngay cả bởi những người nghèo, điều này không được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận Những người bị ảnh hưởng nhận thức rõ và đầy đủ quyền của họ, ngòai ra họ rất dễ dàng tiếp cận các luật sư Đất thay thế thường có sẵn trên thị trường, do đó những người bị ảnh hưởng thấy thỏa mãn với số tiền bồi trường và chi phí tái di dời
Trang 39Đức là nước đi tiên phong trong việc thực hiện hợp nhất đất và tái điều chỉnh vào đầu thế kỷ 20, điều này đã được áp dụng thành công tại Nhật Bản, Hàn Quốc và một số nước khác Về vấn đề này, hệ thông pháp luật của Hàn Quốc là ví dụ tốt cho Việt Nam Hàn Quốc là nước giầu kinh nghiệm trong việc phát triển chiều sâu và tái phát triển các khu đô thị thuộc sở hữu của nhiều người, bao gồm các vấn đề như xây dựng cơ sở hạ tầng, tái quy hoạch các khu nhà, bồi thường cho người bị ảnh hưởng
và di dời khi cần thiết Có một điều quan trọng cần lưu ý đó là bắt buộc phải có sự nhất trí cao của các chủ sở hữu trước khi thu hồi quyền sở hữu được ủy quyền thực hiện – 95% trong trường hợp tái phát triển
d) Kinh nghiệm thu hồi, bồi thường, hỗ trợ tái định cư của nước Hàn Quốc
Luật thu hồi đất và bồi thường là bộ luật chung quy định các nguyên tắc và thủ tục thu hồi đất (tự nguyện và không tự nguyện), bồi thường và tái định cư Nó được áp dụng cho mọi trường hợp, trừ khi có điều khoản đặc biệt nào nằm trong đạo luật khác Các nguyên tắc thực hiện chi tiết hơn sẽ được quy định trong Quyết Định của Tổng thống
Luật phát triển đô thị quy định các dự án phát triển đô thị sẽ thực hiện bằng cách tái cơ cấu đất, thu hồi quyền sở hữu hoặc kết hợp cả hai Trong khuôn khổ Luật phát triển đô thị, nếu một dự án tư nhân phục vụ lợi ích cộng đồng, chủ dự án
có thể được cho quyền thu hồi quyền sở hữu nếu họ sở hữu hơn 2/3 mảnh đất hoặc được sự đồng ý của 2/3 các chủ đất khác Đối với các dự án tái phát triển, ngưỡng là 95% Các quy định của Luật thu hồi đất và bồi thường và các thủ tục sẽ áp dụng cho loại thu hồi quyền sở hữu này
Toàn bộ chi phí thu hồi đất và tái định cư, bao gồm bồi thường, di dời, phục hồi sinh kế (nếu có) sẽ thuộc chi phí của dự án Chủ dự án phải trả trước những khoản trên Chi phí của việc thu hồi và tái định cư sẽ được thu hồi khi bán đất đã phát triển
Hệ thống pháp luật của Hàn Quốc là ví dụ hữu ích cho Việt Nam bởi đây là khung pháp lý được thiết kế chuyên cho tái phát triển khu đô thị mà đã thực thi thành công trong rất nhiều năm Hiệu quả của nó được minh chứng với thực tế hơn
Trang 40500 km2 đã phát triển bằng cách điều chỉnh và thu hồi quyền sở hữu trên 60 năm, bất chất ngưỡng thỏa thuận do người chủ sở hữu yêu cầu là tương đối cao
Có một vài đặc điểm của hệ thống pháp luật Hàn Quốc đáng để cân nhắc và
áp dụng vào thực tiễn của Việt Nam Quyền lợi của người bị ảnh hưởng được nêu một cách toàn diện Thủ tục tham vấn và đàm phán với người bị ảnh hưởng kỹ Cơ chế khiếu nại là một minh chứng thưc tiễn tốt nhất
Thể chế luật pháp của Hàn Quốc về cơ bản tuân theo chính sách an ninh tái định cư không tự nguyện của ADB, có một ngoại trừ quan trọng, liên quan tới Việt Nam ADB nhấn mạnh xem xét ưu tiên đối với nhóm những người dễ bị tổn thương, ví dụ người nghèo và những người không có quyền sở hữu đất chính thức
Ở Hàn Quốc không có bất kỳ ghi nhận đặc biệt nào trong quy trình của kế hoạch thu hồi đất và tái định cư Họ coi trách nhiệm là của các cơ quan phúc lợi xã hội của chính phủ Điều này chỉ có hiệu quả/thích hợp tại quốc gia nào có mạng lưới an ninh xã hội mạnh
Một điểm yếu khác nữa đó là việc tham vấn được tập trung vào kế hoạch thu hồi đất và tái định cư trong khi quy hoạch phát triển đô thị được thực hiện theo các
dự án không phải đối tượng cần tham vấn với những người bị ảnh hưởng Đây cũng
là trường hợp giống Việt Nam
1.7 Khả năng ứng dụng các kinh nghiệm quốc tế vào Việt Nam
Từ 30 năm nay, Ngân hàng Thế giới và các Ngân hàng Phát triển khu vực đã tập trung sự quan tâm vào cơ chế bồi thường, tái định cư đối với trường hợp chuyển đổi đất đai không tự nguyện sang sử dụng để thực hiện tới các dự án đầu tư thủy điện và phát triển hạ tầng đô thị, trước hết cho các dự án được đầu tư bằng vốn của các Ngân hàng này Sau năm 1990, các Ngân hàng Phát triển khu vực đã tập trung vào chính sách cho tái định cư không tự nguyện như Ngân hàng Phát triển Liên Mỹ (Inter-American Development Bank - IDB) đưa ra chính sách vào năm 1993, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và Ngân hàng Phát triển Châu Phi (AfDB) đưa ra chính sách vào 1995 Ngân hàng Phát triển Châu Á đã cho xuất bản Sổ tay Tái định
cư vào năm 1998