1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính Thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân tại ủy ban nhân dân quận Long Biên – thành phố Hà Nội

125 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế nhận thấy vấn đề thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong công tác tiếp dân tại UBND quận Long Biên thành phố Hà Nội còn nhiều khiếm khuyết và yếu kém, dẫn đến tình trạng c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN NHẤT LONG

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ VĂN HÓA GIAO TIẾP TRONG TIẾP CÔNG DÂN TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

HÀ NỘI – NĂM 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN NHẤT LONG

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ VĂN HÓA GIAO TIẾP TRONG TIẾP CÔNG DÂN TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số : 60 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS LƯU KIẾM THANH

HÀ NỘI - NĂM 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài nghiên cứu “Thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân tại ủy ban nhân dân quận Long Biên - Thành phố Hà Nội” là luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Luật hiến pháp và Luật hành chính của tôi tại trường Học viện Hành chính Quốc gia

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả

Nguyễn Nhất Long

Trang 4

MỤC LỤC

Mở Đầu 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp mới của luận văn 7

7 Kết cấu của luận văn 7

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ VĂN HÓA GIAO TIẾP TRONG TIẾP CÔNG DÂN…… 8

1.1 Các vấn đề chung của pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân 8

1.1.1 Pháp luật về tiếp công dân 8

1.1.2 Những vấn đề cơ bản về văn hóa giao tiếp, ứng xử 13

1.1.3 Pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân 19

1.2 Thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân 29

1.2.1 Khái niệm thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân 29

1.2.2 Nội dung và hình thức thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân 34

1.3 Các yếu tố đảm bảo việc thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân 40

1.3.1 Yếu tố đảm bảo về chính trị 40

1.3.2 Yếu tố đảm bảo về pháp lý 41

1.3.3 Yếu tố đảm bảo về kinh tế 42

1.3.4 Yếu tố đảm bảo về văn hóa – xã hội 43

Trang 5

1.3.5 Ý thức pháp luật của cán bộ công chức 45

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ VĂN HÓA GIAO TIẾP TRONG TIẾP CÔNG DÂN TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI 47

2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội 47

2.1.1 Lịch sử hình thành và đặc điểu tự nhiên 47

2.1.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa – Xã hội 48

2.1.3 Tổ chức bộ máy và đội cũ cán bộ công chức làm công tác tiếp dân

50 2.2 Thực trạng pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tếp công dân và đánh giá tình hình thực hiện pháp luât về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân trên địa bàn quận Long Biên 50

2.2.1 Thực trạng pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tếp công dân 50

2.2.2 Đánh giá tình hình thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân 56

2.3 Nguyên nhân kết quả đạt được và tồn tại hạn chế đến hiệu quả thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân ở quận Long Biên Thành phố Hà Nội 77

2.3.1 Nguyên nhân kết quả đạt được 77

2.3.2 Nguyên nhân của tổn tại hạn chế 79

2.3.3 Một số bài học kinh ngiệm rút ra 82

Chương 3 QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ VĂN HÓA GIAO TIẾP TRONG TIẾP CÔNG DÂN TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI 85

3.1 Các quan điểm thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân 85

Trang 6

3.1.1 Kế thừa văn hóa giao tiếp của Hồ Chí Minh và cụ thể hóa các nghị quyết của Đảng về thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân 85 3.1.2 Thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân phải thực hiện đồng bộ điều kiện đảm bảo các nguyên tắc trong thực hiện pháp luật……… 88

3.2 Giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân tại ủy ban nhân dân quận Long Biên - Thành phố Hà Nội 90 3.2.1 Các nhóm giải pháp chung 91 3.2.2 Các nhóm giải pháp cụ thể tại ủy ban nhân dân quận Long Biên 97

KẾT LUẬN 107 TÀI LIỆU THAM KHẢO 108 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU

TRANG

Bảng số 2.1 Ý kiến đánh giá của người dân về cán bộ làm công

tác tiếp dân tại ủy ban nhân dân quận Long Biên 65

Bảng số 2.2 Ý kiến của công dân đánh giá về thái độ phục vụ

của cán bộ công chức làm công tác tiếp dân đối 72

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thời gian gần đây có rất nhiều vụ việc xảy được báo đài, các phương tiện thông tin truyền thông nhắc đến liên quan đến hành vi, thái độ ứng xử của cán bộ công chức Từ việc cán bộ Thanh tra giao thông đánh nhân viên sân bay đến việc cán bộ sở ngoại vụ đánh cụ già 76 tuổi cho đến cán bộ kiểm lâm đạp nhân viên thu phí BOT Và gần đây nhất là sự việc đáng buồn tại ủy ban nhân dân(UBND) phường Văn Miếu thành phố Hà Nội khi công dân cho rằng cán bộ tiếp dân tại bộ phận một cửa “Hành dân” khi làm khai tử Tất cả các sự việc trên đều cho thấy hành vi, thái độ ứng xử của cán bộ công chức(CBCC) đang rất xấu xí trong mắt nhân dân Không nên vội vàng kết luận cách hành

xử của cán bộ công chức đang ở mức báo động vì xét cho cùng đại bộ phận cán bộ công chức không có cách hành xử như vậy Tuy nhiên đối với công chúng chỉ cần một vụ việc dưới chuẩn của cán bộ công chức được đưa lên phương tiện truyền thông hay mạng xã hội thì niềm tin của người dân đối với một hình ảnh của người cán bộ sẽ bị sói mòn nghiêm trọng Một con sâu làm rầu nồi canh một cán bộ hành xử thiếu chuẩn làm cho 400.000 cán bộ đảng viên của Hà Nội mang tiếng Bí thư thành ủy Hà Nội đã khẳng định đây là việc rất đáng buồn của thủ đô Việc cần làm của bộ máy nhà nước không phải che giấu hình ảnh đó đi mà ngược lại cần nhìn thẳng vào nó để xử lý

Ngày 25/01/2017, UBND thành phố Hà Nội đã ban hành quyết định số 522/QĐ-UBND về việc ban hành quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan thuộc thành phố Hà Nội Chưa khi nào mà mọi cử chỉ hành vi, mọi lời nói của một CBCC dù trong hay ngoài giờ làm việc lại bị xã hội giám sát chặt chẽ như là bây giờ, người dân có rất nhiều công cụ để giám sát năng lực và đạo đức của cán bộ công chức Buộc cán bộ

Trang 10

công chức phải nghiêm túc, nhận thức đứng đắn trong việc giao tiếp, ứng xử với nhân dân, tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân

Đặc biệt UBND quận Long biên là cơ quan hành chính nhà nước cấp

cơ sở, nơi mà gần nhân dân nhất, thường xuyên tiếp xúc với người dân Cụ thể là bộ phận tiếp dân của UBND quận Long Biên là nơi luôn sẵn sàng tiếp đón để giải quyết khó khăn vướng mắc của người dân, lắng nghe ý tâm tư nguyện vọng của người dân Thì nơi đó kỷ cương hành chính càng phải được thắt chặt, văn hóa ứng xử và giao tiếp của cán bộ công chức phải chuẩn Tuy nhiên theo báo cáo gần nhất năm 2017 tại UBND quận Long Biên tổng số buổi tiếp công dân thường xuyên là : 1352 buổi tiếp dân, tổng số lượt người đến khiếu nại, tổ cáo, kiến nghị, phản ánh là 1832, có tỷ lệ tiếp dân cao so với các quận toàn thành phố và theo phản ánh của nhân dân có một bộ phân không nhỏ CBCC quận Long Biên làm công tác tiếp dân còn những hạn chế

về giao tiếp ứng xử, còn biểu hiện của sự hách dịch, cửa quyền, gây khó dễ vô cảm với nhân dân

Thực tế nhận thấy vấn đề thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong công tác tiếp dân tại UBND quận Long Biên thành phố Hà Nội còn nhiều khiếm khuyết và yếu kém, dẫn đến tình trạng chất lượng và hiệu quả trong công tác tiếp dân còn thấp, trong khi bộ quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan hành chính nhà nước vừa mới được ban hành mà thực trạng vấn đề này đối với một địa phương như quận Long Biên lại chưa có những nghiên cứu, đánh giá một cách bài bản, khoa học, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để tổng kết, rút kinh nghiệm, cũng như đề ra phương hướng, giải pháp nhằm đảm bảo việc áp dụng quy tắc ứng

xử cũng như thực hiện pháp luật về văn hóa ứng xử của cán bộ công chức trong công tác tiếp dân

Trang 11

Do đó tôi đã chọn đề tài nghiên cứu “Thực hiện pháp luật về văn hóa

giao tiếp trong tiếp công dân tại ủy ban nhân dân quận Long Biên – Thành phố Hà Nội” là đề tài luận văn thạc sĩ Luật hiến pháp và luật hành

chính

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Vấn đề văn hóa giao tiếp hành chính nói chung và thực hiện pháp luật

về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân nói riêng có rất nhiều vấn đề đặt ra cần quan tâm, giải quyết Vì vậy đã giành được sự quan tâm của rất nhiều các nhà nghiên cứu Hiện nay, dưới những góc độ khác nhau đã có nhiều công trình nghiên cứu, các luận án, luận văn, bài báo tạp chí đề cập đến văn hóa giao tiếp và thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong thời gian qua được chia ra làm hai nhóm chính:

Thứ nhất: Quan điển, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước về pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân

Trong những năm gần đây, Chính phủ, các bộ, ngành và nhiều địa phương đã ban hành nhiều văn bản quy định về giao tiếp, ứng xử của CBCC

trong tiếp công dân như: Hiến pháp năm 2013 của nước CHXNCN Việt Nam;

Luật Tiếp công dân năm 2013; Luật Cán bộ công chức năm 2008; Luật giải quyết khiếu nại tố cáo 2011;Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày 02/8/2007

của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan

hành chính nhà nước; Quyết định số 1860/2007/QĐ-TTCP-TCCB về giao tiếp, ứng xử của cán bộ với nhân dân đến khiếu nại tố cáo phù với nhiệm vụ được giao; Thông tư số 07/2011/TT-TTCP ngày 28/7/2011 của Thanh tra

Chính phủ hướng dẫn quy trình tiếp công dân và gần đây nhất là Quyết định

số 522/QĐ-UBND ngày 25/01/2017 của UBND thành phố Hà Nội ban hành

bộ quy tắc ứng xử của CBCC, VC, NLĐ trong cơ quan thuộc thành phố Hà Nội

Trang 12

Thứ hai: một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, đề tài khoa học, các sách chuyên khảo trên tiêu biểu liên quan đến vấn đề về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân

Trịnh Thanh Hà (2010) Xây dựng văn hóa ứng xử công vụ của công

chức trong cơ quan nhà nước hiện nay, Luận án tiến sĩ quản lý hành chính

công, Học viện hành chính

Hoàng Ngọc Dũng (2006) Kỹ năng của cán bộ công chức hành chính

khi giải quyết khiếu nại của công dân, Tạp chí quản lý nhà nước, số 129

Lưu Kiếm Thanh (2009), Ngôn ngữ - phương tiện giao tiếp công vụ,

Tạp chí Quản lý nhà nước, số 161

Lê Thị Trúc Anh (2012) Văn hóa giao tiếp trong công sở hành chính,

Luận án tiến sĩ văn hóa học, Đại học khoa học xã hội và nhân văn

Nguyễn Văn Bính (2003), Giao tiếp và ứng xử với tư cách là thành tố

của văn hóa trong hoạt động doanh nghiệp thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Luận án tiến sĩ

Vũ Gia Hiền (2009), Văn hóa giao tiếp trong quản lý hành chính công,

NXB Lao động, thành phố Hồ Chí Minh

Vũ Thị Mai Hạnh (2016) Văn hóa ứng xử trong hoạt động công vụ của

công chức xã huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, Luật văn thạc sĩ Quản lý công

Học viện hành chính

Bùi Thị Hòa (2015) Văn hóa giao tiếp với nhân dân của cán bộ, công

chức UBND cấp xã trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình Luật

văn thạc sĩ Quản lý công Học viện hành chính

Lê Thị Thùy Dung (2015) Văn hóa ứng xử của cán bộ, công chức làm

công tác tiếp công dân trên địa bàn quận, thành phố Hà Nội, Luật văn thạc sĩ

Quản lý công, Học viện hành chính

Trang 13

Tổng quan lại, có thể thấy những công trình nghiên cứu trên đây đã góp phần làm sáng tỏ về lý luận và thực tiễn của vấn đề trên nhiều phương diện Các kết quả nghiên cứu trên có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân ở nước ta hiện nay

Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu cụ thể về vấn đề thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân ở địa phương một cách cập nhật nhất và ở một địa bàn cụ thể: quận Long Biên, thành phố Hà Nội (tính đến thời điểm hiện nay) Luận văn sẽ kế thừa những thành quả của các nghiên cứu trên, làm cơ sở lý luận để giải quyết những yêu cầu đặt ra của

đề tài khi nghiên cứu thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân tại UBND quận Long Biên - thành phố Hà Nội

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích: Từ cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân Luận văn khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân ở quận Long Biên thành phố Hà Nội thời gian qua, đề xuất một số giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân ở quận Long Biên thành phố Hà Nội thời gian tới

Nhiệm vụ: Để thực hiện mục đích trên luận văn có nhiệm vụ

Làm rõ cơ sở lý luận của việc thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân quận Long Biên thành phố Hà Nội (một số khái niệm cơ bản, nội dung, hình thức thực hiên,các yếu đảm bảo việc thực hiện pháp luật

về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân)

Khảo sát đánh giá những thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân; tìm ra nguyên nhân rút ra bài học trong việc tiếp công dân

Đề xuất các giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp

Trang 14

trong tiếp công dân quận Long Biên thành phố Hà Nội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu hệ thống văn bản qui phạm pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân, vấn đề thực hiện pháp luật về về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân hiện nay, đặc biệt luận văn tập trung vào nghiên cứu hoạt động thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân tại UBND quận Long Biên – thành phố Hà Nội

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về thời gian: Luận văn nghiên cứu tình hình thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân tại UBND quận Long Biên thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay (2015 đến nay)

- Phạm vi về không gian: tại UBND quận Long Biên thành phố Hà Nội

- Phạm vi về đối tượng: cán bộ, công chức làm công tác tiếp dân tại UBND quận Long Biên thành phố Hà Nội

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước về pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Bám sát thực trạng, điều kiện tự nhiên, xã hội ở quận Long Biên - thành phố Hà Nội, phương pháp phân tích và tổng hợp, thống kê, so sánh điều tra tình hình thực tiễn để đánh giá đúng thực trạng, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp với điều kiện của quận Long Biên, thực hiện mục tiêu đặt ra của đề tài

Trang 15

6 Đóng góp mới của luận văn

Luận văn góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân

Luận văn bước đầu đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân trong những năm qua trên địa bàn quận Long Biên thành phố Hà Nội

Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân trong thời gian tới Hướng tới giải pháp chung trong công tác thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân trên cả nước

Kết quả nghiên cứu luận văn đạt được có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy; nâng cao hiệu quả trong công tác lãnh đạo, quản

lý các hoạt động thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của Luận văn gồm 3 Chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận của thực hiện pháp luật về văn hóa

giao tiếp trong tiếp công dân

Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong

tiếp công dân trên địa bàn quận Long Biên – thành phố Hà Nội

Chương 3: Quan điểm, giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về văn

hóa giao tiếp trong tiếp công dân tại Ủy ban nhân dân quận Long Biên – thành

phố Hà Nội

Trang 16

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

VỀ VĂN HÓA GIAO TIẾP TRONG TIẾP CÔNG DÂN 1.1 Các vấn đề chung của pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân

1.1.1 Pháp luật về tiếp công dân

Tại Đại hội lần thứ XII, Đảng ta chỉ rõ: “Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống

xã hội Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích cuộc sống của nhân dân” [20, tr.38]

“Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” không chỉ là khẩu hiệu dân vận hoặc phương châm thực hiện chủ trương, đường lối mà phải trở thành một định chế và quyền làm chủ của nhân dân trong quản lý nhà nước ta đã đưa đất nước ta phát triển ổn định, đạt được những thành tựu to lớn, các dân tộc đoàn kết hướng tới xây dựng một xã hội dân giàu nước mạnh, công bằng, dân chủ văn minh

Trong thời kỳ đổi mới, ngay từ Đại hội lần thứ VI của Đảng (năm 1986), Đảng ta đã nhấn mạnh chủ trương phát huy dân chủ để tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển đất nước: “ trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “Lấy dân làm gốc” xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động” [21 ,tr.362] Một trong những nhiệm vụ “Lấy dân làm gốc” là các tổ chức đảng, chính quyền và các đoàn thể phải tiếp công dân

để nắm bắt tâm tư nguyện vọng ý kiến của nhân dân

Tiếp công dân là công tác quan trọng trong các hoạt động của Đảng, Nhà nước và các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta Thông qua việc tiếp công dân, Nhà nước và các cơ quan, tổ chức tiếp nhận được các

Trang 17

khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của nhân dân liên quan đến việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật để có các biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời Làm tốt công tác tiếp công dân là thể hiện bản chất nhà nước của dân, do dân và vì dân, tăng cường mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và nhà nước Mặt khác, thông qua công tác tiếp công dân giúp cho Đảng và nhà nước tiếp nhận được những thông tin phản hồi từ thực tế, những vấn đề nảy sinh từ cuộc sống, từ đó đề ra những chủ trương, quyết sách đúng đắn, hợp lòng dân

Tiếp công dân là sự tiếp xúc giữa cán bộ, công chức đại diện cho cơ quan hành chính nhà nước với tổ chức và công dân Tiếp công dân với nghĩa khái quát là quá trình giao tiếp giữa cơ quan hành chính nhà nước với các cơ quan, tổ chức, cá nhân Hoạt động này là quá trình tiếp xúc, lắng nghe của người thừa hành công vụ với các cơ quan, tổ chức, cá nhân khi giải quyết công việc theo thẩm quyền và theo chức năng, nhiệm vụ; là quá trình tiếp nhận thông tin phản hồi của quản lý nhà nước

Trước khi có Luật Tiếp công dân năm 2013, các văn bản pháp luật của nước ta chưa có văn bản nào quy định thế nào là “Tiếp công dân” mà chỉ có các khái niệm về trụ sở tiếp công dân, địa điểm tiếp công dân, trách nhiệm của cán bộ tiếp công dân được quy định tại Chương 5 (từ Điều 59 đến Điều 62) Luật Khiếu nại năm 2011; tại Chương 5 (từ Điều 21 đến Điều 31) Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại; Thông tư số 07/2011/TT-TTCP ngày 28/7/2011 của Thanh tra Chính phủ hướng dẫn quy trình tiếp công dân

a, Khái niệm tiếp công dân

Luật Tiếp công dân năm 2013 (có hiệu lực thi hành từ ngày 07/01/2014) quy định về khái niệm tiếp công dân tại khoản 1 Điều 2 như sau:

“Tiếp công dân là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân quy định tại Điều 4

Trang 18

của Luật này tiếp đón để lắng nghe, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân; giải thích, hướng dẫn cho công dân về việc thực hiện khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo đúng quy định của pháp luật Tiếp công dân bao gồm tiếp công dân thường xuyên, tiếp công dân định kỳ và tiếp công dân đột xuất”

b, Nơi tiếp công dân

Luật Khiếu nại năm 2011 không quy định khái niệm “Nơi tiếp công dân” mà chỉ quy định về trụ sở tiếp công dân và địa điểm tiếp công dân tại Điều 59 và được quy định chi tiết tại các điều từ Điều 21 đến Điều 26 Nghị định số 75/2012/NĐ-CP Theo đó, có thể “Ngầm” hiểu nơi tiếp công dân bao gồm: Trụ sở tiếp công dân của Trung ương Đảng và Nhà nước, trụ sở tiếp công dân của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Văn phòng Ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân dân cấp huyện, trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã

Theo quy định tại khoản 3 Điều 2 Luật Tiếp công dân năm 2013 thì nơi tiếp công dân bao gồm trụ sở tiếp công dân, địa điểm tiếp công dân hoặc nơi làm việc khác do cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm tiếp công dân bố trí

và phải được thông báo công khai hoặc thông báo trước cho người được tiếp

c, Trụ sở tiếp công dân:

Luật Tiếp công dân năm 2013 tại Điều 10 quy định, trụ sở tiếp công dân là nơi để công dân trực tiếp đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh với lãnh đạo Đảng, nhà nước ở trung ương hoặc lãnh đạo Đảng, chính quyền ở địa phương; có đại diện của một số cơ quan, tổ chức tại trung ương hoặc địa phương tham gia tiếp công dân thường xuyên và là nơi để lãnh đạo Đảng, nhà nước hoặc địa phương trực tiếp tiếp công dân trong những trường hợp cần thiết Theo đó, trụ sở tiếp công dân bao gồm:

- Trụ sở tiếp công dân ở trung ương được đặt tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, là nơi tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản

Trang 19

ánh với các cơ quan trung ương của Đảng, chủ tịch nước, các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ Ban tiếp công dân trung ương thuộc thanh tra Chính phủ, chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý các trụ sở tiếp công dân ở trung ương Văn phòng Chính phủ, Ban dân nguyện thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội cử đại diện phối hợp cùng Ban tiếp công dân trung ương thực hiện việc tiếp công dân thường xuyên tại trụ sở tiếp công dân ở trung ương (Điều 11 Luật Tiếp công dân năm 2013)

- Trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh được tổ chức ở mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, là nơi tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh với Tỉnh ủy, Thành ủy (sau đây gọi chung là Tỉnh ủy), Đoàn Đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Ban tiếp công dân cấp tỉnh

do Ủy ban nhân dân tỉnh thành lập, trực thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, do một Phó Chánh Văn phòng phụ trách, chịu trách nhiệm quản lý Trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh (Điều 12 Luật Tiếp công dân năm 2013)

- Trụ sở tiếp công dân cấp huyện được thành lập ở mỗi huyện, quận, thị

xã, thành phố thuộc tỉnh, là nơi tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh với Huyện ủy, Quận ủy, Thị ủy, Thành ủy (sau đây gọi chung là Huyện ủy), Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện Ban tiếp công dân cấp huyện do Ủy ban nhân dân cấp huyện thành lập, trực thuộc Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện, do một Phó chánh văn phòng phụ trách, chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý Trụ sở tiếp công dân

cấp huyện (Điều 13 Luật Tiếp công dân năm 2013) Đây là điểm mới của

Luật Tiếp công dân năm 2013 mà Luật Khiếu nại trước đây không quy định

rõ cụ thể về trụ sở tiếp công dân của từng cấp hành chính

d, Trách nhiệm của chủ tịch UBND cấp huyện trong việc tiếp công dân

Theo khoản 5 của Luật Tiếp công dân năm 2013 quy định Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trực tiếp tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân cấp

Trang 20

huyện ít nhất 02 ngày trong 01 tháng và thực hiện việc tiếp công dân đột xuất

trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 18 của Luật Tiếp công dân

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành nội quy tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân cấp huyện Bố trí địa điểm thuận lợi cho việc tiếp công dân; bảo đảm cơ sở vật chất phục vụ việc tiếp công dân; Phân công cán

bộ, công chức làm công tác tiếp công dân thường xuyên; Phối hợp chặt chẽ với cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan tiếp công dân và xử lý vụ việc nhiều người cùng khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về một nội dung; Có trách nhiệm bảo đảm an toàn, trật tự cho hoạt động tiếp công dân

Hiện nay, Chính phủ vẫn đang trong giai đoạn dự thảo văn bản hướng dẫn quy định chi tiết nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của các ban tiếp công dân; việc bố trí cơ sở vật chất của trụ sở tiếp công dân; quy chế phối hợp hoạt động tiếp công dân tại trụ sở tiếp công dân theo quy định tại khoản 5 Điều 10 và Điều 36 Luật Tiếp công dân năm 2013

e, Trách nhiệm của cán bộ tiếp công dân (Điều 8 Luật Tiếp công dân năm 2013)

- Khi tiếp công dân, người tiếp công dân phải bảo đảm trang phục chỉnh

tề, có đeo thẻ công chức, viên chức hoặc phù hiệu theo quy định;

- Yêu cầu người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh nêu rõ họ tên, địa chỉ hoặc xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy ủy quyền (nếu có); có đơn hoặc trình bày rõ ràng nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho việc tiếp nhận, thụ lý vụ việc;

- Có thái độ đúng mực, tôn trọng công dân, lắng nghe, tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh hoặc ghi chép đầy đủ, chính xác nội dung mà người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trình bày;

- Giải thích, hướng dẫn cho người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh chấp hành chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, kết luận,

Trang 21

quyết định giải quyết đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan có thẩm quyền; hướng dẫn người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đến đúng cơ quan hoặc người có thẩm quyền giải quyết;

- Trực tiếp xử lý hoặc phân loại, chuyển đơn, trình người có thẩm quyền xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; thông báo kết quả xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh cho công dân;

- Yêu cầu người vi phạm nội quy nơi tiếp công dân chấm dứt hành vi vi phạm; trong trường hợp cần thiết, lập biên bản về việc vi phạm và yêu cầu cơ quan chức năng xử lý theo quy định của pháp luật

1.1.2 Những vấn đề cơ bản về văn hóa giao tiếp, ứng xử

1.1.2.1 Một số khái niệm cơ bản về giao tiếp, ứng xử, văn hóa

a, Khái niệm về văn hóa

Trải qua các bước thăng trầm của lịch sử, loài người đã chứng kiến sự thay đổi, thích ứng của xã hội với từng giai đoạn phát triển Mỗi giai đoạn có những đặc điểm nhất định, đánh dấu bước ngoặt quan trọng của xã hội, đó vừa là thành quả của một thời kỳ, đồng thời cũng ghi nhận những bước tiến mới của nhân loại Theo đó, sự xuất hiện và phát triển của xã hội loài người cùng xuất hiện với văn hóa Song, để hiểu một cách chính xác khái niệm về văn hóa thì chưa hẳn đã thống nhất

Thuật ngữ văn hóa được dùng khá phổ biến trong đời sống, song việc hiểu về nó thì mỗi nhà nghiên cứu, mỗi cá nhân lại có cách hiểu không hoàn toàn giống nhau Xung quanh khái niệm văn hóa có rất nhiều quan điểm khác nhau.Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả trình độ phát triển vật chất và tinh thần; hiểu theo nội dung bao gồm cả khoa học, kỹ thuật, giáo dục và văn hóa văn nghệ Văn hóa được đặt trong phạm vi nếp sống, đạo đức xã hội Văn hóa là sự hiểu biết nhằm định hưởng cho sự phát triển theo cải đúng, cái tốt,

Trang 22

cái đẹp Văn hóa là một trong những bộ phận quan trọng cho sự phát triển lâu bền nhiều mặt của một dân tộc

Theo đại từ điển tiếng việt của trung tâm ngôn ngữ và Văn hóa Việt nam – Bộ giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý (1988) thì “Văn Hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra trong quá trình lịch sử” [53,tr.120]

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, ở, mặc và phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [28 ,tr.431]

Theo GS.VS.TSKH Trần Ngọc Thêm trong tác phẩm Nhận diện văn hóa thì : “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ của các giá trị vật chất và tinh thần

do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [48]

Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội

và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin [51]

Mặc dù “Văn hóa” được tiếp cận từ nhiều khía cạnh khác nhau, song các quan niệm về văn hóa nêu trên đều có những điểm chung cơ bản sau:

- Văn hóa là sản phẩm hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần và vật chất không ngừng tăng lên của con người

Trang 23

- Văn hóa là tất cả những gì trong hệ thống hữu cơ, các giá trị tinh thần, vật chất do con người sáng tạo ra làm cho tình người càng phát triển cao hơn Nội dung bản chất của văn hóa là sự phát triển bản thân con người với tư cách

là con người xã hội, sự phát triển trong những năng lực sáng tạo, những quan

hệ nhu cầu, những đáp ứng thỏa mãn chỉ có ở người và chỉ có thể biểu hiện qua quá trình giao tiếp ứng xử giữa người với người và với thế giới tự nhiên

Từ các định nghĩa đã nêu trên, để xác định một khái niệm văn hóa cho riêng mình nhằm thuận tiện cho việc thu thập và phân tích dữ liệu khi nghiên cứu Theo quan điểm cá nhân tôi cho rằng: “Văn hóa là sản phẩm của con người tạo ra trong quá trình lao động (từ lao động trí óc đến lao động chân tay), được chi phối bởi môi trường, xã hội, tính cách của từng tộc người và có đặc trưng riêng”

b, Khái niệm về giao tiếp

Giao tiếp là hoạt động có từ khi loài người hình thành và gắn liền với

sự tồn tại của loài người Nó được xem như một phương tiện thiết lập các mối quan hệ, trao đổi thông tin…Trên thế giới và Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về giao tiếp trên nhiều khía cạnh khác nhau Nguồn gốc khởi thuỷ của giao tiếp đã được C Mác nhận xét là từ hoạt động lao động Từ hoạt động lao động, một hình thức cơ bản của giao tiếp, đã tạo ra các quan hệ xã hội khác, kể cả các quan hệ văn hoá

Giữa thế kỷ 19, trong “Bản thảo kinh tế triết học 1844”, C Mác viết:

“Giao tiếp thường xuyên trực tiếp với những người khác đã trở thành khí quan biểu hiện sinh hoạt của tôi và là một trong những phương thức chiếm hữu sinh hoạt của con người” [ 9 ]

Theo GS Bùi Tiến Quý cũng định nghĩa: “Giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin để nhận biết và tác động lẫn nhau trong quan hệ giữa người với người để đạt được mục đích nhất định”[39]

Trang 24

Theo “Từ điển Tâm lý học” của Vũ Dũng: “Giao tiếp là quá trình thiết lập và phát triển tiếp xúc giữa cá nhân, xuất phát từ nhu cầu phối hợp hành động Giao tiếp bao gồm hàng loạt các yếu tố như trao đổi thông tin, xây dựng chiến lược hoạt động thống nhất, tri giác và tìm hiểu người khác Giao tiếp có

ba khía cạnh chính: Giao lưu, tác động tương hỗ và tri giác” [18 , tr.47]

Theo “Tâm lý học đại cương” của Trần Thị Minh Đức cho rằng: “Giao tiếp là quá trình tiếp xúc giữa con người với con người nhằm mục đích nhận thức, thông qua sự trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, sự ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau” [23, tr.34]

Mặc dù “Giao tiếp ” được tiếp cận từ nhiều khía cạnh khác nhau, song các quan niệm về giao tiếp nêu trên đều có những điểm chung cơ bản Do đó

ta có thể định nghĩa: “Giao tiếp là quá trình tiếp xúc tâm lý giữa những con người nhất định trong xã hội có tính mục đích và mang tính hệ thống chuẩn mực về hành vi, ngôn ngữ nhằm trao đổi thông tin, tình cảm, hiểu biết, vốn sống, tạo nên những ảnh hưởng, tác động qua lại để con người đánh giá, điều chỉnh và phối hợp với nhau”

c, Khái niệm về ứng xử

Ứng xử là từ ghép gồm “Ứng” và “Xử”, “Ứng” là ứng đối, ứng phó

“Xử là xử thế, xử lý, xử sự” Ứng xử là phản ứng của con người đối với các

sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định Ứng xử là phản ứng có lựa chọn tính toán, là cách nói năng tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người nhằm đạt kết quả cao nhất trong giao tiếp

Trong bản thảo kinh tế triết học năm 1844, C Mác đã viết: “Bất cứ quan hệ nào của con người đối với bản thân mình đều chỉ được thực hiện, thể hiện trong quan hệ của con người đối với người khác” Trong trường hợp này

Trang 25

nói về bản chất xã hội của hành vi thì người ta dùng từ “Xử”, như “Đối nhân

xử thế”, “Phép cư xử” [ 8 ]

Tác giả Lê Thị Bừng trong cuốn tâm lý học ứng xử, đã nêu nên khái niệm về ứng xử như sau: “Ứng xử là sự phản ứng của con người đối với sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định Nó thể hiện ở chỗ con người không chủ động trong giao tiếp mà chủ động trong

sự phản ứng có lựa chọn, có tính toán, thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng tuỳ thuộc vào tri thức, kinh nghiệm của mỗi người nhằm đạt được kết quả giao tiếp cao nhất” [6, tr.12]

Trên góc độ một nhà nghiên cứu về văn hoá, tác giả Trần Thuý Anh định nghĩa: “Ứng xử là triết lý sống của một cộng đồng người, là quan niệm sống, quan niệm lí giải cuộc sống Nó cũng trở thành lối sống, nếp sống, lối hành động của cộng đồng người đó Bởi vậy, nó quy định các mối quan hệ giữa con người với con người Đó là tính xã hội nhân văn của các quan hệ” [2]

Từ các cách hiểu và khái niệm trên ta có thể định nghĩa “Ứng xử là những phản ứng hành vi của con người nảy sinh trong quá trình giao tiếp, do những rung cảm cá nhân kích thích nhằm truyền đạt, lĩnh hội những tri thức, kinh nghiệm và vốn sống của cá nhân, xã hội trong những tình huống nhất định”

1.1.2.2 Văn hóa giao tiếp, ứng xử

Giao tiếp ứng xử nói chung là một trong những đặc trưng quan trọng nhất trong đời sống con người Nó không chỉ là điều kiện quan trọng của sự hình thành và phát triển tâm lý, ý thức, nhân cách mà còn đảm bảo cho con người đạt được năng suất, chất lượng và hiệu quả trong mọi lĩnh vực hoạt động Giao tiếp diễn ra trong môi trường văn hóa, trong những nền văn hóa nhất định Bất cứ cá nhân, dân tộc nào thông qua mối quan hệ giao tiếp cũng

Trang 26

phản ánh trình độ văn hóa giao tiếp nói chung và văn hóa giao tiếp của dân tộc mình, xã hội mình nói riêng

Theo nghĩa chung nhất, nói đến văn hóa giao tiếp là nói đến vẻ đẹp và tính hiệu quả trong quan hệ của con người với con người, thể hiện các giá trị chuẩn mực được xã hội thừa nhận và được biểu hiện cụ thể qua văn hóa ứng

xử, trong thái độ, hành vi, cách nói năng

Văn hóa giao tiếp của một dân tộc, một quốc gia hay một xã hội là hệ thống những nguyên tắc, chuẩn mực văn hóa, đạo đức được biểu hiện tập trung ở lối sống, phong tục, tập quán và truyền thống văn hóa chung của dân tộc, quốc gia hay xã hội đó Văn hóa giao tiếp là hạt nhân để tạo dựng nền nếp, lối sống chuẩn mực cho mỗi cá nhân, mỗi nhóm người nhất định trong xã hội Văn hóa giao tiếp mang trong mình những giá trị văn hóa, đạo đức và thẩm mỹ phù hợp với bản sắc của mỗi dân tộc, là sự kết tinh giữa nét truyền thống và các giá trị hiện đại mang tính nhân loại

Ứng xử là một biểu hiện của giao tiếp, là sự phản ứng của con người trước những tác động của người khác với mình trong một tình huống nhất định Nó được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng nhằm đạt kết quả mong muốn trong mối quan hệ giữa con người với nhau Các hành vi ứng xử văn hóa của mỗi cá nhân là khác nhau Chúng được hình thành quan quá trình học tập, rèn luyện và trưởng thành của mỗi cá nhân trong xã hội Hành vi ứng xử văn hóa được coi là phản ánh giá trị văn hóa, đạo đức, thẩm

mỹ của mỗi cá nhân và được thể hiện thông qua thái độ, cử chỉ, lời nói của cá nhân đó

Cũng nằm trong nội hàm văn hóa, văn hóa ứng xử là một vấn đề mới Văn hóa ứng xử có thể được hiểu là những chuẩn mực trong cách xử thế của con người với nhau cũng như cách xử thế của con người với môi trường mà

họ đang tồn tại Cách xử thế chính là những hiểu biết về các phong tục, tục lệ

Trang 27

của đời sống xã hội Một người có cách xử thế đúng đắn (được giáo dục, hướng dẫn) khi giao tiếp với xã hội phải tuân theo những chuẩn mực nhất định, hành động theo một số quy ước và yêu cầu đã được mọi người coi là thích hợp nhất Văn hóa ứng xử là thói quen của từng cộng đồng, từng địa phương được hình thành từ thế hệ này sang thế hệ khác

Tóm lại văn hóa giao tiếp là “Một bộ phận trong tổng thể nền văn hóa nhằm chỉ vẻ đẹp và tính hiệu quả trong quan hệ của con người với con người, thể hiện các giá trị chuẩn mực được xã hội thừa nhận và được biểu hiện cụ thể qua văn hóa ứng xử, trong thái độ, hành vi, cách nói năng ”

1.1.3 Pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân

1.1.3.1 Khái niệm Pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã để lại cho chúng ta bài học quý giá: “Dân là gốc” Thực tế cho thấy mọi vấn đề liên quan đến vận mệnh của đất nước đều do dân quyết định.Trong điều kiện cải cách hành chính, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, việc tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo càng quan trọng Đây là yếu

tố góp phần bảo đảm pháp chế và dân chủ pháp quyền được Hiến định

Tiếp công dân là thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước, xã hội của công dân Thông qua việc tiếp dân các chủ trương, chính sách của Đảng

và Nhà nước được giải thích, giải trình, được phản biện và hoàn thiện, giúp tăng cường khả năng thông đạt giữa chủ thể sáng tạo, duy trì và chủ thể thực hiện chính sách, để cho quá trình thực thi đạt hiệu quả cao trong thực tiễn đời sống xã hội

Trong quá trình thực thi công vụ, cán bộ, công chức (CBCC) thường xuyên phải giao tiếp, ứng xử với các mối quan hệ nội bộ (cấp trên, cấp dưới, đồng nghiệp) và với nhân dân hoặc người đại diện cho các cơ quan, tổ chức khác (gọi chung là công dân) Hoạt động giao tiếp, ứng xử công vụ đòi hỏi

Trang 28

CBCC khi giải quyết công việc phải đứng ở vị trí là cán bộ nhà nước, thay mặt nhà nước để giao tiếp với công dân Nói cách khác, khi thực thi công vụ, CBCC phải giao tiếp, ứng xử theo vị trí chức danh mà mình đang đảm nhiệm, phải thể hiện thái độ ứng xử của nhà nước với công dân chứ không phải và không chỉ là thái độ ứng xử của cá nhân họ Vì vậy, hoạt động giao tiếp, ứng

xử của CBCC khi thực thi công vụ cần có những chuẩn mực chung

Nhận thức được vấn đề trên, trong những năm gần đây, Chính phủ, các

bộ, ngành và nhiều địa phương đã ban hành nhiều văn bản quy định về giao tiếp, ứng xử của CBCC trong tiếp công dân tại Hiến pháp năm 2013 của nước CHXNCN Việt Nam, Luật Tiếp công dân năm 2013, Luật cán bộ công chức năm 2008 ngoài ra 1 số văn bản quy phạm pháp luật như:

- Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày 02/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước quy định cụ thể về: Trang phục, giao tiếp và ứng xử của cán bộ công chức, viên chức quy định tại:

1 Lễ phục của nam cán bộ, công chức, viên chức: bộ comple, áo sơ

mi, cravat

Trang 29

2 Lễ phục của nữ cán bộ, công chức, viên chức: áo dài truyền thống,

bộ comple nữ

3 Đối với cán bộ, công chức, viên chức là người dân tộc thiểu số, trang phục ngày hội dân tộc cũng coi là lễ phục

+ Điều 7 Thẻ cán bộ, công chức, viên chức

1 Cán bộ, công chức, viên chức phải đeo thẻ khi thực hiện nhiệm vụ

2 Thẻ cán bộ, công chức, viên chức phải có tên cơ quan, ảnh, họ và tên, chức danh, số hiệu của cán bộ, công chức, viên chức

3 Bộ Nội vụ hướng dẫn thống nhất mẫu thẻ và cách đeo thẻ đối với cán

bộ, công chức, viên chức

+ Điều 8 Giao tiếp và ứng xử

Cán bộ, công chức, viên chức khi thi hành nhiệm vụ phải thực hiện các quy định về những việc phải làm và những việc không được làm theo quy định của pháp luật

Trong giao tiếp và ứng xử, cán bộ, công chức, viên chức phải có thái độ lịch sự, tôn trọng Ngôn ngữ giao tiếp phải rõ ràng, mạch lạc; không nói tục, nói tiếng lóng, quát nạt

+ Điều 9 Giao tiếp và ứng xử với nhân dân

Trong giao tiếp và ứng xử với nhân dân, cán bộ, công chức, viên chức phải nhã nhặn, lắng nghe ý kiến, giải thích, hướng dẫn rõ ràng, cụ thể về các quy định liên quan đến giải quyết công việc

- Quyết định số 1860/2007/QĐ-TTCP-TCCB về giao tiếp, ứng xử của cán bộ với nhân dân đến khiếu nại tố cáo phù với nhiệm vụ được giao quy định tại :

+ Điều 1 Ứng xử trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ

1 Phải tuân thủ và gương mẫu thực hiện đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không ngừng học tập, tu

Trang 30

dưỡng và rèn luyện để nâng cao năng lực, phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, ứng xử có văn hóa để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

2 Thực hiện chức trách, nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức bao gồm những việc phải làm và không được làm theo quy định của Bộ Luật lao động, Pháp lệnh cán bộ công chức, Luật thanh tra, Luật khiếu nại, tố cáo, Luật phòng, chống tham nhũng và các văn bản pháp luật khác có liên quan

+ Điều 3 Ứng xử trong tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo

1 Những việc cán bộ thanh tra phải làm:

b) Ứng xử có văn hóa, lắng nghe, tôn trọng khi tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo; hướng dẫn, giúp người khiếu nại, tố cáo hiểu và thực hiện đúng quy định của pháp luật;

c) Khi thẩm tra, xác minh, kết luận, kiến nghị phải thận trọng, khách quan;

d) Nếu phát hiện hành vi vi phạm pháp luật có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân thì báo cáo với

cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để áp dụng biện pháp ngăn chặn kịp thời

a) Quán triệt quan điểm, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thực hiện nhiệm vụ tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo được quy định trong Luật khiếu nại, tố cáo, Quy chế tiếp công dân và các văn bản pháp luật khác có liên quan;

2 Những việc cán bộ thanh tra không được làm:

a) Sách nhiễu, trì hoãn, chậm trễ, gây khó khăn, phiền hà cho người khiếu nại, người tố cáo

Trang 31

b) Làm sai lệch hồ sơ, kết quả giải quyết vụ việc khiếu nại, tố cáo; truy

ép hoặc gợi ý cho người khiếu nại, người tố cáo trình bày sự việc theo ý muốn chủ quan của mình;

c) Cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; tiết lộ họ tên, địa chỉ, bút tích hoặc các thông tin về người tố cáo

- Thông tư số 07/2011/TT-TTCP ngày 28/7/2011 của Thanh tra Chính phủ hướng dẫn quy trình tiếp công dân quy định tại:

+ Điều 4 Trang phục, thái độ, trách nhiệm của người tiếp công dân

1 Khi tiếp công dân, trang phục của người tiếp công dân phải chỉnh tề,

có đeo thẻ, dán ảnh, ghi rõ cơ quan, họ tên, chức danh, số hiệu theo quy định

2 Người tiếp công dân phải có thái độ đúng mực, tôn trọng nhân dân; lắng nghe công dân trình bày đầy đủ nội dung sự việc và giải thích, hướng dẫn công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo theo đúng quy định của pháp luật

3 Trường hợp công dân đến nơi tiếp công dân trong tình trạng say rượu, tâm thần hoặc có hành vi vi phạm nội quy tiếp công dân thì người tiếp công dân từ chối không tiếp, yêu cầu họ chấm dứt hành vi vi phạm; nếu cần thiết lập biên bản về việc vi phạm và yêu cầu cơ quan chức năng xử lý theo quy định của pháp luật

- Quyết định số 522/QĐ-UBND của UBND thành phố Hà Nội ban hành bộ quy tắc ứng xử của CBCC, VC, NLĐ trong cơ quan thuộc thành phố

Hà Nội quy định tại :

Trang 32

3 Giữ gìn đoàn kết nội bộ, xây dựng môi trường làm việc dân chủ, kỷ cương; có tinh thần cầu thị, lắng nghe; cộng tác, giúp đỡ đồng nghiệp hoàn thành tốt nhiệm vụ

4 Trung thực, thẳng thắn, khách quan trong báo cáo, đề xuất, tham gia đóng góp ý kiến với cấp trên

5 Không phát tán, tung tin, bịa đặt, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác

6 Không tự ý phát ngôn, cung cấp thông tin, tài liệu không đúng thẩm quyền

7 Không lạm dụng, không có hành vi quấy rối người khác dưới mọi hình thức (lời nói, hành động, cử chỉ, tin nhắn )

8 Không tham gia, tổ chức, lôi kéo người khác đánh bạc, chơi họ, hụi,

lô, đề và các tệ nạn xã hội khác dưới mọi hình thức

9 Không quảng cáo, vận động, mời gọi đồng nghiệp và công dân mua, bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ có tính chất kinh doanh trong giờ làm việc

Điều 7 Ứng xử với nhân dân Tại cơ quan làm việc

1 Giải quyết yêu cầu, công việc của người dân đúng quy định, quy trình

2 Giao tiếp, làm việc với người dân bằng thái độ niềm nở, tận tình, trách nhiệm; ưu tiên hỗ trợ giải quyết công việc với người già, yếu, người khuyết tật, phụ nữ mang thai, người đau ốm

3 Không sách nhiễu; gợi ý đưa tiền, nhận tiền, quà biếu; không hẹn gặp giải quyết công việc bên ngoài cơ quan và ngoài giờ làm việc

4 Không gây căng thẳng, bức xúc, dọa nạt người dân

5 Nghiêm túc nhận lỗi, nhận khuyết điểm, thành khẩn tự phê bình, rút kinh nghiệm khi để xảy ra sai sót

Trang 33

Tất cả các quy định tại văn bản quy phạm pháp luật trên là cơ sở pháp

lý cơ bản để CBCC phải nghiêm túc, nhận thức đứng đắn trong việc giao tiếp, ứng xử với nhân dân và là căn cứ pháp lý để nhân dân giám sát năng lực và đạo đức của CBCC trong quá trình tiếp công dân cũng như thực thi công vụ

Pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ về giao tiếp ứng xử trong tiếp công dân Có thể hiểu pháp luật là công cụ hữu hiệu trong hoạt động quản lý nhà nước Vai trò điều chỉnh đó chủ yếu được thể hiện thông qua việc Nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật cụ thể nhằm điều chỉnh các hành vi, ứng xử, giao tiếp của CBCC, xây dựng một hành lang pháp lý, chuẩn mực những hành vi, thái độ ứng xử, ngôn ngữ giao tiếp đối với công dân Buộc CBCC phải chấp hành, thực hiện hướng đến xây dựng nét đẹp văn hóa trong giao tiếp ứng xử của CBCC trong tiếp công dân

Để hình ảnh người công chức thật chuẩn mực và gần gũi với nhân dân

Những quy định pháp luật trên đã tạo thành một hệ thống văn bản chứa đựng khá đầy đủ những quy phạm pháp luật điều chỉnh những hành vi có liên quan đến văn hóa giao tiếp, ứng xử trong công tác tiếp dân trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Tuy nhiên, trên thực tế vấn đề giao tiếp, ứng xử của CBCC vẫn đang là chủ đề được dư luận quan tâm, bởi lẽ, dù

đã có nhiều quy định, nhưng dường như vấn đề giao tiếp, ứng xử trong hoạt động công vụ ở Việt Nam vẫn chưa có được sự chuẩn mực như mong muốn

Từ đó có thể khái quát: Pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân là “Hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh những hành vi, thái độ ứng xử, ngôn ngữ giao tiếp của CBCC trong quá trình tiếp công dân, là cơ sở để xây dựng nền nếp, phong cách, chuẩn mực giao tiếp cho CBCC hướng tới nét đẹp văn hóa về giao tiếp ứng xử trong tiếp công dân”

Trang 34

1.1.3.2 Vai trò của pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân

- Thứ nhất : Pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân có vai

trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả tham gia quản lý nhà nước của công dân, củng cố mối quan hệ, lòng tin giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước

+ Điều 2 Hiến pháp 2013 quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức”; “Quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân” (Điều 28);

“Quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân; nghĩa vụ của cán

bộ, nhân viên nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân (Điều 30)” [27] Thể chế hóa quan điểm trên, nhiều văn bản pháp luật đã quy định những quyền năng

cụ thể của nhân dân, trong đó có quyền tham gia vào quản lý nhà nước Thông qua hình thức tiếp công dân và áp dụng pháp luật pháp luật về văn hóa giao tiếp, công dân gián tiếp giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước

+ Việc tiếp công dân là thể hiện trách nhiệm của cơ quan nhà nước đối với nhân dân Làm tròn trách nhiệm này là sự tôn trọng nhân dân, tận tuỵ phục vụ nhân dân của cơ quan nhà nước Thông qua tiếp công dân CBCC tôn trọng, lắng nghe và tiếp thu ý kiến đóng góp của công dân, cơ quan nhà nước

có được thông tin làm căn cứ để sửa đổi, bổ sung kịp thời các quyết định, hành vi hành chính sai phạm, cải tiến và đổi mới hoạt động, làm cho hoạt động của các cơ quan đó đúng chính sách, pháp luật, phù hợp với các quyền, lợi ích của công dân

+ Cũng thông qua đó Nhà nước thấy được năng lực, trình độ và phẩm chất đội ngũ cán bộ, công chức trong quá trình tiếp công dân để có hình thức động viên khen thưởng kịp thời các CBCC có thành tích, đồng thời xử lý

Trang 35

nghiêm những hành vi sai lệch, còn những hạn chế về văn hóa ứng xử, còn biểu hiện của sự hách dịch, cửa quyền, gây khó dễ vô cảm với nhân dân của CBCC góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, làm cho mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng, nhà nước ngày càng gắn bó bền chặt

- Thứ hai: Pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân có vai trò

quan trọng trong việc định hướng cho CBCC các chuẩn mực về giao tiếp ứng

xử với công dân

+ Văn hóa giao tiếp ứng xử với công dân, tổ chức của CBCC đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng niềm tin của nhân dân vào chính quyền Nếu như năng lực của đội ngũ này quyết định hiệu quả hoạt động quản

lý nhà nước thì thái độ, văn hóa ứng xử của CBCC lại ảnh hưởng quan trọng đến mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp đối với chất lượng phục vụ của các cơ quan, đơn vị

+ Nhận thức được vấn đề trên, trong những năm gần đây, Chính phủ, các bộ, ngành và nhiều địa phương đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định về giao tiếp, ứng xử của CBCC Hầu hết được ban hành dưới hình thức Quy chế văn hóa công sở hoặc Quy tắc giao tiếp, ứng xử , quy định những vấn đề cơ bản như: Những việc CBCC phải làm và không được làm

và các chuẩn mực hành vi giao tiếp, ứng xử của CBCC khi tiếp công dân (bao gồm thái độ, tác phong, cử chỉ, hành vi, ngôn ngữ và trang phục) Ví dụ: Tại khoản 1 và khoản 2 Điều 8, Quy chế văn hóa công sở của Bộ Giáo dục và đào tạo năm 2012 quy định về chuẩn mực ứng xử của CBCC khi thi hành nhiệm

vụ, công vụ: “Ứng xử có văn hóa, nhã nhặn, lắng nghe, tôn trọng ý kiến của công dân khi giải quyết công việc, hướng dẫn, giải thích rõ ràng, tận tình, cụ thể về các quy định để công dân hiểu và chấp hành nghiêm các quy định của

Trang 36

pháp luật; không sách nhiễu, trì hoãn, chậm trễ, gây khó khăn, phiền hà, tỏ thái độ hách dịch khi giải quyết công việc với công dân”

+ Có thể thấy mọi quy tắc, quy chế đều hướng tới sự chuẩn hóa về giao tiếp ứng xử của CBCC trong tiếp công dân Hướng đến xây dựng các tiêu chí

“Xây” (trách nhiệm, chuyên nghiệp, trung thực, kỷ cương, gương mẫu) và

“Chống” (quan liêu, tiêu cực, hình thức) đã được đưa ra để tạo chuẩn mực cho CBCC về cả năng lực và đạo đức trong thực thi công vụ Buộc CBCC phải nghiêm túc thực hiện nhằm “Tạo chuyển biến thực sự trong giao tiếp ứng xử của cán bộ”

+ Ngoài ra cần xây dựng và siết chặt các quy định, chế tài xử lý để tăng tính răn đe, ngăn chặn các hành vi, thái độ tiêu cực của CBCC việc xử lý nghiêm khắc đối với các công chức, viên chức chưa thực hiện đúng văn hóa giao tiếp ứng xử với tổ chức, cá nhân góp phần đáng kể trong việc răn đe, ngăn ngừa, hạn chế các biểu hiện tiêu cực

- Thứ ba: pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân có vai trò

quan trọng trong việc xây dựng đội ngũ CBCC “Kỷ cương - Trách nhiệm - Tận tình - Thân Thiện”

+ Cán bộ công chức, viên chức là những người được Nhà nước tuyển chọn, bổ nhiệm khi đạt được tiêu chuẩn về trình độ lẫn đạo đức, được giao phó những vị trí, những công vụ để duy trì, vận hành và thúc đẩy phát triển của xã hội và phần lớn CBCC đều được đứng trong hàng ngũ của Đảng Chính vì vậy cũng đòi hỏi những đội ngũ này có một sự ứng xử chuẩn mực cao hơn rất nhiều so với những người bình thường Ngoài ứng xử của một công dân bình thường thì những CBCC còn chịu sự điều chỉnh của những văn bản quy phạm pháp luật như: Luật Cán bộ, công chức, Luật viên chức Khi hoạt động trong một cơ quan thì còn phải tuân theo nội quy, quy định của cơ quan

Trang 37

+ Việc nâng cao nhận thức và giáo dục văn hóa ứng xử, lối sống thượng tôn pháp luật cho đội ngũ CBCC cần phải được đặc biệt chú trọng, bởi

lẽ, nó góp phần xây dựng được một Chính phủ, một nhà nước kiến tạo Muốn

có một xã hội văn minh thì trước tiên chúng ta cần có đội ngũ những người CBCC văn minh, ứng xử đúng theo những chuẩn mực đề ra Các cơ quan chủ quản của CBCC cần phải phát hiện ra những hành vi của CBCC có ứng xử không phù hợp để chỉnh nắn, giáo dục Kiên quyết xử lý và loại ra khỏi hàng ngũ những CBCC chậm sửa chữa, khắc phục khuyết điểm Người dân cần phát huy hơn nữa những quyền hiến định của công dân, của cử tri trong việc giám sát thực thi công vụ của CBCC Kịp thời phản ánh, không ngại đấu tranh trước những ứng xử thiếu chuẩn mực của CBCC tới cơ quan có thẩm quyền nhằm hướng tới xây dựng xây dựng đội ngũ CBCC “Kỷ cương - Trách nhiệm - Tận tình - Thân Thiện”

1.2 Thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân

1.2.1 Khái niệm thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân

1.2.1.1 Khái niệm chung về thực hiện pháp luật

Pháp luật là công cụ quan trọng để nhà nước quản lý xã hội, song pháp luật chỉ phát huy được vai trò và những giá trị của mình trong việc duy trì và tạo điều kiện cho xã hội phát triển khi pháp luật được tôn trọng và thực hiện trong đời sống xã hội

Thực hiện pháp luật là một hiện tượng xã hội mang tính pháp lý Quá trình hoạt động thực hiện pháp luật được diễn ra đồng thời và tiếp nối với quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật của nhà nước Mục đích của việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật chỉ có thể đạt được khi các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành được các tổ chức và cá nhân trong xã hội thực hiện một cách chính xác đầy đủ Do vậy, vấn đề không phải xây và ban hành nhiều

Trang 38

văn bản luật là sẽ đảm bảo hiệu quả mà điều quan trọng là phải thực hiện pháp luật làm cho những yêu cầu, quy định của pháp luật thực hiện trong đời sống xã hội Như vậy, thực hiện pháp luật là yêu cầu khách quan của cả xã hội, nhà nước và từng cá nhân, tổ chức

Thực hiện pháp luật là một hiện tượng pháp luật đa dạng và phong phú,

vì vậy việc làm sáng tỏ nội hàm của nó có ý nghĩa quan trọng cả lý luận và thực tiễn Trong khoa học pháp lý có nhiều quan niệm, nhận thức và cách giải thích khác nhau về thực hiện pháp luật, tác giả xin được đề cập một số các quan điểm về thực hiện pháp luật như sau:

- Theo quan niệm của Mác – Lênin: “Thực hiện pháp luật là quá trình tiếp tục ý chí của nhà nước thể hiện trong pháp luật, thực hiện pháp luật là một mắt xích quan trọng của pháp chế xã hội chủ nghĩa” [52, tr.230]

- Theo giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật: “Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động thưc tế của các chủ thể pháp luật” [31 ,tr.270]

- Theo từ điển luật học: “Thực hiện pháp luật là hành vi của chủ thể ( hành động hoặc không) được tiến hành phù hợp với quy định, với yêu cầu pháp luật, tức là không trái, không quá khôn khổ mà pháp luật đã quy đinh

Bên cạnh những quan điểm chính thống về thực hiện pháp luật nêu trên, có một số nhà khóa học pháp lý đương đại tiếp cận về thực hiện pháp luật và đưa ra các luận giải về thực hiện pháp luật khá phong phú đơn cử như tác giả Hoàng Thị Kim Quế cho rằng: “Thực hiện pháp luật là vấn đề rộng lớn, phức tạp với sự tham gia của nhiều chủ thể: cá nhân, tổ chức khác nhau nhằm đưa pháp luật vào đời sống thực tiễn, là quá trình hiện thực hóa các quy định pháp luật, nguyên tắc pháp luật vào các trường hợp cụ thể Thực hiện pháp luật không chỉ là những hành vi (hành động hay không hành động) đơn

Trang 39

lẻ, tức thời của cá nhân mà còn là một quá trình bao gồm nhiều hoạt động khác nhau của các cá nhân, tổ chức”

Tóm lại, trong tất cả các quan điểm, cách tiếp cận về thực hiện pháp luật nêu trên đều có những cách hiểu, cách luận giải khá phong phú về thực hiện pháp luật, tuy nhiên đều có điểm chung cho rằng thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy đinh của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của chủ thể pháp luật theo mục tiêu quản lý của nhà nước

Như vậy, thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm

cho những quy định của pháp luật trở thành thực hiện trong cuộc sống, tạo ra

cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của chủ thể pháp luật theo mục tiêu quản

lý của nhà nước

1.2.1.2 Khái niệm thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân

Nhà nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân,

do dân và vì dân, ở đó công chức nhà nước là “Công bộc” của dân Pháp luật

do nhà nước ban hành nhằm đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân và có vai trò điều chỉnh hành vi CBCC trong giao tiếp, ứng xử trong hoạt động công vụ

và phục vụ nhân dân Song mục đích đó có đạt được hay không, pháp luật có triển khai thực hiện trong thực tế cuộc sống hay không phụ thuộc vào hiệu quả thực hiện pháp luật của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật về văn hóa giao tiếp ứng xử

Dưới góc độ của khoa học pháp lý thì thực hiện pháp luật là hành vi phù hợp với các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi của chuẩn mực pháp luật, mang lại

và đáp ứng lợi ích xã hội, của nhà nước và công dân Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế của các chủ thể pháp luật

Trang 40

Thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp ứng xử trong tiếp công dân là thực hiện pháp luật trên lĩnh vực cụ thể, do đó, khái niệm về thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp ứng xử trong tiếp công dân cũng có đầy đủ các nội dung cơ bản của thực hiện pháp luật nói chung, đồng thời phải nêu được những phương hướng, mục tiêu cụ thể của Đảng, nhà nước trong xây dựng pháp luật về văn hóa giao tiếp ứng xử trong tiếp công dân Như vậy, Trên cơ

sở luận giải, phân tích khái niệm về văn hóa giao tiếp, pháp luật về văn hóa giao tiếp ứng xử trong tiếp công dân và phân tích khái niệm về thực hiện pháp luật, ta có thể rút ra được khái niệm thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp ứng xử trong tiếp công dân được hiểu như sau:

Thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân là hoạt động, quá trình có mục đích làm cho các quy phạm pháp luật về giao tiếp ứng xử trong tiếp công dân đi vào cuộc sống thực tiễn nhằm điều chỉnh những hành vi, thái độ ứng xử, ngôn ngữ giao tiếp của CBCC trong quá trình tiếp công dân, là cơ sở để xây dựng nền nếp, phong cách, chuẩn mực giao tiếp cho CBCC hướng tới nét đẹp văn hóa về giao tiếp ứng xử trong tiếp công dân

1.2.1.3 Vai trò của việc thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân

- Thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp phục vụ nhân dân, sẵn sàng lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, những thông tin phản hồi, các kiến nghị, góp ý của nhân dân đáp ứng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Một nhà nước vững mạnh và thực sự là của dân, do dân và vì dân

- Thực hiện pháp luật về văn hóa giao tiếp trong tiếp công dân nhằm bảo đảm tính trang nghiêm và hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính

Ngày đăng: 17/04/2021, 16:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Thị Trúc Anh (2012) Văn hóa giao tiếp trong công sở hành chính, Luận án tiến sĩ văn hóa học, Đại học khoa học xã hội và nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa giao tiếp trong công sở hành chính
2. Trần Thúy Anh (2004), Ứng xử văn hóa trong du lịch, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng xử văn hóa trong du lịch
Tác giả: Trần Thúy Anh
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
3. Báo cáo chính trị của ban chấp hành trung ương đảng khóa X tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của ban chấp hành trung ương đảng khóa X
6. Lê Thị Bừng (1998) Tâm lý học ứng xử, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học ứng xử
Nhà XB: Nxb Giáo dục
7. Nguyễn Văn Bính (2003), Giao tiếp và ứng xử với tư cách là thành tố của văn hóa trong hoạt động doanh nghiệp thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Luận án tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp và ứng xử với tư cách là thành tố của văn hóa trong hoạt động doanh nghiệp thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Nguyễn Văn Bính
Năm: 2003
8. C.Mác, Ph.Ăng-ghen, toàn tập(1993), tập 6 Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mác, Ph.Ăng-ghen, toàn tập(1993)
Tác giả: C.Mác, Ph.Ăng-ghen, toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1993
9. C. Mác và Ph. Ăng-ghen. Toàn tập(2000), tập 42. Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C. Mác và Ph. Ăng-ghen. Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăng-ghen. Toàn tập
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự Thật
Năm: 2000
10. Chính phủ (2007), Quyết định số 1860/2007/QĐ-TTCP-TCCB về giaotiếp, ứng xử của cán bộ với nhân dân đến khiếu nại tố cáo phù với nhiệm vụ được giao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1860/2007/QĐ-TTCP-TCCB" về
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
15. Chỉ thị số 15-CT/TU của Thành ủy Hà Nội ngày 16/12/2016 về “Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng với công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn thành phố Hà Nội” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng với công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn thành phố Hà Nội
16. Th.S Lê Kim Dung – Th.s Lê Ngọc Đức - ThS Lê Ngọc Hân – Lg Lê ThịQuỳnh (2014) Giáo trình Pháp luật Đại Cương, NXBLao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Pháp luật Đại Cương
Nhà XB: NXBLao động xã hội
17. Lê Thị Thùy Dung (2015) Văn hóa ứng xử của cán bộ, công chức làm công tác tiếp công dân trên địa bàn quận, thành phố Hà Nội, Luật văn thạc sĩ Quản lý công, Học viện hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa ứng xử của cán bộ, công chức làm công tác tiếp công dân trên địa bàn quận, thành phố Hà Nội
18. Vũ Dũng (2000), Từ điển tâm lý học, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tâm lý học
Tác giả: Vũ Dũng
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2000
19. Hoàng Ngọc Dũng (2006), Kỹ năng của cán bộ công chức hành chính khi giải quyết khiếu nại của công dân, tạp chí quản lý nhà nước số 129 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Kỹ năng của cán bộ công chức hành chính khi giải quyết khiếu nại của công dân
Tác giả: Hoàng Ngọc Dũng
Năm: 2006
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, tr. 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2016
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006): Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, t. 47, tr. 362 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
22. Phạm Văn Đồng (1991), Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa, Báo Nhân dân, ngày 06.5.1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Năm: 1991
23. Trần Thị Minh Đức (1995), Tâm lý học đại cương, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học đại cương
Tác giả: Trần Thị Minh Đức
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1995
24. Trịnh Thanh Hà ( 2010), Xây dựng văn hóa ứng xử công vụ của công chức cơ quan hành chính nhà nước Việt nam hiện nay, Luận án tiến sĩ quản ý hành chính công , Học Viện Hành Chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng văn hóa ứng xử công vụ của công chức cơ quan hành chính nhà nước Việt nam hiện nay
25. Vũ Thị Mai Hạnh (2016) Văn hóa ứng xử trong hoạt động công vụ củacông chức xã huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, Luật văn thạc sĩ Quản lý công. Học viện hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa ứng xử trong hoạt động công vụ củacông chức xã huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
26. Vũ Gia Hiền (2009), Văn hóa giao tiếp trong quản lý hành chính công, NXB Lao động, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa giao tiếp trong quản lý hành chính công
Tác giả: Vũ Gia Hiền
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w