1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tóm tắt Luận án tiến sĩ Công nghệ thực phẩm: Nghiên cứu công nghệ thu nhận một số hợp chất có hoạt tính sinh học từ hai loài nấm thượng hoàng (Phellinus igniarius và Phellinus nilgheriensis) ở Việt Nam, ứng dụng trong thực phẩm

27 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 558,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI NGUYỄN TÂN THÀNH NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ THU NHẬN MỘT SỐ HỢP CHẤT CÓ HOẠT TÍNH SINH HỌC TỪ HAI LOÀI NẤM THƯỢNG HOÀNG Phellinus igni

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

NGUYỄN TÂN THÀNH

NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ THU NHẬN MỘT SỐ HỢP CHẤT CÓ HOẠT TÍNH SINH HỌC

TỪ HAI LOÀI NẤM THƯỢNG HOÀNG

(Phellinus igniarius và Phellinus nilgheriensis) Ở VIỆT NAM,

ỨNG DỤNG TRONG THỰC PHẨM

Ngành: Công nghệ thực phẩm

Mã số: 9540101

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM

HÀ NỘI: 2018

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học

Vào hồi……giờ, ngày… Tháng… năm ………

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

1 Thư viện Tạ Quang Bửu – Trường ĐHBK Hà Nội

2 Thư viện Quốc gia Việt Nam

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận án

Nấm Thượng hoàng (hay còn gọi là nấm Hoàng sơn) tên chỉ các

loài trong chi Phellinus, thuộc họ Hymenochaetaceae (ở Trung Quốc gọi

là Songgen, Hàn Quốc gọi là Sang Hwang, Nhật Bản gọi là Meshima) Đây là một loại nấm quý trong tự nhiên đã được người Nhật Bản, Hàn Quốc sử dụng rộng rãi trong việc điều trị, tăng cường khả năng của hệ thống miễn dịch, giúp giảm lượng cholesterol và đường trong máu Trong nấm thượng hoàng có chứa nhiều thành phần hóa học như acid amin, vitamin, khoáng, carbonhydrat và một số hợp chất có hoạt tính sinh học như polysaccharid, protein-polysaccharide, steroid, terpenoid, flavone, styrylpyrone, furane và polychlorinat [81] Các loại nấm này cũng hiệu quả đối với nhiều bệnh, bao gồm việc tăng lưu thông máu, ngăn ngừa và điều trị bệnh tim, tăng khả năng giải độc và bảo vệ gan, chống lại bệnh dị ứng và tiểu đường, giảm căng thẳng Nấm có chức năng chống ung thư mạnh và ngăn ngừa sự phát triển của khối u Năm

1976, nhóm nghiên cứu của TS Chihara tại Trung tâm nghiên cứu ung thư Nhật Bản kiểm tra và so sánh tỷ lệ kháng ung thư trên chuột của

dịch chiết nước nóng 27 loại nấm thuốc thì nấm Phellinus linteus đã

được xếp hạng số 1 với một tỷ lệ ức chế tế bào u báng (Sarcoma 180) ở

chuột là 96,7% Phellinus igniarius được xếp thứ 3 với tỷ lệ là

87,4%.[28]

Ngày nay, ngày càng nhiều các nhà khoa học tập trung nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của các loài nấm nhằm phát hiện các hoạt chất có dược tính mạnh đối với các căn bệnh nan y như viêm gan, kháng viêm ung thư, HIV, tăng hệ miễn dịch, chống oxy hóa… Việc đưa vào sử dụng rộng rãi các chế phẩm được tách chiết từ nấm sẽ giúp con người khỏe mạnh, phòng chống được nhiều căn bệnh tiềm ẩn, nguy hiểm [4], [9], [10]

Hiện nay, tổng sản lượng của các loài phellinus trên thế giới chỉ

khoảng 30 tấn/năm, chủ yếu từ thu hái hoang dại Trên thế giới cũng chỉ

có 4 nước trồng loài nấm này là Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan Ở Việt Nam, Trung tâm linh chi và nấm dược liệu TPHCM đã bước đầu nghiên cứu và nuôi trồng thành công loài nấm thượng hoàng

P linteus trong bịch mạt cưa gỗ cao su, năng suất khoảng 140 kg/năm,

Trang 4

sản phẩm nấm sau khi thu hoạch được bảo quản bằng cách sấy khô để đưa bán ra thị trường trong nước và xuất khẩu thô ra nước ngoài

Việc khai thác các hợp chất có hoạt tính sinh học, các thành phần dinh dưỡng trong nấm thượng hoàng bằng các công nghệ chế biến hiện đại, tạo ra được các sản phẩm giàu hoạt chất để ứng dụng sản xuất các loại thực phẩm chức năng có khả năng hỗ trợ, nâng cao sức khỏa là hướng đi đúng và cần thiết Xuất phát từ thực tế nghiên cứu và sự cấp

thiết trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Nghiên cứu công nghệ thu nhận một số hợp chất có hoạt tính sinh học từ hai loài nấm thượng hoàng (Phellinus igniarius và Phellinus nilgheriensis) ở Việt Nam, ứng dụng trong thực phẩm”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xây dựng được cơ sở dữ liệu về thành phần dinh dưỡng và

thành phần hóa học của hai loài nấm thượng hoàng (Phellinus igniarius

và Phellinus nilgheriensis) ở khu vực Bắc trung bộ, Việt Nam

- Đề xuất được quy trình công nghệ tối ưu về chiết xuất và sấy phun dịch chiết từ hai loài nấm thượng hoàng; xây dựng một số quy trình sản xuất một số sản phẩm thực phẩm có bổ sung nấm thượng hoàng

3 Nội dung nghiên cứu

- Thu mẫu và xác định tên khoa học của 2 loài nấm thượng hoàng

ở Việt Nam (P igniarius và P nilgheriensis)

- Nghiên cứu thành phần hóa học (các vitamin, acid amin, các

kim loại, hàm lượng tổng phenolic, flavonoid) từ nấm thượng hoàng thu hái từ tự nhiên

- Phân lập, xác định cấu trúc và thử hoạt tính sinh học các hợp

chất thu được từ nấm thượng hoàng (P igniarius) ở Việt Nam

- Xây dựng quy trình công nghệ chiết xuất và sấy phun dịch nấm

thượng hoàng (P igniarius và P nilgheriensis)

- Nghiên cứu ứng dụng sản xuất một số sản phẩm thực phẩm bổ sung nấm thượng hoàng

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

4.1 Ý nghĩa khoa học

- Kết quả nghiên cứu về thành phần dinh dưỡng và thành phần

hóa học trong hai loài nấm thượng hoàng (P igniarius và P nilgheriensis) là đóng góp khoa học có độ tin cậy cao, góp phần làm

Trang 5

phong phú thêm về cơ sở dữ liệu về chất lượng nguyên liệu, thành phần hóa học của các loài nấm lớn ở Việt Nam

- Đã phân lập và xác định cấu trúc của 9 hợp chất trong nấm

thượng hoàng (P igniarius) trong đó đã tìm ra một chất mới thuộc

nhóm chất triterpenoid Đã thử hoạt tính gây độc tế bào trên các dòng tế bào ung thư HepG2, MCF7, Lu và hoạt tính chống oxy hóa của dịch chiết và hợp chất sạch, kết quả cho thấy các hợp chất sạch có khả năng kháng các dùng tế bào ung thư trên

- Đã đề xuất được công nghệ (chiết xuất và sấy phun) thu nhận

một số hợp chất từ hai loài nấm thượng hoàng (P igniarius và P nilgheriensis) ở Việt Nam

4.2 Ý nghĩa thực tiễn:

- Các kết quả nghiên cứu của đề tài về công nghệ thu nhận một

số hợp chất sinh học từ nấm thượng hoàng sẽ tạo nên các sản phẩm có giá trị kinh tế cao, có tác dụng chống oxy hóa, có khả năng ngăn chặn và chữa bệnh Đây là việc làm cần thiết, phù hợp với xu thế của thời đại, đóng góp cho sự phát triển của kinh tế - xã hội và bảo vệ sức khỏe cộng đồng

- Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo khoa học đáng tin cậy và có giá trị; là tài liệu phục vụ cho giảng dạy, nghiên cứu khoa học và cho cả sản xuất sau này

5 Những điểm mới của luận án

- Đây là nghiên cứu đầy đủ về thành phần dinh dưỡng (acid amin;

vitamin E, D2, B3; kim loại…) từ hai loài nấm thượng hoàng (P igniarius và P nilgheriensis) thu hái ở Việt Nam

- Luận án đã phân lập và xác định cấu trúc của 9 hợp chất trong

nấm thượng hoàng (Phellinus igniarius) là: igniarine (PIE-1),

meshimakobnol B (PIE-3), inoscavin A (PIE-6), daidzin (PIE-7), ergosterol (PIE-4), pterocarpin (PIE-8), ergosterol peroxit (PIE-5), meshimakobnol A (PIE-2) và 5-hydroxy-7methoxy-flavon (PIE-9) Trong đó hợp chất igniarine (PIE-1) là hợp chất mới Đã thử hoạt tính

gây độc tế bào trên các dòng tế bào ung thư HepG2, MCF7, Lu và hoạt tính chống oxy hóa của dịch chiết và hợp chất sạch

- Tối ưu hóa quy trình công nghệ chiết xuất và sấy phun dịch nấm

thượng hoàng (P igniarius và P nilgheriensis) Đề xuất quy trình chế

biến một số sản phẩm thực phẩm bổ sung nấm thượng hoàng như: bánh

Trang 6

quy, trà nấm và cà phê hòa tan có tính chất cảm quan hấp dẫn người dùng

6 Cấu trúc của luận án

Luận án bao gồm 127 trang với 51 bảng số liệu, 50 hình và 06

sơ đồ với 155 tài liệu tham khảo Kết cấu của luận án gồm: mở đầu (03 trang), tổng quan (30 trang), nguyên vật liệu và phương pháp nghiên cứu (19 trang), kết quả và thảo luận (60 trang), kết luận và đề xuất nghiên cứu tiếp tục (02 trang), danh mục công trình công bố (01 trang), tài liệu tham khảo (12 trang)

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 Nấm Thượng hoàng (Phellinus sp.)

Giới thiệu về các đặc điểm thực vật, phân loại đặc điểm hình thái

và phân bố của chi Phellinus

1.2 Thành phần hóa học của nấm thượng hoàng

Trình bày tổng quan về thành phần dinh dưỡng, thành phần hóa

học và hoạt tính sinh học trong nấm thượng hoàng (Phellinus sp.)

1.3 Công nghệ tách chiết các hoạt chất trong nấm dược liệu

1.4 Công nghệ sấy nguyên liệu và dịch chiết từ nấm dược liệu 1.5 Ứng dụng của nấm dược liệu trong sản xuất thực phẩm chức năng

CHƯƠNG 2 NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU 2.1 NGUYÊN VẬT LIỆU

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là 2 loài nấm thượng hoàng

trong chi Phellinus thu hái tại khu bảo tồn quốc gia Pù Huống và vườn

Quốc gia Pù Mát ở Nghệ An Mẫu được định danh tên khoa học là

Phellinus igniarius và Phellinus nilgheriensis bởi PGS TS Ngô Anh,

khoa Sinh, Trường Đại học Khoa học Huế, Đại học Huế

2.1.2 Hóa chất

Các hóa chất sử dụng trong nghiên cứu đảm bảo tiêu chuẩn và chất lượng để chạy trên các thiết bị phân tích hiện đại như HPLC, UPLC, LC/MS…

2.1.3 Dụng cụ và thiết bị nghiên cứu

Trang 7

Sắc ký lớp mỏng (TLC), Sắc ký cột (CC), Sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC), Hệ thống sắc ký lỏng ghép nối khối phổ, Thiết bị phản ứng Reaction, Máy sấy phun Spray Dryer B290…

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp phân tích thành phần dinh dưỡng và thành phần hóa học

Phân tích hàm lượng cellulose theo nguyên tắc hòa tan bằng acid

và kiềm; sử dụng UPLC, HPLC với đầu dò huỳnh quang để xác định hàm lượng các acid amin, vitamin; hàm lượng nguyên tố kim loại được

đo trên thiết bị phổ hấp thụ nguyên tử (AAS), hàm lượng tổng phenolic, tổng flavonoid được xác định bằng phương pháp quang phổ (UV-Vis)

2.2.2 Phương pháp chiết xuất, phân lập các hợp chất

Phân lập, xác định cấu trúc của các hợp chất: sử dụng các

phương pháp sắc ký như: sắc ký lớp mỏng (TLC); sắc ký cột thường (CC); sắc ký cột nhanh (FC); sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC);

Phân lập các hợp chất:

Mẫu nấm thượng hoàng (P igniarius) (4,5kg) sấy khô ở nhiệt

độ từ 40-50C trong 48 giờ, nghiền nhỏ và ngâm chiết với metanol (10L

x 3) ở nhiệt độ phòng, thu dịch chiết và cất thu hồi dung môi dưới áp suất thấp được cao methanol (154g) Phân bố dịch chiết vào nước (1L)

và chiết bằng ethyl acetate (1Lx5) và butanol (1Lx5), sau đó cất thu hồi dung môi thu được cao etyl axetat (42g), cao butanol (67g) và dịch nước

Cao ethyl acetate được phân tách trên cột silicagel, với hệ dung môi rửa giải là chloroform: metanol (100:0, 40:1: 30:1; 20:1; 10:1: 4:1; 2:1), thu được 5 phân đoạn (PI.E1 đến PI.E5) Phân đoạn 3 (PI.E3) phân tách lại bằng sắc ký cột với hệ dung môi rửa giải là chloroform: methanol (30:1; 20:1; 10:1), thu được 3 phân đoạn (PI.E3.1 đến PI.E3.3) Phân đoạn PI.E3.1 tiếp tục phân tách bằng sắc ký cột với hệ

dung môi chloroform: methanol (30:1) thu được chất hợp chất mới

PIE-1 (igniarine) (38mg) và hợp chất PIE-3 (meshimakobnol B) (23mg) Phân đoạn PI.E3.2 phân tách bằng sắc ký cột với hệ dung môi chloroform: methanol (30:1) thu được chất hợp chất PIE-6 (Inoscavin A) (18mg) và hợp chất PIE-7 (daidzin) (21,5mg) Phân đoạn PI.E1 sắc

ký cột với silica gel hệ dung môi rửa giải hexane: axeton (15:1 và 9:1)

thu được chất PIE-4 (ergosterol) (123mg) Phân đoạn PI.E4 được tiến

Trang 8

hành sắc ký cột với hexane: axeton (15:1, 9:1) thu được hợp chất chất

PIE-8 (pterocarpin) (18 mg) và PIE-5 (ergosterol peroxit) (31mg)

Phân đoạn PI.E5 được tiến hành sắc ký cột (200 g, 60 × 3 cm) với chloroform/methanol (10:1) và kết tinh phân đoạn thu được hợp chất

PIE-2 (meshimakobnol A) (30mg) và PIE-9 flavon) (27mg) (Sơ đồ 2.2)

(5-hydroxy-7methoxy-2.2.3 Phương pháp khảo sát cấu trúc các hợp chất

Cấu trúc các hợp chất được khảo sát nhờ sự kết hợp các phương pháp phổ: phổ tử ngoại (UV); phổ hồng ngoại (IR); phổ khối lượng (EI-MS), (ESI-MS), (HR-ESI-MS); phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1H-NMR; phổ cộng hưởng từ hạt nhân 13C-NMR; phổ cộng hưởng từ hạt nhân DEPT, HMBC, HSQC; cấu trúc lập thể tương đối của các hợp chất này được xác định các phương pháp phổ NMR

- Hợp chất PIE-1 (igniarine): chất bột trắng vô định hình, nhiệt

độ nóng chảy 205-206ᵒC; HR-ESI-MS m/z: 453,0446 [M+Na]+; UV (MeOH) λmax: 257nm, 414nm; IR(KBr) νmax(cm-1):1690, 3400; 1H và

13C-NMR: bảng 3.13

- Hợp chất PIE-2 (meshimakobnol A): chất bột màu vàng, nhiệt

độ nóng chảy 181-182ᵒC; HR-ESI-MS m/z: 403,3346 [M+H]+; UV (MeOH) λmax: 290nm, 258nm; IR(KBr) νmax(cm-1):1706, 3542; 1H và

13C-NMR: bảng 3.14

- Hợp chất PIE-3 (meshimakobnol B): chất bột màu vàng, nhiệt

độ nóng chảy 175-176ᵒC; HR-ESI-MS m/z: 387,0485 [M+H]+; UV (MeOH) λmax: 409nm, 250nm; IR(KBr) νmax(cm-1):1685, 3369; 1H và

13C-NMR: bảng 3.14

- Hợp chất PIE-4 (ergosterol): chất bột màu trắng, nhiệt độ nóng

chảy 165-167ᵒC; EI-MS m/z: 369 [M]+; UV (MeOH) λmax: 211nm, 285nm; IR(KBr) νmax(cm-1): 3433, 2959, 1726, 1090; 1H và 13C-NMR: bảng 3.15

- Hợp chất PIE-5 (ergosterol peroxit): dạng thể hình kim không

màu, nhiệt độ nóng chảy 176-178ᵒC; EI-MS m/z: 428 [M]+; 1H và 13NMR (CDCl3) (δ ppm): bảng 3.16

C Hợp chất PIEC 6 (inoscavin A): chất bột màu vàng, nhiệt độ

nóng chảy 268-269ᵒC; HR-ESI-MS m/z: 463,1045 [M+H]+; 1H-NMR

(500 MHz, DMSO –d6) và 13C-NMR (125 MHz, DMSO –d6) (δ ppm):

bảng 3.17

Trang 9

- Hợp chất PIE-7 (daidzin): chất bột màu vàng nâu, nhiệt độ

nóng chảy 246-247ᵒC; EI-MS m/z: 416 [M]+; 1H-NMR (500 MHz,

DMSO –d6) và 13C-NMR (125 MHz, DMSO –d6) (δ ppm): bảng 3.18

- Hợp chất PIE-8 (pterocarpin): Tinh thể màu trắng, có điểm

nóng chảy ở 154,5-156ᵒC; 1H-NMR (500 MHz, CDCl3-d6) và 13C-NMR (125 MHz, CDCl3-d6)  (ppm): bảng 3.19

- Hợp chất PIE-9 (5-hydroxy-7-methoxyflavone): Chất rắn

màu vàng, có điểm nóng chảy: 195o-196oC; UV (MeOH) max: 216, 278

và 322; ESI-MS m/z: 331 [M+H]+; 1H-NMR (500 MHz, CDCl3-d6) và

13C-NMR (125 MHz, CDCl3-d6)  (ppm): bảng 3.20

2.2.4 Các phương pháp xác định hoạt tính sinh học

Các phương pháp xác định hoạt tính sinh học: xác định hoạt tính chống oxy hóa bằng phương pháp DPPH (1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl); hoạt tính gây độc tế bào theo phương pháp môi trường thạch (MTT)

2.2.5 Quy hoạch thực nghiệm

- Sử dụng phương pháp quy hoạch thực nghiệm, các thí nghiệm được bố trí theo quy hoạch thực nghiệm trực giao cấp 2 và được xử lý bằng phần mềm tối ưu hóa Design - Expert phiên bản 7.1 để tối ưu hóa quá trình chiết và sấy phun dịch nấm thượng hoàng

- Trong thí nghiệm phân tích thị hiếu, đánh giá cảm quan chất lượng sản phẩm bổ sung bột nấm thượng hoàng sử dụng phần mềm thống kê SPSS

Trang 11

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Kết quả nghiên cứu thành phần dinh dưỡng và thành phần hóa học của nấm thượng hoàng

3.1.1 Hàm lượng cellulose trong nguyên liệu

Hàm lượng cellulose trong nấm thượng hoàng (P igniarius và P nilgheriensis) được xác định theo nguyên tắc hòa tan bằng acid và kiềm Hàm lượng cellulose trong nấm thượng hoàng P igniarius (26,5±0,6 %)

và P nilgheriensis (38,4 ± 0,9)

3.1.2 Hàm lượng acid amin

Nghiên cứu hàm lượng các acid amin của nguyên liệu và chế phẩm nấm thượng hoàng sau khi chiết và sấy (sấy đông khô và sấy chân không) cho kết quả như sau:

Bảng 3.2 Hàm lượng acid amin trong nấm thượng hoàng (P igniarius

và P nilgheriensis) (µg/g nguyên liệu khô)

TT Acid amin P igniarius P nilgheriensis

Trang 12

Tổng acid amin

Tổng acid amin (TAA) 6472,96 6522,06

KPH-Không phát hiện

3.1.3 Hàm lượng các loại vitamin trong nấm thượng hoàng

3.1.3.1 Hàm lượng vitamin E

Tiến hành xác định hàm lượng vitamin E trên 2 mẫu nấm thượng

hoàng P igniarius và P nilgheriensis Kết quả phân tích cho thấy, hàm lượng vitamin E trong loài P igniarius (0,49207mg/kg) cao hơn so với loài P nilgheriensis (0,26734mg/kg)

3.1.3.2 Hàm lượng vitamin D2

Trong 4 mẫu nghiên cứu thì mẫu nguyên liệu nấm P igniarius

(M1) hầu như không thể hiện hàm lượng vitamin D2, hàm lượng

vitamin D2 trong loài P nilgheriensis có giá trị 0,0399 mg/kg (3,99

µg/100g) nguyên liệu Đối với 2 mẫu nấm sau khi chiết xuất và sấy

đông khô thì hàm lượng vitamin D2 trong bột nấm P nilgheriensis (25,6754 mg/kg bột sấy đông khô) cao hơn trong bột nấm P igniarius (9,7375 mg/kg)

sấy đông khô của loài P nilgheriensis cao hơn bột sấy đông khô của loài P igniarius

3.1.4 Hàm lượng khoáng và kim loại trong nấm thượng hoàng

Kết quả cho thấy hàm lượng Na, K, Ca, Mg, Pb của 2 mẫu nấm Thượng hoàng khu vực Bắc trung bộ, Việt Nam có giá trị tương đương

với nấm thượng hoàng (P igniarius) của Trung Quốc (Yang N.C al et., 2016) Hàm lượng Na trong nấm P igniarius ở Việt Nam là 1,157µg/g Hàm lượng K, Ca, Mg trong nấm P igniarius ở Việt Nam là

12,255µg/g, 14,502µg/g và 6,844µg/g Hàm lượng chì trong 2 mẫu nấm Thượng hoàng có giá trị rất nhỏ là 0,061µg/g và 0,0712µg/g, nằm trong ngưỡng cho phép sử dụng trong thực phẩm của Bộ y tế (<0,3µg/g)

Trang 13

3.1.5 Hàm lượng tổng phenolic và flavonoid

Hàm lượng tổng phenolic trong nấm thượng hoàng P igniarius

và P nilgheriensis lần lượt là 65,36 và 41,24 mgGAE/g; hàm lượng

tổng flavonoid lần lượt là 6,35mgCE/g và 3,92mgCE/g

3.1.6 Thành phần hóa học trong nấm thượng hoàng (P igniarius)

Xác định thành phần hóa học của loài P igniarius trên thiết bị

LC-MS, nhận dạng được một số hợp chất trong mẫu nấm như sau:

Hình 3.1 Sắc ký đồ LC-MS của dịch chiết ethanol nấm P igniarius ở

3.2 Phân lập, xác định cấu trúc chất và hoạt tính của một số thành

phần hóa học trong dịch chiết nấm thượng hoàng (P igniarius)

3.2.1 Chiết các phân đoạn

Các hợp chất phân lập được từ nấm thượng hoàng (P Igniarius)

thu hái tại Việt Nam được thể hiện ở bảng sau:

1 PIE-1 Igniarine C30H44O3 38 mg

Ngày đăng: 17/04/2021, 14:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w