1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt Luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ học: Nghiên cứu ngôn ngữ hội thoại trên lớp giữa giáo viên và giáo sinh (tỉnh Hải Dương)

23 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 33,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua việc nghiên cứu, khảo sát các cuộc hội thoại dạy học, mục đích cơ bản của luận án là nghiên cứu một cách toàn diện bước thoại và hành động ngôn từ của giáo sinh trong giao tiếp với giáo viên; qua đó tìm ra thực trạng năng lực giao tiếp của đối tượng mà sau này sẽ là các giáo viên tương lai; từ đó, luận án đưa ra những kiến nghị, đề xuất và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao năng lực giao tiếp cho sinh viên sư phạm. Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN THỊ PHƯỢNG

NGHIÊN CỨU NGÔN NGỮ HỘI THOẠI TRÊN LỚP

GIỮA GIÁO VIÊN VÀ GIÁO SINH

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại Khoa Ngôn ngữ học

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Chí Hòa

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội

- Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1 Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu giao tiếp của giáo viên vàhọc sinh trên lớp học trước đây mới chỉ tập trung vào bước thoại và hànhđộng ngôn từ của giáo viên mà chưa lưu ý đến bước thoại và hành độngngôn từ của học sinh

1.2 Sinh viên sư phạm thực hiện các hành động ngôn từ và các bướcthoại trong hội thoại với giáo viên như thế nào trong giờ học, và qua cácbước thoại và hành động ngôn từ đó chúng ta thấy gì về năng lực giao tiếpcủa sinh viên Nghiên cứu bước thoại và hành động ngôn từ của sinh viên sưphạm, luận án muốn qua đó tìm hiểu thực trạng năng lực giao tiếp của sinhviên sư phạm để từ đó đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực giaotiếp cho họ

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI KHẢO SÁT

2.1 Đối tượng khảo sát

Đối tượng khảo sát, phân tích của luận án là bước thoại và hành độngngôn từ của sinh viên sư phạm (dưới đây chúng tôi gọi tắt là giáo sinh) tronghội thoại dạy học Trong luận án này, bước thoại và hành động ngôn từ củagiáo viên chúng tôi sẽ không đưa ra để phân tích, bình luận mà chỉ sử dụng

nó để đối chiếu trong mối quan hệ tương tác với bước thoại và hành độngngôn từ của giáo sinh

2.2 Phạm vi khảo sát

Bước thoại và hành động ngôn từ là đơn vị hội thoại cụ thể nhưng hộithoại dạy học – đơn vị bao chứa nó – lại có phạm vi rộng Do đó, luận án sẽđược giới hạn trong những phạm vi khảo sát sau:

2.2.1 Địa điểm khảo sát

Trang 4

Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, việc khảo sát ngữ liệu trongphạm vi toàn quốc là vô cùng khó khăn Vì vậy, chúng tôi đã dùng phươngpháp chọn mẫu để ghi lại một số tiết học của các lớp Cao đẳng sư phạm tạitrường Cao đẳng Hải Dương.

2.2.2 Giới hạn ngữ liệu khảo sát

Nguồn ngữ liệu phục vụ cho việc thực hiện luận án là 85 tiết học (35bài học) trong chương trình đào tạo sinh viên sư phạm hệ Cao đẳng như:Toán, Phương pháp dạy học Toán, Tiếng Việt, Tiếng Việt thực hành, Ngữdụng học, Tự nhiên xã hội, Thủ công kĩ thuật, Giáo dục học, Văn học, Tâm

lí học lứa tuổi, Vẽ theo mẫu, Triết học Mac- Lênin,…

2.2.3 Cách thu thập ngữ liệu

Để tiết kiệm thời gian và vẫn đảm bảo tính thuyết phục của cơ sở dữliệu, chúng tôi đã thu thập tư liệu theo phương pháp lựa chọn ngẫu nhiên cóđịnh hướng Tức là, bên cạnh những tiết học được thu ngẫu nhiên, giáo viên

và giáo sinh không hề biết lời nói của mình bị ghi âm thì lại có những tiếthọc được ghi âm có chủ ý, cả giáo viên và giáo sinh đều ý thức về việc ghilại lời nói, hành động, cử chỉ của mình Đó là các tiết học trong các đợt thaogiảng tại trường

Sau khi ghi âm, ghi hình, tất cả các tiết học đều được chuyển thànhvăn bản Word Trong các chương của luận án này, tùy theo từng trường hợp

cụ thể mà chúng tôi lựa chọn ngữ liệu phù hợp cho những vấn đề liên quan

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

3.1 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc nghiên cứu, khảo sát các cuộc hội thoại dạy học, mụcđích cơ bản của luận án là nghiên cứu một cách toàn diện bước thoại vàhành động ngôn từ của giáo sinh trong giao tiếp với giáo viên; qua đó tìm rathực trạng năng lực giao tiếp của đối tượng mà sau này sẽ là các giáo viên

Trang 5

tương lai; để từ đó chúng tôi sẽ đưa ra những kiến nghị, đề xuất và đưa ranhững giải pháp nhằm nâng cao năng lực giao tiếp cho sinh viên sư phạm.

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích trên, luận án đề ra các nhiệm vụ:

- Hệ thống hóa các vấn đề lí thuyết có liên quan đến đề tài, những vấn

đề lí luận được chọn làm cơ sở cho đề tài, định hướng nghiên cứu đề tài từ líthuyết đó

- Phân tích, miêu tả các bước thoại, các hành động ngôn từ của giáosinh trong giao tiếp với giảng viên trên lớp học

- Phân tích, miêu tả thực trạng năng lực giao tiếp của giáo sinh

- Đề ra giải pháp nhằm nâng cao năng lực giao tiếp cho giáo sinh

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thực hiện luận án, chúng tôi sử dụng các phương pháp và thủ phápsau:

- Phương pháp nghiên cứu thực địa: là cách thu âm các tiết học để lấyngữ liệu nghiên cứu và kết quả là các nguồn ngữ liệu đã dẫn

- Phương pháp thống kê, phân loại: Các đặc điểm cơ bản của bướcthoại, của hành động ngôn từ đều được xác định chính xác qua nguồn ngữliệu Do đó, thống kê phân loại ngữ liệu là phương pháp hết sức quan trọngcủa luận án

- Phương pháp phân tích – miêu tả: Sau khi đã thống kê, phân loại, chỉtrên cơ sở phân tích, miêu tả, chúng ta mới xác định được từng loại hànhđộng ngôn từ, từng loại bước thoại mà giáo sinh sử dụng trong giao tiếp, xácđịnh đặc điểm, vai trò, chức năng của chúng ra sao trong tổ chức cuộc thoại

Ngoài ra, chúng tôi sẽ áp dụng một số thủ pháp như so sánh, hệ thốnghóa… khi cần thiết

5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

5.1 Về mặt lí luận

Trang 6

- Luận án là một minh chứng, chứng minh cho vai trò của các lí thuyết

mà luận án chọn làm cơ sở lí luận – lí thuyết giao tiếp, lí thuyết hội thoại, líthuyết hành động ngôn từ Kết quả của luận án cũng góp phần chi tiết hóa,

cụ thể hóa các đặc điểm của một đơn vị hội thoại là bước thoại trong mộtloạt giao tiếp cụ thể - giao tiếp dạy học

- Cung cấp một cái nhìn bao quát về bước thoại, về hành động ngôn

từ, về năng lực giao tiếp…

5.2 Về mặt thực tiễn

- Luận án góp thêm tiếng nói khẳng định cho một hướng đi mới củamột chuyên ngành ngôn ngữ, đó là nghiên cứu hội thoại, nghiên cứu nănglực giao tiếp trong từng phạm vi giao tiếp cụ thể trong xã hội

- Góp phần vào việc thúc đẩy sự thay đổi phương pháp dạy học ở bậccao đẳng nói chung và tại trường Cao đẳng Hải Dương nói riêng

1.1.1 Dẫn nhập về giao tiếp

Có thể hiểu một cách chung nhất, giao tiếp là “quá trình thông tin diễn

ra giữa ít nhất hai người giao tiếp trao đổi với nhau, gắn với một ngữ cảnh

và tình huống nhất định” [Diệp Quang Ban 2009, tr.18]

1.1.2 Giao tiếp dạy học

Trang 7

Giao tiếp trong phạm vi nhà trường bao gồm: giao tiếp giữa giáo viênvới giáo viên, giáo viên với giáo sinh, giáo sinh với giáo sinh…Các hìnhthức giao tiếp nói trên có thể tồn tại trong lớp học hoặc ngoài lớp học Giaotiếp được bàn ở phần này nằm trong phạm vi hẹp hơn, giao tiếp trong lớphọc Đối tượng nghiên cứu của luận án là những trao đổi giữa giáo viên vàgiáo sinh trong giờ học Và chúng tôi thống nhất gọi kiểu giao tiếp giữa giáoviên và giáo sinh trong giờ học là giao tiếp dạy học.

1.1.3.Vấn đề năng lực giao tiếp

Về lí luận, nghiên cứu lí thuyết và thực nghiệm gần đây về năng lựcgiao tiếp ngôn ngữ chủ yếu có ba mô hình: (1) mô hình của Canale vàSwain, (2) mô hình của Bachman và Palmer, (3) mô hình mô tả các thànhphần năng lực ngôn ngữ giao tiếp trong Khung chung Châu Âu (CEF –Common European Framework)

Trong luận án, chúng tôi sẽ kế thừa khung lí luận trong mô hình củaCEF có chỉnh sửa cho phù hợp để mô tả năng lực giao tiếp của sinh viên sưphạm tại Hải Dương

1.2 Lí thuyết hội thoại

1.2.1 Một số quan điểm về đơn vị hội thoại

Trong luận án này, chúng tôi kế thừa hệ thống cấu trúc hội thoại củatrường phái phân tích diễn ngôn Anh: cuộc thoại/ cuộc tương tác(interaction), phiên giao dịch/đoạn thoại (transaction), trao đáp/ cặp thoại(exchange), bước thoại (move), hành động ngôn từ (speech act)

1.2.2 Một số vấn đề về cấu trúc cuộc thoại và cuộc thoại dạy học

1.2.2.1 Cấu trúc cuộc thoại

1.2.2.2 Cấu trúc cuộc thoại dạy học

1.2.3 Bước thoại và bước thoại trong hội thoại dạy học

Trong luận án, chúng tôi sử dụng thuật ngữ bước thoại theo quan

điểm của trường phái phân tích diễn ngôn Anh, và thuật ngữ bước thoại

Trang 8

được hiểu như sau: “Bước thoại là đơn vị liên hành động trong diễn ngôn.Thường thường nó đồng nghĩa với cái thay đổi của người nói Nó là cấp độđầu thúc đẩy sự diễn tiến của cuộc trò chuyện và nó đánh dấu điểm chuyểntiếp Ở vị trí đó, đối tác thứ hai có trách nhiệm phải hồi đáp” [dt NTHN,tr.34] Hội thoại có đặc điểm cơ bản là giao tiếp trực tiếp nên sự hồi đáp ởđây có thể được thực hiện bằng lời (hành động nói) hoặc các phương tiện philời như các hoạt động vật lí sinh lí… hay sự im lặng.

Dựa trên chức năng, ta có ba loại bước thoại: bước thoại khởi xướng

(initiatives – I), bước thoại trả lời (Reply – R), bước thoại phản hồi (Feedback – F).

1.2.4 Nguyên tắc hội thoại.

Muốn cho một cuộc hội thoại thành công, các nhân vật tham gia hộithoại phải tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định trong hội thoại Đó lànguyên tắc luân phiên lượt lời, nguyên tắc liên kết hội thoại, nguyên tắccộng tác hội thoại và nguyên tắc tôn trọng thể diện Những nguyên tắc hộithoại này chi phối và tác động mạnh mẽ tới quá trình hội thoại

1.3 Lí thuyết hành động ngôn từ

1.3.1 Dẫn nhập về hành động ngôn từ

1.3.2 Hành động ngôn từ trong hội thoại

1.3.3 Hành động ngôn từ trong hội thoại dạy học

1.3.3.1 Đặc trưng của hành động ngôn từ trong hội thoại dạy học.

Hội thoại dạy học cũng như các cuộc hội thoại thông thường, hànhđộng bằng lời là loại hành động được sử dụng nhiều nhất Tuy vậy, trong hộithoại dạy học, giáo viên và giáo sinh không chỉ tương tác với nhau qua ngônngữ mà còn tương tác với nhau qua rất nhiều các hành động vật lí, sinh línhư giơ tay, gật đầu, lắc đầu, nhăn mặt và sự im lặng…

1.3.3.2 Chức năng của các hành động ngôn từ trong hội thoại dạy học

Trang 9

Sinclaire và Courthard đã đưa ra 22 hành động ngôn từ khi nghiên cứu

về hội thoại dạy học dựa vào chức năng của chúng trong hội thoại, đó là các

hành động: đánh dấu, phát vấn, khởi phát, điều khiển, thông tin, giục, gợi nhắc, gợi ý, xin phép, chỉ định, tri nhận, trả lời, phản ứng, chú thích, chấp nhận, đánh giá, dấu lặng nhấn mạnh, siêu trần thuật, kết luận, móc lại, ngoài lề… [ĐHC 2001, tr209]

Kế thừa các nghiên cứu của Sinclaire và Couthard về chức năng củacác hành động ngôn từ, trong luận án, chúng tôi sẽ xác định số lượng cáchành động ngôn từ của giáo sinh trong hội thoại dạy học và mô tả các hànhđộng ngôn từ đó

Chương 2: Đặc điểm các bước thoại và hành động ngôn từ

của giáo sinh trong hội thoại trên lớp học 2.1 Bước thoại của giáo sinh trong hội thoại dạy học.

Bước thoại của giáo sinh trong nghiên cứu của chúng tôi là lời nói củagiáo sinh trong các trao đáp với giáoviên trên lớp học

Dựa vào chức năng mà bước thoại thực hiện trong quan hệ trao đáp, ta

có thể phân chia bước thoại thành ba loại: bước thoại khởi xướng (initiatives– I), bước thoại trả lời (Reply - R) và bước thoại phản hồi (Feedback – F)

2.1.1 Bước thoại khởi xướng (I – initiatives) của sinh viên.

Sự trao lời chính là cơ sở để tạo thành bước thoại khởi xướng Và sở

dĩ tồn tại bước thoại khởi xướng là vì nó quy định hướng hồi đáp và nộidung hồi đáp ở bước thoại tiếp theo

Bước thoại khởi xướng có nhiệm vụ bắt đầu một cặp thoại thông quachức năng khởi xướng các yêu cầu đối với người tham gia hội thoại

Giáo viên và giáo sinh đều là chủ thể của hoạt động dạy học nênquyền trao lời và nhận lượt lời là như nhau; khi giáo viên trao thì giáo sinhđáp và ngược lại Tuy nhiên, thực tế ngữ liệu cho thấy đa phần các tìnhhuống dạy học, giáo viên là người khởi xướng các yêu cầu và giáo sinh là

Trang 10

người thực hiện Qua thực tế ngữ liệu khảo sát, chúng tôi thu được 1368bước thoại khởi xướng do giáo sinh thực hiện, chiếm 8,73% và 14538 bướcthoại khởi xướng do giáo viên thực hiện, chiếm 92,79% Điều đó cho thấygiáo sinh còn thiếu chủ động trong quá trình học tập trên lớp học.

2.1.1.1 Khởi xướng nội dung thông tin liên quan đến bài học

2.1.1.2 Khởi xướng nội dung phát vấn mong muốn giáo viên trả lời.

2.1.1.3 Khởi xướng yêu cầu về hành động.

2.1.1.4 Bước thoại khởi xướng để phản biện ý kiến của các bạn.

Hãy quan sát biểu đồ tỷ lệ các bước thoại khởi xướng dưới đây:

Khởi xướng để phản biện ý kiến

Biểu đồ 2.1: Biểu đồ tỷ lệ các loại bước thoại khởi xướng.

Trong 85 tiết dạy thu ghi, có 45 tiết được tổ chức theo hướng thuyếttrình (có hỏi – đáp giữa giáo viên và giáo sinh); 30 tiết được tổ chức theohướng xemina; và 10 tiết thực hành Chúng ta hãy quan sát biểu đồ thống kêsau:

Giờ thuyết trình Giờ xemina Giờ thực hành

Số lượng giờ dạy

Số lượng bước thoại khởi xướng

Biểu đồ 2.2: Biểu đồ tỷ lệ giờ dạy và bước thoại khởi xướng.

2.1.2 Bước thoại trả lời (R - Reply)

Trang 11

Bước thoại trả lời là bước thoại được thực hiện nhằm đáp ứng các yêucầu mà bước thoại khởi xướng đưa ra Đó có thể là bước thoại được thựchiện để thể hiện sự vâng lệnh, đồng tình, hoặc trả lời cho yêu cầu cung cấpthông tin…

Bước thoại trả lời là bước thoại điển hình nhất và cũng là bước thoại

mà giáo sinh thực hiện nhiều nhất trong quá trình tương tác với giáo viên(89,75%) Bước thoại trả lời là bước thoại giáo sinh thực hiện để đáp lại cácyêu cầu của giáo viên trong quá trình triển khai nội dung bài học

2.1.3 Bước thoại phản hồi (F – Feedback)

Thông thường, một trao đáp chỉ cần hai bước thoại có thể coi là hoànchỉnh như hỏi – trả lời, yêu cầu – thực hiện yêu cầu… Tuy nhiên, về nguyêntắc, một bước thoại trả lời sẽ tiềm ẩn chức năng khởi xướng đối với bướcthoại tiếp theo Như vậy, ngoài hai bước thoại khởi xướng và trả lời, cònxuất hiện bước thoại thứ ba có vai trò hoàn chỉnh cho sự trao đáp, đó là bướcthoại phản hồi

Bước thoại phản hồi là bước thoại được dùng để xác nhận hay phủnhận, cãi lại – phản ứng lại với những thông tin được đưa ra ở bước thoại đitrước Ngoài ra bước thoại phản hồi còn thể hiện sự đồng tình của giáo sinhvới ý kiến của giảng viên

Chúng ta hãy quan sát biểu đồ thống kê sau:

Khởi xướng Trả lời Phản hồi

Biểu đồ 2.3: Biểu đồ tỷ lệ các bước thoại.

2.2 Hành động ngôn từ của giáo sinh trong hội thoại dạy học.

Trang 12

Trong hội thoại dạy học, hành động ngôn từ được hiểu theo nghĩarộng Nó có thể được thực hiện bằng lời hoặc các yếu tố phi lời.

2.2.1 Hành động phi lời.

Hành động phi lời là những hành động vật lí, sinh lí… mà giáo sinh sửdụng khi tương tác với giáo viên trong quá trình lĩnh hội tri thức Trong ngữliệu mà chúng tôi khảo sát, hành động phi lời được sử dụng tương đối nhiều

và tập trung ở bước thoại trả lời của giáo sinh (chiếm 32%) Các bước thoạikhởi xướng và bước thoại phản hồi thường không được thực hiện bằng cáchành động phi lời Qua ngữ liệu khảo sát, chúng tôi thấy duy nhất một kiểukhởi xướng được thực hiện bằng hành động phi lời, đó là kiểu khởi xướngyêu cầu được tham gia vào diễn ngôn qua hành động xin phép: giơ tay

Các loại hành động phi lời được giáo sinh sử dụng trong quá trìnhtương tác với giáo viên gồm có: hành động im lặng, hành động vật lí, cử chỉđiệu bộ

2.2.2 Hành động bằng lời

Kế thừa các nghiên cứu của Sinclaire và Couthard về chức năng củacác hành động ngôn từ, qua ngữ liệu khảo sát, chúng tôi xác định được cáchành động ngôn từ của giáo sinh trong quá trình tương tác với giáo viên

tương đối đa dạng và phong phú, tập trung ở hành động như: trả lời, thông tin, phát vấn, xin phép, phản ứng, đánh giá, chấp nhận, trần thuật… Và chúng tôi có bổ sung thêm các hành động, đó là thưa gửi, rào đón, phỏng đoán và yêu cầu.

Chúng ta hãy quan sát bảng tổng hợp dưới đây:

Ngày đăng: 17/04/2021, 14:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w