1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ học: Nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp ở Quảng Nam - Đà Nẵng

199 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp ở Quảng Nam - Đà Nẵng
Tác giả Ngô Thị Thu Hương
Người hướng dẫn PGS. TS Phạm Tất Thắng, PGS. TS Bùi Trọng
Trường học Học Viện Khoa Học Xã Hội
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận án
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 199
Dung lượng 2,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án miêu tả từ ngữ nghề nghiệp của ba nghề thủ công mỹ nghệ ở Quảng Nam - Đà Nẵng nhằm chỉ ra những đặc điểm ngôn ngữ và đặc trưng văn hóa của những từ ngữ nghề nghiệp đó, nhằm góp phần bảo vệ và phát triển từ ngữ nghề nghiệp cũng như góp phần vào việc phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội ở Quảng Nam - Đà Nẵng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế (CNH, HĐH & HNQT).

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGÔ THỊ THU HƯƠNG

NGHIÊN CỨU TỪ NGỮ NGHỀ NGHIỆP

Ở QUẢNG NAM - ĐÀ NẴNG

Ngành: Ngôn ngữ học

Mã số : 9229020

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: 1.PGS TS Phạm Tất Thắng

2.PGS TS Bùi Trọn

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phạm Tất Thắng

PGS TS Bùi Trọng Ngoãn

Hà Nội - 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào

Nghiên cứu sinh

Ngô Thị Thu Hương

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU 7

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về từ ngữ nghề nghiệp 7

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 7

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 13

1.2 Cơ sở lý thuyết về nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp 16

1.2.1 Khái quát về từ ngữ nghề nghiệp 16

1.2.2 Một số cơ sở lý luận sử dụng trong nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp 26

1.3 Bối cảnh nghiên cứu 37

1.3.1 Giới thiệu về Quảng Nam – Đà Nẵng 37

1.3.2 Một số nghề thủ công mỹ nghệ của người Việt ở Quảng Nam – Đà Nẵng 41

1.4 Tiểu kết 44

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA TỪ NGỮ NGHỀ NGHIỆP Ở QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG 45

2.1 Dẫn nhập 45

2.2 Đặc điểm ngôn ngữ của từ ngữ nghề làm gốm 46

2.2.1 Đặc điểm hình thức cấu tạo 46

2.2.2 Đặc điểm nội dung ngữ nghĩa 49

2.2.3 Đặc điểm nguồn gốc yếu tố cấu tạo 53

2.2.4 Đặc điểm từ loại 56

2.2.5 Đặc điểm định danh 56

2.3 Đặc điểm ngôn ngữ của từ ngữ nghề chạm khắc đá 62

2.3.1 Đặc điểm hình thức cấu tạo 62

2.3.2 Đặc điểm nội dung ngữ nghĩa 67

2.3.3 Đặc điểm nguồn gốc yếu tố cấu tạo 72

2.3.4 Đặc điểm từ loại 75

2.3.5 Đặc điểm định danh 76

2.4 Đặc điểm ngôn ngữ của từ ngữ nghề làm lồng đèn 83

2.4.1 Đặc điểm hình thức cấu tạo 83

2.4.2 Đặc điểm nội dung ngữ nghĩa 87

2.4.3 Đặc điểm nguồn gốc yếu tố cấu tạo 90

2.4.4 Đặc điểm từ loại 93

2.4.5 Đặc điểm định danh 94

Trang 4

2.5 Nhận xét chung về đặc điểm ngôn ngữ của từ ngữ nghề nghiệp ba nghề thủ

công mỹ nghệ ở Quảng Nam – Đà Nẵng 100

2.6 Tiểu kết 102

Chương 3 ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA CỦA TỪ NGỮ NGHỀ NGHIỆP Ở QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG 104

3.1 Dẫn nhập 104

3.2 Đặc trưng văn hóa của từ ngữ nghề làm gốm 105

3.2.1 Đặc trưng văn hóa thể hiện trong hình thức cấu tạo 105

3.2.2 Đặc trưng văn hóa thể hiện trong nội dung ngữ nghĩa 107

3.2.3 Đặc trưng văn hóa thể hiện trong nguồn gốc yếu tố cấu tạo 110

3.2.4 Đặc trưng văn hóa thể hiện trong từ loại 113

3.2.5 Đặc trưng văn hóa thể hiện trong định danh 114

3.2.6 Đặc trưng văn hóa thể hiện trong đời sống xã hội 116

3.3 Đặc trưng văn hóa của từ ngữ nghề chạm khắc đá 117

3.3.1 Đặc trưng văn hóa thể hiện trong hình thức cấu tạo 117

3.3.2 Đặc trưng văn hóa thể hiện trong nội dung ngữ nghĩa 118

3.3.3 Đặc trưng văn hóa thể hiện trong nguồn gốc yếu tố cấu tạo 122

3.3.4 Đặc trưng văn hóa thể hiện trong từ loại 124

3.3.5 Đặc trưng văn hóa thể hiện trong định danh 125

3.3.6 Đặc trưng văn hóa thể hiện trong đời sống xã hội 127

3.4 Đặc trưng văn hóa của từ ngữ nghề làm lồng đèn 128

3.4.1 Đặc trưng văn hóa thể hiện trong hình thức cấu tạo 128

3.4.2 Đặc trưng văn hóa thể hiện trong nội dung ngữ nghĩa 131

3.4.3 Đặc trưng văn hóa thể hiện trong nguồn gốc yếu tố cấu tạo 133

3.4.4 Đặc trưng văn hóa thể hiện trong từ loại 134

3.4.5 Đặc trưng văn hóa thể hiện trong định danh 136

3.4.6 Đặc trưng văn hóa thể hiện trong đời sống xã hội 138

3.5 Nhận xét chung về đặc trưng văn hóa của từ ngữ nghề nghiệp ba nghề thủ công mỹ nghệ ở Quảng Nam – Đà Nẵng 140

3.6 Tiểu kết 142

KẾT LUẬN 143

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 148

TÀI LIỆU THAM KHẢO 149 PHỤ LỤC

Trang 5

CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

SV, HT Sự vật, hiện tượng

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Nội dung biểu thị của TNNN của các nghề thủ công mỹ nghệ 3

Bảng 2.1 Hình thức cấu tạo của từ ngữ nghề làm gốm 46

Bảng 2.2 Nguồn gốc yếu tố cấu tạo của từ ngữ nghề làm gốm 54

Bảng 2.4 Cấu trúc định danh của từ ngữ nghề làm gốm 57

Bảng 2.5 Phương thức định danh của từ ngữ nghề làm gốm 59

Bảng 2.6 Đặc trưng định danh của từ ngữ nghề làm gốm 60

Bảng 2.7 Đặc điểm định danh của từ ngữ nghề làm gốm 60

Bảng 2.8 Hình thức cấu tạo của từ ngữ nghề chạm khắc đá 63

Bảng 2.9 Nguồn gốc yếu tố cấu tạo của từ ngữ nghề chạm khắc đá 73

Bảng 2.10 Từ loại của từ ngữ nghề chạm khắc đá 75

Bảng 2.11 Cấu trúc định danh của từ ngữ nghề chạm khắc đá 76

Bảng 2.12 Mô hình cấu trúc định danh phức hợp 77

của từ ngữ nghề chạm khắc đá 77

Bảng 2.13 Phương thức định danh của từ ngữ nghề chạm khắc đá 80

Bảng 2.14 Đặc trưng định danh của từ ngữ nghề chạm khắc đá 80

Bảng 2.15 Đặc điểm định danh của từ ngữ nghề chạm khắc đá 81

Bảng 2.16 Hình thức cấu tạo của từ ngữ nghề làm lồng đèn 84

Bảng 2.17 Nguồn gốc yếu tố cấu tạo của từ ngữ nghề làm lồng đèn 91

Bảng 2.18 Từ loại của từ ngữ nghề làm lồng đèn 93

Bảng 2.19 Mô hình cấu trúc định danh của từ ngữ nghề làm lồng đèn 95

Bảng 2.20 Mô hình cấu trúc định danh phức hợp 96

Bảng 2.21 Phương thức định danh của từ ngữ nghề làm lồng đèn 97

Bảng 2.22 Đặc trưng định danh của từ ngữ nghề làm lồng đèn 98

Bảng 2.23 Đặc điểm định danh của từ ngữ nghề làm lồng đèn 98

Bảng 3.1 Hình thức cấu tạo từ ngữ nghề nghiệp của một số nghề gốm 105

Bảng 3.2 Nguồn gốc yếu tố cấu tạo của từ ngữ nghề làm gốm 111

Bảng 3.3 Từ loại của từ ngữ nghề gốm Nam Diêu và Bát Tràng 113

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Hình thức cấu tạo của từ ngữ nghề làm gốm 48

Biểu đồ 2.2 Nguồn gốc yếu tố cấu tạo của từ ngữ nghề làm gốm 55

Biểu đồ 2.3 Mô hình cấu trúc định danh của từ ngữ nghề làm gốm 58

Biểu đồ 2.4 Đặc điểm định danh của từ ngữ nghề làm gốm 61

Biểu đồ 2.5 Hình thức cấu tạo của từ ngữ nghề chạm khắc đá 66

Biểu đồ 2.6 Nguồn gốc yếu tố cấu tạo của từ ngữ nghề chạm khắc đá 74

Biểu đồ 2.7 Mô hình cấu trúc định danh của từ ngữ nghề chạm khắc đá 79

Biểu đồ 2.8 Đặc trưng định danh của từ ngữ nghề chạm khắc đá 81

Biểu đồ 2.9 Đặc điểm định danh của từ ngữ nghề chạm khắc đá 82

Biểu đồ 2.10 Hình thức cấu tạo của từ ngữ nghề làm lồng đèn 86

Biểu đồ 2.11 Nguồn gốc yếu tố cấu tạo của từ ngữ nghề làm lồng đèn 92

Biểu đồ 2.12 Mô hình cấu trúc định danh của từ ngữ nghề làm lồng đèn 96

Biểu đồ 2.13 Đặc điểm định danh của từ ngữ nghề làm lồng đèn 99

Biểu đồ 3.1 Tỉ lệ hình thức cấu tạo của từ ngữ một số nghề gốm 106

Biểu đồ 3.2 Sự khác biệt về nguồn gốc yếu tố cấu tạo từ ngữ nghề gốm 112

Biểu đồ 3.3 Sự khác biệt về tỉ lệ từ loại của từ ngữ nghề gốm Nam Diêu 114

Biểu đồ 3.4 Sự khác biệt về tỉ lệ từ loại của từ ngữ nghề chạm khắc đá 125

Biểu đồ 3.5 Sự khác biệt về tỉ lệ hình thức cấu tạo của từ ngữ nghề làm lồng đèn so với từ ngữ một số nghề thủ công khác 130

Biểu đồ 3.6 Sự khác biệt về từ loại của từ ngữ nghề làm lồng đèn 135

Trang 8

Vì thế, nghiên cứu, thu thập và giữ gìn lớp TNNN còn phần nào đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu văn hóa nói chung và văn hóa vùng, miền qua ngôn ngữ nói riêng

1.2 Quảng Nam – Đà Nẵng (QN-ĐN) là vùng đất có sự đa dạng văn hóa gắn với lịch sử Nam tiến của người Việt Trong quá trình sinh sống tại QN-ĐN, người Việt ở QN-ĐN đã hình thành một hệ thống nghề thủ công phục vụ cho nhu cầu dân sinh cũng như nhua cầu về tôn giáo, tín ngưỡng… và được mệnh danh là vùng đất đa nghề [31, tr.15] Trước yêu cầu phát triển kinh tế của xã hội hiện đại, nhiều nghề truyền thống đã không còn tồn tại hoặc đã bị thay đổi, kéo theo

sự biến đổi và mất dần TNNN của các nghề truyền thống Vì thế, cần phải có những công trình thu thập, sưu tầm và bảo vệ TNNN của các nghề truyền thống đó để khối tài sản tinh thần quý báu khỏi bị mai một và mất dần đi

1.3 Hiện nay, QN-ĐN đang có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại: “dịch vụ - công nghiệp – nông nghiệp” và đã có một số chính sách phát triển du lịch gắn với những nghề/ làng nghề truyền thống [44, 49, 51] Trong đó, nổi bật nhất

là việc phát triển du lịch gắn với những nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) bởi sự hấp dẫn về sản phẩm của nhóm ngành nghề này Ngoài giá trị là hàng tiêu dùng, sản phẩm TCMN còn mang giá trị văn hóa của cộng đồng cư dân sở tại – một trong những điểm nhấn thu hút du khách đến với QN-ĐN

Vì thế, nghiên cứu TNNN còn đáp ứng yêu cầu phát huy giá trị ngôn ngữ, văn hóa ở QN – ĐN nhằm phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội ở địa phương

Trang 9

2

Chính vì vậy, nghiên cứu TNNN ở QN-ĐN, đặc biệt là TNNN một số nghề TCMN là một trong những việc làm có ý nghĩa về mặt lí luận nghiên cứu TNNN cũng như thực tiễn bảo vệ và phát triển TNNN cũng như góp phần vào việc phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội QN-ĐN trong bối cảnh hiện nay

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án miêu tả TNNN của ba nghề TCMN ở QN-ĐN nhằm chỉ ra những đặc điểm ngôn ngữ và đặc trưng văn hóa của những TNNN đó, nhằm góp phần bảo vệ và phát triển TNNN cũng như góp phần vào việc phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội ở QN-ĐN trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế (CNH, HĐH & HNQT)

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích nêu trên, luận án xác định những nhiệm vụ nghiên cứu sau: 1) Tổng quan về tình hình nghiên cứu TNNN ở Việt Nam và trên thế giới; xác định cơ sở lý thuyết cho luận án và giới thiệu bối cảnh nghiên cứu

2) Miêu tả đặc điểm ngôn ngữ của TNNN ở QN-ĐN

3) Phân tích đặc trưng văn hóa của TNNN ở QN-ĐN

3 Đối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu TNNN tiếng Việt ở QN-ĐN

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Từ ngữ nghề nghiệp ở QN-ĐN có sự đa dạng với rất nhiều ngành nghề thủ công Tuy nhiên, do khuôn khổ của luận án, chúng tôi nghiên cứu trường hợp TNNN của 3 nghề đại diện cho các nghề TCMN của người Việt ở QN-ĐN như: 1) TNNN nghề làm gốm Nam Diêu, Thanh Hà, Quảng Nam; 2) TNNN nghề chạm khắc đá Non Nước, Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng; 3) TNNN nghề làm lồng đèn Hội An, Quảng Nam Đây là ba nghề TCMN điển hình của người Việt QN-

ĐN, bởi những nghề này vừa mang bản sắc văn hóa của cư dân sở tại, vừa là những điểm hấp dẫn du khách đến với QN-ĐN

Trang 10

3

3.3 Tư liệu nghiên cứu

Tư liệu được chúng tôi thu thập tại làng đá Non Nước, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng; làng gốm Nam Diêu, Thanh Hà, Hội An, Quảng Nam

và cơ sở làm lồng đèn Hà Linh – một trong những cơ sở làm lồng đèn tư nhân lớn nhất thành phố Hội An

Luận án này thu thập được 317 TNNN của ba nghề điển hình cho các nghề TCMN của người Việt ở QN-ĐN và được phân tích theo 9 nội dung biểu thị (hay phạm trù ngữ nghĩa) sau đây:

Bảng 1 Nội dung biểu thị của TNNN của các nghề thủ công mỹ nghệ

làm gốm

Nghề chạm khắc đá

Nghề làm lồng đèn

Trang 11

4

từ ngữ biểu thị dụng cụ, nguyên liệu, thao tác, tên sản phẩm, người lao động, tính chất; nghề làm gốm có 7 nhóm từ ngữ biểu thị dụng cụ, nguyên liệu, thao tác, người lao động, sản phẩm, tính chất, khác… Sự có mặt/ vắng mặt của các nhóm từ ngữ phản ánh sự khác biệt trong thực tại lao động sản xuất của các nghề Vì thế, để thuận lợi cho việc miêu tả đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa của TNNN của ba nghề TCMN, luận án phân tích tư liệu theo 9 nhóm từ ngữ trên

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp miêu tả để chỉ ra đặc điểm ngôn ngữ trong TNNN của ba nghề TCMN nói riêng và miêu tả một số đặc điểm/ đặc trưng văn hóa của TNNN ở QN-ĐN trên cơ sở những kết luận đã được rút ra khi phân tích đặc điểm ngôn ngữ của ba nghề TCMN được khảo sát ở QN-ĐN

Đồng thời, luận án còn sử dụng phương pháp phân tích ngữ nghĩa nhằm khái quát nên mô hình cấu trúc ngữ nghĩa của các nhóm từ ngữ biểu thị các nội dung khác nhau trong từng nghề TCMN Theo đó, các nét nghĩa (các nghĩa tố) được mô hình hóa trong luận án nhằm cố gắng cung cấp một cách chi tiết về nội dung ngữ nghĩa của một số nhóm từ ngữ trong mỗi nghề TCMN được khảo sát ở QN-ĐN

Luận án sử dụng phương pháp điều tra điền dã để thu thập TNNN của ba nghề TCMN đại diện cho các nghề thủ công ở QN-ĐN bởi vì hiện tại chưa có công trình nào xuất bản về TNNN, đặc biệt là nghề TCMN ở QN-ĐN Nghiên cứu sinh đã phỏng vấn sâu những người thợ có kinh nghiệm, các nghệ nhân có tuổi đời, tuổi nghề cao tại các điểm nghiên cứu Trong quá trình phỏng vấn sâu, nghiên cứu sinh đã đề nghị các cộng tác viên trả lời các câu hỏi liên quan đến nghề như công cụ làm nghề; nguyên liệu làm nghề; các thao tác, hoạt động khi làm nghề; tên sản phẩm của nghề… và giải thích những đơn vị từ ngữ được sử dụng trong nghề Từ đó, nghiên cứu sinh lập thành bảng từ để làm dữ liệu phân tích trong luận án

Bên cạnh đó, luận án còn sử dụng thủ pháp thống kê mô tả những đơn vị TNNN theo những nội dung/ tiêu chí nhất định nhằm định lượng các thông số

Trang 12

Ngoài ra, luận án sử dụng thủ pháp so sánh một số đặc điểm ngôn ngữ trong TNNN của ba nghề TCMN ở QN-ĐN với TNNN trong lĩnh vực TCMN ở các địa phương khác như TNNN nghề gốm sứ Bát Tràng (Hà Nội), TNNN nghề gốm Phước Tích (Huế), … và so sánh một số nội dung có liên quan trong TNNN của những nghề khác lĩnh vực như TNNN nghề muối ở Quỳnh Lưu (Nghệ An), TNNN nghề cá ở Đồng Tháp Mười, TNNN nghề biển ở Thanh Nghệ Tĩnh… cũng như so sánh với một số nội dung nghiên cứu TNNN của tộc người khác như TNNN nghề điêu khắc của người Cơtu ở QN-ĐN để làm nổi bật đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa trong TNNN ba nghề TCMN của người Việt nói riêng, TNNN nói chung ở QN-ĐN

Trang 13

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Vì mục đích nghiên cứu của luận án là chỉ ra các đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa trong TNNN của ba nghề TCMN điển hình ở QN-ĐN nên kết quả nghiên cứu của luận án là tài liệu tham khảo cần thiết cho việc nghiên cứu và giảng dạy tiếng Việt và văn hóa Việt nói chung cũng như nghiên cứu và giảng dạy phương ngữ và tiểu vùng văn hóa xứ Quảng (QN-ĐN) nói riêng

Luận án thu thập được 317 TNNN được sử dụng trong dân gian Vì thế, kết quả nghiên cứu luận án còn đóng góp bảng từ và định nghĩa cho một số loại

từ điển như từ điển phương ngữ, từ điển chuyên ngành… ở QN-ĐN

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án gồm

3 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và bối cảnh nghiên cứu

Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ của từ ngữ nghề nghiệp ở Quảng Nam – Đà Nẵng

Chương 3: Đặc trưng văn hóa của từ ngữ nghề nghiệp ở Quảng Nam – Đà Nẵng

Trang 14

7

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT

VÀ BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về từ ngữ nghề nghiệp

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.1.1.1 Nghiên cứu về mặt lý thuyết

Hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng TNNN là một dạng phương ngữ xã hội, được dùng hạn chế trong phạm vi những người làm một nghề nghiệp nào đó Tuy nhiên, đứng từ những góc độ khác nhau, có các quan điểm khác nhau về TNNN:

Quan điểm thứ nhất, TNNN là một lớp từ ngữ trong hệ thống của một

ngôn ngữ và xuất hiện trong những nghề truyền thống TNNN được đề cập nhiều trong các công trình ngôn ngữ học đại cương, chẳng hạn như:

YU Xtêpanov trong cuốn Những cơ sở của ngôn ngữ học đại cương đã xếp TNNN vào nhóm các ngôn ngữ thời đại hình thành dân tộc Đó là một dạng phương ngữ xã hội, là “những ngôn ngữ quy ước” và “là phương tiện giao tế của hàng vạn người bán hàng rong, những ofenja và của những người thợ thủ công – những thợ bật len, thợ đóng yên cương, những thợ thuộc da cừu, thợ may và những thợ thủ công khác vốn là những người nông dân đi làm từng vụ” [62, tr.376]

Bonđaletov phân biệt tiếng nghề nghiệp với biệt ngữ của một nhóm người (học sinh, sinh viên…), tiếng ước lệ (của những kẻ đồi trụy, thoát ly sản xuất) khi cho rằng: “Những tiếng nghề nghiệp thật sự (đúng hơn là những hệ thống từ vựng), ví như “tiếng” của người đánh cá, những người đi săn, thợ đồ gốm, công nhân làm gỗ, người làm len, thợ đóng giày và cả những người làm các ngành nghề khác” [dẫn theo 37, tr.2]

IU.V Rozdextvenxki đã đề cập tới TNNN khi cho rằng, từ điển bách khoa

là một trong những cơ sở của giáo dục ngôn ngữ nghề nghiệp, vì nó “lựa chọn và

Trang 15

Lênin nhận xét về phương ngữ xã hội này như sau: Biệt ngữ riêng của dân

cư ở Krasnoe không phải không đáng chú ý, đó là đặc điểm của tính biệt lập về lãnh thổ cố hữu của công trường thủ công” [dẫn theo 62, tr.378]

Như vậy, theo quan điểm này, TNNN là một lớp từ ngữ trong hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ, có sự phân biệt với các lớp từ vựng khác như thuật ngữ, biệt ngữ, từ lóng chỉ tồn tại ở những ngành nghề sản xuất truyền thống (thủ công) là chính, không tồn tại ở những ngành nghề hiện đại, những ngành nghề có

sự áp dụng khoa học công nghệ cao Có thể thấy, các công trình nghiên cứu về TNNN theo quan điểm này chủ yếu được thực hiện ở Nga với các công trình nghiên cứu của YU Xtêpanov, Bonđaletov, IU.V Rozdextvenxki, O.N.Trubachev

Quan điểm thứ hai, TNNN trong tiếng Việt tương đương với thuật ngữ

professional jargon (biệt ngữ chuyên môn) trong tiếng Anh Đây là một dạng biệt ngữ được sử dụng bởi những người cùng làm trong những nghề riêng biệt hoặc buôn bán [89] “Từ ngữ nghề nghiệp khác với tiếng lóng; tiếng lóng luôn luôn phi logic, trong khi TNNN có logic đối với một đối tượng cụ thể Loại từ ngữ này thường được sử dụng trong các ngành quân sự, tài chính, y tế, công nghệ thông tin và giáo dục Tuy nhiên, đôi khi nó được xuất hiện một số lĩnh vực khác nữa” [87] Chẳng hạn, những người không thông thạo lĩnh vực công nghệ thông tin sẽ không có tri thức về CPU (central processing unit - đơn vị xử lý trung tâm); những người ngoài ngành quân đội sẽ không thể hiểu được TD - Temporary duty (nhiệm vụ tạm thời)… Có thể thấy rằng, TNNN theo quan điểm thứ hai bao gồm cả thuật ngữ và biệt ngữ, chẳng hạn như những từ RAM, bit,

Trang 16

9

byte, CPU và hệ thập lục phân (vốn được coi là thuật ngữ tin học ở Việt Nam nhưng ở một số nghiên cứu của nước ngoài lại được coi là những biệt ngữ về tin học) Vì thế, TNNN cũng được đề cập nhiều trong nghiên cứu của Kenneth Hudson và Peter Bakker như là một bộ phận của phương ngữ xã hội, phân biệt với phương ngữ địa lý, pidgins và creoles, tiếng lóng, từ vay mượn, … [72, 77]

Tóm lại, nghiên cứu TNNN trên thế giới đề cập trong các công trình nghiên cứu về lý thuyết trên cơ sở hai quan điểm: 1) TNNN là một lớp từ vựng của hệ thống ngôn ngữ (TNNN phân biệt với thuật ngữ), xuất hiện trong những nghề truyền thống; 2) TNNN xuất hiện trong những ngành nghề hiện đại, có áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật (TNNN bao gồm cả thuật ngữ)

1.1.1.2 Nghiên cứu về mặt thực tiễn

Về mặt thực tiễn, dựa vào quan điểm khác nhau mà những nghiên cứu về TNNN trên thế giới được thực hiện trên hai hướng: nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực từ điển học (trên quan điểm thứ nhất, TNNN là một lớp từ vựng của hệ thống ngôn ngữ) và nghiên cứu theo hướng ngôn ngữ học xã hội (trên quan điểm thứ hai, TNNN thuộc về những ngành nghề hiện đại)

Với quan điểm TNNN là một lớp từ ngữ thuộc hệ thống ngôn ngữ, Rosemarie Gläser (2000) đã thực hiện một nghiên cứu để trả lời câu hỏi nên có hay không có một cuốn từ điển LSP (language for specific purposes dictionary –

từ điển chuyên ngành) được sắp xếp tầng bậc và mang tính xã hội học toàn bộ ngôn ngữ của một cộng đồng (speech community) Nghiên cứu này đã liệt kê cả các đơn vị từ vựng ở cấp độ thấp hơn như TNNN bên cạnh thuật ngữ kỹ thuật và danh pháp khoa học Tác giả cho rằng, việc bổ sung thêm nhóm từ vựng này sẽ khiến cho từ điển LSP trở nên đầy đủ và gần với thực tế giao tiếp hơn Mặc dù, chúng chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, bị thay đổi bởi các từ ngữ thân mật hoặc thú vị từ các cuộc giao tiếp khẩu ngữ, có thể sẽ bị thu hẹp nghĩa và trở thành đơn vị trung tính, thậm chí là trở thành thuật ngữ [79] Vì thế, TNNN thường xuất hiện dưới dạng bảng từ chuyên môn, từ điển của các ngành/ nghề cụ thể như: Từ điển giải thích từ ngữ máy tính, Từ điển từ ngữ giáo dục, Từ điển từ

Trang 17

Nghiên cứu về TNNN theo hướng ngôn ngữ học xã hội cho thấy tính chất chuyên nghiệp của việc sử dụng nhóm từ ngữ này đối với ngành nghề chuyên môn Chẳng hạn, Berman và cộng sự đã thiết kế một nghiên cứu nhằm xác định tính chuyên nghiệp trong sự tương tác giữa bệnh nhân và bác sĩ Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân (những người có nhiều vấn đề phức tạp về sức khỏe và tâm lý)

và những người được đào tạo về các kỹ năng và sự chuyên nghiệp trong giao tiếp Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng từ ngữ ngành y là một trong những nhân tố quan trọng thể hiện mức độ chuyên nghiệp trong chuyên môn [64]

Marousek Ivan phân tích việc sử dụng TNNN ở dạng viết lẫn dạng nói trong môi trường khách sạn, lĩnh vực du lịch và ẩm thực Mục đích của nghiên cứu này chứng minh các chuyên gia khách sạn luôn ý thức được ý nghĩa của những từ ngữ chuyên môn (thường khó hiểu) mà họ sử dụng khi giao tiếp với nhau và khi họ giao dịch với khách hàng tiềm năng Ngoài việc tổng quan lịch

sử, mô tả sự phát triển của ngành công nghiệp khách sạn và gợi ý cấu trúc điển hình của một khách sạn, nghiên cứu của Marousek Ivan cũng miêu tả đặc điểm của TNNN và tiếng lóng; so sánh và giải thích vai trò của TNNN trong ngành khách sạn Tuy nhiên, nghiên cứu này xác định TNNN trên quan điểm của ngôn ngữ học xã hội nên đã giải thích vai trò của TNNN trong mỗi nhóm xã hội: những người làm việc trong khách sạn sử dụng TNNN để khuyến khích sự đoàn kết trong nhóm và họ cho rằng sử dụng TNNN là một trong những cách giao tiếp hiệu quả nhất trong môi trường làm việc của mình [71]

Trang 18

11

Tuy nhiên, nghiên cứu về việc sử dụng TNNN trong giao tiếp còn cho thấy rào cản của những từ ngữ chuyên môn đối với những đối tượng xã hội khác nhau, nhất là trong giao tiếp giữa bác sỹ và bệnh nhân Thomas và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu về rào cản của từ ngữ ngành y trong giao tiếp giữa 119 bệnh nhân và bác sĩ để đánh giá sự hiểu biết của bệnh nhân về các từ ngữ ngành

y được các bác sĩ tim mạch sử dụng trong suốt quá trình tư vấn và mức độ hiểu biết kiến thức về 11 từ ngữ ngành y của ba nhóm bệnh nhân (được xếp theo độ tuổi) Kết quả nghiên cứu cho thấy, độ tuổi tác động một cách có ý nghĩa đến mức độ hiểu các từ ngữ ngành y và một số TNNN cụ thể (Angia, Heart failure, Palpitation và Treadmill Test): những bệnh nhân thuộc nhóm tuổi trẻ nhất (từ 18 đến 45 tuổi) có mức độ hiểu các từ ngữ ngành y thấp hơn các bệnh nhân thuộc các nhóm cao tuổi hơn (từ 46 đến 60 tuổi và từ 61 đến 80 tuổi) [82]

Tại Mỹ, rào cản ngôn ngữ tác động tiêu cực đến việc miêu tả các triệu chứng của bệnh nhân cho bác sĩ Điều này dẫn đến tỷ lệ tái nhập viện của bệnh nhân cao hơn Để giảm thiểu tình trạng này, nhiều thông dịch viên đã được đưa vào làm việc tại các bệnh viện nhằm giúp bệnh nhân phá bỏ được rào cản ngôn ngữ trong giao tiếp Tuy nhiên, việc sử dụng thông dịch viên cho bệnh nhân lại

tỏ ra không thật sự hiệu quả Vì vậy, Lindholm và cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu nhằm tìm hiểu sự khác biệt về thời gian điều trị nội trú, tỷ lệ tái nhập viện trong vòng 30 ngày của các bệnh nhân có trình độ tiếng Anh hạn chế nhưng

đã nhận được sự hỗ trợ thông dịch về các từ ngữ ngành y Kết quả nghiên cứu cho thấy, những bệnh nhân được sự trợ giúp về thông dịch khi nhập viện hoặc/

và xuất viện có xu hướng ít tái nhập viện trong vòng 30 ngày Như vậy, nếu được hỗ trợ thông dịch lúc nhập viện hoặc cả khi nhập viện lẫn xuất viện thì bệnh nhân có thời gian điều trị nội trú ngắn hơn những đối tượng không nhận được sự trợ giúp về thông dịch [75]

Kết quả của những nghiên cứu TNNN theo quan điểm của ngôn ngữ học

xã hội còn cho thấy hạn chế của việc sử dụng TNNN ngành y trong giao tiếp giữa bác sĩ và bệnh nhân Hầu như các nghiên cứu đều khuyến cáo bác sỹ/ nhân

Trang 19

12

viên ngành y tế nên ít/ hoặc không sử dụng TNNN khi giao tiếp với bệnh nhân

và người chăm sóc để giúp cho bệnh nhân điều trị có hiệu quả Chẳng hạn, trong nghiên cứu của mình, Deuster và cộng sự đã đánh giá lượng TNNN được sử dụng và giải thích trong suốt quá trình thảo luận về tầm soát ung thư vú và nhiếp

hộ tuyến (hạch ở bàng quang) Dựa trên kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả nhận định rằng, có một lượng lớn TNNN được sử dụng nhưng ít được giải thích đã khiến cho nhiều bệnh nhân không hiểu hết cuộc tư vấn về tầm soát ung thư Vì thế, cần khuyến khích hạn chế việc sử dụng các từ ngữ ngành y đối với bệnh nhân và người chăm sóc [70]

Không những gây khó khăn cho bệnh nhân, TNNN còn gây khó khăn trong giao tiếp cho những nhân viên y tế mới vào nghề - những người cùng làm trong lĩnh vực chuyên môn với người phát ngôn Trong công trình nghiên cứu của mình, Wolf cho rằng từ ngữ nghề y tá là một lớp từ ngữ đặc biệt, bao gồm các từ hoặc cụm từ thân mật, mang tính khoa học, kỹ thuật, miêu tả và có tính rút gọn Nó (từ ngữ nghề y tá) được xem như là sự diễn giải ngắn gọn cho những khái niệm phức tạp, thường gây khó khăn cho những người mới vào nghề Bởi vì, những người này sẽ mất nhiều thời gian trong việc hiểu những ý nghĩa không rõ ràng và phức tạp của những cuộc trao đổi khi thay đổi ca trực [84]

Như vậy, những nghiên cứu về TNNN theo hướng ngôn ngữ học xã hội cho thấy: 1) Các nghiên cứu không khuyến khích sử dụng TNNN đối với người ngoài nghề để phá bỏ rào cản trong giao tiếp, chẳng hạn như trong các công trình nghiên cứu về từ ngữ ngành y, người ta khuyến cáo không nên sử dụng TNNN đối với bệnh nhân hoặc người chăm sóc bệnh nhân trong điều trị bệnh…; 2) Các nghiên cứu lại khuyến khích sử dụng TNNN đối với người trong nghề để thể hiện tính chuyên môn, tăng cường đoàn kết trong nhóm để thực hiện giao tiếp có hiệu quả nhất trong môi trường làm việc của mình

Trang 20

13

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

1.1.2.1 Nghiên cứu về mặt lý thuyết

Từ ngữ nghề nghiệp cũng được đề cập đến trong hầu hết tất cả các công trình nghiên cứu về từ vựng ở Việt Nam Về cơ bản, các nghiên cứu đều dựa trên quan điểm TNNN là một lớp từ vựng của ngôn ngữ và có sự phân biệt với các lớp từ vựng khác Tuy nhiên, đứng dưới các góc độ khác nhau, cũng có sự khác biệt trong quan điểm về TNNN:

Thứ nhất, dựa vào phạm vi sử dụng, người ta xếp từ ngữ nghề nghiệp vào

các lớp từ vựng có phạm vi hạn chế về mặt xã hội khác như: từ địa phương, tiếng lóng, thuật ngữ khoa học trong sự đối lập với ngôn ngữ toàn dân

Đại diện cho quan điểm này, Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Từ nghề nghiệp (…) thường được những người cùng trong ngành nghề đó biết và sử dụng chứ không phải là từ toàn dân Như vậy, từ nghề nghiệp cũng là một lớp từ ngữ được dùng hạn chế về mặt xã hội” [22, tr.117]

Nguyễn Văn Khang và nhóm tác giả cũng xếp từ nghề nghiệp vào lớp từ có phạm vi sử dụng hạn chế về mặt xã hội khi cho rằng: “ngay cả người trong nghề nếu không có chuyên môn sâu cũng khó có thể hiểu được” [37, tr.23]

Đỗ Hữu Châu trong cuốn Từ vựng - Ngữ nghĩa tiếng Việt đã xếp từ vựng

nghề nghiệp cùng nhóm thuật ngữ khoa học kĩ thuật trên cơ sở phân biệt với biệt ngữ và tiếng lóng, từ vựng địa phương, hệ thống Hán Việt và các từ vay mượn [16, tr.253]

Cũng dựa vào tiêu chí phạm vi sử dụng, Hoàng Trọng Canh cho rằng: “Từ nghề nghiệp là những từ biểu thị những công cụ, sản phẩm lao động và quá trình sản xuất của một nghề nào đó trong xã hội mà phạm vi sử dụng tự nhiên nhất của chúng là những người cùng làm nghề với nhau” [8]

Thứ hai, dựa vào phong cách sử dụng, người ta xếp TNNN thuộc các lớp

từ vựng có phong cách khẩu ngữ

Nguyễn Văn Tu trong Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại cho rằng: “những

từ nghề nghiệp khác thuật ngữ ở chỗ được chuyên dùng để trao đổi miệng về

Trang 21

14

chuyên môn Từ nghề nghiệp còn khác với thuật ngữ ở chỗ chúng gợi cảm, gợi hình ảnh, có nhiều sắc thái vui đùa” [60]

Trong Chuẩn và sự phân loại từ ngữ tiếng Việt theo quan điểm phong

cách chức năng, Thái Hòa đã chia từ vựng của một ngôn ngữ vào hai loại lớn:

Từ ngữ đơn phong cách và từ ngữ đa phong cách Ông xếp từ ngữ nghề nghiệp vào nhóm các lớp từ đơn phong cách, thuộc phong cách khẩu ngữ, cùng với từ địa phương, phát âm địa phương; tiếng lóng và biệt ngữ; từ nghề nghiệp; biến thể láy iếc, ủng [29]

Có thể thấy rằng, các nghiên cứu về từ ngữ nghề nghiệp ở Việt Nam đều theo quan điểm TNNN là một trong những bộ phận của hệ thống ngôn ngữ khi phân biệt nó với các lớp từ ngữ khác như từ địa phương, biệt ngữ, thuật ngữ…

và xem xét nó trên bình diện phạm vi hoạt động, phong cách chức năng, sắc thái thể hiện của chúng [4, 8, 12, 20, 27…]

Bên cạnh việc giới thiệu TNNN về mặt lý thuyết trong các công trình

nghiên cứu về từ vựng, Nguyễn Văn Khang trong công trình Ngôn ngữ học xã

hội cũng đề cập tới TNNN như là một phương ngữ xã hội trong sự phân biệt với

biệt ngữ, uyển ngữ [38]

1.1.2.2 Nghiên cứu về mặt thực tiễn

Về mặt thực tiễn, công trình Từ ngữ nghề gốm sứ Bát Tràng là một trong

những công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu TNNN trong hệ thống từ vựng Trong công trình này, các tác giả đã miêu tả đặc điểm cấu tạo, nguồn gốc

và từ loại của tiếng nghề nghiệp theo các đơn vị ngôn ngữ (từ đơn, từ ghép, từ láy, từ ngẫu hợp, thành ngữ và ngữ chuyên môn) và theo bảy trường từ vựng ngữ nghĩa (người lao động, nguyên vật liệu, công cụ, thao tác, men và chất màu, ưu khuyết sản phẩm và sản phẩm) [37]

Cũng mô tả TNNN trong hệ thống từ vựng tiếng Việt, ngoài việc miêu tả đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa, nguồn gốc và quá trình hoạt động của những đơn

vị ngôn ngữ ở các phương diện: ngữ âm (đa âm hay đơn âm), từ vựng (cấu tạo theo các phương thức cấu tạo từ tiếng Việt), ngữ pháp (từ loại) và nguồn gốc…

Trang 22

15

công trình Từ nghề nghiệp và cách nhận diện chúng qua tư liệu nghề làm muối ở

xã An Hòa, Quỳnh Lưu, Nghệ An còn xem xét đến môi trường hoạt động của

TNNN [54]

Không chỉ đơn thuần miêu tả cấu tạo TNNN trên cơ sở những đơn vị của ngôn ngữ (từ đơn, từ có 3 thành tố …) của nghề gốm Quế, Lê Văn Trường là người đầu tiên ở Việt Nam đề cập đến vấn đề định danh của TNNN khi nêu ra bốn phương thức định danh, bao gồm định danh dựa vào tính chất của nguyên liệu, dựa vào hình dáng cấu tạo, dựa vào chức năng, công cụ và dựa vào màu sắc thành phẩm khi nung… [59]

Như vậy, những công trình nghiên cứu về TNNN ở Việt Nam thường được nghiên cứu trong hệ thống từ vựng với việc miêu tả, phân loại TNNN (các kiểu loại từ ngữ) Tuy nhiên, càng về sau, những nghiên cứu về TNNN ngày càng được bổ sung thêm những nội dung nghiên cứu khác như: môi trường hoạt động, cách định danh đơn vị ngôn ngữ [54, 59]

Bên cạnh việc nghiên cứu TNNN theo hướng Từ vựng học, ở Việt Nam còn có khá nhiều các công trình được thực hiện theo hướng ngôn ngữ - văn hóa như công trình của Lương Vĩnh An, Trần Hoàng Anh, Trịnh Phương Anh, Hoàng Trọng Canh, Nguyễn Chí Quang… [2, 4, 5, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 20, 50…] Ngoài việc miêu tả TNNN theo đặc điểm cấu tạo, đặc điểm định danh và đặc điểm ngữ nghĩa, một số đề tài còn tìm hiểu những nét đặc trưng văn hóa qua việc phản ánh khách quan vai trò, vị thế và cách quan sát, phân cắt đối tượng phản ánh của người dân lao động đối với hiện thực của nghề [41]

Nguyễn Thị Tâm Hạnh đã phân tích đặc điểm ngôn ngữ của TNNN nghề gốm Phước Tích theo từng loại đơn vị ngôn ngữ (từ đơn, từ ghép, ngữ định danh, thành ngữ, tục ngữ); phân tích đặc điểm ngữ nghĩa của TNNN theo các phạm trù ngữ nghĩa (phạm trù biểu thị nguyên vật liệu và công cụ sản xuất; phạm trù biểu thị động tác và quy trình sản xuất, phạm trù biểu thị sản phẩm, phạm trù biểu thị kinh nghiệm sản xuất và đời sống dân gian) Mặc dù trong công trình này, tác giả cũng đề cập đến sự phản ánh văn hóa của người bản địa vào TNNN qua việc

Trang 23

và các hiện tượng thiên nhiên của cộng đồng cư dân đó trong quá trình lao động sản xuất [41, 53]

Qua tổng quan về TNNN cho thấy, mỗi hướng nghiên cứu TNNN có những

ưu điểm và hạn chế riêng Vì thế, tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu mà nhà nghiên cứu lựa chọn cho mình những quan điểm nghiên cứu, hướng nghiên cứu

và phương pháp nghiên cứu thích hợp Xuất phát từ mục đích nghiên cứu: miêu

tả TNNN của ba nghề TCMN ở QN-ĐN, chỉ ra những đặc điểm ngôn ngữ và đặc trưng văn hóa của những TNNN đó, nhằm góp phần bảo vệ và phát triển TNNN cũng như góp phần vào việc phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội ở QN-ĐN trong quá trình CNH, HĐH & HNQT; luận án này phân tích TNNN trong hệ thống ngôn ngữ và tiếp cận theo hướng ngôn ngữ – văn hóa

1.2 Cơ sở lý thuyết về nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp

1.2.1 Khái quát về từ ngữ nghề nghiệp

1.2.1.1 Các quan điểm về từ ngữ nghề nghiệp

Có nhiều quan niệm về TNNN nhưng nhìn chung các quan niệm đều cho rằng TNNN là một lớp từ vựng của hệ thống ngôn ngữ, chẳng hạn như:

Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Từ nghề nghiệp là những từ ngữ biểu thị các công cụ sản phẩm và quá trình sản xuất của một nghề nào đó trong xã hội” [22, tr.117]

Cũng đồng ý với quan điểm trên, Đỗ Hữu Châu đã cho rằng “từ vựng nghề nghiệp bao gồm những đơn vị từ vựng được sử dụng để phục vụ các hoạt

Trang 24

Có thể thấy rằng, các nghiên cứu về TNNN ở Việt Nam đều theo quan điểm TNNN là một trong những bộ phận của từ vựng khi phân biệt nó với các lớp từ ngữ khác như từ địa phương, biệt ngữ, thuật ngữ… và xem xét nó trên bình diện phạm vi hoạt động, phong cách chức năng, sắc thái thể hiện của chúng

1.2.1.2 Quan điểm của luận án về từ ngữ nghề nghiệp

Đứng dưới góc độ ngôn ngữ - văn hóa, chúng tôi sử dụng thuật ngữ từ

ngữ nghề nghiệp bởi hai lí do sau đây:

Thứ nhất, trong các ngôn ngữ biến hình, từ - đơn vị cơ bản của ngôn ngữ -

được xác định một cách khá rõ ràng thì trong các ngôn ngữ đơn lập, từ không biến đổi hình thái vấn đề ranh giới giữa các từ vẫn còn nhiều điểm chưa thống nhất Việc xác định đơn vị nào là từ, đơn vị nào không phải là từ trong từ vựng của mỗi ngôn ngữ cũng như trong từ vựng của mỗi nghề nghiệp cũng không nằm ngoài hiện tượng chung đó

Thứ hai, các đơn vị ngôn ngữ dùng để biểu thị khái niệm trong lĩnh vực

nghề nghiệp (như nguyên liệu sản xuất, quy trình sản xuất, sản phẩm thủ công )

không những tồn tại ở cấp độ từ mà còn ở cấp độ trên từ Chẳng hạn có sản phẩm:

cá chép là một đơn vị ngôn ngữ: một từ, hai âm tiết (theo quan điểm của Đỗ Hữu

Châu và một số nhà nghiên cứu khác) hay là hai từ (theo quan điểm của Nguyễn

Thiện Giáp), nhưng với sản phẩm lý ngư vọng nguyệt (cá chép trông trăng), rõ

ràng đây phải là một tổ hợp của một số đơn vị ngôn ngữ, thậm chí là một câu

Tiếp thu và kế thừa một số định nghĩa của các tác giả đã nghiên cứu về TNNN, đồng thời qua việc xem xét tư liệu đã thu thập từ một số nghề truyền

Trang 25

Từ ngữ nghề nghiệp được dùng nhiều trong phong cách khẩu ngữ và

có tính chất chuyên môn

Trong lớp từ ngữ này có nhiều từ ngữ được nhiều người biết đến vì tính chất thông dụng, toàn dân của nó và ngược lại nhiều từ nghề nghiệp ngay cả người trong nghề nếu không có chuyên môn sâu cũng khó có thể hiểu được”[37]

Như vậy, có thể thấy TNNN là những đơn vị ngôn ngữ biểu thị những đối tượng xuất hiện trong quá trình làm nghề, nó có tính khẩu ngữ và tính chuyên môn TNNN có thể được cấu tạo từ ngôn ngữ toàn dân, được những người trong nghề sử dụng và được phổ biến ra ngoài xã hội nếu như nghề đó phát triển

Chẳng hạn: xử lý nan biểu thị một công đoạn làm lồng đèn hay làm nguội biểu

thị công đoạn chỉnh sửa sản phẩm sau khi đã tạo hình của nghề làm gốm, nghề chạm khắc đá đều sử dụng chất liệu ngôn ngữ toàn dân Ngoài ra TNNN có thể

là các từ đồng âm ngẫu nhiên chẳng hạn như sực (TNNN nghề chạm khắc đá) có nghĩa là gãy… Hoặc những từ có sự mở rộng nghĩa như chín (TNNN nghề làm

gốm) chỉ trạng thái của sản phẩm gốm đã qua quá trình nung đốt …

Mặt khác, từ điển Hán Việt định nghĩa: thủ công là nghề làm bằng tay [3,

tr.823]; mỹ nghệ là những nghề chung về khéo đẹp [3, tr.448] Như vậy, nghề thủ

công mỹ nghệ là nghề làm ra những sản phẩm có hình thức đẹp, được làm bằng

tay, không sử dụng máy móc để chế tạo Tuy nhiên, hiện nay Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh, CNH, HĐH & HNQT nên các ngành nghề thủ công nói chung và nghề TCMN nói riêng cũng không còn hoàn toàn sản xuất hoàn toàn thủ công một cách tuyệt đối 100% như trước đây nữa mà thay vào đó là một vài công đoạn đã phải sử dụng đến máy móc Chẳng hạn trong khai thác đá làm

Trang 26

19

sản phẩm mỹ nghệ, người ta dùng đến máy cắt đá, máy khoan, máy mài trong

chế tác các sản phẩm lồng đèn, người ta dùng máy tự chế thay cho cưa tay, máy

khoan Nhưng về cơ bản, các chi tiết nhỏ, cái làm nên linh hồn của mỗi một sản

phẩm mỹ nghệ vẫn là đôi bàn tay tài hoa của người thợ để tạo nên giá trị của sản phẩm đó

1.2.1.3 Vị trí của từ ngữ nghề nghiệp trong mối quan hệ với các lớp từ vựng

Trong logic học, mỗi khái niệm là một chỉnh thể được cấu thành từ nội hàm và ngoại diên Nội hàm của khái niệm là toàn bộ những dấu hiệu cơ bản của đối tượng được khái niệm phản ánh Trong khi đó, ngoại diên của khái niệm là toàn bộ những đối tượng có chung những dấu hiệu cơ bản được phản ánh vào trong nội hàm của khái niệm Thông thường, người ta thường dựa vào ngoại diên

để xác định một khái niệm [30, tr.19] Luận án này xuất phát từ quan điểm của logic học, xác định vị trí của TNNN trong mối quan hệ với các lớp từ ngữ khác của tiếng Việt (từ ngữ toàn dân, từ ngữ địa phương, thuật ngữ, biệt ngữ, tiếng lóng) thông qua ngoại diên của chúng

Thứ nhất, từ vựng toàn dân là những từ ngữ mà “mọi người cùng nói một

thứ ngôn ngữ đều hiểu được cho dù họ có sử dụng các phương ngữ khác nhau cũng như có vị thế xã hội khác nhau Đây chính là lớp từ vựng chung của mỗi một ngôn ngữ Nếu không có những đơn vị ngôn ngữ này, hoạt động giao tiếp của cộng đồng không thể thực hiện được” [22, tr.113] Có thể thấy ngoại diên của từ ngữ toàn dân là toàn bộ những từ ngữ được mọi người dân trong xã hội hiểu được Trong khi đó, TNNN là lớp từ ngữ chỉ được sử dụng trong một nhóm người làm một nghề nhất định trong xã hội nên ngoại diên của TNNN là những

từ ngữ được sử dụng trong phạm vi những người làm nghề nghiệp cụ thể đó Như vậy, ngoại diên của khái niệm TNNN nằm gọn trong ngoại diên của từ vựng toàn dân và một bộ phận ngoại diên của từ ngữ toàn dân trùng với ngoại diên của khái niệm TNNN Trong logic học, mối quan hệ này được gọi là mối quan hệ trùng nhau, từ ngữ toàn dân là khái niệm loại, TNNN là khái niệm chủng Điều đó có nghĩa là, một từ ngữ toàn dân có thể là một TNNN khi nó bị

Trang 27

20

hạn chế về phạm vi sử dụng và ngược lại một TNNN lại có thể trở thành một từ

ngữ toàn dân nếu như ngành nghề đó phổ biến trong xã hội Chẳng hạn từ só (tên

một loại dụng cụ dùng để đục, đá) vừa là từ ngữ nghề chạm khắc đá ở QN-ĐN

đồng thời từ só cũng nằm trong hệ thống từ vựng tiếng Việt giống như các từ ngữ toàn dân khác có nguồn gốc từ TNNN như đục, cưa, cối,… nếu như công

nghệ thông tin phát triển, TNNN nghề chạm khắc đá được phổ biến trên mạng

internet Hay trường hợp chuốt (biểu thị công đoạn tạo hình sản phẩm nghề làm

gốm) không được dùng một cách độc lập trong từ vựng toàn dân (trường hợp

trau chuốt) mà chỉ sử dụng độc lập trong nghề làm gốm ở Nam Diêu, Thanh Hà,

Quảng Nam và ở một số địa phương khác Như vậy, TNNN là một bộ phận của

từ vựng toàn dân, là nguồn bổ sung cho vốn từ vựng toàn dân nếu như công nghệ thông tin phát triển làm cho nghề nghiệp đó trở nên phổ biến và ngược lại, từ vựng toàn dân có thể bị mờ nghĩa đi và chỉ lưu dấu vết trong những cộng đồng làm nghề, nhất là các nghề thủ công truyền thống vốn có phạm vi giao tiếp hẹp

Thứ hai, từ địa phương cũng có vai trò không nhỏ trong việc hình thành

nên TNNN Theo Hobbs (2007), các từ địa phương được ghi nhận bởi các biến thể về ngữ âm học, âm vị học, hình thái học, cú pháp và từ vựng học [dẫn theo 80] Theo Susan Ebbers, mỗi một ngôn ngữ có nhiều phương ngữ Chẳng hạn tiếng Anh ở Mỹ có tiếng Anh miền Nam, tiếng Anh Appalachian, tiếng Anh Mỹ gốc Phi, tiếng Anh thành phố New York, tiếng Anh Chicago, tiếng Anh Boston,

… Trong đó, tiếng Anh Mỹ gốc Phi (AAE) là một phương ngữ sắc tộc chứ không phải là phương ngữ vùng: "Một phương ngữ sắc tộc là một khuôn mẫu nói của một cộng đồng đặc biệt, cộng đồng đó đã bảo tồn một số di sản của nó từ quá khứ" [Odell et al., 2007, tr.939, dẫn theo 80] Trong khi đó, theo Nguyễn Thiện Giáp, từ địa phương là những từ được dùng hạn chế “trong ngôn ngữ nói hàng ngày” ở một hoặc một vài địa phương nên nó thường mang sắc thái tu từ, diễn tả đặc điểm của địa phương… với hai kiểu từ địa phương: 1) Những đơn vị

từ ngữ biểu thị những SV, HT, những hoạt động, cách sống đặc biệt chỉ có ở địa phương nào đó mà không phổ biến đối với toàn dân, và 2) Những đơn vị từ ngữ

Trang 28

21

có sự đối lập về mặt ngữ nghĩa và ngữ âm với từ vựng văn học toàn dân… Loại

từ địa phương này, vì nhiều lý do, lúc đầu nó là ngôn ngữ toàn dân nhưng trong quá trình lịch sử, phạm vi của nó bị thu hẹp và còn lưu giữ ở một số nơi hoặc do quá trình phát triển không đồng đều của hệ thống ngữ âm tiếng Việt, các từ đó trở thành từ địa phương [22, tr.114] Như vậy từ ngữ địa phương là những đơn vị ngôn ngữ xuất hiện ở một địa phương cụ thể, tồn tại dưới dạng các biến thể ngữ

âm học, âm vị học, từ vựng học… và nó lưu giữ những dấu ấn trong lịch sử phát triển của ngôn ngữ đó Có thể thấy, ngoại diên của từ địa phương là tập hợp những từ ngữ được dùng phổ biến trong một phạm vi địa lý Trong khi đó, ngoại diên của TNNN là tập hợp những từ ngữ được dùng phổ biến trong phạm vi những người cùng làm một nghề ở một địa phương Vì thế, ngoại diên của khái niệm từ vựng địa phương bao trùm lên ngoại diên của khái niệm TNNN và một

bộ phận ngoại diên của khái niệm từ vựng địa phương trùng với ngoại diên của khái niệm TNNN Theo logic học, quan hệ giữa TNNN với từ ngữ địa phương là mối quan hệ trùng nhau, TNNN là khái niệm chủng, từ ngữ địa phương là khái niệm loại Điều đó có nghĩa là phạm vi sử dụng (ngoại diên) của những từ ngữ địa phương rộng hơn phạm vi sử dụng của TNNN, mặc dù TNNN cũng có những thuộc tính của từ ngữ địa phương như “có tính khẩu ngữ”, “có tính dân

gian”… Chẳng hạn, sịa được dùng khá phổ biến ở QN-ĐN với nghĩa là vật dùng

thường đan bằng tre có cật già, trên mặt có những lỗ nhỏ hình vuông, nhỏ hơn

chiếc nong, thường dùng để đựng, phơi nông sản Như vậy, sịa vừa là từ ngữ

nghề nông song đồng thời nó cũng vừa là từ ngữ địa phương ở Quảng Nam

Trong khi đó, một người thợ chạm khắc đá dùng từ thong với nghĩa là “có hình

dáng thanh mảnh”; dùng từ ngô với nghĩa là “dụng cụ dùng để làm láng phần sản

phẩm có hình lòng máng…” nhưng không phải người dân nào ở Quảng Nam cũng biết và sử dụng những từ ngữ đó

Thứ ba, thuật ngữ bao gồm những từ và cụm từ cố định Đó là những khái

niệm và những đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn nhất định như y học, giáo dục, xây dựng, kinh tế… Thuật ngữ phân biệt với các lớp từ vựng khác ở

Trang 29

22

chỗ: ngoại diên của thuật ngữ là tập hợp những đối tượng (từ ngữ) có nội hàm là các thuộc tính như: tính xác định về nghĩa, có tính hệ thống và xu hướng một nghĩa, mang tính quốc tế, không mang sắc thái tu từ biểu cảm [22, tr.118] hay tính chính xác, tính quốc tế, tính hệ thống [16] Trong khi đó, TNNN được sử dụng phổ biến trong phạm vi những người cùng làm một nghề và phạm vi hoạt động của TNNN phụ thuộc vào mức độ phổ biến của nghề đối với xã hội [18, tr.224] Ngoại diên của khái niệm TNNN và ngoại diên của khái niệm thuật ngữ

có điểm trùng nhau nhưng cũng có điểm khác biệt nhau Điểm trùng nhau là, chúng đều là những từ ngữ có tính xác định về nghĩa, được sử dụng trong tập thể những người thuộc một lĩnh vực/ ngành nghề Điểm khác biệt là, ngoại diên của khái niệm thuật ngữ là những từ ngữ trung hòa về sắc thái, có phạm vi sử dụng rộng trong một ngành khoa học, có tính quốc tế… Trong khi đó, ngoại diên của khái niệm TNNN là những từ ngữ có tính khẩu ngữ, có tính dân gian, có tính biểu cảm, chỉ sử dụng phổ biến trong cộng đồng làm nghề ở một địa phương…[16, 29, 60] Như vậy, mối quan hệ giữa ngoại diên của thuật ngữ và ngoại diên của TNNN là mối quan hệ trùng nhau Tuy nhiên, vì chúng chỉ trùng nhau ở một số điểm nên mối quan hệ này thuộc loại quan hệ giao nhau Ngoài ra, công trình của O.N.Trubachev còn cho thấy mối quan hệ giữa TNNN và thuật ngữ khi nghiên cứu sự phát triển của từ ngữ nghề đan lát, một trong những nghề thủ công nguyên thủy, sau này đã trở thành “các thuật ngữ của ngành dệt, khi mà ngành này thay thế cho những ngành thủ công thô sơ nhất” [dẫn theo 62, tr.63] Sau này, nghiên cứu của Nguyễn Thị Chi Lê cũng cho thấy mối quan hệ giữa TNNN, thuật ngữ như sau: “Đông y vốn là nghề của các thầy lang, nên các từ ngữ dùng trong Đông y được coi là những đơn vị TNNN Ngày nay, Đông y đã trở thành những ngành khoa học y tế sức khỏe, là một chuyên ngành đào tạo, và Đông dược là một trong số những môn học chuyên ngành quan trọng Do vậy, tên gọi các vị Đông dược vốn là các từ nghề nghiệp nay đã được bổ sung, nâng cấp thành thuật ngữ khoa học” [43] Kết quả nghiên cứu của công trình Thuật ngữ khoa học kỹ thuật xây dựng trong tiếng Việt cũng đã chứng minh thuật ngữ

Trang 30

23

xây dựng cũng được hình thành trên cơ sở của TNNN [32] Điều này cho thấy ngoại diên của TNNN và thuật ngữ có những điểm giao nhau (cùng được sử dụng trong một tập thể làm nghề nhất định) nhưng cũng có điểm khác biệt nhau: phạm vi của thuật ngữ rộng hơn, mang tính quốc tế… trong khi phạm vi sử dụng của TNNN không phổ biến trong xã hội, mang tính địa phương…

Thứ tư, biệt ngữ cũng có mối quan hệ với TNNN giống như thuật ngữ

Paula Caudle cho rằng biệt ngữ là: (1) ngôn ngữ kỹ thuật của một nghề hoặc một nhóm nghề cụ thể; (2) Đều khó hiểu ở dạng viết và dạng nói; (3) Là kết quả từ sự pha trộn của một số phương ngữ cụ thể Trong khi đó, theo quan niệm của Yule, biệt ngữ là từ vựng chuyên biệt được sử dụng trong các nhóm xã hội Cùng quan điểm này, Finegan nhận định biệt ngữ như là TNNN (professional jargon), được một nhóm người sử dụng với mục đích chia sẻ lợi ích riêng khi tham gia vào các hoạt động xung quanh những lợi ích đó Biệt ngữ liên quan đến các ngành nghề như tài chính, y khoa và liên quan tới các hoạt động như thể thao, âm nhạc và máy tính [dẫn theo 71] Từ điển di sản của Hoa Kỳ (The American Heritage Dictionary) xác định biệt ngữ (đặc biệt là từ vựng mang đặc thù của nghề nghiệp hoặc nhóm xã hội như từ ngữ ngành y) là “ngôn ngữ vốn được đặc trưng bởi sự không thông dụng hoặc ẩn chứa về mặt từ vựng, phức tạp về mặt cú pháp và thường

mơ hồ về ý nghĩa" [dẫn theo 80] Biệt ngữ đôi khi được mô tả như là một ngôn ngữ tiêu cực vì nó có thể bị hiểu lầm hoặc không hiểu gì cả khi được các chính trị gia, các công ty quảng cáo sử dụng, trong khi TNNN là ngôn ngữ chuyên môn của một nghề nghiệp nào đó hoặc đơn giản là ngôn ngữ để nói của những người có cùng chuyên môn [71] Ở Việt Nam, hầu như các công trình nghiên cứu đều cho rằng: biệt ngữ là một dạng phương ngữ xã hội, bao gồm những đơn vị từ vựng được sử dụng trong phạm vi một nhóm người/ tập thể xã hội nhất định: “Biệt ngữ có thể

là tên gọi chính thức của các SV, HT… thực có trong tập thể xã hội và biệt ngữ

là những tên gọi thêm, chồng lên tên chính thức của các SV, HT” [16, 135] và được phân biệt như sau: “Khác với từ vựng nghề nghiệp và thuật ngữ, biệt ngữ chỉ là những đơn vị từ vựng biểu thị những SV, HT thuộc phạm vi sinh

Trang 31

tr.134-24

hoạt của một tập thể xã hội Chúng không phải là tên gọi của các công cụ, các sản phẩm, các thao tác sản xuất… như từ vựng nghề nghiệp” [16, tr.253] Qua

đó, những thuộc tính của biệt ngữ cũng được đề cập đến nhằm phân biệt hai lớp

từ vựng này như: phạm vi sử dụng, mục đích sử dụng… Như vậy, có thể thấy ngoại diên của khái niệm TNNN và ngoại diên của khái niệm biệt ngữ có điểm giao thoa: chúng đều là những từ ngữ được sử dụng trong phạm vi một tập thể nhất định trong xã hội Điểm khác nhau của chúng là, trong khi ngoại diên của khái niệm biệt ngữ là những từ ngữ được dùng trong một số môi trường sinh hoạt (từ ngữ của một hay một số tôn giáo, từ ngữ của một hay một số giai cấp chính trị,… trong xã hội) thì ngoại diên của khái niệm TNNN hạn hẹp hơn rất nhiều Đó là những từ ngữ chỉ được dùng trong môi trường lao động ở mỗi địa phương cụ thể Như vậy, ngoại diên của biệt ngữ lớn hơn ngoại diên của TNNN Theo logic học, quan hệ giữa chúng là mối quan hệ trùng nhau, biệt ngữ là khái niệm loại, TNNN là khái niệm chủng Trong đó, một bộ phận ngoại diên của khái niệm TNNN trùng với một bộ phận ngoại diên của biệt ngữ và ngoại diên của khái niệm biệt ngữ lớn hơn ngoại diên của khái niệm TNNN Cũng chính vì vậy, Kenneth Hudson (1978) xem TNNN là một dạng của biệt ngữ, có tính chất của một biệt ngữ: 1) Nó phản ánh một nghề nghiệp hay chuyên môn cụ thể; 2)

Nó cường điệu chỉ với một hạt nhân nhỏ bên dưới; 3) Nó được sử dụng chủ yếu bởi những người có trình độ dân trí, những người cảm thấy cần thuyết phục công chúng nói về tầm quan trọng của họ; 4) Cố tình hoặc vô tình làm cho người khác cảm thấy khó xử [dẫn theo 71]

Thứ năm, từ ngữ/tiếng lóng là những từ ngữ được sử dụng hạn chế về mặt

xã hội Nội hàm của từ ngữ/ tiếng lóng bao gồm một số thuộc tính như: 1) Là loại ngôn ngữ ẩn sau lớp vỏ ngôn ngữ, được sử dụng một cách không chính thức; 2) Thường xuyên diễn ra ở dạng lời nói hơn là ở dạng viết” [Carl Sandburg, dẫn theo 71]; 3) Được tạo ra từ những từ ngữ mới hoặc từ những ý nghĩa mới của từ hiện tại và thường sử dụng hình ảnh trực quan để gây ấn tượng; 4) Tồn tại trong thời gian ngắn và có xu hướng thay đổi nhanh chóng; 5) Những người sử dụng

Trang 32

25

từ ngữ lóng cho rằng mình thuộc một phần trong nhóm xã hội đó với những giá trị và niềm tin đặc biệt” [Yule, Adam, Finegan dẫn theo 71] Như vậy, có thể nói ngoại diên của từ ngữ/ tiếng lóng gồm những từ ngữ thỏa mãn ít nhất những thuộc tính trên Trong khi đó, nội hàm của TNNN được xác định như sau: 1) Là ngôn ngữ kỹ thuật chuyên ngành của mỗi nghề nghiệp; 2) Không có tính cá nhân

và không mang tính trang trọng (trong khi tiếng lóng về cơ bản là thân thiện và khôi hài); 3) Có tính bảo thủ hơn so với từ ngữ lóng (các từ có nội dung chuyên môn (TNNN) rất khó bị thay thế trong khi “tuổi thọ” của từ ngữ lóng ngắn hơn nhiều, điển hình nhất là từ ngữ/ tiếng lóng của học sinh; 4) Được sử dụng bởi những người cùng độ tuổi hoặc những người có cùng loại công việc hoặc vị trí

xã hội với nhau và 5) Sử dụng TNNN để thể hiện địa vị xã hội, tầm quan trọng của chúng và để phân biệt những nhóm xã hội khác nhau [71] Như vậy, có thể nói, tuy không trùng khít với nhau nhưng ngoại diên của khái niệm từ ngữ/ tiếng lóng và khái niệm TNNN có điểm giao thoa với nhau: đều là những từ ngữ được những nhóm người khác nhau trong xã hội sử dụng Do vậy, quan hệ giữa tiếng lóng và TNNN là mối quan hệ trùng nhau và thuộc loại quan hệ giao nhau Điểm phân biệt căn bản giữa ngoại diên của khái niệm tiếng lóng và ngoại diên khái niệm TNNN là, trong khi ngoại diên của tiếng lóng là từ ngữ thường được đối tượng “đen” của xã hội sử dụng thì ngoại diên của TNNN là những từ ngữ được

sử dụng bởi những người lao động chân chính Theo David Crystal (1995), tiếng lóng bằng thơ có nguồn gốc với thế giới tội phạm ngầm của London Cockneys vào giữa thế kỷ 19, chẳng hạn như đọc và viết (chiến đấu); rắc rối và bạo lực (vợ)… Trong khi đó, TNNN không chỉ được người sử dụng dùng để che giấu sự thật đối với người ngoài nghề mà TNNN còn tăng cường đoàn kết giữa các cá nhân trong nhóm nghề nghiệp với nhau [71] Mặc dù TNNN và từ ngữ/ tiếng lóng đều bị chi phối bởi các động lực chung như là các hiện tượng xã hội xuất hiện một cách tạm thời, sẽ mất đi khi tập thể xã hội sản sinh ra chúng không còn tồn tại nhưng từ ngữ/ tiếng lóng lại bị bó hẹp trong phạm vi tập thể đó, khó lòng vượt khỏi ranh giới xã hội của mình Trong khi đó, TNNN một mặt vừa có khả

Trang 33

26

năng thâm nhập vào vốn từ ngữ toàn dân, làm phong phú cho vốn từ vựng toàn dân; mặt khác nó cũng có xu hướng “thuật ngữ hóa” khi nghề nghiệp đó được xã hội coi như một ngành khoa học độc lập

Có thể nói rằng, TNNN là một lớp từ ngữ đặc biệt, nó có nhiều điểm giao thoa, tiếp xúc với nhiều nhóm từ ngữ khác trong hệ thống ngôn ngữ Nó vừa có tính đặc thù của mỗi cộng đồng làm nghề ở mỗi địa phương, vừa có tính phổ biến của ngôn ngữ toàn dân khi nghề nghiệp đó được quảng bá rộng rãi trong xã hội Nhất là giai đoạn hiện nay, khoa học công nghệ rất phát triển, những thông tin về nghề truyền thống ngày càng được phổ biến và quảng bá rất mạnh trên mạng internet nhằm mục đích phát triển du lịch, phát triển làng nghề truyền thống ở các địa phương nói riêng và ở Việt Nam nói chung

1.2.2 Một số cơ sở lý luận sử dụng trong nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp

1.2.2.1 Quan điểm của luận án về các hình thức cấu tạo của từ ngữ nghề nghiệp

Trong ngôn ngữ học truyền thống ở Việt Nam, mặc dù có nhiều quan điểm về đơn vị cấu tạo từ, nhưng tựu chung lại, có hai quan điểm chính: 1) hình vị trùng với âm tiết (đại diện là Nguyễn Tài Cẩn, Cao Xuân Hạo…) và 2) hình vị không hoàn toàn trùng với âm tiết (đại diện là Đỗ Hữu Châu, Hồ Lê, Đái Xuân Ninh)

Về khái niệm từ tiếng Việt cũng vậy, có hai nhóm quan điểm: 1) từ tiếng Việt trùng với âm tiết (hay tiếng) (đại diện cho nhóm quan điểm này là Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thiện Giáp…); 2) từ tiếng Việt không trùng với âm tiết tiếng Việt (đại diện là Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê, Hồ Lê, Lưu Văn Lăng,

Đỗ Hữu Châu…)

Trên cơ sở tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, phân tích tính điển hình, chúng tôi sử dụng quan điểm của Nguyễn Tài Cẩn về đơn vị cấu tạo từ trong tiếng Việt Như vậy, đơn vị cấu tạo từ của TNNN là tiếng Tiếng trùng với âm tiết và hình vị: “Đơn vị ngữ pháp nhỏ nhất, vừa là hình vị, vừa là âm tiết, có ý nghĩa và có giá trị về mặt hình thái, còn gọi là tiếng một, hình vị, từ tố Ăn, học, đẹp, cao và

sẽ, thức là những tiếng trong tiếng Việt (…) mỗi tiếng như thế chính là một đơn

Trang 34

27

vị gốc – một hình vị - của ngữ pháp tiếng Việt, tiếng là đơn vị có đủ cả hai đặc trưng: đơn giản về tổ chức” và “có giá trị về ngữ pháp [15, tr.12-13]” Dựa vào tiêu chí số lượng âm tiết mà Nguyễn Tài Cẩn chia ra làm hai kiểu loại đơn vị cấp

độ từ: từ đơn tiết (từ đơn) và từ ghép

Bên cạnh đó, cũng có nhiều quan điểm về ngữ như: Đỗ Hữu Châu khi phân biệt từ ghép, cụm từ tự do và ngữ cố định cho rằng: “do sự cố định hóa, do tính chặt chẽ mà các ngữ cố định ít hay nhiều đều có tính thành ngữ” và “Chúng

ta nói ngữ cố định tương đương với từ không phải vì chúng có tính sẵn có, bắt buộc… như từ mà còn vì ở trong câu chúng có thể thay thế cho một từ, ở vị trí các từ, hoặc có thể kết hợp với từ để tạo câu” [16, tr.72-73] Trong khi đó, Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “ngữ là cụm từ có sẵn trong ngôn ngữ, có giá trị tương đương với từ, có nhiều đặc điểm giống với từ: chúng có thể tái hiện trong lời nói như các từ; về mặt ngữ pháp chúng có thể làm thành phần câu; về mặt ngữ nghĩa chúng cũng biểu hiện những hiện tượng của thực tế khách quan, gắn liền với những kiểu hoạt động khác nhau của con người” Ngữ có tính cố định và tính thành ngữ [22, tr.72]

Về phân loại ngữ, Nguyễn Văn Khang và nhóm tác giả phân biệt 1) những đơn vị có cấu tạo là cụm từ dùng để chỉ một SV, HT hay quá trình là ngữ chuyên môn, 2) thành ngữ [37]; Nguyễn Thiện Giáp cho rằng có ba loại ngữ thành ngữ, quán ngữ và ngữ cố định [22] Đỗ Hữu Châu sử dụng khái niệm ngữ

cố định, trong đó bao gồm ngữ cố định có kết cấu cụm danh từ, ngữ cố định kết cấu cụm tính từ, ngữ cố định kết cấu cụm động từ [16]…

Từ ngữ nghề nghiệp là một bộ phận của từ vựng tiếng Việt Vì thế nó chịu ảnh hưởng của các quy luật cấu tạo từ ngữ, cách phân loại từ ngữ …trong tiếng Việt Tiếp thu và kế thừa quan điểm của những nghiên cứu đi trước về từ ngữ tiếng Việt, luận án này thống nhất về hình thức cấu tạo của TNNN ở QN-ĐN như sau:

1) Từ đơn (hay còn gọi là từ đơn âm tiết) là đơn vị ngôn ngữ chỉ có một

tiếng/ âm tiết Chẳng hạn, só (danh từ, tên một loại dụng cụ, làm bằng sắt, có

Trang 35

28

mũi nhọn, thường dùng để chạm khắc đá); chấn (động từ, dùng mũi bạt, hoặc

mũi xì rô đục sâu thẳng vào đường đã định sẵn trên mặt đá đã làm phẳng hoặc tương đối phẳng)…

2) Từ ghép (hay còn gọi là từ phức) là đơn vị có hai tiếng trở lên Dựa vào quan hệ về ý nghĩa của các thành tố cấu tạo, có thể phân loại từ ghép thành những đơn vị nhỏ hơn như:

Từ ghép đẳng lập (còn gọi là từ ghép hợp nghĩa, từ ghép láy nghĩa) là đơn

vị ngôn ngữ mà thành tố cấu tạo có vai trò bình đẳng với nhau và có ý nghĩa láy nhau [15] Những từ ngữ này biểu thị ý nghĩa khái quát hoặc ý nghĩa tổng hợp:

đẽo gọt (động từ, đẽo và gọt nói tổng quát), sứt gãy (tính từ, vừa sứt vừa gãy, nói

3) Từ láy/ dạng láy (hay còn gọi là từ láy âm) là từ mà các thành tố trực

tiếp được kết hợp với nhau chủ yếu theo quan hệ ngữ âm [15], chẳng hạn như: sít

sao, thơ thới…

Đối với những đơn vị có cấu tạo trên từ (cụm từ/ ngữ), chúng tôi sử dụng hai khái niệm sau:

Trang 36

máy trả tranh, đục hình chữ V, làm thô, làm nguội… Ngoài ra, luận án này dựa

vào từ loại của thành tố trung tâm, xác định ý nghĩa ngữ pháp của TNNN có cấu tạo là ngữ định danh, xếp chúng vào nhóm các TNNN có từ loại: danh từ, động

từ và tính từ để thuận tiện cho việc khảo sát TNNN ở QN-ĐN

2) Thành ngữ (hay còn gọi là cụm từ cố định): đơn vị ngôn ngữ có cấu tạo

là một cụm từ, “có tính ổn định, cố định về cấu trúc” [25, tr.28] và “biểu thị những khái niệm một cách bóng bẩy” [25, tr.31] Thành ngữ trong tiếng Việt có thể là thành ngữ so sánh hoặc thành ngữ ẩn dụ hóa Giống như thành ngữ trong tiếng Việt, thành ngữ trong TNNN được tạo nên qua cơ chế tổng hợp nghĩa của

cả cụm từ để biểu thị một nội dung nhất định, chẳng hạn như: cối méo khéo thợ

(TNNN của nghề chạm khắc đá) nói về kinh nghiệm làm nghề chạm khắc đá ở QN-ĐN, người thợ giỏi là người thợ trước tiên phải đục đá cho méo thì sau mới đục tròn được

1.2.2.2 Quan điểm của luận án về nghĩa

Hiện nay có nhiều quan điểm cũng như nhiều trường phái/ truyền thống nghiên cứu ngữ nghĩa khác nhau tương ứng với lý thuyết mà nghiên cứu đó vận dụng như: ngữ nghĩa học truyền thống, ngữ nghĩa học cấu trúc, ngữ nghĩa học hình thức, ngữ nghĩa học tri nhận Đồng thời nghĩa cũng được nghiên dưới nhiều góc độ khác nhau như: ngữ nghĩa từ vựng, ngữ nghĩa cú pháp và ngữ nghĩa ngữ dụng Mỗi một góc độ nghiên cứu đó nghĩa lại được triển khai dưới nhiều cấp độ khác nhau: ngữ nghĩa từ vựng nghiên cứu mối quan hệ giữa nghĩa của các đơn vị từ vựng (quan hệ đồng âm, đa nghĩa, đồng nghĩa, trái nghĩa, ẩn

Trang 37

30

dụ, hoán dụ…), ngữ nghĩa cú pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa nghĩa của các câu/phát ngôn (nghĩa biểu hiện và nghĩa logic ngôn từ…), còn đối với ngữ nghĩa ngữ dụng nghiên cứu nghĩa của lời (nghĩa hàm ẩn, nghĩa tường minh, tiền giả định và hàm ý…)

Trong luận án này, chúng tôi nghiên cứu nghĩa từ vựng của TNNN ở

QN-ĐN với quan điểm sau: “nghĩa là một thực thể tinh thần trừu tượng tồn tại trong mọi biểu hiện, cấp độ của ngôn ngữ để ngôn ngữ thực hiện chức năng công cụ của giao tiếp và tư duy cũng như mọi loại chức năng cụ thể đa dạng khác” [56] Như vậy, nghĩa của từ là một thực thể trừu tượng, tồn tại nhằm mục đích giúp ngôn ngữ thực hiện các chức năng của mình, Tuy nhiên, tùy từng chức năng khác nhau mà nghĩa biểu hiện rất khác nhau

Mặt khác, TNNN vốn là một dạng “thuật ngữ dân gian” vì thế trong luận án này, chúng tôi chỉ xem xét nghĩa từ vựng của TNNN theo các nhóm từ ngữ - sản phẩm văn hóa của cộng đồng với việc nghiên cứu nghĩa theo các tiêu chí sau:

Thứ nhất, xét về mặt cấu trúc, nghĩa của từ không phải là một khối không

thống nhất mà là một tập hợp những thành phần ý nghĩa nhất định Đứng dưới góc độ khác nhau, có nhiều quan điểm về cấu trúc nghĩa của từ [16, 23] Đỗ Hữu Châu phân biệt ba loại thành phần ý nghĩa theo chức năng của từ chuyên đảm nhiệm gồm có ý nghĩa biểu vật ứng với chức năng biểu vật, ý nghĩa biểu niệm ứng với chức năng biểu niệm, ý nghĩa biểu thái ứng với chức năng biểu thái Tuy nhiên, TNNN là một lớp từ ngữ đặc biệt, thường chỉ đối tượng cụ thể trong nghề nên ý nghĩa biểu thái không được thể hiện rõ [16]

Mặt khác, mục đích của luận án là tìm hiểu đặc trưng văn hóa trong TNNN liên quan đến mối quan hệ phản ánh giữa SV, HT với các đối tượng trong nghề nên trong luận án này chúng tôi tạm thời chưa đề cập tới ý nghĩa biểu thái mà phân tích cấu trúc ngữ nghĩa của TNNN theo hai nội dung sau: 1) Ý nghĩa biểu vật (còn gọi là nghĩa sở chỉ) là ý nghĩa được bắt nguồn từ những SV, HT, đặc điểm… khách quan, vận hành theo cơ chế của mỗi một ngôn ngữ nhất định như: chịu sự tác động của qua lại của các từ khác, chịu sự khái quát hóa, chịu sự tác động của

Trang 38

31

những quy tắc cấu tạo từ đã trở thành những sự kiện ngôn ngữ chứ không còn là những sự kiện ngoài ngôn ngữ nữa [16, tr.111]; 2) Ý nghĩa biểu niệm (còn gọi là nghĩa sở biểu) được bắt nguồn từ các ý nghĩa biểu vật tương ứng Thông qua ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm liên hệ với thực tế khách quan Đồng thời qua khái niệm, ý nghĩa biểu niệm có sự liên hệ với các SV, HT ngoài ngôn ngữ Nói cách khác, ý nghĩa biểu niệm là tập hợp một số nét nghĩa chung và riêng, khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định Tập hợp này ứng với một hoặc một số ý nghĩa biểu vật của từ Tập hợp các nét nghĩa phạm trù, khái quát chung cho nhiều từ được gọi là cấu trúc biểu niệm [16, tr.113]

Thứ hai, xét về mối liên hệ với SV, HT, nghĩa của từ gồm nghĩa trực tiếp

(hay còn gọi là nghĩa gốc, nghĩa đen) và nghĩa chuyển tiếp (nghĩa được phái sinh qua các phương thức chuyển nghĩa của từ (ẩn dụ và hoán dụ) Nghĩa trực tiếp là nghĩa “phản ánh sự vật một cách trực tiếp không qua nghĩa nào khác của từ” Trong khi đó, nghĩa chuyển tiếp là “nghĩa phản ánh đối tượng gián tiếp thông qua ý nghĩa khác” [23, tr.214]

Các SV, HT trong thế giới khách quan có rất nhiều thuộc tính, đặc trưng khác nhau và chúng có ở mỗi một địa phương, mỗi một vùng lãnh thổ khác nhau Những thuộc tính này là cơ sở cho việc hình thành các nghĩa chuyển tiếp dùng

để gọi tên các SV, HT Đặc trưng văn hóa dân tộc cũng thể hiện rõ qua quá trình chuyển nghĩa này Bởi vì mỗi một cộng đồng, mỗi một dân tộc có sự quan tâm khác nhau đến các thuộc tính của SV, HT và phản ánh khác nhau vào mỗi ngôn ngữ/ phương ngữ

1.2.2.3 Quan điểm của luận án về nguồn gốc các yếu tố cấu tạo

Trong một số nghiên cứu gần đây về TNNN tiếng Việt, có nhiều cách gọi

về nguồn gốc các yếu tố cấu tạo của TNNN hiện nay như từ thuần hay thuần

Việt Theo chúng tôi, cách gọi trên là chưa thỏa đáng vì hai lí do sau: Thứ nhất,

có rất ít ngôn ngữ hoàn toàn thuần nhất, không có sự giao lưu với các cộng đồng khác trong quá trình sinh sống (một vài bộ tộc sống biệt lập) nên mặc dù TNNN được dùng trong một cộng đồng khép kín giữa những người làm nghề nhưng

Trang 39

32

những cộng đồng này vẫn có sự giao lưu, trao đổi văn hóa, kinh tế… với các cộng đồng khác nên vẫn có sự vay mượn lẫn nhau về mặt ngôn ngữ giữa các

cộng đồng để làm phong phú cho vốn từ vựng của mình Thứ hai, tiếng Việt là

ngôn ngữ của đông đảo cộng đồng người Việt Theo bước chân Nam tiến, phạm

vi hoạt động của tiếng Việt mở rộng về phía Nam và xuất hiện ở QN - ĐN từ thế

kỷ thứ 14 [39] Trong suốt chiều dài lịch sử, người Việt và các tộc người khác trên lãnh thổ Việt Nam đã có sự cộng cư, giao lưu, tiếp xúc về kinh tế, văn hóa, ngôn ngữ … Do đó, nghiên cứu TNNN của người Việt ở một nơi có địa bàn nghiên cứu phức tạp, có bề dày lịch sử, văn hóa như ở vùng Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, hay QN-ĐN … cần có sự phân biệt ngôn ngữ gốc (tiếng Việt) và ngôn ngữ vay mượn (không phải là tiếng Việt) Theo đó, TNNN của ba nghề TCMN ở QN-ĐN được phân loại như sau:

1) Từ ngữ gốc Việt thường là những đơn vị ngôn ngữ có cấu tạo nhỏ nhất

là một tiếng có ý nghĩa (từ vựng hoặc ngữ pháp) và được dùng một cách độc lập

trong câu/ phát ngôn, chẳng hạn như: chuốt, dí, dẻo, bu, chần, chấn…

2) Từ ngữ gốc vay mượn (không phải là gốc Việt) là từ ngữ được vay mượn từ những ngôn ngữ khác như từ ngữ gốc Hán - Việt, từ ngữ gốc Ấn Âu, từ

ngữ gốc khác như gốc Chăm…, chẳng hạn như: nhíp (Ấn Âu), cốt bê tông (Hán Việt - Ấn Âu), hồng thạch, bạch thạch (Hán Việt)…

3) Từ ngữ kết hợp giữa gốc Việt và gốc vay mượn, chẳng hạn như: đá

granit (Việt - Ấn Âu), mũi xút pắp (Việt - Ấn Âu), ra chi tiết (Việt – Hán Việt),

thợ điêu khắc (Việt – Hán Việt)…

1.2.2.4 Mối quan hệ giữa định danh và văn hóa

Ngay từ thời cổ đại, con người quan tâm đến viêc định danh (gọi tên) các

SV, HT Khổng tử với thuyết Chính danh “Tên gọi không đúng thì lời không xuôi Lời không xuôi thì việc không thành” (Luận ngữ) [dẫn theo 52, tr.41] C.Mác quan tâm đến vấn đề gọi tên trong ngôn ngữ: “Tên gọi một vật rõ ràng không có liên can gì đến bản chất của vật đó cả, tôi tuy có biết người kia tên là Giắc, nhưng vẫn không biết ông ta là người như thế nào cả Trong cái tên gọi của

Trang 40

33

những thứ tiền như tên stec-linh, ta-le, phơ-răng, đô-la thì cũng thế, kỳ thực không có một chút dấu vết gì của quan hệ giá trị cả” [42, tr.29]; Ph Ănghen:

“Trong hóa học hữu cơ, ý nghĩa của một vật thể, và do đó cả tên gọi của vật thể

ấy nữa, đều không phải chỉ do một mình cấu thành của vật thể ấy quyết định, mà chính là do vị trí của nó trong loại mà nó phụ thuộc vào, quyết định Vì vậy, nếu chúng ta phát hiện ra rằng một vật thể nào đó là thuộc một chuỗi (série), thì tên gọi cũ của vật thể ấy trở thành một chướng ngại khiến người ta không hiểu được

nó, và tên gọi cũ đó cần phải được thay thế bằng một tên gọi chỉ rõ chuỗi ấy” [41, tr.30] Như vậy, việc gọi tên (định danh ngôn ngữ) là: 1) Sự gán nhãn thuộc tính của SV, HT hay quá trình để phân biệt với các sự vật hiện tượng khác đã xuất hiện; 2) Việc định danh đó không hoàn toàn phản ánh hết những thuộc tính bản chất của SV, HT

Dưới góc độ ngôn ngữ học, Nguyễn Như Ý, Hà Quang Năng, Đỗ Việt Hùng, Đặng Ngọc Lệ (2010) cho rằng “định danh là sự cấu tạo các đơn vị ngôn ngữ có chức năng dùng để gọi tên, chia tách các đoạn của hiện thực khách quan trên cơ sở đó hình thành các khái niệm tương ứng về chúng dưới dạng các từ, cụm từ, ngữ cú và câu” [61]

Luận án này sử dụng khái niệm định danh của G.V Cônsansky: “Định danh là sự cố định (hay gắn) cho một kí hiệu ngôn ngữ một khái niệm - biểu niệm phản ánh những đặc trưng nhất định của một biểu vật - các thuộc tính, phẩm chất và quan hệ của các đối tượng và các quá trình thuộc phạm vi vật chất

và tinh thần, nhờ đó các đơn vị ngôn ngữ tạo thành những yếu tố nội dung của giao tiếp ngôn từ” [dẫn theo 57, tr.164] và “quy trình định danh được thể hiện trước hết ở việc quy loại khái niệm của đối tượng định danh” [57, tr.83] và “quá trình tạo ra các từ để định danh hay gọi tên các đối tượng, có ý nghĩa lớn lao là vấn đề lựa chọn đặc trưng nào đó nổi bật, có giá trị khu biệt để làm cơ sở cho gọi tên đối tượng [57, tr.84] Như vậy định danh ngôn ngữ là việc gọi tên những SV,

HT bằng cách gán đặc trưng dễ khu biệt của SV, HT của mỗi cộng đồng

Ngày đăng: 17/04/2021, 14:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Văn An (2012), Nghề truyền thống ở Hội An, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề truyền thống ở Hội An
Tác giả: Trần Văn An
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2012
2. Lương Vĩnh An (2001), Văn hóa biển Quảng Nam – Đà Nẵng qua vốn từ chỉ nghề cá, Đề tài cấp Bộ, MS B.98- 16-14, Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa biển Quảng Nam – Đà Nẵng qua vốn từ chỉ nghề cá
Tác giả: Lương Vĩnh An
Năm: 2001
3. Đào Duy Anh (2005), Hán Việt từ điển, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Việt từ điển
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2005
4. Trần Hoàng Anh (2017), Nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp nghề cá vùng Đồng Tháp Mười, luận án tiến sỹ Ngữ văn, Đại học Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp nghề cá vùng Đồng Tháp Mười
Tác giả: Trần Hoàng Anh
Năm: 2017
5. Trịnh Phương Anh (2012), Từ ngữ nghề mộc ở Đạt Tài, Hoằng Hóa, Thanh Hóa, Luận văn Thạc sỹ Ngữ văn, Đại học Hồng Đức, Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ ngữ nghề mộc ở Đạt Tài, Hoằng Hóa, Thanh Hóa
Tác giả: Trịnh Phương Anh
Năm: 2012
6. Thanh Bình (2014), mục Điều kiện tự nhiên trên trang http://quangnam.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều kiện tự nhiên
Tác giả: Thanh Bình
Năm: 2014
7. Nguyễn Thị Thanh Bình (2008), “Ngôn ngữ” in trong Nhân học đại cương, Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ” in trong "Nhân học đại cương
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2008
8. Hoàng Trọng Canh (2003), Từ nghề nghiệp trong phương ngữ Nghệ Tĩnh trong phương ngữ Nghệ Tĩnh (Bước đầu khảo sát các lớp từ nghề cá, nước mắm, muối), Nhiệm vụ cấp Bộ, MS: B2003-42-48, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ nghề nghiệp trong phương ngữ Nghệ Tĩnh trong phương ngữ Nghệ Tĩnh (Bước đầu khảo sát các lớp từ nghề cá, nước mắm, muối)
Tác giả: Hoàng Trọng Canh
Năm: 2003
9. Hoàng Trọng Canh (2005), “Những nét dấu ấn tư duy văn hóa của người Nghệ qua tên gọi từ chỉ nghề cá”, in trong kỷ yếu Ngữ học trẻ, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam và Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thừa Thiên Huế đồng tổ chức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nét dấu ấn tư duy văn hóa của người Nghệ qua tên gọi từ chỉ nghề cá”, in trong kỷ yếu "Ngữ học trẻ
Tác giả: Hoàng Trọng Canh
Năm: 2005
10. Hoàng Trọng Canh (2006), “ Một vài đặc điểm lớp từ trồng lúa trong phương ngữ Nghệ Tĩnh”, Kỷ yếu Hội nghị Ngữ học trẻ, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam và Sở Giáo dục và Đào tạo Thừa Thiên Huế đồng tổ chức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài đặc điểm lớp từ trồng lúa trong phương ngữ Nghệ Tĩnh”, Kỷ yếu Hội nghị "Ngữ học trẻ
Tác giả: Hoàng Trọng Canh
Năm: 2006
11. Hoàng Trọng Canh (2009), Dấu ấn văn hóa của người Nghệ Tĩnh trên website: http://www.vanhoahoc.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dấu ấn văn hóa của người Nghệ Tĩnh
Tác giả: Hoàng Trọng Canh
Năm: 2009
13. Hoàng Trọng Canh (2013), “Qua khảo sát từ nghề biển Thanh – Nghệ Tĩnh, suy nghĩ về việc thu thập và nghiên cứu từ nghề nghiệp”, tạp chí Ngôn ngữ, số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qua khảo sát từ nghề biển Thanh – Nghệ Tĩnh, suy nghĩ về việc thu thập và nghiên cứu từ nghề nghiệp”, tạp chí "Ngôn ngữ
Tác giả: Hoàng Trọng Canh
Năm: 2013
14. Hoàng Trọng Canh (chủ nhiệm đề tài, 2014), Nghiên cứu từ ngữ và văn hóa nghề biển Thanh – Nghệ Tĩnh, đề tài được tài trợ bởi Quỹ Nafosted, đã nghiệm thu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu từ ngữ và văn hóa nghề biển Thanh – Nghệ Tĩnh
15. Nguyễn Tài Cẩn (1995), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1995
16. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng - Ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng - Ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
17. Nguyễn Văn Chiến (2004), Tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hóa Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hóa Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Chiến
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
18. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2000), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
19. Mai Ngọc Chừ, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đỗ Việt Hùng, Bùi Minh Toán (2013), Nhập môn ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đỗ Việt Hùng, Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2013
51. Vũ Sinh (2017), Đà Nẵng quy hoạch, phát triển làng nghề truyền thống, trên website: https://dantocmiennui.vn/van-hoa/da-nang-quy-hoach-phat-trien-lang-nghe-truyen-thong/141462.html Link
55. Trần Ngọc Thêm (2000), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, trên website: http://www.vanhoahoc.vn Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w