1 CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH CHO VAY BỔ SUNG VỐN LƯU ĐỘNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Một số vấn đề cơ bản về vốn lưu động c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
-o0o -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI :
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH CHO VAY
BỔ SUNG VỐN LƯU ĐỘNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH ĐÔNG ANH
SINH VIÊN THỰC HIỆN: PHẠM THỊ LIÊN
MÃ SINH VIÊN : A15830 CHUYÊN NGÀNH : NGÂN HÀNG
HÀ NỘI - 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
-o0o -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI :
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH CHO VAY
BỔ SUNG VỐN LƯU ĐỘNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH ĐÔNG ANH
Giáo viên hướng dẫn : Ths Phạm Thị Bảo Oanh Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Liên
Mã sinh viên : A15830 Chuyên ngành : Ngân hàng
HÀ NỘI – 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trải qua thời gian dài học tập trong trường, đã đến lúc những kiến thức của em được vận dụng vào thực tiễn công việc Em lựa chọn làm khóa luận tốt nghiệp để tổng kết lại toàn bộ những kiến thức của mình Trong quá trình làm khóa luận, em đã nhận được nhiều sự giúp đỡ Em xin cảm ơn giáo viên hướng dẫn là Thạc sĩ Phạm Thị Bảo Oanh đã nhiệt tình hướng dẫn em hoàn thành tốt báo cáo khóa luận của mình Em xin cảm ơn Ban Lãnh đạo Ngân hàng Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đông Anh cùng các anh chị cán bộ tín dụng phòng Khách hàng doanh nghiệp đã cho em cơ hội thực tập và làm việc, nghiên cứu để gợi ý những giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng
Em xin chân thành cảm ơn
Trang 4MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH CHO VAY BỔ SUNG VỐN LƯU ĐỘNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1
1.1 Một số vấn đề cơ bản về vốn lưu động của doanh nghiệp 1
1.1.1 Khái niệm vốn lưu động 1
1.1.2 Đặc điểm vốn lưu động 1
1.1.3 Vai trò của vốn lưu động đối với hoạt động của doanh nghiệp 2
1.1.4 Phân loại vốn lưu động 3
1.1.5 Ý nghĩa của việc xác định nhu cầu vốn lưu động trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 6
1.1.6 Xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp 7
1.2 Hoạt động cho vay bổ sung vốn lưu động của ngân hàng 8
1.2.1 Khái niệm cho vay bổ sung vốn lưu động 8
1.2.2 Đối tượng cho vay bổ sung vốn lưu động 8
1.2.3 Nguyên tắc cho vay bổ sung vốn lưu động 9
1.2.4 Điều kiện cho vay bổ sung vốn lưu động 10
1.2.5 Đặc điểm cho vay bổ sung vốn lưu động 11
1.2.6 Vai trò của cho vay bổ sung vốn lưu động 13
1.2.7 Phân loại cho vay bổ sung vốn lưu động 14
1.3 Thẩm định cho vay bổ sung vốn lưu động 16
1.3.1 Khái niệm thẩm định cho vay bổ sung vốn lưu động 16
1.3.2 Mục đích thẩm định cho vay bổ sung vốn lưu động 16
1.3.3 Vai trò thẩm định cho vay bổ sung vốn lưu động 17
1.3.4 Yêu cầu thẩm định 19
1.3.5 Các nguồn thông tin sử dụng trong thẩm định cho vay bổ sung vốn lưu động20 1.3.6 Quy trình thẩm định 22
Trang 51.3.8 Nội dung thẩm định 26
1.3.9 Các nhân tố tác động đến công tác thẩm định cho vay bổ sung vốn lưu động 36 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THẨM ĐỊNH CHO VAY BỔ SUNG VỐN LƯU ĐỘNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH ĐÔNG ANH 41
2.1 Giới thiệu về Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đông Anh 41
2.1.1 Giới thiệu chung 41
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển 41
2.2 Quy định chung trong thẩm định cho vay bổ sung vốn lưu động đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đông Anh 42
2.2.1 Quy trình thẩm định cho vay bổ sung vốn lưu động tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đông Anh 42
2.2.2 Nội dung thẩm định cho vay bổ sung vốn lưu động tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đông Anh 45
2.3 Thực trạng hoạt động cho vay bổ sung vốn lưu động đối với khách hàng doanhnghiệp tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đông Anh giai đoạn năm 2009 – 2011 58
2.3.1 Tình hình giải ngân cho vay bổ sung vốn lưu động 58
2.3.2 Tình hình thu hồi nợ cho vay bổ sung vốn lưu động 59
2.3.3 Tình hình dư nợ cho vay bổ sung vốn lưu động 60
2.3.4 Tình hình thu nhập từ lãi cho vay bổ sung vốn lưu động giai đoạn năm 2009 – 2011 68
2.3.5 Thực trạng chất lượng cho vay bổ sung vốn lưu động 69
2.4 Đánh giá công tác thẩm định cho vay bổ sung vốn lưu động đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đông Anh 79
2.4.1 Những điểm đã đạt được 79
2.4.2 Hạn chế còn tồn tại 80
2.4.3 Nguyên nhân của hạn chế 81
Trang 6CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH CHO VAY BỔ SUNG VỐN LƯU ĐỘNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG
VIỆT NAM – CHI NHÁNH ĐÔNG ANH 84
3.1 Định hướng của Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đông Anh trong công tác thẩm định cho vay bổ sung vốn lưu động đối với khách hàng doanh nghiệp trong thời gian tới 84
3.1.1 Nhận định xu hướng thị trường trong thời gian tới 84
3.1.2 Định hướng phát triển của Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đông Anh trong thời gian tới 85
3.2 Một số đề xuất nhằm hoàn thiện công tác thẩm định cho vay bổ sung vốn lưu động đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đông Anh 86
3.2.1 Điều chỉnh nhiệm vụ cụ thể của các vị trí ctrong phòng Khách hàng doanh nghiệp 86
3.2.2 Nâng cao chất lượng thông tin sử dụng trong thẩm định 87
3.2.3 Hoàn thiện nội dung thẩm định 90
3.2.4 Nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng 92
3.2.5 Hoàn thiện hệ thống cơ sở vật chất phục vụ cho công tác thẩm định 94
3.2.6 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát 95
3.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác thẩm định cho vay bổ sung vốn lưu động đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đông Anh 95
3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ 95
3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 97
3.3.3 Kiến nghị với Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam 98
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1.1: Quy trình thẩm định cho vay bổ sung vốn lưu động 22
Sơ đồ 2.2: Quy trình thẩm định cho vay bổ sung vốn lưu động tại VietinBank Đông Anh 43
Bảng 2.1: Bảng chấm điểm quy mô doanh nghiệp 50
Bảng 2.2: Bảng trọng số áp dụng cho các tiêu chí tài chính 51
Bảng 2.3: Bảng trọng số áp dụng cho các tiêu chí phi tài chính 53
Bảng 2.4: Bảng tổng hợp điểm và xếp hạng tín dụng khách hàng 53
Bảng 2.5: Tình hình doanh số cho vay bổ sung vốn lưu động 58
Bảng 2.6: Doanh số thu hồi nợ cho vay bổ sung vốn lưu động 59
Bảng 2.7: Dư nợ cho vay bổ sung vốn lưu động giai đoạn năm 2009 – 2011 60
Bảng 2.8: Dư nợ cho vay bổ sung vốn lưu động phân theo nhóm nợ 61
Bảng 2.9: Dư nợ cho vay bổ sung vốn lưu động phân theo loại hình doanh nghiệp 64
Bảng 2.10: Dư nợ cho vay bổ sung vốn lưu động phân theo nhóm khách hàng 66
Bảng 2.11: Thu nhập từ hoạt động cho vay bổ sung vốn lưu động 68
Bảng 2.12: Chất lượng cho vay bổ sung vốn lưu động giai đoạn năm 2009 – 2011 69
Bảng 2.13: Báo cáo kết quả kinh doanh Công ty cổ phần Cầu Đuống giai đoạn năm 2009 – Quý I năm 2012 73
Bảng 2.14: Bảng cân đối kế toán Công ty cổ phần Cầu Đuống giai đoạn năm 2009 – Quý I/2012 74
Bảng 2.15: Các chỉ tiêu tài chính Công ty cổ phần Cầu Đuống giai đoạn năm 2009 – Quý I/2012 76
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghề ngân hàng đã được hình thành từ rất lâu nhưng cho tới nay, nó vẫn chiếm một vị trí quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế Ngân hàng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế với ba chức năng cơ bản là trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền Trong ba chức năng này, chức năng trung gian tín dụng là chức năng quan trọng nhất đối với ngân hàng, quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, và cũng là cơ sở để ngân hàng thực hiện các chức năng khác Với vai trò là trung gian tín dụng, ngân hàng tạo ra lợi ích cho tất cả các bên tham gia, bao gồm người gửi tiền, ngân hàng, người đi vay, đồng thời góp phần phát triển nền kinh
tế
Trước thực trạng nền kinh tế ảm đạm, Nhà nước đã có những chính sách nhằm khuyến khích doanh nghiệp phát triển, đẩy mạnh các hoạt động SXKD của mình Đối với hoạt động ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước đã ra quyết định giảm lãi suất cho vay Với giải pháp này, các NHTM sẽ có cơ hội trung hòa lượng vốn giá cao đã huy động trong thời gian trước, qua đó có thể giảm nhanh lãi suất cho vay để hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi SXKD, thực hiện vai trò trung gian tín dụng của mình Việc giảm lãi suất cho vay của các ngân hàng giúp các doanh nghiệp có cơ hội vay vốn ngân hàng, vừa tạo nguồn vốn cho doanh nghiệp, vừa thúc đẩy hoạt động ngân hàng, tạo việc làm cho nhiều người, giảm tỷ lệ thất nghiệp
Cho vay bổ sung vốn lưu động là hoạt động mang lại nguồn thu lớn cho các ngân hàng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng hiện nay Vốn lưu động là nguồn đa dạng và chiếm tỉ trọng lớn trong các doanh nghiệp sản xuất Nhu cầu vay là lớn, mục đích vay vốn đa dạng Vì vậy, ngân hàng phải thực hiện thẩm định cho vay bổ sung vốn lưu động ngắn gọn, chính xác và hiệu quả để tạo cơ sở đưa ra phán quyết cho vay đối với khách hàng Công tác thẩm định hồ sơ vay vốn của khách hàng có ý nghĩa quan trọng Dựa vào kết quả thẩm định, ngân hàng mới xem xét đến việc ra quyết định cho vay đối với khách hàng, lựa chọn chính xác khách hàng và tránh rủi ro cho ngân hàng
Qua thời gian thực tập tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đông Anh, xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên, em lựa chọn đề tài khóa
luận của mình là “Hoàn thiện công tác thẩm định cho vay bổ sung vốn lưu động
đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đông Anh”
Trang 102 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu trước tiên của đề tài là làm rõ những lý luận cơ bản về vốn lưu động, cho vay bổ sung vốn lưu động và công tác thẩm định cho vay bổ sung vốn lưu động của NHTM
Sau khi làm rõ những lý luận cơ bản, đề tài hướng tới việc tìm hiểu rõ thực trạng cho vay bổ sung vốn lưu động và công tác thẩm định cho vay bổ sung vốn lưu động tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đông Anh
Trên cơ sở so sánh giữa những lý luận cơ bản và thực trạng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đông Anh, tìm ra những ưu điểm và hạn chế còn tồn tại, từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định cho vay bổ sung vốn lưu động tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đông Anh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Công tác thẩm định cho vay bổ sung vốn lưu động tại
Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đông Anh
Phạm vi nghiên cứu: Công tác thẩm định cho vay bổ sung vốn lưu động tại
Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đông Anh giai đoạn năm 2009 – 2011
4 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong khóa luận:
Phương pháp thống kê: Thu thập số liệu, thông tin liên quan tới đề tài, sau đó
tóm tắt và đưa ra kết luận, nhận xét dựa trên các thông tin thu thập được
Phương pháp tổng hợp và phân tích: Số liệu sau khi được thu thập sẽ được
tổng hợp trên các bảng, sơ đồ Sau đó, dựa trên các bảng đã lập được, sơ đồ đã vẽ được, phân tích các chỉ tiêu theo hướng nghiên cứu của khóa luận
5 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, danh mục bảng biểu, danh mục viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, kết luận, khóa luận bao gồm những phần sau:
Chương 1: Một số lý luận cơ bản về công tác thẩm định cho vay bổ sung vốn lưu động đối với khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng thẩm định cho vay bổ sung vốn lưu động tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đông Anh
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định cho vay bổ sung vốn lưu động tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đông Anh
Trang 111
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH CHO VAY BỔ SUNG VỐN LƯU ĐỘNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Một số vấn đề cơ bản về vốn lưu động của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm vốn lưu động
Đối với doanh nghiệp sản xuất, cùng với tài sản cố định, tài sản lưu động là yếu
tố không thể thiếu để tiến hành hoạt động SXKD Số vốn để đầu tư vào tài sản lưu động trong doanh nghiệp được gọi là vốn lưu động Như vậy, vốn lưu động chính là nguồn hình thành nên tài sản lưu động trong doanh nghiệp mà nếu không có nó, hoạt động SXKD của doanh nghiệp sẽ không thể diễn ra thường xuyên và liên tục được Chính vì vai trò quan trọng của vốn lưu động đối với hoạt động SXKD của doanh nghiệp, doanh nghiệp luôn phải đảm bảo có lượng vốn lớn sẵn sàng đầu tư vào tài sản lưu động, phục vụ hoạt động SXKD Tài sản lưu động là đối tượng lao động được sử dụng trong một chu kỳ kinh doanh, bao gồm tài sản lưu động trong sản xuất và tài sản lưu động trong lưu thông Tài sản lưu động trong sản xuất là những vật tư dự trữ như nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu và sản phẩm dở dang trong quá trình sản xuất Tài sản lưu động trong lưu thông bao gồm: sản phẩm hàng hóa chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán, các khoản phí chờ kết chuyển, chi phí trả trước… Vốn lưu động có thể được tài trợ bằng nguồn vốn ngắn hạn hoặc nguồn vốn dài hạn, vận động liên tục theo từng chu kỳ SXKD của doanh nghiệp
Vốn lưu động có ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp, cần phải làm rõ khái niệm thế nào là vốn lưu động
Theo khái niệm trên trang web Wikipedia bằng tiếng Anh: Vốn lưu động
(Working capital) là một thước đo tài chính đại diện cho tính thanh khoản hoạt động có sẵn cho một thực thể kinh doanh, tổ chức khác, bao gồm cả cơ quan chính phủ Cùng với tài sản cố định như nhà máy và thiết bị, vốn lưu động được coi là một phần của vốn hoạt động
Giáo trình “Tài chính doanh nghiệp” – Đại học Kinh tế quốc dân do Tiến sỹ
Lưu Thị Hương chủ biên đưa ra khái niệm vốn lưu động như sau: Vốn lưu động là
lượng tiền ứng trước để thỏa mãn nhu cầu về các đối tượng lao động
Như vậy, có thể hiểu vốn lưu động của doanh nghiệp như sau: Vốn lưu động
của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản lưu động của doanh nghiệp Đó là số vốn ứng ra để hình thành các tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục
Trang 121.1.2 Đặc điểm vốn lưu động
Vốn lưu động là nguồn hình thành tài sản lưu động của doanh nghiệp, do đó nó cũng trải qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu thông Quá trình này diễn ra liên tục và lặp lại theo chu kỳ: tiền – vật tư sản xuất – hàng hóa – tiền Vốn lưu động bao gồm những đặc điểm sau:
Vốn lưu động được chuyển qua nhiều hình thái khác nhau theo từng giai đoạn: Hình thái ban đầu của vốn lưu động là hình thái tiền tệ Khi mua vật tư, hàng
hóa dự trữ cho sản xuất thì vốn lưu động chuyển sang hình thái vật tư, hàng hoá dự trữ Khi vật tư dự trữ được đưa vào sản xuất, chúng được sử dụng để chế tạo thành thành phẩm, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang Sau khi sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ,
vốn lưu động quay về hình thái tiền tệ ban đầu của nó với một giá trị lớn hơn Quá
trình SXKD diễn ra liên tục, không ngừng, cho nên vốn lưu động cũng tuần hoàn không ngừng, có tính chất chu kỳ tạo thành sự chu chuyển của vốn lưu động
Hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ SXKD: Khi tài sản lưu động
trải qua một chu kỳ SXKD, từ khâu dự trữ sản xuất đến sản xuất và lưu thông thì vốn lưu động cũng hoàn thành một vòng tuần hoàn Vì vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền
của tài sản lưu động nên nó luôn gắn với quy trình hoạt động của tài sản lưu động
Chuyển toàn bộ giá trị một lần vào thành phẩm và được thu hồi toàn bộ khi thu hồi tiền hàng: Vốn lưu động tham gia vào một chu kỳ SXKD và bị hao mòn hoàn
toàn trong quá trình sản xuất Giá trị của nó chuyển hết một lần vào giá trị sản phẩm để cấu thành nên giá trị thành phẩm Khi sản phẩm được tiêu thụ và thu được tiền thì toàn
bộ giá trị của vốn lưu động được thu hồi về và tiếp tục được quay vòng để tài trợ cho
hoạt động SXKD của các chu kỳ tiếp theo
1.1.3 Vai trò của vốn lưu động đối với hoạt động của doanh nghiệp
Vốn lưu động là điều kiện không thể thiếu của quá trình SXKD: Với doanh
nghiệp, tài sản lưu động là yếu tố quan trọng, là tư liệu lao động để doanh nghiệp có thể tiến hành SXKD Nguyên vật liệu đầu vào phục vụ sản xuất chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản lưu động cần thiết trong kỳ của doanh nghiệp sản xuất,chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và chuyển hóa toàn bộ giá trị vào trong giá thành sản phẩm Do đó, để đảm bảo hoạt động SXKD diễn ra thường xuyên và liên tục, doanh nghiệp phải luôn đảm bảo có đủ lượng vốn phục vụ khi cần thiết Vì vậy, vốn lưu động
là điều kiện không thể thiếu của quá trình SXKD của doanh nghiệp
Vốn lưu động là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận động của vật tư: Cũng tức là phản ánh và kiểm tra quá trình mua sắm, dự trữ sản xuất và tiêu thụ
của doanh nghiệp Tài sản lưu động trong khâu dự trữ và trong quá trình lưu thông cần lượng vốn là bao nhiêu, thời gian quay vòng là bao lâu Thông qua quá trình luân chuyển vốn lưu động, có thể đánh giá kịp thời việc sử dụng vốn lưu động có hợp lý và
Trang 133
hiệu quả hay không, lượng vốn lưu động đầu tư vào tài sản lưu động trong các khâu đã phù hợp hay chưa, từ đó phân phối lại nguồn vốn lưu động, tránh lãng phí vốn lưu động của doanh nghiệp
Vốn lưu động là một bộ phận trực tiếp hình thành nên giá thành sản phẩm:
Do toàn bộ giá trị của vốn lưu động được chuyển hóa một lần vào trong một chu kỳ SXKD Giá thành sản phẩm được tính toán trên cơ sở bù đắp các khoản chi phí cộng thêm khoản lợi nhuận ước tính Do đó, vốn lưu động có vai trò quyết định trong việc tính giá cả hàng hóa bán ra
Vận động cùng với tài sản lưu động trong chu kỳ SXKD của doanh nghiệp, hoàn thành một vòng tuần hoàn sau mỗi chu kỳ khi doanh nghiệp thu được tiền hàng, cấu thành nên giá trị sản phẩm hàng hóa, vốn lưu động có vai trò quan trọng với doanh nghiệp Vì thế, doanh nghiệp luôn phải cân nhắc cẩn thận trong việc sử dụng vốn, cần
có kế hoạch sử dụng vốn cụ thể và hợp lý, từ đó mới tiết kiệm nguồn vốn lưu động, tạo điều kiện để mở rộng SXKD Sử dụng không hợp lý vốn lưu động sẽ dẫn tới sự thiếu hụt về vốn lưu động cho kỳ sản xuất tiếp theo, ảnh hưởng tới kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp, dẫn tới sự chậm trễ và ngưng trệ trong sản xuất, không mở rộng được quy mô doanh nghiệp Ngược lại, nếu tiết kiệm quá mức dẫn sẽ không đạt được hiệu quả sử dụng vốn, vốn lưu động thừa trong khi doanh nghiệp vẫn có thể dùng để mở rộng sản xuất hơn nữa
1.1.4 Phân loại vốn lưu động
Trong hoạt động của doanh nghiệp, vốn lưu động rất đa dạng nhưng chỉ tham gia vào một chu kỳ SXKD và thường xuyên thay đổi hình thái vật chất nên cần phải tiến hành phân loại vốn lưu động để dễ dàng quản lý
Dựa theo nhiều tiêu chí khác nhau mà vốn lưu động được phân loại khác nhau:
1.1.4.1 Phân loại theo vai trò của từng loại vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh
Dựa theo tiêu chí này, vốn lưu động được chia thành:
Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: Bao gồm vốn nguyên liệu, vật liệu
chính, vốn công cụ, dụng cụ, vốn vật liệu, vốn vật liệu phụ, vốn phụ tùng thay thế
Vốn lưu động trong khâu sản xuất: Gồm vốn sản phẩm dở dang và vốn về
các chi phí trả trước
Vốn lưu động trong khâu lưu thông: Vốn thành phẩm, vốn bằng tiền, vốn đầu
tư ngắn hạn về chứng khoán và các loại khác (đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn…), vốn trong thanh toán (những khoản phải thu, tạm ứng…)
Cách phân loại này cho thấy vai trò của vốn lưu động trong từng giai đoạn trong quy trình SXKD của doanh nghiệp, từ đó có thể phân bổ lượng vốn phù hợp cho từng thời kỳ, từng giai đoạn sản xuất
Trang 141.1.4.2 Phân loại theo hình thái biểu hiện của vốn
Dựa theo hình thái biểu hiện, có thể chia vốn lưu động thành các loại:
Vốn bằng tiền và và vốn trong thanh toán:
Vốn bằng tiền: Tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, kim loại
Vốn về chi phí trả trước: Là những khoản chi phí lớn hơn thực tế đã phát sinh
có liên quan đến nhiều chu kỳ kinh doanh nên được phân bổ vào giá thành sản phẩm của nhiều chu kỳ kinh doanh như: Chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định, chi phí thuê tài sản, chi phí nghiên cứu thí nghiệm, cải tiến kỹ thuật, chi phí xây dựng, lắp đặt các công trình tạm thời, chi phí về ván khuôn, giàn giáo phải lắp dùng trong xây dựng cơ bản…
Việc phân loại vốn lưu động theo cách này tạo điều kiện thuận lợi cho việc xem xét, đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp
1.1.4.3 Phân loại theo quan hệ sở hữu về vốn
Tài sản lưu động được tài trợ bởi vốn chủ sở hữu và các khoản nợ Vốn chủ sở hữu tài trợ chủ yếu cho tài sản cố định, một phần còn lại tài trợ cho tài sản lưu động Còn các khoản nợ tài trợ cơ bản, chủ yếu cho nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp
Phân loại vốn lưu động theo quan hệ sở hữu về vốn thì vốn lưu động được chia thành 2 loại:
Vốn chủ sở hữu: Là số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh
nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phối và định đoạt Vốn chủ sở hữu có thể là vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, vốn do chủ doanh nghiệp tư nhân bỏ
ra, vốn góp trong công ty cổ phần, doanh nghiệp liên doanh, vốn bổ sung từ lợi nhuận doanh nghiệp… Doanh nghiệp dùng vốn chủ sở hữu tài trợ cho vốn lưu động thì không phải chịu áp lực trả lãi, trả nợ theo kỳ hạn mà tùy thuộc vào tình hình SXKD của doanh nghiệp Tuy nhiên, chi phí sử dụng vốn này lại cao hơn do các nhà đầu tư bao giờ cũng yêu cầu khoản lợi nhuận khi đầu tư vào doanh nghiệp cao hơn so với khi cho vay vì mức độ rủi ro của hoạt động SXKD Ngoài ra, cổ tức trả cho cổ đông hoặc các hình thức thưởng khác trả cho các nhà đầu tư lại bị đánh thuế nên doanh nghiệp sử dụng ít vốn chủ sở hữu để tài trợ cho vốn lưu động
Các khoản nợ: Là các khoản được hình thành từ vốn vay các NHTM, khoản
chiếm nợ dụng tạm thời của nhà cung cấp, vốn vay thông qua phát hành trái phiếu, các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán Doanh nghiệp chỉ có quyền sử dụng các khoản
Trang 155
nợ này trong một thời gian nhất định Ưu điểm của việc dùng các khoản nợ để tài trợ cho vốn lưu động là lãi suất phải trả cho các khoản nợ được miễn thuế, chi phí sử dụng các khoản nợ thấp hơn chi phí sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu Tuy nhiên, doanh nghiệp không thể phụ thuộc quá nhiều vào các khoản nợ để tài trợ cho vốn lưu động, khi đó thì tình hình tài chính của doanh nghiệp không lành mạnh, dẫn tới những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Cách phân loại này cho thấy kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp được hình thành bằng vốn của bản thân doanh nghiệp hay từ các khoản nợ Từ đó có các quyết định trong huy động và quản lý, sử dụng vốn lưu động hợp lý, hiệu quả hơn, đảm bảo
an ninh tài chính, tính tự chủ trong sử dụng vốn của doanh nghiệp
1.1.4.4 Phân loại vốn lưu động theo nguồn hình thành
Dựa theo nguồn hình thành vốn lưu động, có các cách phân loại như sau:
Nguồn vốn điều lệ: Là số vốn được hình thành từ nguồn vốn điều lệ ban đầu
khi thành lập hoặc vốn điều lệ bổ sung trong quá trình SXKD của doanh nghiệp Nguồn vốn này cũng có sự khác biệt giữa các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau
Nguồn vốn tự bổ sung: Là nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ sung trong quá
trình SXKD như từ lợi nhuận của doanh nghiệp được tái đầu tư
Nguồn vốn liên doanh, liên kết: Là số vốn được hình thành từ vốn góp liên
doanh của các bên tham gia doanh nghiệp liên doanh Vốn góp liên doanh có thể bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật là vật tư, hàng hoá theo thoả thuận của các bên liên doanh
Nguồn vốn điều lệ, nguồn vốn tự bổ sung và nguồn vốn liên doanh, liên kết là những nguồn vốn mà thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có toàn quyền sử dụng Do đó, khi đầu tư bằng các nguồn vốn này vào vốn lưu động, bao giờ nhà đầu tư cũng yêu cầu mức sinh lời cao hơn so với các nguồn vốn đi vay khác Vì chi phí sử dụng các nguồn vốn trên cao nên các doanh nghiệp ít sử dụng để đầu tư cho vốn lưu động
Nguồn vốn đi vay: Vốn vay của các NHTM hoặc tổ chức tín dụng phi ngân
hàng, vốn vay của người lao động trong doanh nghiệp, vay các doanh nghiệp khác
Với nguồn vốn đi vay, doanh nghiệp phải trả lãi thấp nên chi phí sử dụng vốn vay thấp hơn so với các nguồn vốn khác Mặt khác, lãi vay phải trả được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp nên các doanh nghiệp chủ yếu sử dụng nguồn vốn vay này để tài trợ cho vốn lưu động, phục vụ hoạt động SXKD, tiết kiệm chi phí và tăng lợi nhuận
Nguồn vốn huy động khác: Vốn huy động từ thị trường vốn bằng việc phát
hành trái phiếu hoặc vốn chiếm dụng của nhà cung cấp
Để được phát hành trái phiếu, doanh nghiệp phải đạt được những điều kiện theo quy định của pháp luật Ngoài ra, thời gian để doanh nghiệp tiếp cận với nguồn vốn
Trang 16này cũng chậm hơn so với vay ngân hàng và dùng vốn chủ sở hữu Số vốn huy động
có thể không đáp ứng được đủ nhu cầu vốn của doanh nghiệp
Với nguồn vốn chiếm dụng từ nhà cung cấp, doanh nghiệp chỉ tạm thời chiếm dụng được trong thời gian ngắn, nếu chiếm dụng lâu sẽ ảnh hưởng tới uy tín của doanh nghiệp
Việc phân chia vốn lưu động theo nguồn hình thành giúp cho doanh nghiệp thấy được cơ cấu nguồn vốn tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động trong kinh doanh của mình Từ góc độ quản lý tài chính, mọi nguồn tài trợ đều có chi phí sử dụng của nó
Do đó, doanh nghiệp cần xem xét cơ cấu nguồn tài trợ tối ưu để giảm thấp chi phí sử dụng vốn
1.1.5 Ý nghĩa của việc xác định nhu cầu vốn lưu động trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trong quá trình SXKD của doanh nghiệp, vốn lưu động là một yếu tố không thể thiếu được và có ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện các nhiệm vụ SXKD, là điều kiện tiên quyết để tiến hành hoạt động SXKD của doanh nghiệp Bởi vậy để doanh nghiệp sản xuất thường xuyên và liên tục, mỗi doanh nghiệp cần phải xác định nhu cầu
về vốn lưu động phù hợp tính chất và quy mô SXKD
Đối với một doanh nghiệp SXKD thông thường, nhu cầu vốn lưu động thường được tính đơn giản hóa bằng công thức sau:
Nhu cầu vốn lưu động = dự trữ + khoản phải thu – khoản phải trả
Các khoản dự trữ nằm trong hàng tồn kho Khoản phải thu phát sinh trong các quan hệ tín dụng thương mại với khách hàng, các khoản phải thu khác Khoản phải trả phát sinh trong quan hệ tín dụng thương mại với người bán, các khoản phải trả ngắn hạn khác
Việc xác định đúng đắn nhu cầu vốn lưu động là cần thiết trong hoạt động SXKD của doanh nghiệp, để đảm bảo hoạt động sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành liên tục, tiết kiệm với hiệu quả kinh tế cao Xác định đúng đắn nhu cầu vốn lưu động giúp cho doanh nghiệp tránh được tình trạng ứ đọng vốn, sử dụng vốn hợp lý và tiết kiệm, đáp ứng yêu cầu SXKD, không gây sự căng thẳng giả tạo về nhu cầu vốn và
là căn cứ quan trọng cho việc xác định các nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp
Khi vốn lưu động nhỏ hơn nhu cầu vốn lưu động, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất, tạo ra sự căng thẳng về vốn Với tính chất tuần hoàn, chu kỳ của vốn lưu động, khi có khó khăn về vốn lưu động trong bất kỳ giai đoạn nào thì cũng có thể ảnh hưởng tới toàn bộ quy trình tái sản xuất sau này: sản xuất bị ngừng trệ, không có khả năng trả nợ, không có đủ vốn thực hiện các hợp đồng kinh tế… Mặt khác, vốn lưu động được tài trợ chủ yếu từ các khoản nợ nên khi thiếu vốn, doanh
Trang 17Vấn đề đặt ra là phải xác định đúng nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp để đảm bảo không bị thiếu vốn sản xuất hay thừa vốn dẫn đến tình trạng lãng phí, đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra thường xuyên, liên tục Nhà quản lý doanh nghiệp sẽ phải cân nhắc rất kỹ lưỡng các yếu tố thuộc về nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp để xác định chính xác nhất lượng vốn mà doanh nghiệp cần
1.1.6 Xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp
Vốn lưu động là số vốn cần thiết đảm bảo cho doanh nghiệp dự trữ các loại tài sản ngắn hạn nhằm đáp ứng mọi nhu cầu hoạt động cơ bản của doanh nghiệp Cần phải xác định được nhu cầu vốn lưu động để có phương án SXKD hiệu quả, đảm bảo hoạt động SXKD được diễn ra liên tục
1.1.6.1 Nhu cầu tài trợ vốn lưu động thường xuyên
Vốn lưu động thường xuyên là nguồn vốn có tính chất ổn định mà doanh nghiệp sử dụng để hình thành nên tài sản lưu động thường xuyên, cần thiết cho hoạt động SXKD thường nhật Do có sự chênh lệch về mặt thời gian và giá trị các dòng tiền vào và ra của doanh nghiệp trong hoạt động thường nhật mà doanh nghiệp có thể dự toán trước được lượng vốn thiếu hụt để tìm nguồn bù đắp Lượng vốn thiếu hụt này doanh nghiệp có thể huy động từ nguồn vốn chủ sở hữu, mua chịu của nhà cung cấp hoặc đi vay các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, NHTM Đối với hình thức vay của ngân hàng, doanh nghiệp thường được cho vay dưới hình thức vay ngắn hạn theo hạn mức tín dụng Hạn mức tín dụng được tính toán trên cơ sở nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp và lượng vốn chủ sở hữu tham gia tài trợ cho vốn lưu động
1.1.6.2 Nhu cầu tài trợ vốn lưu động thời vụ
Vốn lưu động thời vụ là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong quá trình SXKD của doanh nghiệp Những khoản phát sinh bất thường nằm ngoài kế hoạch SXKD nên doanh nghiệp không có sự chuẩn bị, do đó doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn tài trợ cho hoạt động SXKD Đứng trước nhu cầu tài trợ vốn lưu động thời vụ, doanh nghiệp thường đi vay mà không sử dụng vốn chủ sở hữu Nguồn vốn này chủ yếu là vay ngắn hạn ngân hàng Ngân hàng cho khách hàng vay dưới hình thức cho vay theo món, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn lưu động thời vụ của doanh nghiệp
Trang 181.2 Hoạt động cho vay bổ sung vốn lưu động của ngân hàng
1.2.1 Khái niệm cho vay bổ sung vốn lưu động
Cho vay là hoạt động đem lại nguồn thu lớn cho các ngân hàng, trong đó có cho vay bổ sung vốn lưu động Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, “cho vay là
hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” Như vậy, cho vay của
NHTM có thể hiểu là quan hệ vay mượn giữa một bên là người cho vay (NHTM) với một bên là người vay (khách hàng vay) bằng cách chuyển giao tiền cho bên vay trong một thời gian nhất định với cam kết hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn
Dựa theo thời gian cho vay, cho vay của NHTM được chia thành cho vay ngắn hạn và cho vay trung và dài hạn Cho vay bổ sung vốn lưu động là hình thức cho vay kinh doanh trong ngắn hạn, nhằm bổ sung lượng vốn lưu động thiếu hụt trong kỳ SXKD của doanh nghiệp Đây là hoạt động quan trọng giúp doanh nghiệp đảm bảo duy trì hoạt động SXKD diễn ra thường xuyên, liên tục, từ đó quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp Để hoạt động cho vay bổ sung vốn lưu động của ngân hàng có hiệu quả thì điều quan trọng là phải hiểu được khái niệm cho vay bổ sung vốn lưu động Dựa trên khái niệm về vốn lưu động, khái niệm cho vay của NHTM đã được làm rõ ở trên,
ta có thể định nghĩa cho vay bổ sung vốn lưu động là:
Cho vay bổ sung vốn lưu động là hình thức cấp tín dụng ngắn hạn, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng vay một khoản tiền nhằm bổ sung thêm vốn lưu động cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc
và lãi
1.2.2 Đối tượng cho vay bổ sung vốn lưu động
NHTM cho vay đáp ứng nhu cầu vay vốn hợp pháp theo quy định của pháp luật Tất cả các doanh nghiệp khi có nhu cầu vay vốn hợp pháp đều có thể đến ngân hàng để thực hiện yêu cầu vay vốn phục vụ hoạt động SXKD của mình Đối tượng khách hàng cho vay vốn của NHTM rất đa dạng Luật các tổ chức tín dụng, Luật NHNN và các văn bản hiện hành không quy định cụ thể những nhu cầu vay vốn nào là hợp pháp Tuy nhiên, tổ chức tín dụng có thể đáp ứng nhu cầu vay mượn của khách hàng trên cơ sở loại trừ những trường hợp mà pháp luật cấm hoặc không cho phép thực hiện Những nhu cầu vay vốn mà tổ chức không được cho vay bao gồm:
- Mua sắm các tài sản và chi phí hình thành nên tài sản mà pháp luật cấm mua bán, chuyển nhượng, chuyển đổi
- Thanh toán các khoản chi phí để thực hiện các giao dịch mà pháp luật cấm
- Đáp ứng các nhu cầu tài chính để giao dịch mà pháp luật cấm
Trang 199
Cho vay BSVLĐ không nằm ngoài hoạt động kinh doanh của ngân hàng nên những quy định trong cho vay cũng là quy định khi cho vay BSVLĐ Khách hàng đến ngân hàng vay vốn để BSVLĐ cũng cần phải đáp ứng được các yêu cầu vay vốn hợp pháp theo quy định của pháp luật và cũng phải đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng
1.2.3 Nguyên tắc cho vay bổ sung vốn lưu động
Để đảm bảo an toàn vốn, trong quá trình cho vay, các ngân hàng luôn phải tuân thủ các nguyên tắc chung khi cho vay, trong đó có cho vay BSVLĐ Các nguyên tắc
cụ thể gồm:
1.2.3.1 Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng cho vay
Khi khách hàng đến vay vốn ngân hàng thì khoản vay đó phải được xác định trước mục đích sử dụng Do đó, các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn phải trình bày với ngân hàng mục đích vay vốn, kế hoạch SXKD, các hợp đồng cung cấp và tiêu thụ sản phẩm, các tài liệu kế toán… Ngân hàng dựa trên bộ hồ sơ vay vốn của khách hàng
mà đưa ra quyết định cho vay hay không Sử dụng vốn vay đúng mục đích theo hồ sơ vay vốn tức là khách hàng đã giữ chữ tín với ngân hàng
Bên cạnh đó, nguyên tắc sử dụng vốn vay đúng mục đích nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn và tăng khả năng thu hồi vốn sau này Ngân hàng dựa trên kế hoạch SXKD, mục đích vay vốn mà khách hàng lập ra để tính toán, phân tích một số chỉ tiêu tài chính cơ bản, xét thấy có tính khả thi và hiệu quả mới xem xét cho vay nhằm giảm thiểu những rủi ro sau này cho ngân hàng, đảm bảo khả năng thu hồi nợ của ngân hàng
và khả năng trả nợ của khách hàng Không chỉ vậy, nguyên tắc này cũng là cơ sở để giám sát khoản vay, đảm bảo hiệu quả cho công tác kiểm soát sau cho vay, giúp ngân hàng thu hồi được đầy đủ cả nợ gốc và lãi
1.2.3.2 Phải hoàn trả đúng hạn đầy đủ cả gốc và lãi
Hoàn trả là thuộc tính vốn có của cho vay, sự hoàn trả là mối quan tâm hàng đầu của các ngân hàng khi cho vay Thu hồi nợ cả gốc và lãi đúng hạn là cơ sở để các NHTM tồn tại và phát triển
Nguồn vốn cho vay của ngân hàng chủ yếu là nguồn vốn huy động, ngân hàng
là người “đi vay để cho vay” nên phải đảm bảo hoàn trả đầy đủ và kịp thời cho người gửi khi họ có yêu cầu Vì vậy, ngân hàng cần đòi hỏi doanh nghiệp đi vay phải hoàn trả cho ngân hàng đúng hạn Nếu ngân hàng không thu hồi hoặc không thu hồi đúng hạn các khoản cho vay thì có khả năng dẫn đến mất khả năng thanh toán và phá sản
Ngoài ra, ngân hàng cũng cần bù đắp các khoản chi phí trong hoạt động kinh doanh của mình như: trả lãi tiền gửi, chi phí ấn chỉ, trả lương cán bộ nhân viên, nộp thuế, trích lập các quỹ… Do đó, ngân hàng phải thu thêm khoản chênh lệch ngoài số vốn gốc cho vay
Trang 20Đây là nguyên tắc quan trọng trong hoạt động cho vay của ngân hàng, yêu cầu khách hàng phải tuân thủ tuyệt đối, đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển của bản thân ngân hàng
1.2.4 Điều kiện cho vay bổ sung vốn lưu động
Khi cho khách hàng vay, nghĩa là ngân hàng đang chấp nhận rủi ro để đánh đổi lợi nhuận trong tương lai Khách hàng chỉ có thể vay vốn của ngân hàng khi họ đáp ứng đầy đủ tất cả các điều kiện vay vốn Theo Quyết định số 1627/2001/QĐ – NHNN của Thống đốc NHNN về việc ban hành Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng với khách hàng được ban hành ngày 31/12/2001, ta có thể hiểu các điều kiện trong cho vay
bổ sung vốn lưu động bao gồm:
Khách hàng phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật: Quan hệ vay mượn giữa ngân
hàng với khách hàng là quan hệ được pháp luật bảo vệ Vì vậy, nó phải được lập trên
cơ sở quy định của luật pháp Trong quan hệ vay mượn sẽ phát sinh sự chuyển giao và giao dịch về tiền, do đó cần sự xác nhận của các bên tham gia theo đúng quy định của pháp luật Năng lực pháp luật dân sự là khả năng của pháp nhân hưởng quyền và nghĩa
vụ theo luật định Năng lực hành vi dân sự là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự Người có năng lực hành vi dân sự là người đủ tuổi thành niên, có ý thức về hành vi của mình, chịu trách nhiệm về mọi hành
vi của mình trước pháp luật Người không có năng lực hành vi dân sự không phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi của mình Trong thường hợp ngân hàng cho khách hàng vay vốn mà không có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và năng lực pháp luật dân sự thì rủi ro sau này ngân hàng phải gánh chịu hoàn toàn Do đó, các chủ thể tham gia quan hệ phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật
Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp: Vốn vay phải được sử dụng hợp pháp
tức là không vi phạm pháp luật và mục đích sử dụng vốn vay phù hợp với đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức kinh tế Vì vậy, khi khách hàng sử dụng vốn bất hợp pháp thì các tài sản đó sẽ bị phong tỏa hoặc tịch thu, từ đó ảnh hưởng tới khả năng trả gốc và lãi cho ngân hàng Ngoài ra, khi vốn vay sử dụng bất hợp pháp thì tư cách pháp lý của khách hàng có thể bị mất đi do đó ảnh hưởng tới quan hệ vay mượn hợp pháp giữa ngân hàng với khách hàng
Có năng lực tài chính lành mạnh đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết:
Năng lực tài chính lành mạnh của khách hàng được hiểu là doanh nghiệp có đầy đủ năng lực về vốn, tài sản, đảm bảo duy trì hoạt động SXKD thường xuyên, liên tục Khách hàng có năng lực tài chính lành mạnh tạo tiền đề cho sự phát triển cũng như đảm bảo khả năng trả nợ cho ngân hàng Ngân hàng yêu cầu khách hàng phải có tình
Trang 2111
hình tài chính lành mạnh để có thể trả nợ cho ngân hàng trong trường hợp phương án SXKD của khách hàng không khả thi, gặp rủi ro, hạn chế rủi ro cho ngân hàng Khi khách hàng không có đủ khả năng trả nợ, ngân hàng sẽ phải gánh chịu tổn thất, ảnh hưởng tới uy tín và khả năng thanh toán của ngân hàng
Khách hàng phải có phương án sản xuất, kinh doanh khả thi và có hiệu quả:
Khách hàng phải có phương án khả thi và hiệu quả vì bản chất của NHTM là tổ chức kinh doanh trong đó việc cho vay phải đảm bảo các nguyên tắc sinh lời cơ bản Do đó, phương án mà ngân hàng tài trợ vốn phải đảm bảo tính khả thi và hiệu quả Trong hoạt động tín dụng của NHTM, nguồn thu từ phương án vay vốn được coi là nguồn thu
“thứ nhất” đảm bảo an toàn vốn cũng như phát triển liên tục của khách hàng và ngân hàng
Khách hàng phải thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của NHNN Việt Nam: Biện pháp bảo đảm tiền vay là
hệ thống các biện pháp ngân hàng đặt ra nhằm tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để đảm bảo khách hàng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nợ với ngân hàng Các biện pháp bảo đảm tiền vay bao gồm: đảm bảo bằng cầm cố, thế chấp tài sản, bảo lãnh của bên thứ ba hoặc cho vay chỉ dựa trên uy tín của khách hàng vay vốn Đặc biệt trong đó, biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản là nguồn thu nợ “thứ hai” của ngân hàng khi khách hàng không trả được khoản vay Nếu ngân hàng dựa vào nguồn thu thứ nhất là từ hoạt động SXKD của khách hàng thì khi khách hàng gặp rủi ro, không trả được nợ, ngân hàng cũng sẽ gặp tổn thất, không có vốn trả cho người gửi khi họ có yêu cầu rút tiền, ảnh hưởng tới chất lượng và uy tín của ngân hàng
1.2.5 Đặc điểm cho vay bổ sung vốn lưu động
Đối tượng vay vốn đa dạng: Đối tượng đến vay vốn là các doanh nghiệp, cá
nhân có nhu cầu vay mượn và bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động SXKD hợp pháp Những đối tượng này được phân chia theo nhiều hình thức, nhiều tiêu chí khác nhau Dựa theo quy mô hoạt động thì có doanh nghiệp lớn, vừa, nhỏ và siêu nhỏ Dựa theo ngành nghề kinh doanh thì có nông nghiệp, công nghiệp, thương mại – dịch vụ, xây dựng, lâm nghiệp, ngư nghiệp… Căn cứ vào loại hình doanh nghiệp thì có doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty liên doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn… Như vậy, có thể thấy được sự đa dạng trong thành phần khách
hàng đến vay vốn ngân hàng, do đó nhu cầu vay vốn cũng rất đa dạng
Quy mô khoản vay đa dạng: Mỗi khách hàng đến vay vốn lại có nhu cầu về
lượng vốn vay khác nhau, tùy thuộc vào quy mô hoạt động của doanh nghiệp, nhu cầu vốn cần có của doanh nghiệp, khả năng tài chính của doanh nghiệp… Như vậy, các khoản cho vay của ngân hàng khá đa dạng, linh hoạt, phù hợp với từng đối tượng
khách hàng vay vốn, đáp ứng tốt nhất nhu cầu vay mượn của khách hàng
Trang 22Thời gian cho vay ngắn hạn: Đặc điểm của vốn lưu động là tham gia vào một
chu kỳ SXKD và thu hồi toàn bộ khi thu hồi tiền hàng nên vốn lưu động chỉ luân chuyển trong ngắn hạn, tối đa là 1 năm tài chính Khi khách hàng thu hồi được tiền hàng thông qua doanh thu bán hàng thì khách hàng mới có nguồn trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng Mà doanh thu bán hàng được thu hồi trong thời gian ngắn, nên thời gian
cho vay BSVLĐ là ngắn hạn, tối đa là 12 tháng
Mục đích sử dụng vốn khác nhau: Mỗi doanh nghiệp có tính chất hoạt động
khác nhau nên vốn lưu động được sử dụng cho mục đích SXKD khác nhau Tuy nhiên, những nhu cầu vay vốn đều phải đáp ứng yêu cầu chung là phù hợp với quy định của
pháp luật, không bị pháp luật cấm dưới bất cứ hình thức nào
Nguồn thu nợ từ chính phương án SXKD: Trong cho vay BSVLĐ, khách
hàng sử dụng chính nguồn thu từ phương án SXKD để trả nợ cho ngân hàng Doanh thu từ việc bán hàng của khách hàng chính là nguồn thu thứ nhất của ngân hàng Như vậy, sau mỗi chu kỳ SXKD, sau khi đã thu hồi được tiền hàng, khách hàng mới trả nợ được cho ngân hàng Ngân hàng chỉ có thể thu hồi được nợ khi khách hàng thu được
tiền hàng
Rủi ro thấp: Cho vay BSVLĐ có thời gian ngắn hơn các khoản cho vay khác
nên rủi ro sẽ thấp hơn cho vay tiêu dùng và cho vay kinh doanh trong trung và dài hạn Ngân hàng có thể ước tính rủi ro trong ngắn hạn một cách chính xác, thu hồi vốn về
nhanh hơn, và kiểm soát việc sử dụng vốn của khách hàng tốt hơn
Lãi suất cho vay thấp: Thời gian cho vay ngắn, rủi ro thấp nên lãi suất cho vay
BSVLĐ cũng sẽ thấp hơn các khoản cho vay trung và dài hạn khác Lãi suất cho vay
do ngân hàng và khách hàng tự thỏa thuận và phù hợp với lãi suất yêu cầu của Nhà
nước trong từng thời kỳ phát triển kinh tế
Công tác thẩm định phức tạp: Mức độ phức tạp theo ngành nghề doanh
nghiệp, quy mô hoạt động của doanh nghiệp đa dạng và mục đích sử dụng vốn vay của doanh nghiệp cũng khác nhau, chu kỳ SXKD của doanh nghiệp khác nhau… đòi hỏi một quy trình thẩm định chặt chẽ, hiệu quả, công tác thẩm định phức tạp, tỉ mỉ, CBTD
phải có trình độ chuyên môn và sự nhạy bén, hiểu biết về các ngành nghề kinh doanh
Phương thức cho vay linh hoạt: Xuất phát từ nhu cầu vốn lưu động thường
xuyên và vốn lưu động thời vụ của doanh nghiệp, ngân hàng cung cấp hai phương thức cho vay là cho vay theo hạn mức tín dụng và cho vay theo món Cho vay theo hạn mức tín dụng thường không có TSBĐ mà ngân hàng chỉ dựa trên dòng tiền vào từ hoạt động SXKD của doanh nghiệp Khách hàng vay vốn ngân hàng theo hạn mức tín dụng
là những khách hàng có quan hệ thường xuyên với ngân hàng và có uy tín, do đó ngân hàng thường không yêu cầu TSBĐ Cho vay theo món áp dụng cho khách hàng ít có
uy tín, ít có giao dịch với ngân hàng Cho vay theo món chỉ phát sinh khi khách hàng
Trang 2313
có nhu cầu vốn lưu động xảy ra bất thường, không theo kế hoạch Chính vì vậy, khi cho khách hàng vay theo món, ngân hàng yêu cầu có TSBĐ để giám sát việc sử dụng vốn của khách hàng chặt chẽ
1.2.6 Vai trò của cho vay bổ sung vốn lưu động
1.2.6.1 Đối với doanh nghiệp
Đáp ứng nhu cầu vốn lưu động thiếu hụt của doanh nghiệp: Vốn lưu động có
vai trò quan trọng trong hoạt động SXKD của doanh nghiệp Nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp thường lớn, nhưng khả năng đáp ứng của doanh nghiệp thì hạn chế Doanh nghiệp có thể tự bù đắp sự thiếu hụt về vốn lưu động của mình bằng cách huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu Nhưng để làm được việc này, doanh nghiệp phải đáp ứng những điều kiện khắt khe và quy định chặt chẽ của pháp luật, vậy nên không phải lúc nào cũng có thể sử dụng cách huy động vốn này Mặt khác, việc huy động vốn thông qua hình thức này khó có thể đáp ứng kịp thời và nhanh chóng nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp Một cách khác là doanh nghiệp
có thể thông qua việc chiếm dụng vốn tạm thời từ bạn hàng thông qua các chính sách trả chậm, mua chịu của đối tác Tuy nhiên, thời gian chiếm dụng vốn thường ngắn và
doanh nghiệp khó có thể áp dụng biện pháp này thường xuyên
Vay vốn từ ngân hàng để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt vốn lưu động là lựa chọn của các doanh nghiệp Với giải pháp này, doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn vốn nhanh hơn, chi phí sử dụng vốn thấp hơn, tạo điều kiện phát triển, mở rộng hoạt động SXKD
Tạo điều kiện cho doanh nghiệp nắm bắt các cơ hội kinh doanh: Ngân hàng
đáp ứng nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp một cách kịp thời thông qua nghiệp vụ cho vay BSVLĐ, giúp doanh nghiệp chủ động trong công tác hoạch định và thực hiện kế hoạch SXKD của mình Doanh nghiệp đã có chiến lược sử dụng vốn vào các mục đích kinh doanh khác nhau Khi có cơ hội kinh doanh mới mà doanh nghiệp chưa huy động được vốn kịp thời từ các nguồn khác, doanh nghiệp có thể vay vốn tại ngân hàng trong thời gian ngắn nhất với số vốn tối đa có thể để kịp thời nắm bắt cơ hội kinh doanh,
không bỏ lỡ cơ hội tăng giá trị và lợi nhuận cho doanh nghiệp
Tăng tính cạnh tranh của doanh nghiệp: Nắm bắt được các cơ hội kinh doanh
đem đến cho doanh nghiệp thị trường mới, nguồn thu mới, mở rộng lĩnh vực đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra ngày càng gay gắt, nếu doanh nghiệp không nắm bắt kịp thời các cơ hội kinh doanh thì sẽ gặp khó khăn trong việc đứng vững trên thị trường Để đạt được yêu cầu đó thì doanh nghiệp phải chủ động trong nguồn vốn của mình, và công cụ vay vốn lưu động từ ngân hàng là biện pháp hiệu quả
mà các doanh nghiệp đang hướng tới
Trang 241.2.6.2 Đối với ngân hàng
Mở rộng quan hệ với khách hàng: Cho vay BSVLĐ có đặc điểm là thời gian
cho vay ngắn, nên trong mỗi chu kỳ SXKD, khách hàng nếu có nhu cầu có thể xin vay vốn tại ngân hàng Việc này tạo điều kiện cho ngân hàng tiếp xúc với khách hàng, nắm bắt tình hình hoạt động của doanh nghiệp tốt hơn để mở rộng quan hệ vay mượn với khách hàng và các tổ chức Đối tượng khách hàng đến vay vốn ngân hàng thuộc nhiều ngành nghề, kinh doanh trên nhiều lĩnh vực khác nhau, do đó ngân hàng có cơ hội tiếp
xúc với nhiều doanh nghiệp hơn, mở rộng đối tượng kinh doanh của ngân hàng
Mang lại nguồn thu lớn cho ngân hàng: Bất cứ doanh nghiệp hay ngân hàng
nào khi tham gia vào thị trường đều cố gắng tìm kiếm những nguồn thu lớn hơn, mang lại lợi nhuận nhiều hơn Trong điều kiện nền kinh tế thị trường mở cửa, các doanh nghiệp cạnh tranh nhau gay gắt mà vốn lưu động là điều kiện tiên quyết để các doanh nghiệp có thể thực hiện hoạt động SXKD thì cho vay BSVLĐ là hoạt động kinh doanh đem lại nguồn thu lớn cho ngân hàng
Phân tán rủi ro cho ngân hàng: Để tạo được sự khác biệt, thu hút khách hàng
thì sản phẩm của ngân hàng phải luôn được đổi mới, tiến bộ hơn sản phẩm trước đó Những nội dung và quy định trong cho vay BSVLĐ cần phải linh hoạt, phù hợp với thị trường và gắn với nhu cầu của doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp
dễ dàng tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng, ngân hàng cũng thu được lợi nhuận cao hơn Ngân hàng cũng có thể kết hợp với các hình thức khác để đa dạng hóa hoạt động cho vay, phân tán rủi ro cho các hoạt động kinh doanh ngân hàng
1.2.6.3 Góp phần vào sự ổn định và phát triển của nền kinh tế
Thông qua hoạt động cho vay BSVLĐ, NHTM đã giúp cho quá trình SXKD của các doanh nghiệp được liên tục và ổn định, góp phần vào sự ổn định và phát triển của nền kinh tế Vốn lưu động là điều kiện không thể thiếu của quá trình SXKD, nhu cầu về vốn lưu động trong doanh nghiệp thường xuyên và lớn Khi không có đủ vốn lưu động thì hoạt động SXKD của doanh nghiệp bị ngưng trệ, ảnh hưởng tới chu kỳ sản xuất tiếp theo, dẫn tới kết quả kinh doanh không tốt, doanh nghiệp không có lãi, thậm chí thua lỗ, tình trạng thất nghiệp gia tăng, công nhân mất việc làm Mức sống của người lao động bị giảm sút, dễ dẫn đến những tệ nạn xã hội Ngân hàng cho vay BSVLĐ giúp doanh nghiệp có điều kiện nắm bắt được các cơ hội kinh doanh tốt hơn, tạo việc làm cho lao động, nâng mức sống của người lao động góp phần ổn định và phát triển của nền kinh tế
1.2.7 Phân loại cho vay bổ sung vốn lưu động
1.2.7.1 Theo thời gian cho vay
Cho vay ngắn hạn: Cho vay bổ sung vốn lưu động là hình thức cho vay trong
ngắn hạn của ngân hàng, nhằm mục đích cung ứng vốn ngắn hạn cho khách hàng để
Trang 2515
kinh doanh, chủ yếu là bổ sung vốn lưu động thiếu hụt Dựa trên vòng quay vốn lưu động và nhu cầu vay vốn của khách hàng, ngân hàng xem xét đến thời gian cho vay bổ sung vốn lưu động Thời gian cho vay bổ sung vốn lưu động thông thường là 3 tháng,
là 6 tháng hoặc 12 tháng
Tín dụng tuần hoàn: Là hình thức tín dụng của NHTM trong đó vốn vay sẽ
được sử dụng cho nhiều chu kỳ kinh doanh khác nhau trên cơ sở thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng Đối tượng vay vốn là đối tượng mà ngân hàng tài trợ vốn lưu động, mức cho vay dựa trên nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp trong từng chu
kỳ Với hình thức tín dụng tuần hoàn, thời hạn có thể bao gồm một hay nhiều chu kỳ kinh doanh, vì vậy tổng thời gian cho vay có thể là lớn hơn một năm Doanh nghiệp có thể hoàn trả số tiền gốc và lãi mỗi lần vay trong một khoảng thời gian cố định (1 tháng, 3 tháng hay 6 tháng) Bằng cách sử dụng hình thức này, doanh nghiệp có thể linh động tái vay khi cần thiết, với điều kiện số dư nợ cho vay tại mỗi thời điểm không được vượt quá hạn mức tín dụng Hình thức tín dụng tuần hoàn phù hợp với khách hàng có uy tín và có nhu cầu vốn thường xuyên Khi kết thúc hợp đồng vay vốn, nếu khách hàng còn đáp ứng đủ điều kiện ngân hàng đặt ra và có nhu cầu vay vốn tiếp thì hợp đồng sẽ tự động có giá trị thêm lần nữa
1.2.7.2 Theo phương thức cho vay
Cho vay theo hạn mức tín dụng: Cho vay bổ sung vốn lưu động theo hạn mức
tín dụng áp dụng cho doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng vốn lưu động thường xuyên, tốc độ luân chuyển vốn nhanh và có tín nhiệm cao với ngân hàng Theo phương thức này, ngân hàng và khách hàng thỏa thuận một hạn mức tín dụng Trong suốt thời gian ngân hàng cam kết cho vay, khách hàng có quyền đi vay hoặc trả nợ nhiều lần, nhưng phải đảm bảo số dư nợ tại mỗi thời điểm không vượt quá hạn mức tín dụng ngân hàng
đã cam kết cung cấp cho khách hàng
Cho vay từng lần: Là phương pháp cho vay mà mỗi lần vay khách hàng và
ngân hàng đều phải làm các thủ tục vay vốn (khách hàng lập kế hoạch vay vốn, ngân hàng xét duyệt…) và ký hợp đồng cho vay Cho vay từng lần còn gọi là cho vay theo món, áp dụng với khách hàng có nhu cầu vốn lưu động tạm thời, phát sinh bất thường
và doanh nghiệp không có sự chuẩn bị trước hoặc nhóm khách hàng có quan hệ không thường xuyên với ngân hàng, chưa có uy tín để thanh toán tiền mua hàng hoặc các chi phí SXKD khác
1.2.7.3 Theo căn cứ đảm bảo tiền vay
Cho vay có đảm bảo bằng tài sản: Đối với khách hàng chưa có quan hệ với
ngân hàng, khách hàng có quan hệ vay vốn lần đầu hoặc chưa có nhiều uy tín trong việc trả nợ, ngân hàng đòi hỏi phải có TSBĐ hoặc có bảo lãnh của bên thứ 3 trong việc cam kết thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng TSBĐ có thể là tài sản
Trang 26thuộc quyền sở hữu hợp pháp của khách hàng hoặc thuộc quyền sở hữu hợp pháp của
người bảo lãnh
Cho vay không có đảm bảo bằng tài sản: Ngân hàng cho vay mà không yêu
cầu khách hàng phải có tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ mà chỉ dựa trên uy tín của khách hàng Thông thường đó là khách hàng có nhu cầu vốn lưu động thường xuyên
có quan hệ tốt với ngân hàng, có tình hình tài chính lành mạnh là những đối tượng được ngân hàng cho vay không có TSBĐ
1.3 Thẩm định cho vay bổ sung vốn lưu động
1.3.1 Khái niệm thẩm định cho vay bổ sung vốn lưu động
Thu nhập từ cho vay BSVLĐ chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu nhập của ngân hàng Hoạt động cho vay luôn tiềm ẩn những rủi ro có thể xảy ra, ngân hàng không thể loại trừ toàn bộ mà chỉ có thể tìm cách làm giảm tối đa những rủi ro đó Để đảm bảo
an toàn, với bất cứ khoản vay nào, ngân hàng cũng cần phải thẩm định Thẩm định là bước có tính chất quyết định đến chất lượng của một khoản cho vay, đảm bảo khả năng thu hồi nợ của ngân hàng Chính vì vậy, cần phải thẩm định để khẳng định tính đúng đắn của các bộ hồ sơ vay vốn và tính khả thi của các phương án SXKD mà khách hàng đưa ra, đảm bảo nguồn thu của ngân hàng sau này, lấy đó làm cơ sở đưa ra quyết định cho vay của ngân hàng
Khái niệm thẩm định cho vay bổ sung vốn lưu động được đưa ra như sau:
“Thẩm định cho vay bổ sung vốn lưu động là việc ngân hàng sử dụng các công cụ,
kỹ thuật phân tích nhằm kiểm tra, đánh giá khách hàng vay vốn, nhu cầu vay mượn, hệ thống các biện pháp bảo đảm tiền vay, tính hiệu quả của phương án xin vay trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc cho vay để đưa ra kết luận về hiệu quả và mức
độ rủi ro của phương án phục vụ cho quyết định cho vay của ngân hàng.”
1.3.2 Mục đích thẩm định cho vay bổ sung vốn lưu động
Mục đích của công tác thẩm định là đánh giá một cách chính xác và trung thực
về khách hàng vay vốn, tính hiệu quả kinh tế của một phương án SXKD, về TSBĐ cũng như ước lượng rủi ro có thể xảy ra trong cho vay khách hàng Qua đó xác định được khả năng thu hồi nợ của ngân hàng khi ra quyết định cho vay Như vậy, mục tiêu cuối cùng của thẩm định là việc ra quyết định cho vay Đây là bước rất quan trọng trong quy trình nghiệp vụ, nếu làm tốt bước thẩm định này sẽ hạn chế được rủi ro và làm giảm tổn thất, đảm bảo mục tiêu an toàn và sinh lợi của ngân hàng
Thẩm định sự đầy đủ, chính xác, hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ vay vốn: Ngân
hàng chỉ cho vay những đối tượng có nhu cầu vay vốn hợp pháp theo quy định của pháp luật Để biết khách hàng có là đối tượng được vay vốn không thì CBTD phải thẩm định hồ sơ khách hàng, thẩm định năng lực pháp lý của khách hàng Hồ sơ vay vốn phải có đầy đủ những nội dung mà ngân hàng yêu cầu, thông tin phải được chứng
Trang 2717
thực bởi cơ quan có thẩm quyền liên quan, hợp pháp, hợp lệ Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh phải do cơ quan có thẩm quyền cấp, biên bản bầu ban điều hành công ty phải có chữ ký xác nhận của các thành viên có mặt trong cuộc họp…
Đánh giá được tính khả thi của phương án SXKD: Tính khả thi là khả năng
thực hiện thành công phương án SXKD của khách hàng Ngân hàng xem xét tính khả thi của phương án SXKD của khách hàng dựa trên sự phù hợp của phương án SXKD với quy định của pháp luật, với ngành nghề kinh doanh của khách hàng, với xu thế phát triển chung của ngành và nguồn lực của khách hàng về vốn, nhân lực, công nghệ,
kỹ thuật…
Đánh giá được tính hiệu quả của phương án SXKD: Tính hiệu quả của một
phương án SXKD trước tiên là khả năng đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp Hoạt động SXKD của doanh nghiệp được coi là có hiệu quả khi doanh thu lớn hơn chi phí
vì khi đó doanh nghiệp mới có khả năng trả nợ cho ngân hàng Ngoài ra, hiệu quả của một phương án SXKD còn là đem lại cho thị trường một sản phẩm mới, cung cấp sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Phương án SXKD có hiệu quả tạo việc làm cho người lao động trong khu vực, nâng cao mức sống của người lao động
Đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng: Việc đánh giá đúng khả năng trả
nợ của khách hàng có ảnh hưởng lớn tới nguồn thu của ngân hàng sau khi cho khách hàng vay vốn Nguồn trả nợ trong cho vay BSVLĐ là từ doanh thu bán hàng từ phương án SXKD trong hồ sơ vay vốn, do đó khách hàng có khả năng trả nợ tốt sẽ đảm bảo cho nguồn thu của ngân hàng
1.3.3 Vai trò thẩm định cho vay bổ sung vốn lưu động
Giúp ngân hàng ra quyết định cấp tín dụng: Đây là mục đích cơ bản, mục tiêu
hàng đầu và quan trọng của công tác thẩm định Thông qua các công cụ và kỹ thuật đưa ra để phân tích, đánh giá mức độ tin cậy và rủi ro của một dự án, ngân hàng đưa ra
được quyết định cấp tín dụng cho khách hàng hay không
Đánh giá được mức độ tin cậy của thông tin khách hàng đã lập và nộp cho ngân hàng: Thông qua công tác thẩm định, ngân hàng có thể kiểm soát được sự đầy
đủ, chứng thực được độ tin cậy và hợp pháp của các thông tin mà khách hàng đưa ra
Hồ sơ vay vốn của khách hàng có thể đã bị chỉnh sửa trước khi được nộp lên cho ngân hàng để khách hàng vay vốn thuận lợi hơn hoặc có những khi là thông tin hoàn toàn sai sự thật, không đúng với tình hình hoạt động SXKD của doanh nghiệp Thẩm định một số chỉ tiêu căn bản sẽ giúp ngân hàng phát hiện ra những thông tin không chính xác trong hồ sơ của khách hàng, những thông tin còn thiếu, để yêu cầu khách hàng xem xét lại và bổ sung Thông qua đó, ngân hàng có những đánh giá ban đầu về độ tin cậy của khách hàng khi đến với ngân hàng, phục vụ cho công tác thu hồi vốn sau này khi khách hàng không trả được nợ Ngân hàng cần chứng thực được sự tồn tại của
Trang 28doanh nghiệp và hoạt động SXKD là khả thi và có hiệu quả để có thể cho khách hàng vay vốn Trong trường hợp rủi ro, ngân hàng có thể dựa vào những thông tin đã chứng thực để tiến hành các thủ tục xử lý khoản vay nhằm thu hồi được lượng vốn đã cho
khách hàng vay
Đánh giá được rủi ro trong phương án SXKD của khách hàng: Hoạt động
ngân hàng luôn gắn liền với rủi ro, không thể loại bỏ mà chỉ có thể làm giảm thiểu sự rủi ro cũng như mức độ rủi ro cho ngân hàng Sử dụng một vài chỉ tiêu quan trọng và chủ yếu để tính toán, ngân hàng có thể đánh giá được mức độ rủi ro trong phương án SXKD của khách hàng Khi đã đánh giá được mức độ rủi ro trong phương án SXKD của khách hàng, ngân hàng sẽ quyết định có nên cho vay hay không, và ngân hàng chấp nhận rủi ro ở mức nào, tránh sai lầm và những rủi ro khi cho vay phương án tồi
và đánh mất cơ hội khi không cho vay những phương án SXKD tốt, đem lại hiệu quả
kinh tế cao
Tránh sai lầm trong khi ra quyết định cho vay: Khách hàng khi đến với ngân
hàng thường có xu hướng làm đẹp hồ sơ vay vốn để được ngân hàng chấp nhận cho vay vốn Chính vì vậy, công tác thẩm định cần làm rõ tính chân thực của thông tin khách hàng, của phương án SXKD Thông qua đó ngân hàng mới cho vay đúng đối tượng, đúng mục đích, tránh sai lầm trong cho vay khi cho vay phương án SXKD không hiệu quả, gây tổn thất cho ngân hàng, trong khi những phương án tốt, có tính khả thi và hiệu quả, đem lại nguồn lợi cho ngân hàng và cho doanh nghiệp, phát triển
kinh tế thì lại bị từ chối
Lựa chọn khách hàng vay vốn, thực hiện chính sách tín dụng: Mục tiêu của
thẩm định là ra quyết định cho vay Sau khi đã thẩm định được tình trạng khách hàng, đánh giá được rủi ro trong dự án SXKD của khách hàng, ngân hàng có thể đưa ra quyết định cho khách hàng nào vay vốn, lượng vốn cấp cho khách hàng là bao nhiêu, thời hạn cho vay là bao lâu, lãi suất cho khách hàng vay là bao nhiêu, thực hiện chính sách tín dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng
Cho thấy những lợi ích mà ngân hàng và khách hàng có thể có được sau khi ngân hàng quyết định cho vay: Thông qua công tác thẩm định, cán bộ tín dụng đã
tính toán sơ bộ được khoản lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được khi phương án SXKD được thực hiện Trên cơ sở đó, ngân hàng tính toán khoản lợi nhuận mà ngân hàng đạt được khi cho khách hàng vay vốn Ngân hàng gia tăng thu nhập từ đó tăng lợi nhuận,
mở rộng thị phần, nâng cao vị thế, uy tín của ngân hàng, thu hút được khách hàng Về phía khách hàng, khi được sự đồng ý cho vay vốn của ngân hàng, doanh nghiệp không
bị lỡ mất cơ hội kinh doanh, hoạt động hiệu quả hơn, gia tăng lợi nhuận
Thẩm định giúp ngân hàng cung cấp sản phẩm cho vay phù hợp với nhu cầu của khách hàng: CBTD sẽ biết được nhu cầu của khách hàng, mục đích vay vốn, chu
Trang 2919
kỳ ngân quỹ, thu nhập hàng kỳ… thông qua quá trình thẩm định khách hàng Điều này
là cơ sở để ngân hàng quyết định áp dụng kỹ thuật cho vay nào, quy mô bao nhiêu, phương thức hoàn trả thế nào, kỳ hạn hoàn trả là bao lâu… để phù hợp với nhu cầu của khách hàng mà ngân hàng cũng có lợi
1.3.4 Yêu cầu thẩm định
Thẩm định là khâu quan trọng trước khi ngân hàng ra quyết định cho vay Nó quyết định đến việc cho vay hay không cho vay đối với khách hàng của ngân hàng Mặt khác, công tác thẩm định có ảnh hưởng gián tiếp đến uy tín của ngân hàng nếu như CBTD không đánh giá đúng khả năng của một phương án SXKD Khi cho vay khách hàng mà phương án SXKD không có hiệu quả dẫn tới khách hàng không có khả năng trả nợ thì khả năng thanh khoản của ngân hàng cũng bị suy giảm, dẫn tới uy tín của ngân hàng bị hạ thấp Ngược lại, kết quả thẩm định dẫn tới việc từ chối cho vay một khách hàng có phương án SXKD hiệu quả sẽ đánh mất đi nguồn lợi nhuận của ngân hàng, mất đi một cơ hội kinh doanh của ngân hàng Công tác thẩm định do đó phải đạt những yêu cầu sau:
Đánh giá được mức độ tin cậy của thông tin: Bởi các thông tin khách hàng
gửi cho ngân hàng trên bộ hồ sơ vay vốn nhiều khi là những thông tin không chính xác, đặc biệt là thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp Do đó, ngân hàng cần phải thẩm định để đánh giá chính xác thông tin khách hàng trước khi ra quyết định cho vay, tránh rủi ro cho ngân hàng Với những thông tin phi tài chính, cần có xác nhận của cơ quan công chứng nơi doanh nghiệp hoạt động, đảm bảo tính có thực của thông tin Các thông tin không công chứng được thì ngân hàng phải tiến hành kiểm tra chéo từ nhà cung cấp của khách hàng, đối tác của khách hàng, các khách hàng của khách hàng… để xác nhận lại sự tin cậy của thông tin
Nắm bắt được tình hình hoạt động SXKD, thực trạng tài chính của khách hàng, quan hệ tín dụng của khách hàng: Ngân hàng cần phải hiểu rõ về khách hàng
của mình thì mới có quyết định cho vay chính xác Hiểu được tình hình hoạt động của khách hàng, tình hình tài chính của khách hàng thì ngân hàng sẽ xem xét đến thời gian cho vay và lượng vốn cho khách hàng vay, đánh giá tình hình thu hồi nợ, khả năng thu hồi nợ từ khách hàng Thông qua quan hệ tín dụng của khách hàng với đối tác, với các
tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác để tính đến lãi suất cho vay và thời gian thu hồi
nợ, chủ động trong việc đốc thúc khách hàng trả nợ khi quyết định cho vay
Nắm vững chủ trương, chính sách phát triển kinh tế: Khách hàng không chỉ
tương tác với ngân hàng mà còn tương tác trong nhiều mối quan hệ với các chủ thể khác trong nền kinh tế, với pháp luật của Nhà nước Vì vậy, nắm bắt được chủ trương, chính sách phát triển kinh tế cũng là một yêu cầu cần thiết khi ngân hàng thẩm định khách hàng
Trang 30Cập nhật thông tin: Ngân hàng cũng cần phải tìm hiểu những thông tin về tình
hình kinh tế - xã hội có ảnh hưởng tới hoạt động SXKD của khách hàng để đánh giá tính khả thi của phương án SXKD Những ngành nhạy cảm với những biến động của thị trường thì ngân hàng càng phải theo dõi sát sao thông tin thị trường để cân nhắc, lựa chọn khi ra quyết định cho vay
1.3.5 Các nguồn thông tin sử dụng trong thẩm định cho vay bổ sung vốn lưu động
Nguồn thông tin đóng vai trò quan trọng đối với quá trình thẩm định Thông tin không chính xác, không đầy đủ khiến cán bộ tín dụng có cái nhìn phiến diện, thiếu chính xác có thể dẫn tới những quyết định sai lầm, gây tổn thất cho ngân hàng Vì vậy, việc lựa chọn nguồn thông tin để sử dụng trong công tác thẩm định là rất quan trọng Ngân hàng có thể sử dụng thông tin từ các nguồn sau:
1.3.5.1 Thông tin do khách hàng lập và nộp cho ngân hàng
Khách hàng khi đến vay vốn tại ngân hàng phải lập bộ hồ sơ vay vốn, cung cấp thông tin ban đầu về tính pháp lý của doanh nghiệp, tình hình hoạt động SXKD và khả năng của doanh nghiệp trong việc sử dụng vốn để tiến hành sản xuất kinh doanh Dựa vào những thông tin này, ngân hàng có những đánh giá ban đầu về khách hàng, tình hình tài chính của khách hàng, khả năng trả nợ của khách hàng để ra quyết định cho vay
Hồ sơ khách hàng: Hồ sơ khách hàng bao gồm: Quyết định thành lập, Điều lệ
hoạt động, Giấy phép đăng ký kinh doanh, Giấy phép đầu tư, Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Kế toán trưởng… Đó là những hồ sơ chứng minh năng lực pháp luật dân sự
và năng lực hành vi dân sự, năng lực pháp lý của khách hàng Hồ sơ khách hàng phải
có xác nhận công chứng của cơ quan công chứng Nhà nước nơi doanh nghiệp hoạt động hoặc biên bản xác nhận sự đồng ý của các bên liên quan trong hội đồng quản trị, ban lãnh đạo doanh nghiệp đối với các quyết định bầu Giám đốc, Kế toán trưởng Trên cơ sở các hồ sơ do khách hàng cung cấp, CBTD có tìm hiểu tư cách của khách hàng như có đủ năng lực dân sự, năng lực hành vi dân sự hay không, được thành lập
và hoạt động có đúng quy định không, người đại diện pháp nhân đã đúng thẩm quyền chưa và đối chiếu với các qui định của pháp luật hiện hành để xem xét khách hàng
có đủ điều kiện kinh doanh và vay vốn hay không
Hồ sơ khoản vay: Là những tài liệu chứng minh khả năng sử dụng và khả năng
hoàn trả vốn của khách hàng, bao gồm các báo cáo tài chính: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Thuyết minh báo cáo tài chính tối thiểu trong 3 năm gần nhất so với thời điểm xin vay vốn, Báo cáo nhanh về tình hình SXKD, tài sản, nguồn vốn từ đầu năm tới thời điểm xin vay vốn Tuy nhiên, ngân hàng không quá lệ thuộc vào các báo cáo vì chúng là số liệu của năm cũ Ngân hàng xem xét hồ sơ khoản vay dựa trên các giấy tờ phản ánh nội dung phương án
Trang 3121
SXKD, Kế hoạch sản xuất kinh doanh, Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, Các hợp đồng kinh tế Số tiền vay càng nhiều thì báo cáo tài chính càng phải chi tiết và qua nhiều năm
Hồ sơ bảo đảm tiền vay: Bao gồm những tài liệu liên quan đến bảo đảm cho
vay hoặc điều kiện để được vay vốn đặc thù như: Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu với TSBĐ, Văn bản xác nhận bảo lãnh của bên thứ ba, Bản thuyết minh tài sản…
1.3.5.2 Thông tin lưu trữ tại ngân hàng
Những giao dịch trước đó của khách hàng với ngân hàng đều được lưu trữ tại ngân hàng Đối với khách hàng mới giao dịch, chưa sử dụng dịch vụ của ngân hàng thì chưa có nguồn thông tin tại ngân hàng để theo dõi, ngân hàng chỉ dựa vào thông tin trong hồ sơ vay vốn mà khách hàng cung cấp Những khách hàng lần đầu vay vốn ngân hàng nhưng trước đó có sử dụng các dịch vụ tài chính khác của ngân hàng thì thông tin qua các lần giao dịch đó cũng rất hữu ích, giúp ngân hàng có thông tin xác thực về khách hàng
Với những khách hàng đã có giao dịch từ trước đó, ngân hàng dựa trên sự phân tích các số liệu qua những lần giao dịch như thời gian vay vốn, lượng vốn vay, lịch sử trả nợ tình hình nợ quá hạn… để tiến hành chấm điểm khách hàng Kết quả chấm điểm
sẽ cho ngân hàng cơ sở để ra quyết định có cho vay hay không Khách hàng có báo cáo kiểm toán thường sẽ được đánh giá cao hơn những khách hàng mà các chỉ tiêu tài chính chưa được kiểm toán Tuy nhiên, những thông tin lưu trữ cũng là những tin tức
đã cũ, ngân hàng không thể dựa hoàn toàn vào kết quả đánh giá này mà đưa ra kết luận
về thực trạng khách hàng và ra quyết định cho vay Chúng chỉ là thông tin cơ sở để ngân hàng nhận định về khách hàng của mình
1.3.5.3 Thông tin từ các cuộc điều tra, phỏng vấn
Để công tác thẩm định đạt hiệu quả và kiểm chứng được thông tin khách hàng, CBTD không thể chỉ thẩm định từ xa thông qua bộ hồ sơ mà khách hàng gửi cho ngân hàng khi đến vay vốn Thẩm định tại chỗ sẽ cho CBTD những thông tin bổ sung và kiểm tra được sơ bộ tính chính xác của hồ sơ vay vốn Bằng cách phỏng vấn nhanh những người lao động, CBTD phải nhạy bén nắm bắt được thông tin khách hàng Hoặc thông qua những lần tiếp xúc với khách hàng khi đến làm hồ sơ vay vốn, CBTD cũng khai thác được một số thông tin hữu ích, phục vụ cho công tác thẩm định
1.3.5.4 Thông tin từ các cơ quan chức năng
Thông tin từ trung tâm thông tin tín dụng của NHNN trên địa bàn, các Hiệp hội ngành nghề liên quan, các Sở liên quan trên địa bàn (Sở địa chính, Sở tài chính, Sở kế hoạch và đầu tư…), cơ quan chủ quản của doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác
Trung tâm Thông tin tín dụng (CIC) là tổ chức sự nghiệp Nhà nước thuộc NHNN Việt Nam, có chức năng thu nhận, lưu trữ, phân tích, xử lý, dự báo thông tin
Trang 32tín dụng phục vụ cho yêu cầu quản lý nhà nước của NHNN; thực hiện các dịch vụ thông tin ngân hàng theo quy định của NHNN và của pháp luật Những thông tin của CIC đến từ rất nhiều tổ chức tín dụng hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng, bảo đảm tính chính xác và độ tin cậy của thông tin Đây là nguồn thông tin rất hữu ích cho ngân hàng khi thẩm định khách hàng vì chất lượng thông tin rất tốt
Thông tin của các Hiệp hội ngành nghề liên quan tới khách hàng cũng cho CBTD những phân tích về tình hình ngành nghề kinh doanh của khách hàng trên thị trường Các chỉ tiêu trung bình ngành là cơ sở để so sánh với tình hình hoạt động của khách hàng, từ đó đưa ra đánh giá về tính hiệu quả trong hoạt động SXKD của khách hàng
Những thông tin có được từ các tổ chức tín dụng khác cũng cần thiết khi thẩm định khách hàng Tình hình dư nợ của khách hàng tại các tổ chức tín dụng khác, bảng
kê trả nợ của khách hàng… cũng là căn cứ để CBTD lựa chọn phương án cho vay phù hợp với khách hàng
1.3.5.5 Thông tin từ các nguồn khác
Trong hệ thống những thông tin thu thập thì nguồn thông tin từ báo chí, Internet
là không thể thiếu Thông tin trên báo chí mang tính chất khách quan nên những thông tin này là tương đối chính xác về khách hàng Việc sử dụng những thông tin này một cách hiệu quả, kết hợp với một phương pháp phân tích, đánh giá tốt sẽ giảm được yếu
tố chủ quan trong thẩm định khách hàng, thông qua đó góp phần nâng cao chất lượng công tác tín dụng
Thông qua bạn hàng của khách hàng có thể biết được mức độ chiếm dụng vốn của khách hàng với bạn hàng, uy tín của khách hàng trong việc trả nợ, quan hệ của khách hàng với bạn hàng… Đó cũng là những thông tin hữu ích cho CBTD
Các thông tin dù đến từ nguồn nào cũng đều có tác động tới công tác thẩm định
và việc ra quyết định cho vay của ngân hàng CBTD cần tìm hiểu kỹ tính chính xác của các nguồn thông tin và xem xét trên nhiều phương diện, nhiều khía cạnh để có kết quả thẩm định tốt nhất, đưa ra quyết định đúng đắn
1.3.6 Quy trình thẩm định
Quy trình thẩm định cho vay BSVLĐ được thực hiện qua các bước sau:
Sơ đồ 1.1: Quy trình thẩm định cho vay bổ sung vốn lưu động
Tiếp nhận, kiểm
tra hồ sơ vay vốn
từ khách hàng
Thẩm định các điều kiện cho vay
Thẩm định rủi ro tín dụng độc lập
và báo cáo rủi ro
Lập tờ trình thẩm định
Trang 3323
Bước 1: Tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ vay vốn từ khách hàng
CBTD sẽ là người tiếp xúc với khách hàng đến vay vốn, tiếp nhận hồ sơ vay vốn từ khách hàng và tiến hành kiểm tra Đối với khách hàng mới quan hệ với ngân hàng lần đầu, CBTD sẽ hướng dẫn khách hàng cụ thể những hồ sơ cần thiết để có thể vay vốn ngân hàng Các loại hồ sơ vay vốn bao gồm: Hồ sơ khách hàng, Hồ sơ khoản vay và Hồ sơ đảm bảo tiền vay Với những khách hàng đã có quan hệ tín dụng với ngân hàng, CBTD sẽ hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ khoản vay, hồ sơ đảm bảo tiền vay và thông tin bổ sung của hồ sơ khách hàng (nếu có)
Sau khi tiếp nhận đầy đủ hồ sơ từ phía khách hàng, CBTD sẽ tiến hành kiểm tra
hồ sơ vay vốn CBTD cần kiểm tra tính đầy đủ, xác thực, hợp pháp và hợp lệ của hồ sơ vay vốn thông qua các giấy tờ, văn bản, quyết định đã được công chứng, các hóa đơn mua bán hàng hóa có dấu đỏ của cơ quan thuế, của đối tác, xác nhận của chính quyền địa phương nơi doanh nghiệp hoạt động so với quy định của ngân hàng Sau đó, CBTD sẽ báo cáo lãnh đạo phòng khách hàng về tình trạng của hồ sơ Nếu hồ sơ của khách hàng chưa đầy đủ, CBTD sẽ yêu cầu khách hàng bổ sung hồ sơ, tiếp nhận và kiểm tra các giấy tờ, tài liệu bổ sung cho đến khi hồ sơ của khách hàng đầy đủ và đúng quy định (trường hợp khách hàng thiếu một số giấy tờ, tài liệu không quan trọng thì có thể cho bổ sung sau) Nếu hồ sơ của khách hàng chưa chính xác, chưa hợp pháp, hợp
lệ thì yêu cầu khách hàng phải sửa đổi, bổ sung hồ sơ hoặc từ chối hồ sơ của khách hàng
Khi đã nắm được đầy đủ tài liệu cần thiết, CBTD sẽ tiến hành thẩm định hồ sơ vay vốn của khách hàng
Bước 2: Thẩm định các điều kiện cho vay
Căn cứ vào các tài liệu do khách hàng cung cấp, thông tin thu thập được trong quá trình kiểm tra thực tế tại đơn vị và các thông tin từ các nguồn khác, CBTD sẽ tiến hành thẩm định khách hàng vay vốn, thẩm định tình hình tài chính của khách hàng, thẩm định phương án SXKD, khả năng trả nợ của khách hàng và thẩm định TSBĐ tiền vay
Thẩm định khách hàng vay vốn: CBTD sẽ tiến hành kiểm tra năng lực pháp luật
dân sự, năng lực hành vi dân sự, năng lực, trình độ chuyên môn và uy tín của khách hàng vay vốn, người đại diện đi vay vốn Thẩm định tổ chức bộ máy hoạt động của doanh nghiệp vay vốn, loại khách hàng, quan hệ của khách hàng với các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác Mục đích của việc thẩm định khách hàng vay vốn là để đảm bảo tư cách pháp lý của người vay vốn, cơ sở để ngân hàng xác định phạm vi trách
nhiệm và nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng
Thẩm định tình hình tài chính của khách hàng: Bằng việc phân tích các chỉ tiêu
tài chính của khách hàng, CBTD đánh giá khách hàng có tình hình tài chính lành mạnh
Trang 34đủ để đảm bảo khả năng trả nợ cho ngân hàng nếu ngân hàng cho khách hàng vay vốn hay không CBTD thẩm định sự minh bạch về số liệu tài chính của doanh nghiệp, kết quả hoạt động của Bộ máy kiểm tra, kiểm soát, kiểm toán nội bộ, đánh giá tài sản có của doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu, mức độ đáp ứng điều kiện cấp giới hạn tín dụng Thẩm định các chỉ tiêu tài chính như: tình hình tài sản, nguồn vốn, khả năng hoàn trả
nợ vay, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, chỉ tiêu tăng trưởng để xem xét khả năng tự chủ, khả năng trả nợ với khoản vay ngân hàng, hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp
Thẩm định phương án SXKD: Thẩm định tính khả thi và hiệu quả của phương
án SXKD để đánh giả khả năng thu hồi nợ từ kết quả kinh doanh của phương án SXKD Hiệu quả mang lại của phương án SXKD thể hiện ở doanh thu bán hàng Xem xét sự phù hợp của phương án SXKD với ngành nghề trong giấy đăng ký kinh doanh,
giấy chứng nhận đầu tư, sự phù hợp của nhu cầu vay vốn với quy định của pháp luật
Thẩm định khả năng trả nợ của doanh nghiệp: Điều kiện để khách hàng được
vay vốn là phải có tình hình tài chính lành mạnh, tức là doanh nghiệp tự chủ về tài chính và hoàn toàn có khả năng trả nợ Khả năng trả nợ của khách hàng phụ thuộc rất nhiều vào kết quả của phương án SXKD Thẩm định khả năng trả nợ của khách hàng dựa trên tình hình tài sản, nguồn vốn, doanh thu từ phương án SXKD
Thẩm định biện pháp bảo đảm tiền vay: Công tác thẩm định này chỉ thực hiện
trong trường hợp ngân hàng cho vay có bảo đảm bằng tài sản (bao gồm cả tài sản hình thành từ vốn vay) CBTD sẽ kiểm tra các giấy tờ liên quan đến TSBĐ tiền vay để đánh giá tính hợp pháp của tài sản và tiến hành định giá lại tài sản, đánh giá mức độ thanh khoản của TSBĐ trên thị trường Đối với cho vay không có đảm bảo bằng tài sản, ngân hàng dựa trên uy tín của khách hàng vay vốn để ra quyết định cho vay, CBTD cần phải thẩm định uy tín của khách hàng vay vốn Uy tín của khách hàng được thẩm định qua những hợp đồng vay vốn trước đó của khách hàng tại ngân hàng, thông qua
việc trả nợ gốc và lãi đúng hạn của khách hàng
Bước 3: Thẩm định rủi ro tín dụng độc lập và báo cáo rủi ro
Sau khi CBTD đã tiến hành thẩm định sơ bộ các điều kiện vay vốn của khách hàng, cán bộ phòng quản lý rủi ro sẽ tiếp nhận bộ hồ sơ và tiến hành thẩm định mức độ rủi ro của dự án Cán bộ quản lý rủi ro nghiên cứu hồ sơ, thẩm định rủi ro tín dụng, phát hiện các dấu hiệu rủi ro, đánh giá mức độ rủi ro tín dụng và đề xuất biện pháp làm giảm thiểu rủi ro tín dụng Sau khi đã hoàn thành, cán bộ quản lý rủi ro sẽ lập báo cáo rủi ro và trình lên lãnh đạo Phòng Quản lý rủi ro
Bước 4: Lập tờ trình thẩm định
CBTD dựa vào các số liệu đã phân tích để đưa ra kết luận về khả năng thu hồi
nợ, lợi nhuận của ngân hàng khi thực hiện cho vay với khách hàng Nếu xét thấy khả
Trang 3525
năng ngân hàng có thể cho khách hàng vay vốn thì CBTD sẽ lập TTTĐ, đề nghị cấp giới hạn cho vay và hạn mức tín dụng, báo cáo kết quả công tác thẩm định đối với khách hàng rồi nộp lên cấp trên phê duyệt, tiến hành cấp vốn cho khách hàng Nếu khách hàng không đủ điều kiện để vay vốn, CBTD lập TTTĐ và đề nghị từ chối cấp tín dụng cho khách hàng CBTD sẽ phải giải trình lý do từ chối cấp tín dụng cho khách hàng với lãnh đạo và khách hàng được biết
bộ doanh nghiệp CBTD có thể kiểm tra về hàng tồn kho, quy mô doanh nghiệp, số lượng lao động ước tính, quy trình sản xuất…
Thẩm định tại chỗ còn quan trọng khi trong hồ sơ vay vốn có TSBĐ CBTD sẽ xác thực được tính hiện thực của TSBĐ, tức là tài sản bảo đảm này thuộc sở hữu của doanh nghiệp, được sử dụng nhằm phục vụ hoạt động SXKD của doanh nghiệp và có thật Thông qua đó đánh giá được giá định giá lại của TSBĐ một cách gần nhất với giá trị thị trường
Thẩm định tại chỗ là công việc cần thiết để CBTD cũng như ngân hàng đưa ra được nhận định đúng đắn về khách hàng mà công việc thẩm định từ xa không thể biểu hiện được, giúp ngân hàng ra quyết định chính xác hơn, giảm thiểu rủi ro không mong muốn
Trong hồ sơ vay vốn còn có báo cáo tài chính, báo cáo kết quả SXKD, phương
án SXKD của khách hàng Ngân hàng thẩm định thông qua việc tính toán các chỉ tiêu
Trang 36căn bản và quan trọng như chỉ tiêu về tính thanh khoản, chỉ tiêu ổn định, chỉ tiêu về tính tăng trưởng, hiệu quả hoạt động, khả năng sinh lời, chỉ tiêu cân nợ để đưa ra nhận định về tình hình tài chính của khách hàng Đồng thời, ngân hàng cũng phải thẩm định tính khả thi và hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh, lợi nhuận ước tính của ngân hàng khi cho vay, khả năng trả nợ của khách hàng
Thẩm định từ xa được tiến hành ngay khi CBTD nhận được bộ hồ sơ vay vốn từ khách hàng, giúp ngân hàng có nhận xét đánh giá ban đầu về khách hàng vay vốn
1.3.8 Nội dung thẩm định
1.3.8.1 Thẩm định phi tài chính
Thẩm định năng lực pháp luật dân sự của khách hàng: Trên cơ sở các hồ sơ
do khách hàng cung cấp, CBTD có trách nhiệm tìm hiểu tư cách của khách hàng như
có đủ năng lực dân sự, năng lực hành vi dân sự, năng lực pháp lý hay không, doanh nghiệp được thành lập và hoạt động có đúng quy định không, người đại diện pháp nhân đã đúng thẩm quyền chưa và đối chiếu với các qui định của pháp luật hiện hành
để xem xét khách hàng có đủ điều kiện kinh doanh và vay vốn hay không
Thẩm định khả năng, kinh nghiệm tổ chức quản lý, điều hành của khách hàng: Ngân hàng tiến hành thẩm định kinh nghiệm chuyên môn của người đứng đầu
điều hành, kinh nghiệm của người đứng đầu điều hành, môi trường kiểm soát nội bộ, năng lực điều hành của người đứng đầu trực tiếp quản lý doanh nghiệp… để nhận định khả năng của khách hàng khi quản lý, điều hành doanh nghiệp Dựa vào tính khả thi của phương án SXKD và dự toán tài chính để xem khách hàng đưa ra có cụ thể và rõ
ràng không, từ đó biết được trình độ của ban lãnh đạo doanh nghiệp
Thẩm định uy tín khách hàng: Uy tín của khách hàng cũng là một trong những
điều kiện ngân hàng quan tâm xem xét khi cho khách hàng vay vốn Thông qua các trung tâm thông tin tín dụng, đối tác, nhà cung cấp có quan hệ với khách hàng, ngân hàng có thể biết được tình hình khách hàng thanh toán các khoản nợ, mức độ chiếm dụng tín dụng của khách hàng… để đưa ra thời hạn cho vay và mức độ cho vay đối với khách hàng phù hợp Ngoài ra, thông qua đó, ngân hàng có thể đánh giá mức độ uy tín
và thiện chí trả nợ của khách hàng
Thẩm định quan hệ tín dụng của khách hàng với các tổ chức tín dụng khác:
Dựa trên việc thẩm định quan hệ tín dụng của khách hàng với các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác, ngân hàng có những đánh giá ban đầu về tình hình tài chính của
khách hàng, tình hình trả nợ của khách hàng
1.3.8.2 Thẩm định tài chính
(1) Phân tích tình hình tài chính
Khách hàng có tiềm lực tài chính lành mạnh là cơ sở quan trọng đảm bảo tính
tự chủ trong hoạt động kinh doanh, đảm bảo khả năng cạnh tranh trên thị trường và
Trang 3727
đảm bảo khả năng hoàn trả các khoản nợ trong tương lai Đây là căn cứ quan trọng nhất để ngân hàng xem xét việc có cho khách hàng vay vốn hay không, mức cho vay là bao nhiêu, thời gian cho vay là bao lâu, lãi suất cho vay như thế nào
Thẩm định tài chính của khách hàng vì thế cần được xem xét rất cẩn trọng, thông qua nhiều chỉ tiêu phân tích và có hệ thống Thời gian xem xét thường là hai năm liên tiếp (trừ trường hợp khách hàng mới thành lập) để rút ra kết luận tình hình tài chính khách hàng có lành mạnh hay không Các chỉ tiêu thường được sử dụng để phân tích tình hình tài chính của khách hàng:
(1.1) Nhóm hệ số về khả năng thanh toán:
Khách hàng có khả năng thanh toán hay không có khả năng thanh toán không chỉ thể hiện khả năng về tài chính mà còn thể hiện ở khả năng chi trả Đây là chỉ số rất quan trọng đối với ngân hàng khi xem xét cho khách hàng vay vốn, nó cho ta biết khả năng trả nợ của khách hàng đối với các khoản nợ đến hạn
Hệ số này cho biết khách hàng có đủ tài sản ngắn hạn để đảm bảo trả nợ ngắn hạn hay không Nếu hệ số từ 1 trở lên thì khả năng thanh toán của khách hàng được bảo đảm, khách hàng có đầy đủ năng lực và tài sản ngắn hạn để trả nợ ngắn hạn Nếu
hệ số này nhỏ hơn 1 là có biểu hiện thiếu khả năng thanh toán, khách hàng không có
đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ ngắn hạn bằng tài sản ngắn hạn Khi hệ số này nhỏ hơn 1, CBTD cần đi sâu tìm hiểu nguyên nhân để đánh giá khả năng thanh toán trong tương lai của khách hàng nếu ngân hàng vẫn cho khách hàng vay vốn
Khả năng thanh toán nhanh là khả năng doanh nghiệp trả nợ mà không tính đến giá trị hàng tồn kho Hệ số này lớn hơn hoặc bằng 1 là tốt, chứng tỏ doanh nghiệp có
đủ khả năng trả nợ ngắn hạn bằng tiền, các khoản tương đương tiền và phải thu ngắn hạn của khách hàng Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 thì doanh nghiệp không đủ khả năng thanh toán các khoản nợ khi đến hạn bằng các khoản tiền nhanh có tính thanh khoản cao
(1.2) Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động:
Nhóm hệ số này phản ánh khả năng tận dụng các nguồn lực để tạo ra doanh thu
và quá trình chuyển doanh thu thành tiền mặt Các hệ số phản ảnh gồm:
Khả năng thanh toán ngắn hạn =
Giá trị tài sản ngắn hạn
Giá trị nợ ngắn hạn
Vòng quay hàng tồn kho =
Giá vốn hàng bán
Giá trị hàng tồn kho bình quân
Khả năng thanh toán nhanh =
Giá trị tài sản ngắn hạn – Giá trị hàng tồn kho
Giá trị nợ ngắn hạn
Trang 38Hệ số này thể hiện vòng quay nhanh, chậm của hàng tồn kho Giới hạn của hệ
số này phụ thuộc vào từng lĩnh vực hoạt động của khách hàng vay Hệ số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều Tuy nhiên, hệ số này quá cao cũng không tốt, vì như vậy có nghĩa là lượng hàng dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất có khả năng doanh nghiệp bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần Hơn nữa, dự trữ nguyên liệu vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có thể khiến dây chuyền sản xuất bị ngưng trệ Ngược lại, nếu vòng quay chậm có thể ứ đọng hàng, tài chính khó khăn trong tương lai Vì vậy, hệ số vòng quay hàng tồn kho cần phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất và đáp ứng được nhu cầu khách hàng
Hệ số này phản ánh nếu vòng quay nhanh chứng tỏ khách hàng quản lý khoản phải thu tốt, tốc độ thu hồi nợ của doanh nghiệp nhanh Ngược lại, nếu quay chậm thể hiện quản lý phải thu yếu, bị chiếm dụng vốn nhiều Tuy nhiên, nếu hệ số quá cao có thể do cơ chế bán hàng của khách hàng vay quá chặt chẽ, doanh nghiệp ít bán chịu hoặc chính sách trả chậm không linh hoạt Điều này ảnh hưởng tới quan hệ thương mại với bạn hàng trong việc mua bán trả chậm – mua bán chịu, doanh thu sẽ bị giảm và không tạo được sự cạnh tranh với đối thủ
Chỉ tiêu này phản ánh chu kỳ hoạt động của doanh nghiệp, cho biết doanh nghiệp mất bao nhiêu ngày để thu hồi các khoản phải thu của mình Ngân hàng khi cho vay sẽ dựa trên chỉ tiêu này để xác định kỳ hạn cho vay và các kỳ hạn trả nợ cụ thể Vì vốn lưu động của doanh nghiệp tham gia vào một chu kỳ SXKD, được thu hồi khi doanh nghiệp thu được tiền từ hoạt động bán hàng, nên kỳ thu nợ bình quân là cơ sở
để ngân hàng quyết định kỳ hạn cho vay và thời gian cho doanh nghiệp vay
Chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp càng ngắn chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng vốn tốt, không để hàng tồn kho và uy tín cao Chu kỳ kinh doanh trung bình của doanh nghiệp thương mại thường nhỏ hơn 3 tháng, doanh nghiệp sản xuất từ 6 đến 9 tháng, doanh nghiệp xây dựng từ 9 đến 12 tháng Trường hợp chu kỳ kinh doanh của khách hàng kéo dài hơn mức trung bình, phải tìm hiểu được nguyên nhân thể hiện đặc thù của khách hàng và phải mang tính chủ động
Vòng quay các khoản phải thu =
Doanh thu bán chịu
Các khoản phải thu bình quân
Kỳ thu nợ bình quân =
360 ngày
Vòng quay các khoản phải thu
Trang 3929
Chỉ tiêu này phản ánh tính hợp lý số dư các khoản phải trả và khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp Số tiền hàng mua chịu của đối tác có thể chiếm dụng trong thời gian ngắn và không phải trả lãi Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp có khoản mua chịu quá lớn hoặc thời gian trả nợ dài, phải đốc thúc thu nợ lâu thì khi đó uy tín của doanh nghiệp sẽ bị giảm sút và cần xem xét lại tình hình tài chính của doanh nghiệp
Đây là chỉ tiêu mà CBTD quan tâm nhất trong quá trình thẩm định cho vay bổ sung vốn lưu động Vòng quay càng cao chứng tỏ doanh nghiệp có phương án SXKD hiệu quả, doanh nghiệp sử dụng ít vốn lưu động cho SXKD mà vẫn có được doanh thu cao Dựa vào chỉ số này, CBTD sẽ tính toán lượng vốn cho khách hàng vay, tránh cho vay quá nhiều dẫn đến lãng phí vốn
(1.3) Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời:
Phân tích khả năng sinh lời của khách hàng để xác định được hiệu quả của doanh nghiệp trong việc tiếp cận thị trường Các chỉ tiêu dùng để phân tích bao gồm:
Tỷ số này đo lường khả năng sinh lợi so với tổng tài sản, cho biết mỗi đồng giá trị tài sản của doanh nghiệp tạo ra được bao nhiều đồng lợi nhuận ròng sau thuế mỗi năm tài chính Tỷ số này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động tốt, tạo ra được lợi nhuận cao trên tổng tài sản đầu tư, có khả năng phát triển mạnh trong tương lai
Tỷ số này cho biết trong mỗi đồng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bỏ ra tạo
ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Chỉ số này cũng cho biết hiệu quả của việc sử dụng vốn của doanh nghiệp, khả năng sinh lời của vốn và việc cắt giảm bớt chi phí để tăng lợi nhuận vì có nhiều doanh nghiệp mặc dù tổng doanh thu tăng nhanh nhưng lợi nhuận tăng rất thấp hoặc không tăng, khi đó cần tìm hiểu và phân tích những nguyên nhân của hiện tượng trên
Tỷ suất lãi ròng so với vốn chủ sở hữu
(ROE)
=
Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu
Tỷ suất lãi ròng so với tổng tài sản (ROA) =
Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản
Vòng quay các khoản phải trả =
Tổng số tiền hàng mua chịu thực
tế Các khoản phải trả bình quân
Vòng quay vốn lưu động =
Doanh thu thuần
Giá trị tài sản lưu động bình quân
Trang 40Tỷ số này cho biết 1 đồng nợ phải trả dùng để tài trợ cho bao nhiêu đồng tài sản Nếu chỉ số này thấp, doanh nghiệp có khả năng tự chủ về tài chính, đảm bảo khả năng trả nợ cho ngân hàng Nếu chỉ số này quá cao và càng gần 1 thì doanh nghiệp dễ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, ngân hàng rất dễ gặp rủi ro khi cho doanh nghiệp vay
Dựa vào các chỉ tiêu phân tích, ngân hàng có thể đánh giá được mức độ rủi ro trong hoạt động cho vay khách hàng Khách hàng có đòn bẩy tài chính cao thì rủi ro cao, ngân hàng có thể từ chối cho vay hoặc chấp nhận rủi ro của khách hàng, cho vay với lãi suất cao hơn
Vốn chủ sở hữu là số vốn thuộc quyền của doanh nghiệp, vậy nên hệ số này cao
là tốt, doanh nghiệp có vốn lớn phục vụ hoạt động SXKD Ngân hàng cho vay khách hàng có hệ số này cao vì độ an toàn cao hơn Nếu doanh nghiệp có hệ số này thấp mà ngân hàng vẫn muốn cho vay thì sẽ yêu cầu lãi suất cao hơn do mức độ rủi ro cao hơn
(1.5) Nhóm hệ số về khả năng hoàn trả lãi vay:
Hệ số trang trải lãi vay =
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Chi phí lãi vay
Hệ số tự tài trợ =
Vốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốn