Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đề tài NCKH)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
PHÂN HIỆU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN PHÂN HIỆU TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Mã số: ĐTCT.2020.117
Chủ nhiệm đề tài : Nguyễn Thị Phương
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
PHÂN HIỆU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN PHÂN HIỆU TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Mã số: ĐTCT.2020.117
Chủ nhiệm đề tài : Nguyễn Thị Phương
Thành viên đề tài : Mai Ngọc Tuấn
Lê Hồng Huệ Phạm Thị Thu Trang Trần Quốc Toanh
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2020
Trang 3- Các giảng viên, viên chức của Phân hiệu đã tham gia trả lời phỏng vấn phiếu, phỏng vấn sâu, chia sẻ các quan điểm cá nhân và đóng góp ý kiến cho quá trình hoàn thành báo cáo;
- Sự nhiệt huyết tham gia của từng thành viên trong nhóm nghiên cứu trong suốt quá trình triển khai đề tài
Trong báo cáo chắc chắn còn có nhiều sai sót, nhóm nghiên cứu hy vọng tiếp tục nhận được các ý kiến đóng góp của tất cả các Quý vị để nhóm
có cơ hội hoàn thiện bản báo cáo này ở mức độ cao nhất
Xin trân trọng cảm ơn!
Nhóm nghiên cứu
Trang 4MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
3 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 7
4 Đối tượng, phạm vi, khách thể nghiên cứu 8
5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 8
6 Kết cấu báo cáo nghiên cứu 9
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHẤT LƯỢNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN 11
1.1 Một số khái niệm cơ bản 11
1.1.1 Khái niệm nghiên cứu khoa học 11
1.1.2 Khái niệm chất lượng 14
1.1.3 Khái niệm chất lượng nghiên cứu khoa học 16
1.2 Hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên 16
1.2.1 Nội dung hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên 16
1.2.2 Đặc điểm hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên 18
1.2.3 Tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên 21
1.2.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên 25
1.2.5 Vai trò của hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên trong các trường đại học 31
1.3 Chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên một số cơ sở giáo dục đại học 34
1.3.1 Chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên trường đại học Tôn Đức Thắng 34
1.3.2 Chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên Học viện Chính sách và phát triển 35
Trang 51.3.3 Bài học kinh nghiệm của các cơ sở giáo dục đại học trong việc
nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên 36
1.4 Quy định của Bộ Giáo dục về nghiên cứu khoa học đối với giảng viên các trường đại học 37
Tiểu kết chương 1 41
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN PHÂN HIỆU TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 42
2.1 Đặc điểm đội ngũ giảng viên Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại TP Hồ Chí Minh 42
2.2 Phân tích thực trạng chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội từ năm 2017 đến nay 44
2.2.1 Thực trạng chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên 44
2.2.2 Thuận lợi, khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của giảng viên 55
2.3 Một số nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên 60
Tiểu kết chương 2 67
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN PHÂN HIỆU TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 68
3.1 Một số định hướng trong việc nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên 68
3.2 Giải pháp 72
3.3 Kiến nghị 75
3.3.1 Kiến nghị với Trường Đại học Nội vụ Hà Nội 75
3.3.2 Kiến nghị với Phân hiệu 76
3.3.3 Kiến nghị với các Giảng viên 77
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC: PHIẾU ĐIỀU TRA XÃ HỘI HỌC 82
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành
phố Hồ Chí Minh
Phân hiệu
Trang 7DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 1.1 Tiêu chí đánh giá chất lượng NCKH của giảng viên 23
Bảng 2.1 Cơ cấu đội ngũ GV của Phân hiệu theo một số tiêu chí 43
Bảng 2.2 Bảng tổng hợp tình hình phân bổ kinh phí cho hoạt động NCKH giai đoạn 2017 – 2019 của Phân hiệu 49
Bảng 2.3 Hạn chế về kỹ năng, phương pháp NCKH của GV 54
Bảng 2.4 Thuận lợi, khó khăn khi tham gia hoạt động NCKH 57
Bảng 2.5 Hạn chế về kỹ năng, phương pháp NCKH của GV 59
Bảng 2.6 Điểm trung bình về ảnh hưởng của các nhân tố tới chất lượng hoạt động NCKH của GV 61
Bảng 2.7 Điểm trung bình về mức độ quan trọng của các hoạt động NCKH đối với GV 62
Bảng 2.8 Nhu cầu tham gia hoạt động NCKH của GV 65
Bảng 2.9 Mục đích tham gia hoạt động NCKH của GV 66
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết
Năm 2004, tạp chí Times Higher Education (THE) lần đầu đưa ra công
bố bảng xếp hạng đại học thế giới và khiến cho tạp chí này trở nên nổi tiếng trên toàn thế giới THE sử dụng 13 chỉ số đã được hiệu chuẩn nhằm cung cấp
sự so sánh toàn diện và cân bằng Các chỉ số được chia thành năm nhóm: giảng dạy (môi trường học tập – 30%), nghiên cứu (số lượng, thu nhập và danh tiếng – 30%), trích dẫn khoa học (ảnh hưởng của nghiên cứu – 30%), triển vọng quốc tế (GV, sinh viên và nghiên cứu – 7,5%), thu nhập nhờ chuyển giao tri thức (2,5%)
Năm 2017, tổ chức Quacquarelli Symonds (QS) của Anh cũng đưa ra bảng công bố xếp hạng đại học thế giới của mình Bảng xếp hạng đại học thế giới của QS được biên soạn bằng cách sử dụng sáu thước đo: danh tiếng học thuật (40%), danh tiếng người sử dụng lao động (10%), tỷ lệ giảng viên/sinh viên (20%), số trích dẫn khoa học trên mỗi GV (20%), tỷ lệ GV quốc tế (5%),
tỷ lệ sinh viên quốc tế (5%)
Từ năm 2003, Trường Đại học Giao thông Thượng Hải cũng bắt đầu đưa ra bảng xếp học đại học thế giới ARWU (Shanghai Academic Ranking of World Universities) hàng năm dựa trên phương pháp minh bạch và sử dụng
dữ liệu của bên thứ ba ARWU xây dựng bốn tiêu chí chính, bao gồm chất lượng giáo dục (10%), chất lượng GV (40%), NCKH (40%) và năng suất học thuật bình quân trên đầu người (10%)
Có thể thấy trong các bảng xếp hạng đại học thế giới danh tiếng hiện nay, các tiêu chí liên quan đến hoạt động NCKH của các trường đều chiếm một trọng số rất lớn Điều này khẳng định vai trò quan trọng của hoạt động NCKH đối với công tác đào tạo và xây dựng thương hiệu của các trường đại học nói chung trên thế giới
Trang 9Ở Việt Nam, công tác NCKH cũng được Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng, tại Hội nghị TW2 khóa VIII, Đảng ta đã xác định: “Cùng với giáo dục, đào tạo, KH&CN là quốc sách hàng đầu” Tại Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc khóa XI, Đảng ta tiếp tục khẳng định rất rõ vai trò của NCKH và công nghệ: “Phát triển KH&CN thực sự là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững”
Hoạt động NCKH được Đảng và Nhà nước ta xác định là nhiệm vụ của tất cả các đối tượng trong xã hội, từ các tổ chức khoa học, các trường đại học, các doanh nghiệp thuộc mỗi thành phần kinh tế và cả các cá nhân Đồng thời Đảng ta cũng nhấn mạnh vai trò quan trọng của các trường đại học trong thực hiện nhiệm vụ này: "Các trường đại học phải là các trung tâm NCKH, công nghệ, chuyển giao và ứng dụng công nghệ vào sản xuất và đời sống" (Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2, Ban Chấp hành TW khóa VIII)
Tại điểm b, khoản 1, Điều 9 Luật Khoa học và công nghệ (2013) quy định Cơ sở Giáo dục Đại học là một trong ba hình thức của tổ chức KH&CN
Tại khoản 1, Điều 42, Luật Giáo dục Đại học sửa đổi (2018) quy định:
“Nhà nước tập trung đầu tư phát triển tiềm lực KH&CN, tạo cơ chế, chính sách khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư phát triển tiềm lực KH&CN, phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo trong cơ sở giáo dục đại học phục vụ phát triển đất nước; ưu tiên phát triển một số ngành, lĩnh vực đạt trình độ nghiên cứu ngang tầm khu vực và quốc tế”
Điều lệ Trường Đại học ban hành theo Quyết định số TTg ngày 20/07/2003 của Thủ tướng chính phủ cũng đề cập đến một trong các nhiệm vụ của trường đại học là tiến hành NCKH và phát triển công nghệ; kết hợp đào tạo với NCKH và sản xuất, dịch vụ KH&CN theo quy định của Luật
153/2003/QĐ-Quán triệt các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về vai trò của hoạt động NCKH, nhận thức sâu sắc về ý nghĩa của hoạt động NCKH trong
Trang 10viên của nhà trường và đối với việc xây dựng thương hiệu, tăng thứ bậc trong bảng xếp hạng các trường đại học của Việt Nam, trong những năm qua, Ban Giám hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội đã rất quan tâm đến hoạt động NCKH của cả GV và sinh viên nhà trường Trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2019, GV nhà trường đã chủ trì và triển khai thực hiện 01 đề tài cấp nhà nước; nhiều đề tài cấp Bộ; 115 đề tài cấp Trường Tuy nhiên, các kết quả về hoạt động NCKH của nhà Trường vẫn đang là một trong những điểm hạn chế Theo Quy định về kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học (Ban hành kèm theo Thông tư số 12/2017/TT-BGDĐT ngày 19/5/2017 của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo), trong tổng số 25 tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cơ
sở giáo dục thì có 4 tiêu chuẩn liên quan đến hoạt động KH&CN (bao gồm: tiêu chuẩn 18 về Quản lý NCKH; tiêu chuẩn 19 về Quản lý tài sản trí tuệ; tiêu chuẩn 20 về Hợp tác và đối tác NCKH; tiêu chuẩn 23 về Kết quả NCKH) Kết quả đánh giá ngoài giai đoạn 2014-2019 của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội (được công bố tháng 2/2020) có 6/25 tiêu chuẩn thuộc Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục có điểm đánh giá ở mức cảnh báo, trong
đó cả 4 tiêu chuẩn liên quan đến lĩnh vực hoạt động KH&CN đều nằm trong nhóm này
Là đơn vị trực thuộc của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, mới được thành lập từ ngày 27 tháng 12 năm 2018 trên cơ sở nâng cấp Cơ sở Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại TP Hồ Chí Minh, hoạt động NCKH của Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại TP Hồ Chí Minh (Phân hiệu) mới
ở giai đoạn bước đầu triển khai thực hiện Đội ngũ GV của Phân hiệu phần lớn chưa có kinh nghiệm làm NCKH, chưa tham gia vào việc thực hiện các
đề tài NCKH, tỷ lệ GV có các bài báo khoa học cũng không nhiều Năm
2019 cũng là năm đầu tiên Phân hiệu triển khai các hoạt động NCKH cấp Phân hiệu đến GV
Trong giai đoạn đang đẩy nhanh các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, hướng đến việc thực hiện cơ chế tự chủ hoàn toàn chi
Trang 11thường xuyên vào năm 2021 theo yêu cầu của Bộ Nội vụ, một trong những nhiệm vụ quan trọng, cấp bách đặt ra đối với Phân hiệu hiện nay đó là xây dựng và khẳng định được thương hiệu của Phân hiệu trên cơ sở thực hiện tốt đồng thời cả hai trụ cột hoạt động chính đó là đào tạo và NCKH Trong bối
cảnh như vậy, nhóm nghiên cứu lựa chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng
nghiên cứu khoa học của giảng viên tại Phân hiệu trường đại học Nội vụ
Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh” để thực hiện nhằm nghiên cứu thực
trạng, những khó khăn, thuận lợi và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động NCKH của GV Phân hiệu hiện nay; phân tích, đánh giá nhu cầu tham gia hoạt động NCKH của GV, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng NCKH tại Phân hiệu, góp phần thực hiện tốt quan điểm chỉ đạo của Ban Giám hiệu trường Đại học Nội vụ Hà Nội trong việc thúc đẩy và nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu của nhà trường, đồng thời từng bước xây dựng Phân hiệu đáp ứng yêu cầu theo xu thế phát triển chung của các
trường đại học trên thế giới và của Việt Nam
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
NCKH trong các cơ sở giáo dục, đào tạo là một trong những nội dung thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và nhiều nhà quản lý Chính vì vậy, có khá nhiều công trình nghiên cứu, bài báo khoa học đề cập đến chủ đề này Khi bàn về chủ đề này, có hai xu hướng chính, thứ nhất là các công trình, các bài viết bàn về vai trò, thực trạng hoạt động NCKH của các trường đại học nói chung, thứ hai là các công trình, bài viết về hoạt động NCKH của một cơ sở giáo dục, đào tạo cụ thể Có thể kể đến một số công trình, bài viết tiêu biểu như sau:
Trên cơ sở phân tích vai trò quan trọng của hoạt động NCKH trong các Trường Đại học, tác giả Cao Thanh Phước đã đưa ra một số biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động NCKH trong các trường đại học, trong đó bao gồm: Đổi mới cơ chế quản lý hoạt động NCKH; Nâng cao chất lượng đội ngũ cán
Trang 12bộ NCKH; Tăng cường kinh phí cho hoạt động NCKH; Đầu tư vật liệu phục
vụ NCKH [15]
Trong một bài viết của mình, các tác giả Võ Văn Sen, Nguyễn Ngọc Thơ đã có nội dung đánh giá thực trạng và những thành tựu trong công tác nghiên cứu của Trường Đại học Khoa học xã hội nhân văn, Đại học Quốc gia
TP Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó đưa ra những thách thức tiêu biểu và các nhóm giải pháp thực hiện công tác NCKH của nhà trường Các tác giả đã chỉ
ra ba thách thức mang tính khách quan bao gồm: sự mất cân đối trong phân
bổ ngân sách nhà nước dành cho khoa học xã hội và nhân văn từ Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; sự thâm hụt ngân sách dành cho hoạt động trong toàn trường; sự thiếu cân bằng trong cách nhìn nhận, đánh giá của xã hội giữa lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn và các lĩnh vực khác như kinh
tế, kỹ thuật, y tế… Theo các tác giả: trung bình mức đầu tư kinh phí của các
Sở Khoa học công nghệ các địa phương dành cho lĩnh vực này chỉ vào khoảng 10-20% tổng ngân sách dành cho khoa học công nghệ hàng năm Nhóm tác giả cũng chỉ ra một số thách thức mang tính chủ quan đối với công tác NCKH của Trường bao gồm: một số nghiên cứu cơ bản tại Nhà trường chưa đạt đến mục tiêu xây dựng định hướng phát triển xã hội, tính phản biện
xã hội chưa cao; số các công trình NCKH bám sát vào nhu cầu phát triển xã hội chưa nhiều, quy mô nhỏ lẻ, thiếu tính hệ thống nên hiệu quả và tác dụng
xã hội chưa cao; lực lượng giảng dạy và nghiên cứu còn thiếu, chất lượng chưa đồng đều, đầu tư dàn trải, chưa hình thành tính hệ thống nên chưa phát huy giá trị của hệ thống đào tạo và các công trình NCKH phục vụ xã hội Để nâng cao chất lượng NCKH của nhà trường, các tác giả đã kiến nghị việc thành lập các nhóm nghiên cứu theo từng nhóm ngành với các chuyên ngành đào tạo của nhà trường, đồng thời đề xuất một số giải pháp chung cũng như một số giải pháp đặc thù dành cho Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh [16]
Trang 13Tác giả Lê Thị Tuấn Nghĩa (2015) trong bài viết của mình đã chia sẻ những thành tựu nổi bật trong hoạt động NCKH giai đoạn 2010-2015, đồng thời chỉ ra ba vai trò của NCKH trong nâng cao chất lượng đào tạo của học viện Ngân hàng bao gồm: Nâng cao vị thế của nhà trường, tạo tiền đề thu hút nguồn nhân lực có chất lượng cao, lựa chọn học sinh giỏi vào Học viện Ngân hàng; Nâng cao năng lực của GV; Nâng cao tính chủ động và kỹ năng mềm cho sinh viên, tạo sự vững tin cho sinh viên khi ra trường [10]
Bài viết của tác giả Đào Minh Mẫn (2018) đã đề cập đến ba nội dung chính khi bàn về hoạt động NCKH của GV Trường Cao đẳng nghề Cần Thơ Tác giả đã phân tích một số nội dung cần thiết trong hoạt động NCKH và khung năng lực cần thiết đối với đội ngũ GV để có thể thực hiện hoạt động NCKH, từ đó tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động NCKH của đội ngũ GV Trường Cao đẳng Nghề Cần Thơ [7]
Tác giả Phan Thị Tú Nga (2011) đã có bài viết đánh giá thực trạng hoạt động NCKH của GV Đại học Huế trên bốn khía cạnh: Nhận thức của GV về công tác NCKH; thuận lợi, khó khăn trong hoạt động NCKH; những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động NCKH và các nguồn lực phục vụ cho hoạt động NCKH Trên cơ sở đó đề xuất ba nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động này tại Đại học Huế, bao gồm: Xây dựng môi trường NCKH, khuyến khích động viên, tạo động lực cho GV NCKH; Tăng cường các điều kiện phục vụ hoạt động NCKH của GV và Tăng cường công bố, ứng dụng kết quả, sản phẩm NCKH của GV [9]
Trên cơ sở đánh giá thực trạng nguồn lực phục vụ hoạt động NCKH, một số kết quả trong hoạt động NCKH của cán bộ GV, tác giả Nguyễn Hữu Gọn (2013) đã đề xuất bốn giải pháp góp phần tăng cường hoạt động NCKH của cán bộ, GV Trường Đại học Đồng Tháp bao gồm: Nâng cao nhận thức cho cán bộ, GV về vai trò, tầm quan trọng của hoạt động NCKH ở trường đại học; Đổi mới quản lý và đa dạng hoá nguồn kinh phí NCKH; Xây dựng cơ
Trang 14chức các hội nghị, hội thảo và các hình thức sinh hoạt khoa học phong phú khác [6]
Căn cứ vào kết quả điều tra xã hội học đối với 150 GV, tác giả Đào Ngọc Cảnh (2018) chỉ ra một thực tế ở Đại học Cần Thơ có 41,3% GV chưa chủ trì đề tài nghiên cứu; 30,7% GV chưa là thành viên đề tài NCKH; 48%
GV chưa có bài báo khoa học; 34,7% GV chưa thực hiện báo cáo khoa học (seminar) ở đơn vị; 50% GV chưa viết bài tham luận hội nghị/hội thảo khoa học, v.v Tác giả cũng tìm hiểu động cơ và khó khăn của GV trong NCKH,
từ đó đề xuất các giải pháp để đẩy mạnh hoạt động NCKH của GV, góp phần thực hiện tốt các chức năng của trường là đào tạo, NCKH, chuyển giao công nghệ và phục vụ đời sống xã hội [2]
Qua tổng quan tình hình nghiên cứu về chủ đề hoạt động NCKH của
GV trong các trường đại học cho thấy, đây là chủ đề thu hút được sự quan tâm của nhiều tác giả và nhiều trường đại học Các tác giả hầu như tập trung
đi sâu phân tích thực trạng, những thuận lợi, khó khăn, các nhân tố tác động
và các thách thức đối với việc triển khai các hoạt động NCKH của GV ở các trường đại học cụ thể Đồng thời, các tác giả cũng tập trung đề xuất với các cơ
sở đào tạo những giải pháp để góp phần nâng cao chất lượng hoạt động NCKH của GV Cùng mối quan tâm chung như các tác giả đi trước, nhóm nghiên cứu cũng mong muốn nghiên cứu vấn đề chất lượng NCKH ở một môi trường cụ thể: đó là Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại thành phố
Hồ Chí Minh Phạm vi nghiên cứu của đề tài là hoàn toàn mới và sẽ có những đóng góp thiết thực, cụ thể cho việc nâng cao chất lượng hoạt động NCKH của GV Phân hiệu
3 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu nhằm đề xuất một số giải pháp
nâng cao chất lượng NCKH của GV Phân hiệu trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại TP Hồ Chí Minh
Trang 153.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
1) Nghiên cứu cơ sở lý luận về chất lượng NCKH của GV trong các Trường Đại học: nội dung, đặc điểm, các tiêu chí đánh giá chất lượng; các yếu
tố ảnh hưởng đến chất lượng NCKH của GV;
2) Nghiên cứu thực trạng, thuận lợi, khó khăn; phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động NCKH và xác định nhu cầu NCKH của
GV Phân hiệu;
3) Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng NCKH của Phân hiệu
4 Đối tượng, phạm vi, khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng hoạt động NCKH của GV
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu về chất lượng hoạt động NCKH
của GV Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại TP Hồ Chí Minh
- Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu về chất lượng hoạt động NCKH từ
năm 2017 đến nay
4.3 Khách thể nghiên cứu: Khách thể nghiên cứu của đề tài bao gồm
toàn thể GV Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại TP Hồ Chí Minh
5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Cách tiếp cận: Đề tài sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành như:
tâm lý học, giáo dục học, xã hội học… để nghiên cứu các vấn đề liên quan đến lý luận và thực tiễn của đề tài
Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng: Để có được các thông tin
khoa học và thực tiễn phục vụ cho việc giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu,
đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật cụ thể như sau:
- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu: Nhóm nghiên cứu đã thu
thập và phân tích các văn bản chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước liên quan đến hoạt động NCKH và hoạt động NCKH trong các trường đại học; các công trình nghiên cứu và các bài viết về hoạt động NCKH trong các
Trang 16trường đại học; các báo cáo về hoạt động NCKH của Trường Đại học Nội vụ
Hà Nội… để làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp chuyên gia: trong suốt quá trình thực hiện đề tài nhóm
nghiên cứu đã xin ý kiến của một số chuyên gia để tham khảo kinh nghiệm
và đề xuất của các nhà quản lý, các GV có kinh nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu
- Phương pháp phỏng vấn bảng hỏi: phương pháp phỏng vấn bằng
bảng hỏi được nhóm nghiên cứu sử dụng để tìm hiểu thực trạng và nhu cầu tham gia hoạt động NCKH của GV tại Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại TP Hồ Chí Minh Đề tài đã tiến hành phỏng vấn bảng hỏi với toàn thể
GV của Phân hiệu để đánh giá về thực trạng và nhu cầu tham gia các hoạt động NCKH của GV Tổng số phiếu điều tra xã hội học đề tài thu thập được
là 29 phiếu (trên tổng số 31 GV của toàn Phân hiệu)
Các thông tin định lượng thu thập được từ kết quả phỏng vấn bảng hỏi
đã được xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS Tuy nhiên, do lượng phiếu điều tra ít, nên các thông tin định lượng thu được từ kết quả điều tra xã hội học chỉ phân tích theo tần suất mà không có sự phân tích theo các tương nhóm tương quan khác nhau
- Phương pháp phỏng vấn sâu: đề tài đã thực hiện phỏng vấn sâu với
03 GV sau khi có kết quả phân tích sơ bộ kết quả thu được từ phương pháp phỏng vấn theo bảng hỏi, nhằm tìm hiểu các thông tin định tính có liên quan đến chủ đề nghiên cứu của đề tài và lý giải cụ thể hơn cho các chiều cạnh của các thông tin định lượng thu được
6 Kết cấu báo cáo nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung báo cáo được kết cấu thành ba chương, cụ thể như sau:
Chương 1 Cơ sở khoa học về chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên
Trang 17Chương 2 Thực trạng chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại TP Hồ Chí Minh
Chương 3 Định hướng, giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại TP Hồ Chí Minh
Trang 18CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHẤT LƯỢNG NGHIÊN CỨU
KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm nghiên cứu khoa học
Để hiểu biết về một sự việc, chúng ta có hai cách phổ biến đó là mặc nhiên chấp nhận hoặc thông qua quá trình tìm tòi, nghiên cứu tìm ra quy luật, bản chất của sự việc Chấp nhận là cách thức con người hiểu biết sự việc thông qua việc thừa nhận các nghiên cứu hay kinh nghiệm của người khác Trong khi đó, nghiên cứu là cách thức con người tìm hiểu sự việc thông qua việc thực hiện các nghiên cứu hay kinh nghiệm của chính mình
Cho đến nay, có rất nhiều những định nghĩa khác nhau của cả các học giả trong nước và nước ngoài về khái niệm NCKH Có thể kể đến một số định nghĩa nổi bật như sau:
Theo Earl R Babbie (1986), NCKH (scientific research) là cách thức: (1) Con người tìm hiểu các hiện tượng khoa học một cách có hệ thống; và (2)
Là quá trình áp dụng các ý tưởng, nguyên lý để tìm ra các kiến thức mới nhằm giải thích các sự vật hiện tượng [4]
Theo hai tác giả Armstrong và Sperry (1994), NCKH dựa vào việc ứng dụng các phương pháp khoa học để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn Hình thức nghiên cứu này cung cấp thông tin và lý thuyết khoa học nhằm giải thích bản chất và tính chất của thế giới Kết quả của NCKH tạo ra những ứng dụng cho thực tiễn Hoạt động NCKH được tài trợ bởi các cơ quan chính quyền, các tổ chức tài trợ xã hội Hoạt động NCKH được phân loại tùy lĩnh vực học thuật và ứng dụng NCKH
là một tiêu chí được sử dụng rộng rãi trong đánh giá vị thế của các cơ sở học thuật [1]
Trang 19Các nhà khoa học trong nước cũng đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về NCKH Theo Dương Thiệu Tống (2005) NCKH là một hoạt động tìm hiểu có tính hệ thống đạt đến sự hiểu biết được kiểm chứng Nó là một hoạt động nỗ lực có chủ đích, có tổ chức nhằm thu thập những thông tin, xem xét
kỹ, phân tích xếp đặt các dữ kiện lại với nhau rồi đánh giá các thông tin ấy bằng con đường quy nạp và diễn dịch [12]
Tác giả Vũ Cao Đàm (2005) lại cho rằng: NCKH là sự tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết: hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện
kỹ thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người [3]
Theo Khoản 4, điều 3 của Luật KH&CN (2013) định nghĩa: NCKH là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn
Các nhà nghiên cứu cũng đã thống nhất chỉ ra một số đặc điểm cơ bản của NCKH như sau:
- Tính mới: NCKH là quá trình khám phá thế giới, cho nên quá trình
NCKH là quá trình hướng tới những phát hiện mới hoặc sáng tạo mới Bởi vậy, tính mới là thuộc tính quan trọng số một của NCKH Nó luôn có khả năng dẫn tới những xung đột xã hội với các kết luận cũ
- Tính tin cậy: Một kết quả NCKH đạt được nhờ một phương pháp nào
đó phải có khả năng kiểm chứng lại nhiều lần trong những điều kiện quan sát hoặc thí nghiệm hoàn toàn giống nhau và với những kết quả thu được hoàn toàn giống nhau Một kết quả thu được ngẫu nhiên dù phù hợp với giả thuyết
đã đặt ra trước đó cũng chưa thể xem là đủ tin cậy để kết luận về bản chất của
sự vật hiện tượng Điều này dẫn đến một nguyên tắc mang tính phương pháp luận của NCKH là khi trình bày một kết quả nghiên cứu, người nghiên cứu
Trang 20- Tính thông tin: Sản phẩm của NCKH được thể hiện dưới nhiều dạng,
có thể đó là một bài báo cáo khoa học, một tác phẩm khoa học, song cũng có thể là một mẫu vật liệu mới, mẫu sản phẩm mới, mô hình thí điểm về một mô thức tổ chức sản xuất mới… Tuy nhiên, trong tất cả các trường hợp này, một sản phẩm khoa học luôn mang đặc trưng thông tin Đó là những thông tin mới
về bản chất hoặc quy luật vận động của sự vật, tự nhiên và xã hội
- Tính khách quan: Tính khách quan vừa là một đặc điểm của NCKH,
vừa là một tiêu chuẩn về phẩm chất của người NCKH Trong khoa học xã hội, người ta xem đó là một chuẩn mực giá trị Một nhận định vội vã theo tình cảm, một kết luận thiếu các xác nhận bằng kiểm chứng chưa thể xem là một phản ánh khách quan về bản chất của sự vật, hiện tượng
- Tính rủi ro: Trong quá trình đi tìm “các chứng cứ, luận điểm đáng tin cậy”, không phải khi nào nhà nghiên cứu cũng thành công, mà có thể gặp thất
bại Sự thất bại trong NCKH có thể do nhiều nguyên nhân: thiếu những thông tin cần thiết và đủ tin cậy, năng lực xử lý thông tin của người nghiên cứu còn hạn chế… Ngay khi kết quả nghiên cứu đã được thử nghiệm thành công cũng vẫn gặp những rủi ro trong áp dụng Ví dụ: chưa làm chủ được kỹ thuật, khi triển khai áp dụng trong phạm vi mở rộng không thành công; ngay cả khi đã thử nghiệm thành công thì vẫn không thể đi đến quyết định áp dụng vì một nguyên nhân xã hội nào đó
Tuy nhiên, trong khoa học, thất bại cũng được xem là một kết quả Kết quả ấy cũng mang ý nghĩa là một kết luận của NCKH, mà nội dung là các giả thuyết đã đặt ra không được xác nhận về mặt khoa học, nghĩa là trong sự vật không tồn tại quy luật hoặc giải pháp như đã dự kiến Xét về ý nghĩa khoa học, đây là một kết quả quan trọng Nó giúp cho các đồng nghiệp đi sau khỏi dẫm chân lối mòn, lãng phí các nguồn lực nghiên cứu
- Tính kế thừa: Tính kế thừa có một ý nghĩa quan trọng về mặt phương
pháp luận nghiên cứu: một người nghiên cứu chân chính không bao giờ đóng cửa cố thủ trong những lý luận và phương pháp luận riêng của mình Nhiều
Trang 21bộ môn khoa học mới, phương pháp nghiên cứu mới xuất hiện chính là kết quả kế thừa lẫn nhau giữa các bộ môn khoa học
- Tính cá nhân: Dù là một công trình NCKH do một tập thể thực
hiện thì vai trò cá nhân trong sáng tạo cũng mang tính quyết định Tính cá nhân được thể hiện trong tư duy cá nhân, nỗ lực cá nhân và chủ kiến riêng của cá nhân
Từ các định nghĩa trên, có thể rút ra định nghĩa cho khái niệm “NCKH”
được sử dụng trong nghiên cứu này như sau: NCKH là một dạng lao động
phức tạp của con người nhằm tìm ra các chứng cứ, luận điểm đáng tin cậy dựa trên việc tìm hiểu, xem xét, điều tra, thử nghiệm… chứng minh tính đúng đắn cho những phát hiện mới về bản chất, quy luật của sự vật, tự nhiên hoặc
xã hội và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn
1.1.2 Khái niệm chất lượng
Chất lượng là một khái niệm khá trừu tượng, đa chiều, đa nghĩa và có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau, áp dụng cho nhiều lĩnh vực, vấn đề khác nhau Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông thì chất lượng là “Tổng thể nói chung những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc)… làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác” hoặc là “cái tạo nên bản chất của sự vật, làm cho sự vật này khác với sự vật kia”
Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế (ISO) có định nghĩa trong ISO 9000 như sau: “chất lượng là một tập hợp các tính chất và đặc trưng của sản phẩm
có khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn”
Như vậy, có thể thấy khái niệm “chất lượng” được dùng để đo lường, đánh giá một sự vật, một sản phẩm Khi nói đến chất lượng sản phẩm chúng
ta cũng phải có một cách hiểu rộng hơn, sản phẩm ở đây không chỉ bao hàm các sản phẩm mang tính vật chất cụ thể, mà nó có ý nghĩa rộng hơn rất nhiều Trong xã hội hiện đại ngày nay, có rất nhiều loại sản phẩm hoàn toàn không
Trang 22“một bài báo, một báo cáo là sản phẩm của một công trình NCKH”…
Khi nghiên cứu về khái niệm chất lượng, trong thực tế đôi khi người ta cho rằng: chất lượng là sự vượt trội, là sự hoàn hảo, là sự phù hợp với mục tiêu, là sự đáng giá về đồng tiền, và là giá trị gia tăng có thể chuyển đổi được Với những người quan niệm rằng chất lượng là sự vượt trội, họ cho rằng một sản phẩm có chất lượng khi nó vượt trội hơn so với các sản phẩm cùng loại Những người quan niệm chất lượng là sự hoàn hảo thì lại cho rằng: một sản phẩm có chất lượng, nghĩa là sản phẩm đó phải hoàn hảo trên mọi khía cạnh Quan niệm chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu thì lại nhấn mạnh đến tính ứng dụng, đến khả năng đáp ứng mục tiêu của người sử dụng đối với sản phẩm đó Trường phái của những người cho rằng chất lượng là sự đáng giá về đồng tiền thì lại thiên về khía cạnh kinh tế nhiều hơn, một sản phẩm được coi
là chất lượng khi các yếu tố liên quan đến sản phẩm đó tương xứng với đồng tiền mà người sử dụng sản phẩm đã bỏ ra để sở hữu sản phẩm này Một trường phái cuối cùng đó là quan niệm chất lượng là có thể chuyển đổi, những người theo trường phái này nhấn mạnh đến giá trị gia tăng của sản phẩm, một sản phẩm thật sự được cho là có chất lượng khi nó có thể tạo ra giá trị gia tăng cho người sử dụng sản phẩm (ví dụ, sinh viên có chất lượng khi sinh viên đó
có đóng góp tốt cho nhà tuyển dụng; hoặc chương trình giáo dục được coi là chất lượng nếu sinh viên sử dụng chương trình giáo dục đó có nhiều cơ hội xin việc hoặc có nhiều cơ hội thăng tiến sau khi tốt nghiệp)
Từ những các định nghĩa và quan niệm như trên, có thể rút ra định nghĩa cho khái niệm chất lượng được sử dụng trong nghiên cứu này như sau: Chất lượng là một tập hợp các đặc tính, tính chất, đặc trưng của sản phẩm, tạo nên giá trị của sản phẩm trên cơ sở đáp ứng những tiêu chuẩn nhất định và có thể thỏa mãn được nhu cầu đã xác định hoặc tiềm ẩn
Trang 231.1.3 Khái niệm chất lượng nghiên cứu khoa học
Từ định nghĩa chung đối với khái niệm chất lượng, chúng ta có thể đưa
ra định nghĩa cho khái niệm “chất lượng NCKH” như sau:
Chất lượng NCKH là một tập hợp các đặc tính, tính chất, đặc trưng giúp khẳng định giá trị của các sản phẩm được tạo nên bởi những hoạt động NCKH, trên cơ sở đáp ứng những tiêu chuẩn, những mục đích đã được xác định hoặc tiềm ẩn
Đối với hoạt động NCKH, chất lượng được thể hiện qua giá trị và hiệu quả khoa học, tính đặc thù, độc đáo và tính sáng tạo của kết quả nghiên cứu phù hợp với mục tiêu đã dự kiến hoặc mong muốn và giá trị phục vụ đời sống kinh tế xã hội
Trên thực tế cho thấy, việc đánh giá chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học là rất khó và đang gây nhiều tranh cãi vì thực tế trên thế giới vẫn chưa xây dựng được các tiêu chí đánh giá mang tính chuẩn mực chung cho tất
cả các ngành, các lĩnh vực khoa học khác nhau Tuy nhiên, chỉ số thường được sử dụng để ước định chất lượng của một công trình nghiên cứu khoa học
là số lần trích dẫn (citation index) Theo nghiên cứu của nhóm tác giả, thực tế
ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa có công cụ hiệu quả để đo lường và đánh giá
số lần trích dẫn của các công trình nghiên cứu Chính vì vậy, việc đánh giá chất lượng hoạt động NCKH còn mang tính tương đối
1.2 Hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên
1.2.1 Nội dung hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên
Hoạt động NCKH của GV tại các trường đại học có vai trò rất quan trọng, vừa là nhiệm vụ quan trọng của người GV, vừa góp phần tạo nên thương hiệu của trường đại học Hoạt động NCKH của GV bao gồm rất nhiều loại hoạt động cụ thể khác nhau, việc hiểu rõ và xác định được nội dung của các hoạt động NCKH sẽ có vai trò quan trọng, nhằm giúp các GV có thể lựa chọn được các hoạt động NCKH phù hợp với năng lực, sở trường của bản
Trang 24thân, qua đó giúp định hướng cho việc nghiên cứu một cách thuận tiện và hiệu quả hơn Nội dung hoạt động NCKH của GV đại học có thể bao gồm:
- Chủ trì và tham gia đề tài NCKH các cấp như: đề tài NCKH cấp quốc gia; đề tài NCKH cấp bộ, tỉnh và tương đương; đề tài NCKH cấp trường; đề tài NCKH cấp khoa…
+ Đề tài cấp quốc gia, được xác định bao gồm: Đề tài thuộc chương trình khoa học trọng điểm cấp quốc gia; Đề tài độc lập cấp quốc gia; Đề tài theo Nghị định thư (Thông tư 12/2014/TT-BKHCN);
+ Đề tài cấp Bộ, tỉnh và tương đương bao gồm: Đề tài KHCN cấp Bộ;
Đề tài nhánh đề tài cấp Quốc gia; Đề tài hợp đồng với các cơ quan trung ương, tỉnh, thành phố, các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp;
+ Đề tài cấp cơ sở: đề tài cấp trường, đề tài cấp khoa, đề tài cấp huyện…
- Chủ trì hoặc tham gia xây dựng chương trình đào tạo, đề án mở ngành, mở chuyên ngành đào tạo; đề án phục vụ cho hoạt động của trường;
- Dịch sách chuyên ngành có bản quyền, biên soạn giáo trình, tài liệu học tập cho sinh viên và sách chuyên khảo;
- Hướng dẫn sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh tham gia NCKH;
- Viết chuyên đề, tham luận tại các hội nghị, hội thảo khoa học ở trong
và ngoài nước; tham gia viết các bài báo đăng trên các nội san khoa học hoặc tạp chí khoa học;
- Biên tập, phản biện bài viết, xuất bản ấn phẩm công bố công trình nghiên cứu trên thông tin khoa học, các hội nghị, hội thảo khoa học;
- Tham gia các cuộc thi sáng tạo và các hoạt động khác về KHCN ở cấp khoa, trường và ngoài trường; Hướng dẫn, huấn luyện các đội tuyển tham gia các cuộc thi học thuật ngoài trường; Thâm nhập thực tiễn, phổ biến kiến thức khoa học phục vụ đời sống xã hội
Trang 25- Tư vấn về chuyển giao công nghệ, tư vấn kỹ thuật, kinh tế, chính trị,
xã hội thuộc lĩnh vực chuyên môn;
- Tổ chức, tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế về NCKH và công nghệ;
- Các hoạt động liên quan đến NCKH khác
1.2.2 Đặc điểm hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên
Trong xã hội hiện đại, NCKH là một hoạt động gắn với rất nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Để có được sự hiểu biết thấu đáo về bản chất của mỗi sự vật hiện tượng trong giới tự nhiên và xã hội, để có được các giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của các quá trình lao động, sản xuất… hoạt động nghiên cứu luôn được chú trọng Không chỉ có các cơ quan chuyên làm về nghiên cứu mới có hoạt động nghiên cứu, mà trong các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp… đều có hoạt động NCKH Tuy nhiên, hoạt động NCKH của các cá nhân trong mỗi loại hình tổ chức, cơ quan… khác nhau sẽ có những đặc điểm khác nhau Khi xem xét hoạt động NCKH của GV trong các trường đại học có thể lưu ý đến một số đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, hoạt động NCKH là hoạt động bắt buộc đối với GV
Wilhelm von Humboldt (1767-1835) - một nhà tư tưởng giáo dục người Đức – là người đầu tiên đề xuất vấn đề kết hợp giữa đào tạo và nghiên cứu trong các trường đại học Cho đến nay, quan điểm này của ông đã được cả thế giới vận dụng và trở thành kim chỉ nam, định hướng phát triển cho tất cả các trường đại học trên thế giới Theo quan điểm của ông, một trong những nguyên tắc cơ bản của các trường đại học đó là bồi dưỡng sự phát triển toàn diện cho con người, đặc biệt là bồi dưỡng về phẩm chất tự do, chẳng hạn như năng lực sáng tạo cho con người, thúc đẩy và hoàn thiện tư duy sáng tạo cho con người Với chức năng như vậy, đòi hỏi người GV đại học phải có được những thành tựu trong hoạt động NCKH mới có thể trở thành một người truyền bá tư tưởng sáng tạo này cho sinh viên, và cũng chỉ có những người
Trang 26đạt được những thành quả trong hoạt động sáng tạo – hoạt động NCKH mới xứng đáng trở thành một GV đại học
Ở nước ta, tại điều 7, thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT ngày 31/12/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về quy định chế độ làm việc đối với
GV đã quy định rõ: “GV phải dành ít nhất 1/3 tổng quỹ thời gian làm việc trong năm học để làm nhiệm vụ NCKH” Như vậy, cùng với nhiệm vụ giảng dạy, NCKH là một trong những nhiệm vụ chính, bắt buộc đối với GV đại học
Thứ hai, GV là chủ thể của hoạt động NCKH
Cũng theo quan điểm của Wilhelm von Humboldt, trong các trường đại học, hoạt động đào tạo là hoạt động mang tính “chia sẻ” tri thức của GV đối với sinh viên, hoạt động NCKH là hoạt động mang tính cá nhân – các sản phẩm sinh ra trong quá trình hoạt động NCKH của GV là sản phẩm của
cá nhân
NCKH là một hình thức lao động đặc thù, các sản phẩm của quá trình lao động cũng là một loại sản phẩm có tính đặc thù Chủ thể của quá trình lao động đặc thù này chính là các nhà nghiên cứu và họ cũng chính là tác giả, là người duy nhất có quyền sở hữu các sản phẩm do cá nhân tạo ra trong quá trình nghiên cứu Ở Việt Nam, các sản phẩm của quá trình NCKH khi đã được công bố sẽ được nhà nước bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho tác giả theo Luật Sở hữu trí tuệ (2005)
Thứ ba, hoạt động NCKH của GV gắn với việc thực hiện mục tiêu của cơ sở đào tạo
Như trên đã trình bày, hoạt động NCKH là hoạt động phổ biến trong đời sống xã hội hiện nay Mỗi cơ quan, tổ chức khi đầu tư cho hoạt động NCKH đều hướng tới một mục tiêu nhất định và mỗi cá nhân làm nhiệm vụ NCKH trong một cơ quan, tổ chức nào đó đều phải hướng tới mục tiêu mà cơ quan, tổ chức đó hướng tới
Hiện nay, tất cả các trường đại học đều mong muốn thúc đẩy hoạt động NCKH Mục tiêu của các trường khi phát triển hoạt động NCKH hầu hết đều
Trang 27hướng tới một số mục tiêu cơ bản sau: (i) nâng cao uy tín khoa học của trường, qua đó tăng cường năng lực cạnh tranh của trường và tăng thứ bậc của trường trong các bảng xếp hạng đánh giá các trường đại học; (ii) phục vụ cho công tác quản lý, điều hành của trường; (iii) phục vụ cho việc phát triển các chuyên ngành mà trường đang triển khai nghiên cứu, đào tạo; (iv) tạo điều kiện, môi trường học thuật cho GV của trường tham gia hoạt động NCKH…
Thứ tư, hoạt động NCKH của GV tương đối đa dạng cả về nội dung
và hình thức
Mục tiêu hoạt động NCKH của GV đại học tương đối đa dạng, không
bị bó hẹp như một số nhà nghiên cứu công tác trong một số cơ quan, tổ chức khác Chính vì sự đa dạng trong mục tiêu NCKH của trường đại học nên các hoạt động NCKH của GV không bị bó hẹp về phạm vi nghiên cứu Với mục tiêu nâng cao uy tín khoa học và tăng thứ bậc của nhà trường trong các bảng xếp hạng, GV hoàn toàn có thể tiến hành nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khác nhau, thậm chí cả các lĩnh vực không liên quan đến các chuyên ngành đào tạo và nghiên cứu mà nhà trường đang triển khai Điều này làm nên sự khác biệt trong hoạt động NCKH của GV đại học với các đối tượng khác, chẳng hạn như NCKH trong các doanh nghiệp hoặc trong một cơ quan hành chính nhà nước cụ thể.Với các doanh nghiệp hoặc cơ quan hành chính nhà nước cụ thể, nếu có hoạt động NCKH, thì hoạt động đó chắc chắn chỉ phục vụ trực tiếp cho các hoạt động có liên quan đến lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp hoặc của cơ quan hành chính nhà nước đó
Hình thức NCKH của GV cũng tương đối phong phú Trong môi trường giảng dạy đại học, hoạt động NCKH không đơn thuần chỉ là tham gia vào các đề tài, dự án nghiên cứu cụ thể, mà có rất nhiều hoạt động khác cũng đòi hỏi GV phải đầu tư tâm, trí, lực… để có thể cho ra được các sản phẩm trí tuệ, chẳng hạn: tham gia biên soạn tài liệu, giáo trình; hướng dẫn sinh viên học viên làm nghiên cứu; tham gia các hội thảo, hội nghị khoa học…
Trang 28Thứ năm, hoạt động NCKH của GV có mối quan hệ biện chứng với hoạt động giảng dạy của GV
NCKH là nhiệm vụ bắt buộc của GV, kết quả của hoạt động NCKH là một trong những tiêu chí đánh giá năng lực, trình độ của người GV Chính vì vậy, để trở thành một GV và được trực tiếp tham gia vào quá trình giảng dạy, mỗi GV sẽ phải nỗ lực không ngừng để hoàn thành nhiệm vụ NCKH của mình Có thể nói, công tác giảng dạy chính là một động lực để thúc đẩy GV tham gia hoạt động NCKH Ngược lại, hoạt động NCKH cũng có tác động trở lại đối với hoạt động giảng dạy của GV Khi thực hiện tốt công tác NCKH sẽ giúp cho GV có thêm được nhiều tri thức mới, nắm vững được các kiến thức chuyên ngành, có thêm được các kinh nghiệm từ các trải nghiệm thực tiễn trong quá trình nghiên cứu, điều này sẽ giúp cho các bài giảng trở nên sâu sắc hơn, sinh động hơn và gắn liền với thực tiễn nhiều hơn
1.2.3 Tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên
Theo quy định của thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT ngày 31/12/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về quy định chế độ làm việc đối với GV, NCKH
là một nhiệm vụ bắt buộc đối với GV và hàng năm mỗi GV phải dành ít nhất 1/3 tổng quỹ thời gian làm việc trong năm học để thực hiện nhiệm vụ NCKH Căn cứ trên quy định này, hiện nay tiêu chí để đánh giá kết quả hoạt động NCKH là dựa trên số giờ NCKH trong một năm học Tuy nhiên, việc căn cứ vào số giờ NCKH chuẩn theo năm học mới chỉ đánh giá được một khía cạnh
đó là kết quả NCKH mà chưa thật sự đánh giá được chất lượng hoạt động NCKH của GV Bởi một lẽ, việc tính toán và quy đổi số giờ NCKH chuẩn của mỗi trường đại học cũng rất khác biệt
Trong một nghiên cứu của mình, tác giả Đào Minh Mẫn (2018) đã đề xuất 05 tiêu chí đánh giá hoạt động NCKH của GV một trường cao đẳng dựa trên khung năng lực NCKH của đội ngũ GV, bao gồm: (i) Thái độ đối với nhiệm vụ nghiên cứu, đặc biệt là NCKH giáo dục nghề nghiệp trong đào tạo
Trang 29nghề; (ii) Kiến thức về NCKH và khoa học giáo dục nghề nghiệp trong đào tạo nghề; (iii) Nắm vững các kĩ năng thực hiện các đề tài nghiên cứu và đề tài NCKH giáo dục nghề nghiệp trong đào tạo nghề; (iv) Kết quả sản phẩm nghiên cứu phục vụ cho công tác giảng dạy hoặc các hoạt động khác trong Trường: nâng cao năng lực chuyên môn; áp dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn; (v) Thực hiện đúng các thủ tục quy định của quản lí hoạt động KH&CN trong Trường [7] Tác giả đã đưa ra 5 tiêu chí khá toàn diện để đánh giá toàn
bộ quá trình hoạt động NCKH của GV Tuy nhiên, nếu chỉ đi sâu xem xét đánh giá chất lượng hoạt động NCKH của GV đòi hỏi chúng ta cần phải có sự xem xét sâu hơn và phải có sự gắn kết với nội hàm, bản chất của khái niệm
“chất lượng NCKH” để có thể đưa ra được các tiêu chí căn bản nhất
Như phần trên đã trình bày, trong nghiên cứu này khái niệm chất lượng NCKH được hiểu: là một tập hợp các đặc tính, tính chất, đặc trưng giúp khẳng định giá trị của các sản phẩm được tạo nên bởi những hoạt động NCKH, trên cơ
sở đáp ứng những tiêu chuẩn, những mục đích đã được xác định hoặc tiềm ẩn
Như vậy, việc đánh giá chất lượng NCKH phải được căn cứ dựa trên giá trị của sản phẩm mà quá trình NCKH đó tạo ra Chúng ta có thể thấy, nội dung hoat động NCKH của GV rất đa dạng và ứng với mỗi nội dung hoạt động đó sẽ cho ra các sản phẩm NCKH khác nhau, tiêu chí để đánh giá các loại sản phẩm này cũng rất khác nhau Để có cơ sở đánh giá chất lượng hoạt động NCKH của GV, nhóm nghiên cứu cho rằng, việc GV chủ trì một hoạt động NCKH sẽ là tiêu chí quan trọng nhất để khẳng định năng lực, trình độ, chất lượng NCKH của GV đó Ngoài ra, việc tham gia vào quá trình thực hiện một hoạt động NCKH cũng cho thấy được một phần năng lực, trình độ, chất lượng NCKH của GV
Ngoài hai tiêu chí cơ bản là chủ trì hay tham gia vào một hoạt động NCKH, thì trong từng loại hoạt động NCKH cũng có các tiêu chí cụ thể để đánh giá chất lượng NCKH của GV
Trang 30Như vậy, để có thể đánh giá một cách toàn diện chất lượng NCKH của
GV, có ba nhóm tiêu chí chính:
- Số lượng giờ NCKH của giảng viên đạt được hàng năm theo quy định chung của Bộ Giáo dục và đào tạo và quy định riêng của mỗi cơ sở đào tạo về quy đổi giờ NCKH;
- Mức độ tham gia/vai trò của GV vào một hoạt động cụ thể;
- Các tiêu chí cụ thể đánh giá kết quả hoạt động mà GV tham gia
Với tiêu chí thứ nhất, chất lượng NCKH của GV được đánh giá phụ thuộc vào quy chế, quy định của từng cơ sở đào tạo Với hai nhóm tiêu chí còn lại, nhóm nghiên cứu đề xuất hệ thống tiêu chí để đánh giá
cụ thể như sau:
Bảng 1.1 Tiêu chí đánh giá chất lượng NCKH của giảng viên
mức độ tham gia
Thành viên
Chương trình đào tạo, đề án
mở ngành, mở chuyên ngành
đào tạo; đề án phục vụ cho
hoạt động của trường
Chủ trì Kết quả đánh giá của Hội đồng thẩm
định Thành viên
Dịch sách chuyên ngành có
bản quyền; biên soạn giáo
trình; tài liệu; sách chuyên
khảo
Chủ biên - Có hội đồng thẩm định hay không
và kết quả đánh giá của Hội đồng thẩm định;
Đồng tác giả
Hướng dẫn sinh viên, học
viên cao học, nghiên cứu
- Số lượng người được hướng dẫn
- Bậc học của sinh viên, học viên,
Trang 31Nội dung hoạt động NCKH Tiêu chí về
mức độ tham gia
Tiêu chí cụ thể
Viết chuyên đề, tham luận
tại các hội nghị, hội thảo
khoa học ở trong và ngoài
nước
Tác giả - Cấp/ quy mô của hội thảo
- Chỉ số ISBN Đồng tác
giả
Viết bài đăng trên các tạp chí Tác giả - Chỉ số SCI, SCIE, SSCI và A&HCI
- Chỉ số ISSN và điểm số theo thang điểm của Hội đồng chức danh Giáo
sư nhà nước
Đồng tác giả
Biên tập, phản biện bài viết,
xuất bản ấn phẩm công bố
công trình nghiên cứu trên
thông tin khoa học, các hội
nghị, hội thảo khoa học
- Chỉ số SCI, SCIE, SSCI và A&HCI
- Chỉ số ISSN và điểm số theo thang điểm của Hội đồng chức danh Giáo
sư nhà nước
- Chỉ số ISBN Tham gia các cuộc thi sáng
tạo và các hoạt động khác về
KHCN
Chủ trì - Quy mô giải thưởng
- Cấp trao giải thưởng Thành viên
Hướng dẫn, huấn luyện các
đội tuyển tham gia các cuộc
thi học thuật ngoài trường
- Giải thưởng đạt được
- Quy mô giải thưởng
- Cấp trao giải thưởng
Ngoài ra, còn một số hoạt động NCKH cụ thể khác sẽ có những tiêu chí đánh giá chất lượng riêng tùy theo từng hoạt động cụ thể như: Thâm nhập thực tiễn, phổ biến kiến thức khoa học phục vụ đời sống xã hội; Tư vấn về chuyển giao công nghệ, tư vấn kỹ thuật, kinh tế, chính trị, xã hội thuộc lĩnh vực chuyên môn; Tổ chức, tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế về NCKH
và công nghệ…
Trang 321.2.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên
Hoạt động NCKH là một trong hai nhiệm vụ chính của người GV và đây cũng được đánh giá là một nhiệm vụ khó khăn đối với nhiều GV, đặc biệt đối với các GV trẻ Để đảm bảo chất lượng NCKH cho GV, bên cạnh việc nhận diện đúng các nội dung, đặc điểm, tiêu chí đánh giá chất lượng của hoạt động NCKH thì việc đánh giá được các yếu tố có ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động NCKH của GV sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy nâng cao chất lượng NCKH của GV
Có thể nói, chất lượng hoạt động NCKH của GV chịu tác động từ rất nhiều yếu tố khác nhau, và mỗi yếu tố lại có tầm ảnh hưởng với mức độ khác nhau đến hoạt động NCKH của GV Có thể phân các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động NCKH của GV thành hai nhóm chính: nhóm các nhân
tố khách quan quan và nhóm các nhân tố chủ quan
1.2.4.1 Yếu tố khách quan
Một là, cơ chế quản lý hoạt động NCKH của nhà trường: Cơ sở pháp
lý để các trường đại học xây dựng cơ chế quản lý hoạt động NCKH của mình hiện nay chính là: Luật Giáo dục đại học; Điều lệ Trường Đại học ban hành kèm theo Quyết định số 58/2010/QĐ-TTg ngày 22/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ; Nghị định số 73/2015/NĐ-CP, ngày 8/9/2015 của Chính phủ về Quy định tiêu chuẩn phân tầng, khung xếp hạng và tiêu chuẩn xếp hạng cơ sở giáo dục đại học; Thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT ngày 31/12/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về quy định chế độ làm việc đối với GV… Căn cứ vào quy định của các văn bản này, hầu như các trường đại học đều xây dựng quy chế riêng để phục vụ cho công tác quản lý, tổ chức, thực hiện hoạt động NCKH của mình Việc xây dựng được một cơ chế quản lý hoạt động NCKH
rõ ràng, minh bạch, đơn giản, công bằng… sẽ có ý nghĩa rất lớn trong việc khuyến khích GV tham gia NCKH và nâng cao chất lượng hoạt động NCKH của GV Ngược lại, nếu cơ chế quản lý rườm rà, phức tạp, mập mờ, thiếu sự
Trang 33minh bạch và công bằng sẽ gây ra tâm lý e ngại, không muốn tham gia NCKH của GV và làm giảm chất lượng NCKH của GV
Hai là, kinh phí đầu tư cho hoạt động NCKH của nhà trường: Theo
quy định tại Nghị định số 73/2015/NĐ-CP, ngày 8/9/2015 của Chính phủ về Quy định tiêu chuẩn phân tầng, khung xếp hạng và tiêu chuẩn xếp hạng cơ sở giáo dục đại học: Tỷ lệ chi cho hoạt động khoa học công nghệ đối với các trường đại học theo định hướng nghiên cứu và ứng dụng chiếm ít nhất 20% tổng chi cho các hoạt động hằng năm của cơ sở giáo dục đại học; còn đối với các trường đại học theo định hướng thực hành tỷ lệ chi cho hoạt động khoa học công nghệ, sản xuất thử nghiệm, phát triển sản phẩm mới không thấp hơn 10% tổng chi cho các hoạt động của cơ sở giáo dục đại học Như vậy, kinh phí đầu tư cho hoạt động NCKH là một trong những quy định bắt buộc đối với các trường đại học
Kinh phí dành cho hoạt động NCKH có thể được các trường đầu tư để triển khai các hoạt động NCKH trực tiếp như: thực hiện các đề tài NCKH; thực hiện các hội thảo, hội nghị khoa học; xuất bản các ấn phẩm khoa học; tổ chức các chương trình đào tạo nâng cao năng lực NCKH cho GV… ngoài ra, trên thực tế hiện nay có một số trường còn dành những khoản kinh phí để hỗ trợ GV có các bài báo được đăng tải trên các tạp chí khoa học có uy tín
Mức độ đầu tư kinh phí và các hạng mục đầu tư cho NCKH của các trường đại học thể hiện sự quan tâm của mỗi trường đối với hoạt động NCKH Với những trường có mức đầu tư kinh phí lớn, hạng mục đầu tư nhiều chắc chắn sẽ khuyến khích được GV tham gia NCKH, qua đó góp phần nâng cao chất lượng NCKH của GV
Ba là, cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động chuyên môn của GV: Cơ
sở vật chất, trang thiết bị, tài liệu tham khảo đều là những yếu tố giúp cho hoạt động NCKH của GV thuận lợi hơn Bằng chứng cho thấy, các cơ sở đào tạo thiếu về cơ sở vật chất, trang thiết bị nghèo nàn lạc hậu, giáo trình tài liệu
Trang 34Nhằm tạo điều kiện cho công tác NCKH của GV, nhà trường cần quan tâm đầu tư xây dựng phát triển hệ thống thông tin thư viện, mở rộng cổng Internet để truy cập thông tin, tạo điều kiện thuận lợi và điều kiện tốt nhất phục vụ cho công tác học tập, NCKH của GV…
Bốn là, sự quan tâm ủng hộ của lãnh đạo khoa, phòng và nhà trường: Đây cũng là yếu tố quan trọng trong việc khơi gợi niềm say mê
NCKH của GV Từ sự quan tâm, định hướng và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho GV tham gia NKCH chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả không nhỏ, tạo nên
sự chất lượng của các đề tài NCKH mà GV tham gia
Năm là, khả năng định hướng hoạt động NCKH của lãnh đạo khoa, phòng và nhà trường: Trong bất kỳ hoạt động nào và ở bất kỳ một xã hội
nào, vai trò định hướng dẫn dắt của người đứng đầu là rất quan trọng GV là chủ thể của hoạt động NCKH, họ có thể chủ động trong việc thực hiện một số hoạt động NCKH đơn giản Nhưng trong một số hoạt động khác, đòi hỏi phải
có sự định hướng của lãnh đạo đơn vị, cụ thể ở đây là lãnh đạo của các khoa, phòng và nhà trường Điều này đòi hỏi lãnh đạo các khoa, phòng, nhà trường cần có tầm nhìn chiến lược trong việc xác định các nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường, của khoa, phòng trong từng năm, từng giai đoạn phát triển để có thể định hướng cho GV xây dựng được các kế hoạch và đề xuất các nhiệm vụ NCKH cụ thể phù hợp với mục tiêu chung của khoa, phòng, nhà trường trong từng năm, từng giai đoạn
Bên cạnh đó, lãnh đạo các khoa, phòng, nhà trường cũng phải là người
có năng lực nghiên cứu, có khả năng phát hiện các vấn đề nghiên cứu, nhanh nhạy trong việc nắm bắt các xu thế phát triển của xã hội để qua đó có thể định hướng cho GV trong việc hội nhập chung vào môi trường NCKH ở phạm vi bên ngoài đơn vị
Sáu là, môi trường học thuật, môi trường hoạt động NCKH của đơn vị: Các hoạt động đều cần có môi trường để thực hiện, đối với GV của các cơ
sở đào tạo có những quy định cụ thể, được tuyên truyền khuyến khích động
Trang 35viên, có chế độ khen thưởng đúng, đủ và kịp thời, có đội ngũ cán bộ làm khoa học có kinh nghiệm, sẵn sàng chia sẻ, hỗ trợ giúp đỡ, thì các GV tại cơ
sở đó sẽ có tâm lý, kỹ năng tốt hơn trong NCKH, và sẽ tích cực hơn trong hoạt động NCKH
1.2.4.2 Yếu tố chủ quan
Một là, nhận thức về vai trò của hoạt động NCKH của GV: Hoạt
động NCKH có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với công tác đào tạo, giảng dạy ở bậc đại học Trong tiêu chuẩn phân tầng, xếp hạng cơ sở giáo dục đại học (Nghị định số 73/2015/NĐ-CP, ngày 8/9/2015 của Chính phủ) đều có những tiêu chí rất cụ thể liên quan đến việc triển khai hoạt động NCKH của các trường Hoạt động NCKH không chỉ đem lại danh tiếng cho các trường,
mà còn mang lại danh tiếng cho bản thân mỗi GV Đối với mỗi GV đại học,
uy tín khoa học chính là thước đo cơ bản nhất để đánh giá về uy tín, giá trị nghề nghiệp của cá nhân Hoạt động NCKH cũng chính là một trong những cách thức để mỗi GV nâng cao trình độ chuyên môn của mình, đem đến cơ hội để họ có thể hoàn thiện bài giảng và nâng cao chất lượng giảng dạy Mặc
dù hoạt động NCKH là nhiệm vụ bắt buộc của GV, mỗi GV đều phải thực hiện để có thể hoàn thành nhiệm vụ năm học của mình Tuy nhiên, mức độ tham gia và chất lượng hoạt động NCKH của GV phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức của GV về vai trò của hoạt động NCKH Nếu nhận thức rõ được vai trò của hoạt động NCKH, GV sẽ nghiêm túc hơn trong việc thực hiện nhiệm vụ NCKH
Hai là, động cơ tham gia hoạt động NCKH của GV: Đã có rất nhiều
nghiên cứu khác nhau chỉ rõ mối quan hệ giữa động cơ và hành vi, hành động của con người Trong hoạt động NCKH cũng vậy, hành vi của chủ thể tham gia vào quá trình NCKH xuất phát từ động cơ của họ Khi quyết định lựa chọn tham gia một hoạt động NCKH nào đó, mỗi cá nhân đều có rất nhiều động cơ, nhu cầu khác nhau, như: tham gia vì đam mê, vì mong muốn được tham gia;
Trang 36năng lực, uy tín khoa học của cá nhân; tham gia vì được phân công; tham gia
để có thêm thu nhập… Mỗi một động cơ khác nhau, sẽ hình thành nên thái độ
và cách thức tham gia khác nhau của chủ thể Cũng có thể, cùng một hành vi nhưng xuất phát từ nhiều động cơ khác nhau, và khi đó, thái độ, cách thức tham gia vào hoạt động NCKH của chủ thể sẽ chịu tác động của tổng hòa các động
Bốn là, tinh thần ham học hỏi, tìm tòi, khám phá những kiến thức
mới: Cũng giống như yếu tố “Đam mê với hoạt động NCKH”, ở yếu tố này,
niềm say mê, tinh thần ham học hỏi, tự nghiên cứu khám phá những kiến thức mới là rất quan trọng đối với một người tham gia hoạt động NCKH Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu, một trong những tố chất quan trọng của một nhà nghiên cứu đó là thái độ “hoài nghi”, một nhà nghiên cứu thật sự phải tập cho mình thói quen “hoài nghi” “Hoài nghi” ở đây không phải là sự phủ nhận với những kết quả nghiên cứu đã có, mà đó chính là sự không bằng lòng với những kết luận có sẵn, phải luôn mong muốn, luôn có nhu cầu khám phá để tìm đến cội nguồn, bản chất của sự vật, hiện tượng Chỉ khi nào hình thành cho mình được thói quen “hoài nghi”, xây dựng cho
Trang 37mình một mong muốn khám phá, tìm tòi tri thức mới thì khi đó hoạt động NCKH mới trở thành một nhu cầu không thể thiếu, một thói quen không thể
bỏ của người GV
Năm là, thời gian dành cho công việc gia đình: Con người là tổng hòa
của các mối quan hệ xã hội Mỗi GV bên cạnh việc thực hiện vai trò, trách nhiệm của một người GV trong thiết chế của trường đại học, họ còn phải đóng rất nhiều vai trò khác nhau ở trong các thiết chế xã hội khác nhau, trong
đó có thiết chế gia đình Việt Nam là một nước châu Á, chịu ảnh hưởng nhiều của học thuyết Nho giáo, rất coi trọng các giá trị truyền thống, trong đó có giá trị của gia đình Mỗi một thành viên, ngoài vai trò của mình trong xã hội, họ còn phải chịu trách nhiệm thực hiện và hoàn thành các nghĩa vụ với gia đình, như: lo chu toàn các quan hệ ứng xử với cha mẹ, họ hàng; chăm sóc và nuôi dạy con cái; duy trì các nếp sống, nếp sinh hoạt truyền thống… Chính vì vậy, thời gian danh cho các công việc gia đình sẽ có ảnh hưởng ở một mức độ nhất định tới hoạt động giảng dạy và NCKH của các GV đại học Mức độ ảnh hưởng này tới mỗi cá nhân khác nhau sẽ không giống nhau và tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của mỗi cá nhân
Sáu là, thời gian dành cho công việc hành chính tại trường: Thực tế
cho thấy, ngoài việc thực hiện hai nhiệm vụ chính là giảng dạy và NCKH, GV hiện này còn phải thực hiện thêm rất nhiều nhiệm vụ khác, đặc biệt đối với các GV kiêm nhiệm hoặc các GV ở các trường có đội ngũ nhân lực mỏng Việc phải tham gia quá nhiều các công việc hành chính là một trong những trở ngại đối với tất cả các mặt hoạt động của GV, đặc biệt là hoạt động NCKH GV sẽ không có nhiều thời gian, bị phân tán tư tưởng trong quá trình NCKH, điều này sẽ có ảnh hưởng tiêu cực tới chất lượng hoạt động
Bảy là, trình độ tin học, ngoại ngữ của GV: Trong thời đại công nghệ
4.0 hiện nay, tin học và ngoại ngữ là công cụ và phương tiện thiết yếu để mỗi
cá nhân có thể tiếp cận với hệ thống tri thức khổng lồ của nhận loại, kịp thời
Trang 38trang bị đầy đủ các kỹ năng cơ bản về tin học, ngoại ngữ sẽ có vai trò quan trọng trong việc giúp cho GV chủ động khai thác thông tin phục vụ cho quá trình giảng dạy và nghiên cứu của mình
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế mạnh mẽ như hiện nay, lĩnh vực giáo dục cũng không nằm ngoài xu thế chung này Các hoạt động hợp tác quốc tế, trao đổi sinh viên, GV, giao lưu, chia sẻ học thuật có xu hướng trở thành một trong những tiêu chí đánh giá uy tín, chất lượng của trường đại học Điều này đòi hỏi mỗi GV phải có trình độ ngoại ngữ mới có thể tham gia vào các chương trình, sự kiện có các chuyên gia, các nhà khoa học nước ngoài, qua đó mới có cơ hội trao đổi chuyên môn, học thuật và nâng cao trình độ NCKH của mình
Như vậy, có thể khẳng định trình độ tin học, ngoại ngữ là một trong những nhân tố quan trọng có tác động đến chất lượng NCKH của GV
1.2.5 Vai trò của hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên trong các trường đại học
Trong một trường đại học, tuy hoạt động giảng dạy là chủ đạo, nhưng cũng không thể bỏ qua vai trò quan trọng của hoạt động NCKH Đã có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu về mối quan hệ tác động qua lại giữa hai nhiệm vụ này của người GV Các nhà nghiên cứu cho thấy: giữa chúng vừa có sự mâu thuẫn với nhau, vừa có sự thúc đẩy nhau, lại vừa có sự độc lập tương đối với nhau Fox MF (2005) thông qua việc phỏng vấn bảng hỏi với 1.215 GV đại học của Mỹ đã phát hiện ra rằng, lượng thời gian giới hạn đã dẫn đến sự xung đột trong việc thực hiện hai nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu của một GV [5] Tác giả Yan Guangcai (2017) thông qua điều tra 6.334 GV đại học ở Trung Quốc cũng đưa ra phát hiện tương tự và cho rằng gánh nặng trong việc phải thực hiện cùng lúc hai nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu đối với GV đại học ở Trung Quốc không hề thua kém so với ở Mỹ [13]
Trong một nghiên cứu khác, tác giả Neumann R (1992) lại cho rằng hai hoạt động giảng dạy và nghiên cứu của người GV có mối quan hệ qua lại, thúc
Trang 39đẩy lẫn nhau Thông qua việc điều tra rất nhiều GV ở các chuyên ngành khác nhau, tác giả cho rằng: nghiên cứu sẽ giúp cho các GV có nhiều sáng tạo hơn trong phương pháp giảng dạy, nghiên cứu giúp GV biết cách thu hẹp khoảng cách giữa nội dung giảng dạy và học thuật Đồng thời, hoạt động giảng dạy có thể giúp cho GV mở rộng lĩnh vực nghiên cứu, giúp kích thích hoạt động nghiên cứu [8]
Không chỉ có tác động, qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau, giữa giảng dạy và nghiên cứu còn có sự độc lập tương đối với nhau Rushton J Petc (1983) cho rằng với vai trò là một nhà nghiên cứu, người GV có tính chủ động, nhẫn nại, ham học hỏi, tìm kiếm và độc lập nhất định Trong khi đó hoạt động giảng dạy đòi hỏi người GV phải có tư tưởng cởi mở, dễ dàng, có năng khiếu giao tiếp, hướng ngoại, dân chủ… Các đặc tính đặc trưng của hai hoạt động giảng dạy và nghiên cứu có sự khác biệt tương đối rõ ràng nhưng phải cùng tồn tại trong một chủ thể Chỉ khi nào biết phát huy tốt các đặc tính đó trong từng trường hợp cụ thể, người GV mới có thể hoàn thành tốt cả hai nhiệm vụ của mình [11]
Có thể khẳng định, hoạt động NCKH có vai trò vô cùng quan trọng NCKH không chỉ quan trọng đối với bản thân GV, mà còn có vai trò quan trọng đối với sự phát triển và quá trình tạo dựng uy tín, nâng cao sức cạnh tranh của mỗi cơ sở đào tạo Vai trò của hoạt động NCKH thể hiện ở các khía cạnh cụ thể như sau:
- Vai trò của hoạt động NCKH đối với GV: các tác giả đi trước đã chỉ ra
rằng thông qua hoạt động NCKH, GV sẽ có cơ hội làm giàu thêm các kiến thức của mình, cả về mặt lý luận và thực tiễn, qua đó sẽ giúp cho GV có thể sáng tạo ra các phương pháp giảng dạy mới, làm phong phú thêm nội dung bài giảng, thu hẹp khoảng cách giữa nội dung giảng dạy với học thuật hàn lâm
Quá trình tham gia NCKH còn góp phần phát triển tư duy, năng lực sáng tạo, khả năng làm việc độc lập, tính chủ động trong công việc, tư duy
Trang 40giúp bổ sung cần thiết cho GV trong quá trình hoạt động nghề nghiệp của mình Ngoài ra, quá trình tham gia NCKH chính là cơ hội để GV tích lũy kiến thức, kinh nghiệm, trau dồi kỹ năng, thực hành các phương pháp NCKH, qua
đó làm giàu thêm cho kho tàng tri thức của mình
Hoạt động NCKH cũng giúp khẳng định và nâng cao uy tín khoa học cho
GV Đối với mỗi GV, uy tín khoa học chính là giá trị thước đo giá trị nghề nghiệp của cá nhân và uy tín khoa học được đo bằng các kết quả NCKH được công nhận của mỗi người Chính vì vậy, việc tham gia hoạt động NCKH đối với
GV không đơn giản chỉ để hoàn thành nghĩa vụ của cá nhân, mà quan trọng hơn mỗi GV cần phải ý thức rõ trách nhiệm của mình để thực hiện nhiệm vụ này một cách nghiêm túc để có thể cho ra được các sản phẩm nghiên cứu có giá trị
- Vai trò của hoạt động NCKH đối với cơ sở đào tạo: trong nhiều bảng
xếp hạng các trường đại học hiện nay, hoạt động NCKH có một trọng số điểm
vô cùng quan trọng Ở Việt Nam, theo quy định của Nghị định số 73/2015/NĐ-CP, ngày 8/9/2015 của Chính phủ về Quy định tiêu chuẩn phân tầng, khung xếp hạng và tiêu chuẩn xếp hạng cơ sở giáo dục đại học, tiêu chuẩn để đánh giá, xếp hạng các trường đại học cũng có những chỉ tiêu rất rõ ràng liên quan đến hoạt động NCKH
Hiện nay, trong phần lớn các trường đại học đều thành lập các viện, trung tâm, phòng nghiên cứu… nhằm thúc đẩy và chuyên nghiệp hóa hoạt động NCKH, nhưng các đơn vị này chỉ đảm nhận một phần rất nhỏ hoặc có vai trò như một đơn vị đầu mối trong việc quản lý, tổ chức, triển khai… các hoạt động NCKH của nhà trường Các khoa đào tạo và các GV luôn được xác định là lực lượng nghiên cứu nòng cốt của mỗi trường Việc giao nhiệm vụ NCKH cho các khoa, các GV không chỉ là việc chấp hành quy định của cơ quan quản lý nhà nước về chế độ làm việc của GV, mà còn nhằm mục tiêu xây dựng thương hiệu cho nhà trường