1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VAI TRÒ THẾ GIỚI QUAN và PHƯƠNG PHÁP LUẬN của TRIẾT học đối với sự PHÁT TRIỂN của KHOA học

16 815 15

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 45,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.Lý do chọn đề tàiSự đột phá quan trọng trong lịch sử nhân loại là dựa vào sự phát triển khoa học và kỹ thuật. Từ thiến niên kỷ thứ ba, Khoa học kỹ thuật đã trở thành yếu tố quan trọng của sự phát triển, là lực lượng sản xuất trực tiếp của nền kinh tế toàn cầu. Điều này được phản ánh rõ trong việc hoạch định các chính sách và chiến lược phát triển khoa học, kỹ thuật và kinh tế của nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên tuỳ thuộc vào trình độ sự phát triển cụ thể của từng nước mà xây dựng chiến lược, chính sách phát triển khoa học kỹ thuật mang tính đa dạng và đặc thù đối với từng giai đoạn phát triển cụ thể phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cơ sở vật chất của mỗi quốc gia. Trong những năm gần đây, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại phát triển như vũ bão làm thay đổi bộ mặt của cuộc sống xã hội, đòi hỏi các nhà triết học và các nhà khoa học chuyên môn giải quyết đúng đắn và kịp thời những yêu cầu lý luận và thực tiễn cấp bách. Sự giải đáp này chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở nắm vững và vận dụng một cách đúng đắn và sáng tạo thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác – Lênin. Do đó việc nghiên cứu vai trò của triết học đối với khoa học, đặc biệt là vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học đối với các khoa học cụ thể càng có ý nghĩa hết sức quan trọng.Từ những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học đối với sự phát triển của khoa học”.2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứuĐề tài làm rõ nội dung: vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học đối với sự phát triển của khoa học.3.Phạm vi nghiên cứuĐề tài nghiên cứu, làm rõ các khái niệm triết học, khoa học, thế giới quan, phương pháp luận và vai trò thế giới quan, phương pháp luận của triết học đối với sự phát triển của khoa học.4.Phương pháp nghiên cứu Sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử, phân tích tổng hợp để tư duy, suy luận cho bài viết. 1CHƯƠNG 1. LÍ LUẬN CHUNG VỀ TRIẾT HỌC VÀ KHOA HỌC.1.1Khái niệm Triết học.Triết học là bộ môn nghiên cứu về những vấn đề chung và cơ bản của con người, thế giới quan và vị trí của con người trong thế giới quan, những vấn đề có kết nối với chân lý, sự tồn tại, kiến thức, giá trị, quy luật, ý thức, và ngôn ngữ. Triết học được phân biệt với những môn khoa học khác bằng cách thức mà nó giải quyết những vấn đề trên, đó là ở tính phê phán, phương pháp tiếp cận có hệ thống chung nhất và sự phụ thuộc của nó vào tính duy lý trong việc lập luận.Về nguồn gốc, triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây từ khoảng thế kỷ VIII đến thế kỷ VI TCN, tại các quốc gia văn minh cổ đại như: Hy Lạp, Ấn Độ, Trung Quốc.Dù ra đời ở phương Đông hay phương Tây, triết học cũng đều là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người. Tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.Đối tượng nghiên cứu của triết học là những mối liên hệ chung nhất của sự vật, hiện thực khách quan, mối liên hệ giữa thế giới vật chất với những sự vật hiện tượng do con người tưởng tượng ra và được phản ánh trong các khái niệm, phạm trù, của triết học. Triết học giải quyết rất nhiều vấn đề có liên quan với nhau. Trong đó, vấn đề quan trọng nhất hay còn được gọi là vấn đề cơ bản của triết học, gồm hai mặt: Mặt thứ nhất: Vật chất và ý thức cái nào có trước, cái nào có sau? Cái nào quyết định đến cái nào?Mặt thứ hai: Con người có khả năng nhận thức thế giới xung quanh mình hay không?Để giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học, trong lịch sử triết học đã chia thành các trường phái lớn, trong đó nổi bật:•Trường phái 1: Những người cho rằng vật chất có trước và giữ vai trò quyết định. Những người này được gọi là các nhà duy vật và các học thuyết của họ hợp thành chủ nghĩa duy vật.•Trường phái 2: Những nhà triết học cho rằng ý thức là cái có trường và giữ vai trò quyết định. Họ được gọi là nhà triết học duy tâm và tập hợp các học thuyết của họ hợp thành chủ nghĩa duy tâm.•Trường phái 3: Bao gồm những nhà triết học cho rằng vật chất và ý thức tồn tại song song với nhau, không cái nào quyết định cái nào cả hai cùng là nguồn gốc tạo ra thế giới được gọi là các nhà nhị nguyên. Các học thuyết của họ hợp thành học thuyết nhị nguyên luận (Decacton).Mặc dù có vẻ nằm hoàn toàn trong phạm trù trừu tượng, triết học cũng có áp dụng thực tiễn. Điển hình nhất là áp dụng trong nguyên tắc xử thế, như nguyên tắc xử thế trong nghề nghiệp, và triết lý chính trị. Triết lý chính trị và kinh tế của Khổng Phu Tử, Kautilya, Tôn Tử, John Locke, JeanJacques Rousseau, Karl Marx, John Stuart Mill, Mahatma Gandhi, Robert Nozick và John Rawls đã được dùng làm nền móng hình thành các triều đại, chính quyền cũng như làm cơ sở biện minh cho hành động của họ.Triết học giáo dục Giáo dục tiên tiến do John Dewey chủ trương có ảnh hưởng sâu đậm trong phương pháp giáo dục tại Hoa Kỳ trong thế kỷ 20 hoặc các ẩn dụ tôn giáo đã giáo dục nhân gian về tâm lý con người, và sức mạnh của quan hệ giữa người với người.Một áp dụng thực tiễn nữa của triết học là trong nhận thức luận một ngành triết học tìm hiểu về sự hiểu biết, bằng chứng cụ thể và sự thật thoả đáng. Hai thí dụ của nhận thức luận và logic áp dụng trong thực tế hằng ngày là tin tức báo chí và các cuộc điều tra của cảnh sát. Nhận xét, suy diễn logic chung chung có khả năng giúp cho công dân có thể phán xét khi nghe, đọc tin tức hay bài bình luận, thảo luận. Triết lý trong khoa học tìm hiểu và giải thích về những khúc mắc trong phương pháp khoa học. Mỹ học giúp diễn đạt về nghệ thuật. Ngay cả bản thể học, một ngành triết rất trừu tượng và có vẻ ít có áp dụng nào thực tiễn, lại góp phần quan trọng trong suy luận logic của ngành khoa học máy tính.Thường thì triết học được xem là một nghiên cứu một lĩnh vực chưa được hiểu đủ để có thể trở thành nhánh tri thức của riêng mình. Những gì ngày xưa từng chỉ là các chủ đề triết học thì đến thời hiện đại đã trở thành các ngành riêng, chẳng hạn tâm lý học, xã hội học, ngôn ngữ học, và kinh tế học. Khoa học máy tính, khoa học nhận thức và trí tuệ nhân tạo là các lĩnh vực nghiên cứu hiện đại mà triết học đã từng đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển.Hơn thế, một phân ngành triết học mới phát triển để áp dụng triết học vào những vấn đề của cuộc sống thường ngày được gọi là triết học lời răn (philosophical counseling). Nhiều nhà triết học phương Đông có thể giúp hàng triệu người đang chịu sự dằn vặt tâm lý bằng cách xem xét sự phiền muộn của họ bằng cách thiền để gợi lại ký ức và sợi dây kết nối sức mạnh giữa sức mạnh thể chất và sức mạnh tâm hồn.1.2Khái niệm khoa họcKhoa học là hệ thống tri thức về các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy được tích luỹ trong lịch sử. Khoa học là kết quả của quá trình tích cực nhận thức hiện thực khách quan và tư duy trừu tượng. Khoa học có nguồn gốc sâu xa từ trong thực tiễn lao động sản xuất. Những hiểu biết ban đầu thường được tồn tại dưới dạng kinh nghiệm. Tri thức kinh nghiệm là những hiểu biết được tích luỹ một cách ngẫu nhiên trong đời sống hàng ngày nhờ đó con người hình dung được sự vật, biết phản ứng trước tự nhiên, biết ứng dụng trong quan hệ xã hội. Tuy chưa đi sâu vào bản chất sự vật, song những tri thức kinh nghiệm làm cơ sở cho sự hình thành các tri thức khoa học.Quá trình phát triển khoa học có 2 xu hướng: thứ nhất là sự tích hợp những tri thức khoa học thành hệ thống chung. Xu hướng thứ hai là sự phân lập các tri thức khoa học thành những ngành khoa học khác nhau. Hai xu hướng này ngược chiều nhau nhưng không loại trừ mà thống nhất với nhau. Theo cách phân loại của Các Mác, khoa học được phân thành hai loại:+ Khoa học tự nhiên: Có đối tượng là các dạng vật chất và các hình thức vận động của các dạng vật chất đó được thể hiện trong giới tự nhiên cùng những mối liên hệ và quy luật giữa chúng như: Cơ học, toán học, sinh vật học,...+ Khoa học xã hội hay khoa học về con người: có đối tượng là những sinh hoạt của con người, những quan hệ xã hội của con người cũng như những quy luật, những động lực phát triển của xã hội như: sử học, kinh tế học, triết học...1.3Mối quan hệ giữa triết học và khoa họcVấn đề về mối quan hệ về mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên (KHTN) nói riêng hay khoa học cụ thể nói chung, đặc biệt là vấn đề về chức năng phương pháp luận của triết học đối với khoa học cụ thể, vốn là những vấn đề hết sức quan trọng trong di sản triết học của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin. Vấn đề này cũng đã được nhiều tác giả ở nước ta bắt đầu nghiên cứu từ những năm 1960 – 1970.Ngay từ những thập niên 1960 – 1970, các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta đã thấy rõ được tầm quan trọng của việc nghiên cứu mối quan hệ giữa Triết học Mác và Các Khoa học cụ thể, và chỉ có việc nắm vững, nghiên cứu và vận dụng sáng tạo những tư tưởng về các vấn đề này của các tác gia kinh điển của Chủ nghĩa Mác – Lênin mới có thể thực hiện được những vấn đề mà các đồng chí lãnh đạo đã dặn dò.Triết học tác động vào KHTN trước tiên là thông qua thế giới quan và phương pháp luận khoa học. V.I.Lênin đã nói đến ý nghĩa to lớn của phương pháp biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác đối với KHTN. Những phát hiện của khoa học tự nhiên và kỹ thuật từ nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa cuối thế kỷ XIX đòi hỏi phải khái quát về mặt triết học để vạch ra các mối liên hệ giữa các quá trình diễn ra trong tự nhiên, nhận thức bản chất quá trình phát triển cuả tự nhiên. Điều đó không thể thực hiện được với thế giới quan duy tâm và phương pháp siêu hình, kể cả phép biện chứng duy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu hình. Tuy nhiên, nó đã tạo điều kiện chín muồi cho phép biện chứng duy vật ra đời.Mác và Ăngghen cũng đã khái quát về mặt triết học toàn bộ những thành tựu khoa học tự nhiên thế kỷ XIX để xây dựng nên chủ nghĩa duy vật biện chứng của mình, phê phán quan niệm cũ siêu hình và vạch rõ phép biện chứng khách quan vốn có của mọi hiện tượng, quá trình trong tự nhiên.Hàng loạt phát minh trong khoa học tự nhiên thế kỷ thứ XIX đã góp phần to lớn vào sự phát triển của xã hội và sự đổi mới tư duy, ngoài ba phát minh vạch thời đại định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, thuyết tế bào, thuyết tiến hóa của Đácuyn còn có những đóng góp không nhỏ của một số lĩnh vực khoa học khác.Tất cả những thành tựu mới trong khoa học tự nhiên và kỹ thuật hiện nay và mai sau càng làm giàu thêm sức sống của thế giới quan duy vật biện chứng.Sự phát triển của tri thức khoa học tự nhiên ngay từ cuối thế kỷ XIX và đặc biệt là trong thế kỷ XX đem lại những cái mới mà những quan điểm của Ăngghen về các hình thức cụ thể của vận động vật chất, tất nhiên đã lạc hậu. Nhưng, việc tiếp cận biện chứng chung đến chỗ hiểu được các kết quả phát triển khoa học, đến việc giải thích giới tự nhiên vẫn còn giữ nguyên ý nghĩa của chúng trong thời đại ngày nay.Triết học không thể khái quát các quan niệm và kết luận triết học từ đâu khác ngoài các dữ liệu của khoa học và của đời sống thực tiễn.Triết học ra đời trên cơ sở của sự phát triền của đời sống vật chất kinh tế của xã hội, và trên cơ sở đó đã phát triền lên theo tính quy luật khách quan vốn có của nó. Sự ra đời và phát triền của triết học lại liên hệ khăng khít với sự ra đời và phát triển của khoa học tự nhiên.Thiếu kiến thức khoa học và dữ liệu đời sống cập nhật, nhà triết học không thể có tư duy triết học hợp lý, đúng đắn; triết học trở nên xa rời thực tiễn. 2CHƯƠNG II. VAI TRÒ THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA TRIẾT HỌC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC2.1Thế giới quan2.1.1Khái niệm thế giới quan.Thế giới quan là hệ thống những quan điểm, quan niệm của con người về thế giới và về vị trí của con người trong thế giới đó, nhằm giải đáp những vấn đề về mục đích, ý nghĩa của cuộc sống.Thế giới quan là một hệ thống gồm nhiều yếu tố, trong đó có bốn yếu tố cơ bản tồn tại trong sự thống nhất hữu cơ với nhau. Đó là tri thức, niềm tin, lý trí và tình cảm.Thế giới quan gồm các cấp độ: thế giới quan thông thường và thế giới quan lý luận.Thế giới quan thông thường hình thành trực tiếp, tự phát từ cuộc sống thường ngày; có tính quần chúng rộng rãi; gắn với cộng đồng dân tộc, với đặc điểm của từng địa phương và tôn giáo; biểu hiện qua ca dao, tục ngữ, thói quen, truyền thống, v.v..Thế giới quan lý luận mang tính tự giác; được luận chứng bằng lý luận; có tính hệ thống; có bộ phận chủ yếu là triết học.2.1.2Các hình thái thế giới quan Trong lịch sử xã hội, thế giới quan được thể hiện qua nhiều hình thái ý thức xã hội khác nhau, trong đó, các hình thức chủ yếu là thần thoại, tôn giáo và triết học. Thần thoại là hình thức thế giới quan đặc trưng cho trình độ nhận thức còn thấp của người nguyên thủy trong giai đoạn sơ khai của lịch sử loài người. Nó là kết quả của sự cảm nhận còn rất ấu trĩ của người nguyên thủy về thế giới khánh quan và về bản thân mình.Trong đó, các yếu tố hiện thực và tưởng tượng, cái có thật và cái hoang đường, lý trí và tín ngưỡng, tư duy và xúc cảm hòa quyện vào nhau mà chưa có sự tách biệt rõ ràng. Thần thoại lưu tồn ở mọi dân tộc trên thế giới và mãi về sau vẫn tiếp tục tồn tại ở những cộng đồng dân cư có trình độ sản xuất và năng lực tư duy lý luận còn thấp kém.Tôn giáo là thế giới quan duy tâm, phản ánh hiện thực một cách hư ảo. Tôn giáo ra đời trong điều kiện trình độ nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người người còn hết sức thấy kém, khi mà con người bất lực trước lực lượng tự nhiên cho nên đã gán cho nó một bản chất siêu tự nhiên, một thế mạnh siêu thế gian. Đặc trưng chủ yếu của thế giới quan tôn giáo là niềm tin vào sự tồn tại của các đấng siêu tự nhiên được coi như là thần thánh mầu nhiệm, qua đó nhằm gửi gắm nguyện vọng giải thoát khỏi cảnh sống lầm than, đau khổ và vươn tới cuộc sống tốt đẹp hơn. Thế giới quan triết học chỉ xuất hiện khi sự phát triển của tư duy loài người đạt tới một trình độ nhất định, khi trong xã hội có sự phân chia giữa lao động trí óc và lao động chân tay. Triết học không chỉ nêu lên các quan điểm mà còn giải thích, chứng minh cho các quan điểm đó. Triết học phản ánh thế giới bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật.Ngoài các quan điểm triết học, thế giới quan còn thể hiện ở các quan điểm chính trị, kinh tế, đạo đức, thẩm mĩ, v.v. Tuy nhiên, các quan điểm này đều dựa trên cơ sở lý luận chung là triết học. Các quan điểm triết học có vai trò liên kết các quan điểm chính trị, kinh tế, đạo đức, thẩm mĩ và các hiểu biết khác của con người thành một hệ thống thống nhất.Như vậy, triết học đóng vai trò cơ sở lý luận, hạt nhân lý luận của thế giới quan. Ngay từ khi mới ra đời, triết học đã là hệ thống những quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và về vị trí của con người trong thế giới.2.2Phương pháp luận2.2.1Khái niệm phương pháp Xét về nguồn gốc, thuật phương pháp bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp methodos, có nghĩa là con đường, công cụ nhận thức và hành động. Theo nghĩa thông thường, phương pháp là cánh thức mà chủ thể sử dụng nhằm thực hiện mục đích vạch ra. Theo nghĩa khoa học, phương pháp là hệ thống những nguyên tắc được ra từ tri thức về các quy luật khách quan để điều chỉnh hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện mục đích nhất định.Phương pháp có nhiều loại, nhiều cấp độ khác nhau. Xét về loại hình hoạt động, phương pháp gồm có: phương pháp nhận thức và phương pháp hoạt động thực tiễn.Phương pháp nhận thức là sự tổng hợp những cách thức, những thao tác của tư duy nhằm nhận thức chân lý.Phương pháp thực tiễn là sự tổng hợp những biện pháp, những phương thức hoạt động thực tiễn cụ thể cảm tính của con người nhằm tác động vào thế giới khách quan.Cả hai loại phương pháp trên đây đều được quy định bởi bản chất khách quan của khách thể nhận thức và hoạt động thực tiễn.Theo mức độ phổ biến và phạm vi ứng dụng, phương pháp được chia thành phương pháp riêng, phương pháp chung và phương pháp phổ biến.Phương pháp riêng chỉ áp dụng cho từng bộ môn khoa học cụ thể (phương pháp vật lý học, phương pháp toán học, phương pháp xã hội học, v.v..), phương pháp chung áp dụng cho nhiều ngành khoa học khác nhau (các phương pháp quan sát, thí nghiệm,mô hình hóa…) và phương pháp phổ biến (phương pháp của triết học Mác Lênin) được áp dụng cho mọi lĩnh vực khoa học và hoạt động thực tiễn.2.2.2Khái niệm phương pháp luận

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

-TIỂU LUẬN KẾT THÚC MÔN

TRIẾT HỌC

Đề tài:

VAI TRÒ THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA TRIẾT HỌC ĐỐI VỚI

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC

HV: PHAN THANH NHÂN MSHV: 208140111310023 LỚP: CH28-A3

GVHD: PHẠM THỊ BÌNH

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

CHƯƠNG 1 LÍ LUẬN CHUNG VỀ TRIẾT HỌC VÀ KHOA HỌC 3

1.1 Khái niệm Triết học 3

1.2 Khái niệm khoa học 4

1.3 Mối quan hệ giữa triết học và khoa học 5

CHƯƠNG II VAI TRÒ THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA TRIẾT HỌC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC 7

2.1 Thế giới quan 7

2.1.1 Khái niệm thế giới quan 7

2.1.2 Các hình thái thế giới quan 7

2.2 Phương pháp luận 8

2.2.1 Khái niệm phương pháp 8

2.2.2 Khái niệm phương pháp luận 8

2.3 Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học đối với sự phát triển của khoa học 9 2.3.1 Triết học là cơ sở để giải thích và định hướng nhận thức và hoạt động của các khoa học 9 2.3.2 Nhà khoa học không thể thiểu phương pháp luận triết học sáng suốt dẫn đường 12

KẾT LUẬN 14

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sự đột phá quan trọng trong lịch sử nhân loại là dựa vào sự phát triển khoa học và kỹ thuật Từ thiến niên kỷ thứ ba, Khoa học kỹ thuật đã trở thành yếu tố quan trọng của sự phát triển, là lực lượng sản xuất trực tiếp của nền kinh tế toàn cầu Điều này được phản ánh rõ trong việc hoạch định các chính sách và chiến lược phát triển khoa học, kỹ thuật và kinh tế của nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên tuỳ thuộc vào trình độ sự phát triển cụ thể của từng nước mà xây dựng chiến lược, chính sách phát triển khoa học kỹ thuật mang tính đa dạng và đặc thù đối với từng giai đoạn phát triển cụ thể phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cơ sở vật chất của mỗi quốc gia

Trong những năm gần đây, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại phát triển như

vũ bão làm thay đổi bộ mặt của cuộc sống xã hội, đòi hỏi các nhà triết học và các nhà khoa học chuyên môn giải quyết đúng đắn và kịp thời những yêu cầu lý luận và thực tiễn cấp bách Sự giải đáp này chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở nắm vững và vận dụng một cách đúng đắn và sáng tạo thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác – Lênin Do đó việc nghiên cứu vai trò của triết học đối với khoa học, đặc biệt là vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học đối với các khoa học cụ thể càng có ý nghĩa hết sức quan trọng

Từ những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Vai trò thế giới quan và phương pháp

luận của triết học đối với sự phát triển của khoa học”.

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài làm rõ nội dung: vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học đối với

sự phát triển của khoa học

3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu, làm rõ các khái niệm triết học, khoa học, thế giới quan, phương pháp luận và vai trò thế giới quan, phương pháp luận của triết học đối với sự phát triển của khoa học

4 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử, phân tích tổng hợp để tư duy, suy luận cho bài viết

Trang 4

1 CHƯƠNG 1 LÍ LUẬN CHUNG VỀ TRIẾT HỌC VÀ KHOA HỌC.

1.1 Khái niệm Triết học.

Triết học là bộ môn nghiên cứu về những vấn đề chung và cơ bản của con người, thế

giới quan và vị trí của con người trong thế giới quan, những vấn đề có kết nối với chân

lý, sự tồn tại, kiến thức, giá trị, quy luật, ý thức, và ngôn ngữ Triết học được phân biệt với những môn khoa học khác bằng cách thức mà nó giải quyết những vấn đề trên, đó là ở tính phê phán, phương pháp tiếp cận có hệ thống chung nhất và sự phụ thuộc của nó vào tính duy lý trong việc lập luận

Về nguồn gốc, triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây từ khoảng thế kỷ

VIII đến thế kỷ VI TCN, tại các quốc gia văn minh cổ đại như: Hy Lạp, Ấn Độ, Trung Quốc

Dù ra đời ở phương Đông hay phương Tây, triết học cũng đều là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người Tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội

Đối tượng nghiên cứu của triết học là những mối liên hệ chung nhất của sự vật, hiện thực khách quan, mối liên hệ giữa thế giới vật chất với những sự vật hiện tượng do con người tưởng tượng ra và được phản ánh trong các khái niệm, phạm trù, của triết học

Triết học giải quyết rất nhiều vấn đề có liên quan với nhau Trong đó, vấn đề quan trọng nhất hay còn được gọi là vấn đề cơ bản của triết học, gồm hai mặt:

Mặt thứ nhất: Vật chất và ý thức cái nào có trước, cái nào có sau? Cái nào quyết định đến cái nào?

Mặt thứ hai: Con người có khả năng nhận thức thế giới xung quanh mình hay không?

Để giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học, trong lịch sử triết học đã chia

thành các trường phái lớn, trong đó nổi bật:

Trường phái 1: Những người cho rằng vật chất có trước và giữ vai trò quyết định Những người này được gọi là các nhà duy vật và các học thuyết của họ hợp thành chủ nghĩa duy vật

Trường phái 2: Những nhà triết học cho rằng ý thức là cái có trường và giữ vai trò quyết định Họ được gọi là nhà triết học duy tâm và tập hợp các học thuyết của họ hợp thành chủ nghĩa duy tâm

Trường phái 3: Bao gồm những nhà triết học cho rằng vật chất và ý thức tồn tại song song với nhau, không cái nào quyết định cái nào cả hai cùng là nguồn gốc tạo ra thế giới được gọi là các nhà nhị nguyên Các học thuyết của họ hợp thành học thuyết nhị nguyên luận (Decacton)

Mặc dù có vẻ nằm hoàn toàn trong phạm trù trừu tượng, triết học cũng có áp dụng thực tiễn Điển hình nhất là áp dụng trong nguyên tắc xử thế, như nguyên tắc xử thế trong nghề nghiệp, và triết lý chính trị Triết lý chính trị và kinh tế của Khổng Phu Tử, Kautilya, Tôn

Tử, John Locke, Jean-Jacques Rousseau, Karl Marx, John Stuart Mill, Mahatma

Trang 5

Gandhi, Robert Nozick và John Rawls đã được dùng làm nền móng hình thành các triều đại, chính quyền cũng như làm cơ sở biện minh cho hành động của họ

Triết học giáo dục "Giáo dục tiên tiến" do John Dewey chủ trương có ảnh hưởng sâu đậm trong phương pháp giáo dục tại Hoa Kỳ trong thế kỷ 20 hoặc các ẩn dụ tôn giáo đã giáo dục nhân gian về tâm lý con người, và sức mạnh của quan hệ giữa người với người

Một áp dụng thực tiễn nữa của triết học là trong nhận thức luận - một ngành triết học tìm hiểu về sự hiểu biết, bằng chứng cụ thể và sự thật thoả đáng Hai thí dụ của nhận thức luận và logic áp dụng trong thực tế hằng ngày là tin tức báo chí và các cuộc điều tra của cảnh sát Nhận xét, suy diễn logic chung chung có khả năng giúp cho công dân có thể phán xét khi nghe, đọc tin tức hay bài bình luận, thảo luận Triết lý trong khoa học tìm hiểu và giải thích về những khúc mắc trong phương pháp khoa học Mỹ học giúp diễn đạt về nghệ thuật Ngay cả bản thể học, một ngành triết rất trừu tượng và có vẻ ít có áp dụng nào thực tiễn, lại góp phần quan trọng trong suy luận logic của ngành khoa học máy tính

Thường thì triết học được xem là một nghiên cứu một lĩnh vực chưa được hiểu đủ để

có thể trở thành nhánh tri thức của riêng mình Những gì ngày xưa từng chỉ là các chủ đề triết học thì đến thời hiện đại đã trở thành các ngành riêng, chẳng hạn tâm lý học, xã hội học, ngôn ngữ học, và kinh tế học Khoa học máy tính, khoa học nhận thức và trí tuệ nhân tạo là các lĩnh vực nghiên cứu hiện đại mà triết học đã từng đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển

Hơn thế, một phân ngành triết học mới phát triển để áp dụng triết học vào những vấn

đề của cuộc sống thường ngày được gọi là "triết học lời răn" (philosophical counseling) Nhiều nhà triết học phương Đông có thể giúp hàng triệu người đang chịu sự dằn vặt tâm lý bằng cách xem xét sự phiền muộn của họ bằng cách thiền để gợi lại ký ức và sợi dây kết nối sức mạnh giữa sức mạnh thể chất và sức mạnh tâm hồn

1.2 Khái niệm khoa học

Khoa học là hệ thống tri thức về các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy được tích luỹ trong lịch sử Khoa học là kết quả của quá trình tích cực nhận thức hiện thực khách quan và tư duy trừu tượng

Khoa học có nguồn gốc sâu xa từ trong thực tiễn lao động sản xuất Những hiểu biết ban đầu thường được tồn tại dưới dạng kinh nghiệm Tri thức kinh nghiệm là những hiểu biết được tích luỹ một cách ngẫu nhiên trong đời sống hàng ngày nhờ đó con người hình dung được sự vật, biết phản ứng trước tự nhiên, biết ứng dụng trong quan hệ xã hội Tuy chưa đi sâu vào bản chất sự vật, song những tri thức kinh nghiệm làm cơ sở cho sự hình thành các tri thức khoa học

Quá trình phát triển khoa học có 2 xu hướng: thứ nhất là sự tích hợp những tri thức khoa học thành hệ thống chung Xu hướng thứ hai là sự phân lập các tri thức khoa học thành những ngành khoa học khác nhau Hai xu hướng này ngược chiều nhau nhưng không loại

Trang 6

trừ mà thống nhất với nhau

Theo cách phân loại của Các Mác, khoa học được phân thành hai loại:

+ Khoa học tự nhiên: Có đối tượng là các dạng vật chất và các hình thức vận động của

các dạng vật chất đó được thể hiện trong giới tự nhiên cùng những mối liên hệ và quy luật giữa chúng như: Cơ học, toán học, sinh vật học,

+ Khoa học xã hội hay khoa học về con người: có đối tượng là những sinh hoạt của

con người, những quan hệ xã hội của con người cũng như những quy luật, những động lực phát triển của xã hội như: sử học, kinh tế học, triết học

1.3 Mối quan hệ giữa triết học và khoa học

Vấn đề về mối quan hệ về mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên (KHTN) nói riêng hay khoa học cụ thể nói chung, đặc biệt là vấn đề về chức năng phương pháp luận của triết học đối với khoa học cụ thể, vốn là những vấn đề hết sức quan trọng trong di sản triết học của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin Vấn đề này cũng đã được nhiều tác giả ở nước ta bắt đầu nghiên cứu từ những năm 1960 – 1970

Ngay từ những thập niên 1960 – 1970, các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta đã thấy rõ được tầm quan trọng của việc nghiên cứu mối quan hệ giữa Triết học Mác và Các Khoa học cụ thể, và chỉ có việc nắm vững, nghiên cứu và vận dụng sáng tạo những tư tưởng

về các vấn đề này của các tác gia kinh điển của Chủ nghĩa Mác – Lênin mới có thể thực hiện được những vấn đề mà các đồng chí lãnh đạo đã dặn dò

Triết học tác động vào KHTN trước tiên là thông qua thế giới quan và phương pháp luận khoa học V.I.Lênin đã nói đến ý nghĩa to lớn của phương pháp biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác đối với KHTN

Những phát hiện của khoa học tự nhiên và kỹ thuật từ nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa cuối thế kỷ XIX đòi hỏi phải khái quát về mặt triết học để vạch ra các mối liên hệ giữa các quá trình diễn ra trong tự nhiên, nhận thức bản chất quá trình phát triển cuả tự nhiên Điều

đó không thể thực hiện được với thế giới quan duy tâm và phương pháp siêu hình, kể cả phép biện chứng duy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu hình Tuy nhiên, nó đã tạo điều kiện chín muồi cho phép biện chứng duy vật ra đời

Mác và Ăngghen cũng đã khái quát về mặt triết học toàn bộ những thành tựu khoa học

tự nhiên thế kỷ XIX để xây dựng nên chủ nghĩa duy vật biện chứng của mình, phê phán quan niệm cũ siêu hình và vạch rõ phép biện chứng khách quan vốn có của mọi hiện tượng, quá trình trong tự nhiên

Hàng loạt phát minh trong khoa học tự nhiên thế kỷ thứ XIX đã góp phần to lớn vào

sự phát triển của xã hội và sự đổi mới tư duy, ngoài ba phát minh vạch thời đại - định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, thuyết tế bào, thuyết tiến hóa của Đácuyn còn có những đóng góp không nhỏ của một số lĩnh vực khoa học khác

Tất cả những thành tựu mới trong khoa học tự nhiên và kỹ thuật hiện nay và mai sau càng làm giàu thêm sức sống của thế giới quan duy vật biện chứng

Trang 7

Sự phát triển của tri thức khoa học tự nhiên ngay từ cuối thế kỷ XIX và đặc biệt là trong thế kỷ XX đem lại những cái mới mà những quan điểm của Ăngghen về các hình thức

cụ thể của vận động vật chất, tất nhiên đã lạc hậu Nhưng, việc tiếp cận biện chứng chung đến chỗ hiểu được các kết quả phát triển khoa học, đến việc giải thích giới tự nhiên vẫn còn giữ nguyên ý nghĩa của chúng trong thời đại ngày nay

Triết học không thể khái quát các quan niệm và kết luận triết học từ đâu khác ngoài các dữ liệu của khoa học và của đời sống thực tiễn

Triết học ra đời trên cơ sở của sự phát triền của đời sống vật chất - kinh tế của xã hội,

và trên cơ sở đó đã phát triền lên theo tính quy luật khách quan vốn có của nó Sự ra đời và phát triền của triết học lại liên hệ khăng khít với sự ra đời và phát triển của khoa học tự nhiên

Thiếu kiến thức khoa học và dữ liệu đời sống cập nhật, nhà triết học không thể có tư duy triết học hợp lý, đúng đắn; triết học trở nên xa rời thực tiễn

Trang 8

2 CHƯƠNG II VAI TRÒ THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA

TRIẾT HỌC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC 2.1 Thế giới quan

2.1.1 Khái niệm thế giới quan.

Thế giới quan là hệ thống những quan điểm, quan niệm của con người về thế giới và

về vị trí của con người trong thế giới đó, nhằm giải đáp những vấn đề về mục đích, ý nghĩa của cuộc sống.

Thế giới quan là một hệ thống gồm nhiều yếu tố, trong đó có bốn yếu tố cơ bản tồn tại trong sự thống nhất hữu cơ với nhau Đó là tri thức, niềm tin, lý trí và tình cảm

Thế giới quan gồm các cấp độ: thế giới quan thông thường và thế giới quan lý luận Thế giới quan thông thường hình thành trực tiếp, tự phát từ cuộc sống thường ngày;

có tính quần chúng rộng rãi; gắn với cộng đồng dân tộc, với đặc điểm của từng địa phương

và tôn giáo; biểu hiện qua ca dao, tục ngữ, thói quen, truyền thống, v.v

Thế giới quan lý luận mang tính tự giác; được luận chứng bằng lý luận; có tính hệ thống; có bộ phận chủ yếu là triết học

2.1.2 Các hình thái thế giới quan

Trong lịch sử xã hội, thế giới quan được thể hiện qua nhiều hình thái ý thức xã hội khác nhau, trong đó, các hình thức chủ yếu là thần thoại, tôn giáo và triết học

Thần thoại là hình thức thế giới quan đặc trưng cho trình độ nhận thức còn thấp của người nguyên thủy trong giai đoạn sơ khai của lịch sử loài người Nó là kết quả của sự cảm nhận còn rất ấu trĩ của người nguyên thủy về thế giới khánh quan và về bản thân mình.Trong đó, các yếu tố hiện thực và tưởng tượng, cái có thật và cái hoang đường, lý trí

và tín ngưỡng, tư duy và xúc cảm hòa quyện vào nhau mà chưa có sự tách biệt rõ ràng Thần thoại lưu tồn ở mọi dân tộc trên thế giới và mãi về sau vẫn tiếp tục tồn tại ở những cộng đồng dân cư có trình độ sản xuất và năng lực tư duy lý luận còn thấp kém

Tôn giáo là thế giới quan duy tâm, phản ánh hiện thực một cách hư ảo Tôn giáo ra đời trong điều kiện trình độ nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người người còn hết sức thấy kém, khi mà con người bất lực trước lực lượng tự nhiên cho nên đã gán cho nó một bản chất siêu tự nhiên, một thế mạnh siêu thế gian Đặc trưng chủ yếu của thế giới quan tôn giáo là niềm tin vào sự tồn tại của các đấng siêu tự nhiên được coi như là thần thánh mầu nhiệm, qua đó nhằm gửi gắm nguyện vọng giải thoát khỏi cảnh sống lầm than, đau khổ và vươn tới cuộc sống tốt đẹp hơn

Thế giới quan triết học chỉ xuất hiện khi sự phát triển của tư duy loài người đạt tới một trình độ nhất định, khi trong xã hội có sự phân chia giữa lao động trí óc và lao động chân tay Triết học không chỉ nêu lên các quan điểm mà còn giải thích, chứng minh cho các quan điểm đó Triết học phản ánh thế giới bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật

Ngoài các quan điểm triết học, thế giới quan còn thể hiện ở các quan điểm chính trị,

Trang 9

kinh tế, đạo đức, thẩm mĩ, v.v Tuy nhiên, các quan điểm này đều dựa trên cơ sở lý luận chung là triết học Các quan điểm triết học có vai trò liên kết các quan điểm chính trị, kinh

tế, đạo đức, thẩm mĩ và các hiểu biết khác của con người thành một hệ thống thống nhất

Như vậy, triết học đóng vai trò cơ sở lý luận, "hạt nhân" lý luận của thế giới quan Ngay từ khi mới ra đời, triết học đã là hệ thống những quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và về vị trí của con người trong thế giới.

2.2 Phương pháp luận

2.2.1 Khái niệm phương pháp

Xét về nguồn gốc, thuật "phương pháp" bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp "methodos", có nghĩa là con đường, công cụ nhận thức và hành động Theo nghĩa thông thường, phương pháp là cánh thức mà chủ thể sử dụng nhằm thực hiện mục đích vạch ra Theo nghĩa khoa học, phương pháp là hệ thống những nguyên tắc được ra từ tri thức về các quy luật khách quan để điều chỉnh hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện mục đích nhất định

Phương pháp có nhiều loại, nhiều cấp độ khác nhau Xét về loại hình hoạt động, phương pháp gồm có: phương pháp nhận thức và phương pháp hoạt động thực tiễn

Phương pháp nhận thức là sự tổng hợp những cách thức, những thao tác của tư duy nhằm nhận thức chân lý

Phương pháp thực tiễn là sự tổng hợp những biện pháp, những phương thức hoạt động thực tiễn cụ thể cảm tính của con người nhằm tác động vào thế giới khách quan

Cả hai loại phương pháp trên đây đều được quy định bởi bản chất khách quan của khách thể nhận thức và hoạt động thực tiễn

Theo mức độ phổ biến và phạm vi ứng dụng, phương pháp được chia thành phương pháp riêng, phương pháp chung và phương pháp phổ biến

Phương pháp riêng chỉ áp dụng cho từng bộ môn khoa học cụ thể (phương pháp vật

lý học, phương pháp toán học, phương pháp xã hội học, v.v ), phương pháp chung áp dụng cho nhiều ngành khoa học khác nhau (các phương pháp quan sát, thí nghiệm,

mô hình hóa…) và phương pháp phổ biến (phương pháp của triết học Mác - Lênin) được áp dụng cho mọi lĩnh vực khoa học và hoạt động thực tiễn

2.2.2 Khái niệm phương pháp luận

Phương pháp luận là một hệ thống những quan điểm lý luận, những nguyên tắc xuất phát có căn cứ khoa học và thực tiễn để chỉ đạo chủ thể trong việc lựa chọn phương pháp cũng như xác định phạm vi, khả năng ứng dụng phương pháp một cách hợp lí, đạt kết quả cao nhất.

Phương pháp luận có tính chất thuần túy về mặt lý luận, những vấn đề đặt ra trong đó nặng về tư duy lý tính; còn phương pháp lại bao hàm cả lý luận và thực tiễn, trong đó vừa

có tư duy lý tính vừa là kinh nghiệm cảm tính Mục đích của phương pháp luận không phải

để xác định từng phương pháp đơn lẻ, cụ thể mà chủ yếu là để soi rọi những nguyên tắc chung, có tính hợp lí trong việc xác định, áp dụng phương pháp

Trang 10

Phương pháp luận cũng được phân chia theo các cấp độ khác nhau: phương pháp luận

bộ môn, phương pháp luận khoa học chung và phương pháp luận chung nhất

Phương pháp luận bộ môn là phương pháp luận của các bộ môn khoa học cụ thể (toán, vật lí, sinh, lịch sử ), đó là những quan điểm, những nguyên tắc xuất phát để xác định các phương pháp nhằm giải quyết các nhiệm vụ khoa học thuộc phạm vi nghiên cứu của từng bộ môn

Phương pháp luận khoa học chung là những quan điểm, những nguyên tắc chung hơn phương pháp luận bộ môn, chỉ đạo phương pháp luận của một nhóm ngành khoa học nhất định Chẳng hạn, phương pháp luận chung của các ngành khoa học tự nhiên, phương pháp luận chung của các ngành khoa học xã hội - nhân văn, v.v

Phương pháp luận chung nhất là phương pháp luận triết học Nó khái quát những quan điểm, những nguyên tắc chung nhất làm căn cứ xuất phát cho việc xác định phương pháp luận chung, phương pháp luận bộ môn và các phương pháp hoạt động nhận thức, hoạt động thực tiễn

2.3 Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học đối với sự phát triển của khoa học

2.3.1 Triết học là cơ sở để giải thích và định hướng nhận thức và hoạt động của các

khoa học

Chúng ta đều biết rằng, khoa học càng phát triển và nhất là khi khoa học gặp phải những khó khăn (gặp phải những tình huống có vấn đề) thì dù muốn hay không người ta cũng không thể không tìm đến triết học Lịch sử đã cho thấy, những người sáng lập ra cơ học lượng tử, sáng lập ra những ngành vật lý khác nhau - họ đều là những nhà vật lý học lỗi lạc của thế kỷ 20 - bản thân họ đều là những người ủng hộ hoặc theo một trường phái triết học nào đó Thực tế là càng nghiên cứu về sau và khi họ có được những phát minh làm cơ

sở cho những lý thuyết mới thì quan điểm cũng thay đổi một cách căn bản khi cho rằng:

Khoa học tự nhiên không thể thiếu triết học được Theo Ăngghen thì: Các nhà khoa học tự nhiên không thể thiếu triết học Vấn đề ở chỗ họ muốn được dẫn dắt bởi một thứ triết học

đúng đắn hay một thứ triết học hợp thời trang

Như vậy là cùng với sự phát triển của khoa học (nhất là những tình huống có vấn đề), người ta lại càng phải quan tâm đấn triết học nhiều hơn Đặc biệt khoảng giữa thế kỷ 19 -khi khoa học chưa có những phát minh mang tính thời đại cũng có nghĩa là lúc đó khoa học

tự nhiên gặp khủng hoảng và người ta đã giải thích nó theo những cách khác nhau, cuối cùng là dẫn đến cách giải thích duy tâm về những thành tựu mới đó Đây chính là lúc triết học thể hiện sâu sắc vai trò định hướng của mình

Sang thế kỷ 20, khoa học đã bùng nổ trên các lĩnh vực, đặc biệt là sinh học Dường như tất cả các trường phái đều quan tâm và đều tìm cách giải thích có lợi cho triết học của mình, đặc biệt là tôn giáo Có thể nói, sự quan tâm đến khía cạnh phương pháp luận là do nhu cầu của thực tiễn, đòi hỏi phải giải quyết những vấn đề do cuộc sống đặt ra; do bản thân

Ngày đăng: 17/04/2021, 07:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w