Nội dung giáo dục SK cho VTN chủ yếu như sau: Kiến thức cơ bản tuổi vị thành niên, thanh niên những thay đổi về thể chất, sinh lý, tâm lý; giới và giới tính; tình bạn, tình yêu, giáo dục
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
ĐỖ LAN PHƯƠNG
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA SINH VIÊN HỌC VIỆN
Y DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM NĂM 2020 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Hà Nội – 2020
Trang 2BỘ MÔN Y TẾ CÔNG CỘNG
ĐỖ LAN PHƯƠNG
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA SINH VIÊN HỌC VIỆN
Y DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
NĂM 2020 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN SINH VIÊN VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN 3 1.1.1 Khái niệm vị thành niên, thanh niên và sinh viên 3
1.1.2 Khái niệm về sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục 4
1.1.3 Nội dung của chăm sóc sức khỏe sinh sản 6
1.2 GIÁO DỤC VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN VÀ THANH NIÊN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 8
1.2.1 Trên thế giới 8
1.2.2 Tại Việt Nam 9
1.3 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN VÀ THANH NIÊN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 11
1.3.1 Trên thế giới 11
1.3.2 Tại Việt Nam 12
1.4 CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH CỦA SINH VIÊN VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN 19
1.4.1 Yếu tối tuổi, giới tính, vùng địa lý nơi sinh viên sinh sống 19
1.4.2 Yếu tố gia đình 20
1.4.3 Yếu tố bạn bè và môi trường xã hội 20
1.5 GIỚI THIỆU VỀ HỌC VIỆN Y DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM 21
1.6 KHUNG LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 23
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 24
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 24
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 24
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 24
2.2.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu: 24
2.3 CÁC BIẾN SỐ VÀ CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU 26
Trang 42.3.3 Biến số, chỉ số cho mục tiêu 2 37
2.4 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP THÔNG TIN 39
2.4.1 Công cụ thu thập thông tin 39
2.4.2 Kỹ thuật thu thập số liệu 39
2.5 QUY TRÌNH THU THẬP THÔNG TIN 40
2.5.1 Quy trình thu thập thông tin 40
2.5.2 Sơ đồ nghiên cứu 41
2.6 SAI SỐ VÀ BIỆN PHÁP KHỐNG CHẾ SAI SỐ 42
2.6.1 Sai số 42
2.6.2 Biện pháp không chế sai số 42
2.7 XỬ LÝ VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 42
2.8 ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU 42
2.9 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 43
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44
3.1 THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 44
3.2 KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN 47
3.2.1 Kiến thức đúng của đối tượng nghiên cứu về sức khỏe sinh sản 47
3.2.2 Thái độ của đối tượng nghiên cứu về sức khỏe sinh sản 56
3.2.3 Thực hành của đối tượng nghiên cứu về sức khỏe sinh sản 60
3.3 MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA ĐỘI TƯỢNG THAM GIA NGHIÊN CỨU 67
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 74
4.1 THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA SINH VIÊN HỌC VIỆN Y DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM 74
4.1.1 Về kiến thức 74
4.1.2 Về thái độ 78
4.1.3 Về thực hành 80
4.1.4 Đánh giá chung kiến thức, thái độ và thực hành của sinh viên về sức khỏe sinh sản 83 4.2 MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ
Trang 54.2.4 Các yếu tố liên quan đến việc QHTD trước hôn nhân của sinh viên 88
KẾT LUẬN 90 KHUYẾN NGHỊ 92 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình của riêng tôi, do chính tôi
thực hiện, tất cả các số liệu trong luận văn này trung thực, khách quan và chưa
từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nếu có gì sai trái, tôi xin
hoàn toàn chịu trách nhiệm
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Đỗ Lan Phương
Trang 7
Sau hai năm học tập, được sự giúp đỡ chân thành của cơ quan, nhà trường, các Thầy, Cô, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình, tôi đã hoàn thành nhiệm
vụ học tập và luận văn tốt nghiệp của mình Để có kết quả này, trước tiên cho phép tôi gửi lời cảm ơn chân thành tới Đảng ủy, Ban giám đốc Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam, bộ môn Vi sinh - Ký sinh trùng đã tạo điều kiện
và cho phép tôi được tham gia khóa học này
Tôi xin chân thành cảm ơn Đảng ủy, Ban giám hiệu trường Đại học Thăng Long, Phòng sau Đại học và Quản lý Khoa học, Bộ môn Y tế Công cộng – Trường Đại học Thăng Long đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Bạch Ngọc, người đã truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức trong quá trình học tập, giúp đỡ, động viên, hướng dẫn tận tình và quan tâm tôi trong
để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới người thân trong gia đình cùng bạn
bè thân thiết, những người luôn dành cho tôi sự động viên, yêu thương, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Hà Nội, tháng 9 năm 2020
HỌC VIÊN
Đỗ Lan Phương
Trang 8Bảng 3.1: Phân bố của đối tượng nghiên cứu theo dân tộc, giới tính và theo cấp học 44
Bảng 3.2: Phân bố của đối tượng nghiên cứu theo ngành học và cấp học 44
Bảng 3.3: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo cấp học và giới tính 45
Bảng 3.4: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo ngành học và giới tính 45
Bảng 3.5: phân bố đối tượng nghiên cứu về nơi cư trú, nơi ở hiện tại và đối tượng sống cùng theo năm học 46
Bảng 3.6: Kiến thức đúng của sinh viên về dấu hiệu dậy thì 47
Bảng 3.7: Kiến thúc đúng về nguyên nhân có thai của đối tượng nghiên cứu 48
Bảng 3.8: Kiến thức đúng của đối tượng nghiên cứu về thời điểm dễ có thai 49
Bảng 3.9: Kiến thức đúng của đối tượng nghiên cứu về các biện pháp tránh thai 50
Bảng 3.10: Kiến thức đúng của đối tượng nghiên cứu về các bệnh lây truyền qua đường tình dục 51
Bảng 3.11: Kiến thức đúng của đối tượng nghiên cứu về tác hại của nạo phá thai 52
Bảng 3.12: Kiến thức đúng của đối tượng nghiên cứu về tình dục an toàn, lành mạnh 53 Bảng 3.13: Kiến thức đúng của đối tượng nghiên cứu về nơi cung cấp phương tiện tránh thai 54
Bảng 3.14: Kiến thức đúng về các nguồn cung cấp thông tin về sức khỏe sinh sản cho sinh viên 55
Bảng 3.15: Tỷ lệ thái độ của đối tượng nghiên cứu khi bàn về vấn đề sức khỏe sinh sản 56
Bảng 3.16: Mức độ chấp nhận của đối tượng nghiên cứu về việc quan hệ tình dục trước hôn nhân 57
Bảng 3.17: Thái độ của đối tượng nghiên cứu về quan điểm quan hệ tình dục trước hôn nhân 57
Bảng 3.18: Đối tượng nghiên cứu chia sẻ về các vấn đề sức khỏe sinh sản với bố mẹ 59 Bảng 3.19:Thực hành của đối tượng nghiên cứu trong quan hệ tình dục 61
Trang 9Bảng 3.21: Lựa chọn biện pháp tránh thai của đối tượng nghiên cứu khi quan hệ tình
dục 62
Bảng 3.22: Mức độ sử dụng các biện pháp tránh thai trong quan hệ tình dục của đối tượng nghiên cứu 63
Bảng 3.23: Lý do đối tượng nghiên cứu không sử dụng biện pháp tránh thai 63
Bảng 3.24: Thực hành của nữ khi có thai 64
Bảng 3.25: Thực hành của nam khi bạn gái có thai 64
Bảng 3.26: Thực hành các hành vi không an toàn của đối tượng nghiên cứu 65
Bảng 3.27: Tỷ lệ tham gia các buổi sinh hoạt, nói chuyện truyền thông về sức khỏe sinh sản của đối tượng nghiên cứu 65
Bảng 3.28: Lý do không tham gia của đối tượng nghiên cứu tại các buổi sinh họat, nói chuyện truyền thông về sức khỏe sinh sản 66
Bảng 3.29 Mối liên quan giữa cấp học với kiến thức sức khỏe sinh sản 67
Bảng 3.30: Mối liên quan giữa ngành học với kiến thức sức khỏe sinh sản 67
Bảng 3.31 Mối liên quan giữa các nguồn cung cấp thông tin sức khỏe sinh sản với kiến thức về sức khỏe sinh sản 68
Bảng 3.32 Mối liên quan giữa giới tính với thực hành sức khỏe sinh sản ……….68
Bảng 3.33 Mối liên quan giữa ngành học với thực hành sức khỏe sinh sản 69
Bảng 3.34 Mối liên quan giữa giới tính với thái độ sức khỏe sinh sản 69
Bảng 3.35 Mối liên quan giữa tham gia các buổi sinh hoạt, nói chuyện truyền 69
thông với thái độ sức khỏe sinh sản 69
Bảng 3.36 Mối liên quan giữa giới tính với quan hệ tình dục trước hôn nhân 70
Bảng 3.37 Mối liên quan giữa cấp học với quan hệ tình dục trước hôn nhân 70
Bảng 3.38 Mối liên quan giữa kiến thức với thái độ về sức khỏe sinh sản 70
Bảng 3.39 Mối liên quan giữa thái độ và thực hành về sức khỏe sinh sản 71
Bảng 3.40 Mối liên quan giữa tham gia các buổi sinh hoạt, nói chuyện truyền 71
thông với thực hành sức khỏe sinh sản 71
Bảng 3.41: Mối liên quan giữa kiến thức với vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân 71
Trang 10bố mẹ 72Bảng 3.43 Mối liên quan giữa hoàn cảnh gia đình với quan hệ tình dục trước hôn nhân 72Bảng 3.44 Mối liên quan giữa hành vi không an toàn với thực hành quan hệ tình dục trước hôn nhân 72Bảng 3.45 Mối liên quan giữa hành vi xem phim, tranh ảnh nhạy cảm với quan hệ tình dục trước hôn nhân 73
Trang 11Biểu đồ 3.1: Phân loại kiến thức của đối tƣợng nghiên cứu về sức khỏe sinh sản 56Biểu đồ 3.2: Phân loại thái độ của đối tƣợng nghiên cứu về sức khỏe sinh sản 60Biểu đồ 3.3: Phân loại thực hành của đối tƣợng nghiên cứu về sức khỏe sinh sản 66
Trang 12AIDS Acquired immunodeficiency syndrome
ICPD Hội nghị Quốc tế về Dân số - Phát triển
LTQĐTD Lây truyền qua đường tình dục
UNFPA United Nations Fund for Population Activities
(Quỹ dân số liên hợp quốc)
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) được tổ chức vào năm
1994 tại Cairo với sự tham gia của 179 quốc gia Tại hội nghị này, Chính phủ của 179 quốc gia tham gia đã đạt được sự đồng thuận, đồng thời cũng kêu gọi đưa vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản và các quyền sinh sản cho phụ nữ vào vị trí trung tâm trong các hoạt động phát triển quốc gia và phát triển toàn cầu, trong
đó đã nhấn mạnh đến việc chăm sóc sức khỏe sinh sản cho vị thành niên và thanh niên [5] Thực hiện chương trình của hội nghị ICPD, chương trình dân số Việt Nam đã mở rộng nội dung và hướng trọng tâm vào chăm sóc sức khỏe sinh sản, đặc biệt là chăm sóc sức khỏe vị thành niên và thanh niên
Việt Nam hiện có hơn 64 triệu người đang trong độ tuổi lao động, chiếm trên 68% dân số, trong đó vị thành niên, thanh niên Việt Nam (nhóm dân số từ 10-24 tuổi, theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới) chiếm khoảng trên 22% dân số Những năm qua, vị thành niên thanh niên Việt Nam đã có những bước phát triển khá toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần; đã và đang đóng góp tích cực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khoảng trống trong chăm sóc sức khỏe sinh sản tình dục cho lứa tuổi này Với lối sống hiện nay, đang tăng nhanh số thanh niên quan hệ tình dục trước hôn nhân, tình trạng nạo phá thai… tỷ lệ quan hệ tình dục trong học sinh và sinh viên cũng có xu hướng tăng cao Những vấn đề này đe dọa trực tiếp đến sức khỏe sinh sản của thanh niên [24] Cuộc điều tra với quy mô lớn đã được thực hiện tại các tỉnh thành của đất nước về vị thành niên, thanh niên với tên gọi
“Điều tra quốc gia về vị thành niên thanh niên Việt Nam” từ năm 2003 đến 2010
đã cho thấy Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất trên thế giới, trong đó 20% là lứa tuổi vị thành niên, trên cả nước có 5% bé gái sinh con trước 18 tuổi, 15% sinh con trước 20 tuổi [18]
Theo Tổng Cục Dân số, tình trạng quan hệ tình dục sớm, quan hệ tình dục không an toàn, mang thai ngoài ý muốn và phá thai không an toàn, nguy cơ lây nhiễm bệnh qua đường tình dục, nhiễm HIV ở vị thành niên thanh niên vẫn có
Trang 14xu hướng gia tăng, nhất là khu vực nông thôn, vùng sâu các khu công nghiệp tập trung… Đặc biệt, kiến thức, kỹ năng cơ bản về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe sinh sản của thanh niên còn nhiều hạn chế; Bên cạnh tỷ lệ nạo phá thai cao, gần đây liên tiếp xảy ra tình trạng bỏ trẻ sơ sinh tại nhiều phương, gây nên những cái chết thương tâm đối với các sinh linh nhỏ bé Những mẹ bỏ con mới sinh có độ tuổi thanh niên Điều này cho thấy tình trạng này là đáng báo động và còn có những lỗ hổng về kiến thức, thái độ và thực hành về sức khoẻ sinh sản của thanh niên
Học viện Y Dược học Cổ truyền Việt Nam là trường đại học y học cổ truyền đầu tiên ở Việt Nam, thành lập năm 2005 Với 15 năm hình thành và phát triển, học viện đã có những bước tiến vượt bậc Học viện hiện nay đang đào tạo nhiều ngành như Bác sỹ Y học cổ truyền, bác sỹ Đa khoa, dược sỹ đại học, hàng năm với gần 1000 sinh viên tốt nghiệp hàng năm Họ là sinh viên đến từ nhiều vùng miền trong cả nước, là những cán bộ ngành y trong tương lai, liệu những kiến thức, thái độ và thực hành của họ về sức khoẻ sinh sản đã đủ làm hành
trang cho họ vào đời? Chính vì vậy, đề tài “Kiến thức, thái độ thực hành về
sức khỏe sinh sản của sinh viên Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam năm 2020 và một số yếu tố liên quan” được thực hiện với mục tiêu cụ thể như
sau:
1 Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành về sức khỏe sinh sản của sinh viên Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam năm 2020
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành
về sức khỏe sinh sản của đối tượng nghiên cứu
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN SINH VIÊN VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN
1.1.1 Khái niệm vị thành niên, thanh niên và sinh viên
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) quy định lứa tuổi 10 -19 tuổi là độ tuổi vị thành niên Thanh niên trẻ là lứa tuổi từ 19 – 24 tuổi Chương trình Sức khỏe sinh sản/ Sức khỏe tình dục vị thành niên – thanh niên của khối liên Minh Châu Âu (EU)và quỹ dấn số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) lấy độ tuổi từ 15 – 24 tuổi Theo Từ điển Giáo dục học của nhà xuất bản Từ điển Bách khoa: “Sinh viên là người học của một cở sở giáo dục cao đẳng, đại học” [17] Theo cách hiểu này, có thể phân loại sinh viên theo nhiều phạm trù khác nhau Ví dụ sinh viên tập trung, sinh viên chính quy, sinh viên không tập trung, sinh viên tại chức, sinh viên tự do
Về độ tuổi, theo Điều 1, chương I, Luật thanh niên 2005, thanh niên trong
đó có cả thanh niên sinh viên là “công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi” [27]
Quan điểm cho rằng tuổi thanh niên sinh viên thuộc giai đoạn tuổi thanh niên là phù hợp xét theo nhiều mặt Theo cách hiểu đó, tuổi thanh niên là “giai đoạn phát triển bắt đầu từ sự phát dục và kết thúc vào lúc bước vào tuổi trưởng thành” Tuy nhiên việc phát dục hay trưởng thành về mặt sinh dục của mỗi trẻ
em là hoàn toàn khác nhau Trên thực tế, người ta thường đưa ra các chuẩn về mặt sinh lý, về mặt xã hội để xác định lứa tuổi thanh niên
Cũng có quan niệm cho rằng nội dung tuổi thanh niên là những giai đoạn của cuộc đời Quan niệm này có phần chặt chẽ, khoa học hơn khi cho rằng tuổi thanh niên là giai đoạn chuyển tiếp, quá độ từ trẻ em đến người lớn và bao gồm lứa tuổi từ 11-12 đến 23-25 tuổi và trong đó đặc biệt lưu ý đến 2 thời kỳ cơ bản sau:
Trang 16+ Tuổi thanh niên mới lớn (từ 14-15 đến 18 tuổi): Đặc trưng là sự trưởng thành về mặt cơ thể, sự chín muồi sinh vật, là giai đoạn hoàn thiện quá trình xã hội hóa đầu tiên Tuổi thanh niên mới lớn cũng thuộc “thời kỳ chuyển tiếp trước”
+ Thời kỳ thứ ba của lứa tuổi chuyển tiếp (từ 18 đến 23-25 tuổi): là tuổi thanh niên muộn hay thời kỳ bắt đầu của tuổi người lớn còn gọi là “thời kỳ chuyển tiếp sau” Lứa tuổi này “lớn” về cả hai phương diện sinh học và quan hệ
xã hội
Theo Nguyễn Thạc và Phạm Thành Nghị (1992) “SV đại học, cao đẳng
là những thanh niên thuộc thời kỳ chuyển tiếp sau” [32] Việc cho rằng thanh niên nằm trong thời kỳ chuyển tiếp và SV đại học, cao đẳng thuộc thời kỳ chuyển tiếp sau cũng phù hợp với quan niệm của nhà tâm lý học người Mỹ Niky Hayes (2005) [36] khi cho rằng “thời thanh niên như một thời kỳ chuyển tiếp vai trò ngày càng tăng, đến lượt dẫn đến sự thay đổi nhân cách” Theo đó việc chuyển tiếp có thể diễn ra từ trường học đến nơi làm việc hay thực hành kinh nghiệm đòi hỏi thanh niên nói chung và thanh niên sinh viên nói riêng phải tập quen nhiều hành vi vai trò khác biệt nhau nhằm mục đích hướng tới việc hoàn thiện bản thân
Sự phát triển của thanh thiếu niên luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu
ở Việt Nam Vì thanh thiếu niên đặc biệt là thanh niên sinh viên có tiềm năng to lớn quyết định sự lớn mạnh và thịnh vượng của đất nước nên việc việc nắm được những vấn đề cốt lõi trong sự phát triển của họ là hết sức quan trọng [5]
1.1.2 Khái niệm về sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục
Vấn đề sức khỏe sinh sản (SKSS) là vấn đề khá mới mẻ, lý thú, nhạy cảm Vấn đề này đã thực sự thu hút sự quan tâm của nhiều nước trên thế giới Chính
vì vậy, từ việc nhận thức được tầm quan trọng của công tác giáo dục dân số cho thế hệ trẻ, và kể từ sau Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển tổ chức tại Cairo, Ai Cập năm 1994 (ICPD), chương trình dân số chuyển hướng sang quan tâm nhiều hơn đến chất lượng dân số, trong đó trọng tâm là nội dung chăm sóc
Trang 17SKSS Hầu hết các nghiên cứu về SKSS ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam thường hướng về đối tượng thanh, thiếu niên và nhất là vị thành niên và thường
là học sinh ở các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông [5]
Có thể nói, việc nghiên cứu SKSS nói chung và nghiên cứu SKSS vị thành niên nói riêng đã được tiến hành rất sớm trên thế giới, nhất là ở các quốc gia phát triển nhưng thường được gọi với những tên gọi khác nhau như sức khỏe
vị thành niên hay giới tính, tình dục thanh thiếu niên Kể từ sau Hội nghị quốc tế
về Dân số và Phát triển tổ chức tại Cairo, Ai Cập năm 1994 (ICPD) khi đã có định nghĩa chính thức về SKSS thì việc nghiên cứu SKSS nhất là cho đối tượng thanh thiếu niên đang là “mối quan tâm của không những các nhà khoa học, các nhà giáo dục, các nhà quản lý xã hội mà cả các bậc cha mẹ được đẩy lên một trình độ mới” [23] Tại Hội nghị ICPD Sức khỏe sinh sản được định nghĩa như
sau: “Sức khỏe sinh sản là trạng thái khỏe mạnh, hoàn toàn thoải mái về thể
chất, tinh thần và xã hội trong tất cả mọi khía cạnh liên quan đến hệ thống sinh sản, chức năng sinh sản và quá trình sinh sản chứ không phải chỉ là không có bệnh tật hay tổn thương ở bộ máy sinh sản” [5]
Khái niệm SKSS trên hàm ý là con người có thể có một cuộc sống tình dục an toàn và thỏa mãn, có khả năng sinh sản, được tự do quyết định khi nào và thường xuyên như thế nào trong việc này Định nghĩa trên cũng khẳng định viêc chăm sóc SKSS là một tổng thể các biện pháp kỹ thuật và dịch vụ góp phần nâng cao sức khỏe và hạnh phúc bằng cách phòng ngừa và giải quyết các vấn đề sức khỏe sinh sản Nó cũng bao gồm cả sức khỏe tình dục với mục đích là nâng cao chất lượng cuộc sống và các mối quan hệ riêng tư, chứ không phải chỉ là việc tư vấn và chăm sóc liên quan đến sinh sản và các bệnh lây truyền qua đường tình dục [5]
Khi nói đến SKSS người ta thường đề cập đến khái niệm Sức khỏe tình dục (SKTD) vì chúng có liên quan mật thiết với nhau và SKTD được xem là một nội dung SKSS Theo Tổ chức Y tế thế giới, sức khỏe tình dục được phát biểu như sau: “ SKTD là tổng hợp các khía cạnh thể chất, tình cảm, tri thức và
Trang 18xã hội của con người có tình dục, sao cho cuôc sống của con người phong phú, tốt đẹp hơn về nhân cách, giao tiếp và tình yêu [38] Thực hành tình dục của con người trước đây thường chịu sự nhìn nhận, đánh giá khắt khe và biến đổi theo thời gian, theo sự phát triển xã hội Nhưng hiện nay, SKTD đã ra đời những quan niệm cởi mở hơn, tiến bộ hơn do việc chúng ta ngày càng hiểu rõ bản chất sinh học, ảnh hưởng tâm lý, giá trị nhân văn và tác động xã hội của nó
Giáo dục sức khỏe Vị thành niên (VTN) là một nội dung quan trọng đã được chính phủ chỉ đạo, đặc biệt phải tiếp tục tập trung xây dựng môi trường xã hội lành mạnh cho thanh niên, nâng cao thể chấtvà tinh thần, kĩ năng sống, kiến thức về giới và sức khỏe sinh sản cho thanh niên Nội dung giáo dục SK cho VTN chủ yếu như sau: Kiến thức cơ bản tuổi vị thành niên, thanh niên (những thay đổi về thể chất, sinh lý, tâm lý); giới và giới tính; tình bạn, tình yêu, giáo dục về tình dục, tình dục an toàn; kiến thức phòng tránh các nguy cơ có thai ngoài ý muốn, giảm các bệnh viêm nhiễm đường sinh sản, phòng tránh các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, phòng tránh xâm hại tình dục…
Các nguy cơ trên có liên quan đến vấn đề tình dục Giáo dục tình dục là một trong những vấn đề nhạy cảm, tuy nhiên lại hết sức cần thiết Tình dục là một hành vi tự nhiên và lành mạnh của cuộc sống, là nhu cầu cần thiết cho sự tồn tại của giống nòi Tuy nhiên cần giáo dục cho mọi người biết cách thực hành tình dục an toàn và có trách nhiệm trong đó vai trò của nam nữ ngang nhau
Tóm lại SKSS bao gồm nhiều khía cạnh, trong đó có khía cạnh liên quan đến SKTD Hệ thống sinh sản, chức năng sinh sản và quá trình sinh sản của con người được hình thành, phát triển và tồn tại trong suốt cuộc đời SKSS có tầm quan trọng đặc biệt với cả nam giới và nữ giới Quá trình sinh sản và tình dục là một quá trình tương tác giữa hai cá thể, bao hàm sự tự nguyện, tinh thần trách nhiệm và sự bình đẳng
1.1.3 Nội dung của chăm sóc sức khỏe sinh sản
Chăm sóc SKSS là sự phối hợp các biện pháp kỹ thuật, dịch vụ nhằm nâng cao chất lượng SKSS, làm cho sự hoạt động và chức năng của bộ máy sinh
Trang 19sản được tốt hơn, khỏe mạnh hơn (bao hàm cả SKTD) chứ không chỉ là việc tư vấn và chăm sóc liên quan đến sinh sản và các bệnh LTQĐTD, mục đích là làm cho cuộc sống có chất lượng và hạnh phúc hơn Mỗi khu vực, mỗi quốc gia lại
có những vấn đề ưu tiên của riêng mình, nên các nước và các tổ chức tham gia vào việc thực hiện chương trình SKSS đã cụ thể hóa 10 nội dung như sau :
+ Giáo dục truyền thông vì SKSS-KHHGĐ [30]
Theo Chuẩn quốc gia về Chăm sóc SKSS, Bộ Y tế đưa ra nội dung chủ yếu của SKSS ở Việt Nam gồm các vấn đề sau:
+ Chăm sóc phụ nữ khi mang thai
+ Chăm sóc bà mẹ và trẻ trong khi sinh và sau khi sinh
+ Kế hoạch hóa gia đình và các biện pháp tránh thai
+ Nạo hút thai an toàn và giảm tác hại của việc nạo hút thai
+ Phòng tránh các bệnh viêm nhiễm đường sinh sản
đề giới và giới tính, tình bạn, tình yêu, hôn nhân, tình dục an toàn, mang thai,
nạo phá thai, biện pháp tránh thai, bệnh LTQĐTD và HIV/AIDS
Trang 20Như vậy, với những nội dung trên, khái niệm SKSS trước hết là một khái niệm rộng không chỉ giới hạn ở sức khỏe người mẹ mà là sức khỏe người phụ
nữ nói chung, nhưng cũng quan tâm đến những vấn đề liên quan đến quá trình sinh sản của nam nữ và nhấn mạnh nhiều đến việc tự quyết định của phụ nữ với sinh đẻ, chú trọng vào việc bảo vệ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho cả nam và nữ trong phòng tránh các bệnh viêm nhiễm đường sinh sản, bệnh LTQĐTD,
HIV/AIDS và chăm sóc sức khỏe vị thành niên
1.2 GIÁO DỤC VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN VÀ THANH NIÊN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.2.1 Trên thế giới
Sự phát triển kinh tế và văn hóa xã hội của các nước trên thế giới là rất khác nhau nên tình hình CSSKSS cũng khác nhau nhưng đều có một đặc điểm chung là các nước đều rất quan tâm và tập trung CSSKSS cho lứa tuổi thanh thiếu niên sinh viên Ở nhiều nước phát triển trên thế giới như Nhật Bản, Bắc
Mỹ và Châu Âu…nơi có tỉ lệ sinh thấp trong nhiều năm nay, họ đã chủ động được việc sinh con khi nào và sinh mấy con, họ chỉ mất 5 đến 6 năm cho việc sinh đẻ và nuôi con nhỏ, phần còn lại học quan tâm nhiều đến việc chăm sóc sức
khỏe mà đặc biệt là “Sức khỏe tình dục” [34]
Hoạt động tình dục sớm dẫn đến mang thai ngoài ý muốn ngày càng tăng trên toàn thế giới, trong khi đó kiến thức về thời điểm có thai của thanh niên sinh viên rất thấp [47] Do tác động của nhiều yếu tố như sự phát triển kinh tế và
đô thị hóa ngày càng mạnh mẽ, sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, phim ảnh, phương tiện thông tin, mạng xã hội, dậy thì sớm…và trào lưu xã hội làm cho tỷ lệ có hoạt động tình dục sớm ngày càng tăng Vấn đề cần quan tâm cùng với việc QHTD sớm là sự thiếu kiến thức của các em về các bệnh LTQĐTD và các biện pháp tránh thai
Hiện nay thực trạng công tác chăm sóc SKSS trên thế giới còn gặp rất nhiều thách thức như: vấn đề về thai nghén, sinh đẻ, trẻ sơ sinh, các vấn đề về kế hoạch hóa gia đình…Trong những vấn đề trên đối với vị thành niên và thanh
Trang 21niên giáo dục về sức khỏe sinh sản hiện nay cần được quan tâm nhiều nhất là vấn đề về quan hệ tình dục không an toàn nên dẫn tới việc mang thai ngoài ý muốn và mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục trong đó bao gồm cả HIV/AIDS…
Thanh thiếu niên thường không biết cơ thể họ thực hiện chức năng sinh dục và sinh sản như thế nào Thanh thiếu niên chưa có gia đình thường không biết, hoặc không tiếp cận được những dịch vụ kế hoạch hóa gia đình và như vậy nguy cơ mang thai ngoài ý muốn hoặc mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục,
kể cả lây nhiễm HIV/AIDS Đồng thời thông tin về tình dục, sức khỏe sinh sản
vị thành niên và thanh niên hầu như không có và việc thảo luận về tình dục thường bị cấm kỵ Nhiều người lớn còn nghĩ rằng việc đưa giáo dục SKSS cho thanh thiếu niên vào chương trình học sẽ khiến lớp trẻ có quan hệ tình dục sớm hơn và nhiều hơn Tuy nhiên hàng loạt nghiên cứu cũng cho thấy, thông qua việc nghiên cứu và giáo dục SKSS hay giáo dục sức khỏe tình dục sẽ làm cho
“thanh thiếu niên đã có quan hệ tình dục chấp nhận thực hiện những hành vi tình dục an toàn hơn, cũng như lớp trẻ đã bắt đầu quan hệ tình dục muộn hơn hoặc giảm bớt hoạt động tình dục nói chung” [3]
Việc sử dụng các biện pháp tránh thai đã và đang tăng ổn định ở các nước trên thế giới, tuy nhiên cũng theo một số các nghiên cứu việc sử dụng các BPTT cũng chưa được đáp ứng nhu cầu ở tuổi vị thành niên, thanh niên Việc tiếp cận những BPTT hiện đại còn nhiều hạn chế Khoảng 80 triệu phụ nữ mang thai ngoài ý muốn trong đó có cả những trường hợp có thai do không thành công trong sử dụng BPTT [24]
1.2.2 Tại Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia có khung cảnh văn hóa xã hội đa dạng, khác nhau giữa các vùng miền [10] Hiện nay đất nước ta đang bước vào thời kỳ đổi mới–công nghiệp hóa,hiện đại hóa [22] Quá trình này đã mang lại cho xã hội Việt Nam những tác động và thay đổi không chỉ trên lĩnh vực kinh tế
mà còn cả trên lĩnh vực văn hóa - xã hội, dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ trong
Trang 22quan niệm về tình yêu, tình dục, hôn nhân, gia đình của nhiều tầng lớp, đặc biệt là giới trẻ - những người có xu hướng hội nhập nhanh chóng nhất [20] Sự phát triển của xã hội cũng đồng thời tạo ra những thách thức, đặc biệt trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản Thanh niên vị thành niên được coi là đối tượng
dễ bị tổn thương nhất trong xã hội đã trở thành nhóm mục tiêu của các hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông về SKSS ở Việt Nam Thanh niên Việt Nam ngày nay đã có sự thay đổi về tập quán và văn hóa, như lập gia đình ở độ tuổi muộn hơn và gia tăng quan hệ tình dục trước hôn nhân…
Theo quỹ dân số liên hợp quốc (UNFPA) đã nêu ra các vấn đề chủ yếu trong lĩnh vực sức khỏe sinh sản ở Việt Nam như việc sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại còn nhiều hạn chế, người dân chủ yếu sử dụng vòng tránh thai và các biện pháp tránh thai tự nhiên, trong đó tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại chỉ đạt 52,6% Không phải tất cả người dân Việt Nam đều dễ dàng tiếp cận các thông tin và dịch vụ về sức khỏe sinh sản Vị thành niên, thanh niên chưa lập gia đình, và những người dân sống ở vùng sâu, vùng xa, đặc biệt đối mặt với những khó khăn trong việc tìm kiếm và tiếp cận các thông tin và dịch vụ sức khỏe sinh sản có chất lượng Tỷ lệ phụ nữ ở độ tuổi sinh sản mắc các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản và nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục cao [24]
Theo Tổng Cục Dân số, tình trạng quan hệ tình dục sớm, quan hệ tình dục không an toàn, mang thai ngoài ý muốn và phá thai không an toàn, nguy cơ lây nhiễm bệnh lây truyền qua đường tình dục, nhiễm HIV ở vị thành niên, thanh niên vẫn có xu hướng gia tăng, nhất là khu vực nông thôn, vùng sâu các khu công nghiệp tập trung… Đặc biệt, kiến thức, kỹ năng cơ bản về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục của vị thành niên, thanh niên còn nhiều hạn chế; giáo dục về sức khỏe sinh sản,sức khỏe tình dục chưa tiếp cận được ở diện rộng; việc cung cấp thông tin, dịch vụ thân thiện về sức khỏe sinh sản/sức khỏe tình dục chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của vị thành niên, thanh niên [33]
Những năm qua, vị thành niên, thanh niên Việt Nam đã có những bước phát triển khá toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần; đã và đang đóng góp tích
Trang 23cực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khoảng trống trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, tình dục cho lứa tuổi này Hiện nay một số mô hình đã và đang được triển khai nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng và dịch vụ về dân số - sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục cho vị thành niên, thanh niên như mô hình “Tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân”, mô hình “Cung cấp dịch vụ sức khỏe thân thiện với vị thành niên, thanh niên”[34]
Bộ Y tế cũng đã ban hành quyết định số 906/QĐ-BYT ngày 15-3-2017 phê duyệt Đề án Tăng cường tư vấn và cung cấp dịch vụ Dân số - Kế hoạch hóa gia đình cho vị thành niên, thanh niên giai đoạn 2016-2020; đồng thời phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã triển khai nhiều chương trình giáo dục dân số, sức khỏe sinh sản, giới và bình đẳng giới trong nhà trường, các khu công nghiệp, khu chế xuất Bên cạnh đó gia đình và xã hội cần tạo mọi điều kiện để vị thành niên, thanh niên tích cực học tập, lao động, chủ động tham gia các hoạt động tư vấn, chăm sóc sức khỏe nói chung, sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục lành mạnh nói riêng; bảo đảm để vị thành niên, thanh niên được quan tâm chăm lo toàn diện và thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình
1.3 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN VÀ THANH NIÊN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.3.1 Trên thế giới
Các nghiên cứu SKSS trong đối tượng thanh thiếu niên ở nước ngoài thường tập trung nghiên cứu về những vấn đề cụ thể, nhạy cảm của SKSS như vấn đề nạo phá thai, sinh đẻ sớm, vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân, các bệnh LTQĐTD đã cho chúng ta thấy “những con số biết nói” thật bất ngờ Theo
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) hàng năm có khoảng 20 triệu ca nạo phá thai không an toàn Ở Châu Phi thai nghén ngoài dự định dao động từ 50% - 90% trong số vị thành niên chưa chồng và 25% - 40% trong số vị thành niên có chồng [23] Một nghiên cứu tại Bangladesh cho thấy 80% nữ dưới 19 tuổi được
hỏi từng có QHTD trước hôn nhân [47]
Trang 24Hàng năm có khoảng 340 triệu người mắc bệnh LTQĐTD gồm cả HIV/AIDS, nhưng hầu hết trong số đó là có thể điều trị được, tuy nhiên nhiều trường hợp không được điều trị do không được chẩn đoán Hàng năm có khoảng
100 triệu trường hợp mắc bệnh LTQĐTD ở lứa tuổi 15 – 24 tuổi Ước tính khoảng 50% các trường hợp nhiễm HIV mới xuất hiện ở người trẻ Nhiễm trùng đường sinh dục có thể dẫn tới hậu quả đáng tiếc như vô sinh, khoảng 60 –
80 triệu cặp vợ chồng vô sinh trên thế giới, nguyên nhân thường do tác ống dẫn
trứng sau viêm nhiễm tình dục không được điều trị tích cực [38]
Hàng năm có khoảng 19 triệu trường hợp phá thai không an toàn, trong đó
có khoảng 40% ở độ tuổi từ 15 – 24 Việc phá thai không an toàn để lại nhiều hậu quả nghiệm trọng như nhiễm trùng đường sinh sản, thủng tử cung, vô sinh thậm chí tử vong, ước tính khoảng 68.000 phụ nữ tử vong một năm khi nạo phá thai không an toàn [39]
Theo các nghiên cứu ở nhiều nơi trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương, đã chỉ ra thực trạng nhận thức về SKSS ớ lứa tuổi thanh thiếu niên là:
“nhận thức của lớp trẻ trong khu vực dù đã kết hôn hay chưa về các vấn đề SKSS bao gồm tình dục, chức năng sinh sản, các biện pháp tránh thai, quan hệ tình dục an toàn còn nhiều hạn chế” [3]
1.3.2 Tại Việt Nam
Đáp ứng chương trình hành động quốc tế và thực hiện chiến lược quốc gia
về dân số và chăm sóc SKSS, ở Việt Nam từ những năm 80 của thế kỷ XX, hoạt động giáo dục dân số cũng đã chuyển hướng sang giáo dục SKSS nói chung và SKSS cho vị thành niên nói riêng Theo đó đã có hàng loạt các cuộc nghiên cứu
về SKSS đã được thực hiện Đặc biệt hướng nghiên cứu về nhận thức, thái độ, hành vi về SKSS ở nhóm dân số trẻ từ 15 tuổi đến 24 tuổi cũng mới thực sự được quan tâm và phát triển trong những năm gần đây cùng với quá trình hội nhập và đổi mới Mặc dù còn khá mới mẻ nhưng chúng ta đã sớm nhận ra vị trí quan trọng của giai đoạn 10 -19 tuổi (trong đó có đối tượng SV) trong quá trình phát triển của cuộc đời mỗi con người Cùng với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà
Trang 25nước, sự vào cuộc của các nhà khoa học, sự hỗ trợ về mặt tài chính và khoa học của các tổ chức quốc tế, đã có hàng chục công trình và đề tài nghiên cứu về các vấn đề cơ bản của SKSS nói chung và SKSS vị thành niên nói riêng Điều tra về
vị thành niên và thanh niên Việt Nam (SAVY) mang tính chất rộng lớn vào năm
2003 do Bộ Y tế, Tổng cục thống kê, WHO thực hiện đã mô tả tương đối đa dạng về các mối quan hệ bạn bè, SKSS và vấn đề tình dục; quan niệm, thái độ, hành vi và trải nghiệm của thanh thiếu niên về các vấn đề SKSS Đồng thời, cũng qua báo cáo điều tra đã nêu lên nhận thức, kiến thức và nguồn thông tin về SKSS như nhận thức về 4 chủ đề SKSS: Các bệnh lây truyền qua đường tình dục; Hiểu biết về chu kỳ kinh nguyệt; Nhận thức và sử dụng các biện pháp tránh
thai; Việc sử dụng bao cao su [7] [8]
Hầu hết các nghiên cứu khi xem xét, đánh giá về nhận thức về SKSS ở lứa tuổi thanh thiếu niên đều cho thấy “một số lượng lớn các thanh thiếu niên thiếu hiểu biết hoặc hiểu biết sai lệch về các vấn đề giới tính và tình dục” và
“nhiều thông tin về tình dục và giới tính trong đó có nhiều nguồn thông tin không lành mạnh có ảnh hưởng đến hành vi tình dục và gây nhiều hậu quả rất
lớn cho thanh thiếu niên” [28]
Tại Việt Nam trong những năm gần đây, giáo dục dân số và giáo dục giới tính đang dần nhận được sự quan tâm sâu sắc của các cấp lãnh đạo và cộng đồng
xã hội Theo cuộc tổng điều tra dân số ở Việt Nam năm 2014 trẻ trong độ tuổi vị thành niên là 17,3 triệu người chiếm 22,7 % dân số [33] Tỷ lệ dân số này vừa là thuận lợi vừa là khó khăn cho đất nước khi nguồn nhân lực trẻ dồi dào, nhưng những vấn nạn xã hội cũng theo đó gia tăng 80% tổng số trẻ vị thành niên sinh sống tại nông thôn, vùng sâu, vùng xa nơi mà những thông tin, kiến thức về sức khỏe, chăm sóc sức khỏe sinh sản còn nhiều hạn chế [34] Bước vào độ tuổi vị thành niên, thanh niên, cơ thể sẽ có nhiều biến đổi về tâm sinh lý nếu không được giáo dục, nhận thức đúng sẽ gây nên những hậu quả đáng tiếc Các em sẽ không có kiến thức về tình dục an toàn, dễ lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục, mang thai ngoài ý muốn… các em nữ trong độ tuổi vị thành niên dễ sinh
Trang 26con không khỏe mạnh, sinh non, thai dị dạng, tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong cao, ảnh
hưởng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống
Theo thống kê của Bệnh viện Phụ sản Trung ương, năm 2004, tính riêng
số người nạo phá thai lứa tuổi vị thành niên (10-19 tuổi) chỉ dừng lại ở con số 5% thì lứa tuổi thanh niên (19-24 tuổi) lên tới 20-25% Theo thống kê được công
3-bố năm 2005 của Hội kế hoạch hóa gia đình, Việt Nam là một trong ba nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới, trong đó 20% là lứa tuổi VTN Trên phạm vi cả nước
có 5% em gái sinh con trước 18 tuổi, 15% sinh con trước tuổi 20 Số trẻ em dưới 15 tuổi mắc các bệnh LTQDTD chiếm 1,16% (bệnh lậu) và 1,5% với các bệnh hoa liễu khác Đó là chưa kể tới số lượng những người đi nạo phá thai và chữa các bệnh phụ khoa tại các cơ sở tư nhân [21] Tỷ lệ vị thành niên có thai trong tổng số người mang thai tăng liên tục qua các năm theo Vụ Sức khỏe và bà mẹ - trẻ em báo cáo: năm
2010 là 2,9%, năm 2011 là 3,1%, năm 2012 là 3,2% kéo theo đó là tỉ lệ phá thai
ở lứa tuổi này cũng ngày càng tăng rõ rệt [20]
Ở Việt Nam, nghiên cứu thực trạng nhận thức, thái độ, hành vi của vị thành niên/thanh niên đối với SKSS được nhiều nghiên cứu đề cập Nội dung SKSS trong các nghiên cứu này thường bao gồm những vấn đề về tình bạn, tình yêu, tình dục, QHTD, sử dụng các BPTT, có thai sớm và nạo hút thai trong lứa
tuổi VTN, nhận thức về HIV/AIDS và các bệnh LTQĐTD
Một nghiên cứu gồm 1.100 thanh niên trong độ tuổi tử 15-24 được lựa chọn ngẫu nhiên để phỏng vấn tại 20 xã của dự án “Giáo dục SKSS và sức khỏe gia đình vị thành niên tại Hải Phòng” vào năm 1999 của Uỷ ban Quốc gia Dân
số - Kế hoạch hoá gia đình tiến hành với tên gọi “Khảo sát, đánh giá về kiến thức, thái độ, thực hành của vị thanh niên, thanh niên Hải Phòng với các vấn đề liên quan đến SKSS” do Nguyễn Quốc Anh, Nguyễn Mỹ Hương, Daniel
Weitraub, Meredith Caplan thực hiện cho thấy kết quả [1]:
- Kiến thức về SKSS: chỉ có 25,7% VTN&TN có kiến thức đúng về thời
điểm thụ thai là giữa hai kỳ kinh 93,2% VTN&TN biết ít nhất một BPTT hiện đại và 61,4% biết ít nhất một BPTT tự nhiên Bao cao su (BCS) là BPTT được
Trang 27biết đến nhiều nhất, tiếp đến là vòng tránh thai, thuốc tránh thai và triệt sản [1, tr.48] Nơi cung cấp BPTT phổ biết được VTN&TN biết đến là cơ sở y tế [1, tr.52] Những bệnh LTQĐTD được biết đến nhiều nhất là HIV/AIDS, lậu và giang mai với tỷ lệ tương ứng 69,7%, 50,4% và 48,3% [1, tr.53] Sử dụng BCS khi QHTD, không QHTD với gái mại dâm, không dùng chung bơm kim tiêm, không QHTD với nhiều người là những cách phòng tránh HIV/AIDS được VTN&TN kể đến nhiều nhất [1, tr.59] Có khoảng 40% ĐTNC cho rằng nạo phá
thai và hút điều hoà kinh nguyệt là một biện pháp KHHGĐ [1, tr.60]
- Thái độ đối với các vấn đề SKSS: Đa số VTN&TN (82%) vẫn rất đề cao
trinh tiết của người con gái, có sự khác biệt rõ rệt giữa nam nữ VTN&TN trong quan niệm này (92,6% nữ và gần 70% nam) và 91,3% VTN&TN cho rằng chỉ nên có QHTD trong hôn nhân [1, tr.64] Các phương tiện thông tin đại chúng (TTĐC) được coi là phù hợp nhất để cung cấp thông tin về SKSS cho VTN&TN (86,5%), tiếp đến là các cơ sở y tế, bạn bè cùng lứa, thầy cô giáo và cha mẹ [1, tr.70] Những vấn đề liên quan đến SKSS mà VTN&TN muốn được cung cấp bao gồm giáo dục tình dục cho VTN&TN (80,3%), tuyên truyền về các BPTT
(78,7%) và cung cấp các BPTT (62,0%) [1, tr.71]
Theo nghiên cứu của Dương Đăng Hanh (1999) về kiến thức, thái độ, hành vi tình dục của sinh viên lứa tuổi 18 – 24 tuổi chưa lập gia đình tại thành phố Hồ Chí Minh Tổng số 1.508 nam nữ sinh viên thuộc 14 trường đại học đóng trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh đã tham gia vào nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số sinh viên đều biết 4 loại BPTT phổ biến trong chương trình KHHGĐ của Viêt Nam, đó là: bao cao su (91,2%), vòng tránh thai (84,1%), thuốc uống tránh thai (84,5%) và đình sản nam/nữ (73,1%) Sinh viên có thái độ rất cởi mở về QHTD trước hôn nhân, đặc biệt là khi đã yêu nhau hay đã hứa hôn; và nam dễ chấp nhận hơn nữ Tỷ lệ sinh viên có QHTD trước hôn nhân chung cho cả hai giới là 12,8% (nam nhiều gấp 4 lần nữ, lần lượt là 19,7% và 5,5%) Tuổi QHTD lần đầu trung bình là 20, sớm nhất là 16; và trong lần QHTD đầu tiên có 53,5% không sử dụng BPTT [15]
Trang 28Cuộc điều tra Quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam (SAVY) năm 2003 do Bộ Y tế và Tổng cục Thống kê thực hiện với sự hỗ trợ về kỹ thuật
và tài chính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) với tên gọi đầy đủ: “Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam” với 02 giai đoạn, giai đoạn I, từ 2003 đến 2005 (SAVY I) và giai đoạn II, tiến hành từ 2008 đến 2010 (SAVY II) Tổng mẫu điều tra là 7.584 đối tượng VTN&TN nam và nữ đã có vợ/chồng và chưa có vợ/chồng, độ tuổi từ 14-
25 sống trong hộ gia đình trên toàn quốc, phân bố trên cả 8 vùng lãnh thổ, khu
vực thành thị/nông thôn Kết quả cho thấy [7] [8]:
- Hiểu biết về SKSS: Thanh niên còn thiếu kiến thức về thời điểm thụ thai
trong chu kỳ kinh nguyệt, chỉ có 27,8% trả lời đúng, trong đó nữ hiểu biết cao hơn nam (33,3% so với 21,1%) Điểm hiểu biết về các bệnh LTQDTD của thanh thiếu niên thấp, đạt 3/9 điểm Hầu hết thanh thiếu niên (97%) đều biết ít nhất một BPTT và trung bình đạt 5,6/10 biện pháp, nhóm 22-25 tuổi có mức độ nhận
thức về các BPTT cao hơn nhóm trẻ tuổi hơn…
- Hiểu biết và nguồn thông tin về HIV: 97% thanh thiếu niên được phỏng
vấn cho biết có nghe nói về HIV/AIDS Gần một nửa số thanh niên được hỏi (49,3%) cho biết họ có tiếp cận với nhiều nguồn thông tin về HIV/AIDS (nghĩa
là tiếp cận được với từ 7-9 nguồn thông tin), trong đó các phương tiện thông tin đại chúng là nguồn thông tin phổ biến nhất (96,5%), không có sự chênh lệch giữa nam và nữ, giữa thành thị và nông thôn ở tất cả các nhóm tuổi; nguồn thông tin quan trọng thứ hai là từ gia đình (88,2%), tiếp đến là nhóm chuyên môn (giáo viên, nhân viên y tế) (85,3%) và các tổ chức xã hội (68,2%) Mức độ hiểu biết
của thanh niên về HIV cách phòng tránh HIV tương đối cao
Kết quả của 2 cuộc nghiên cứu từ 2 giai đoạn khác nhau (SAVY I và SAVY II) cho phép so sánh sự thay đổi và xu hướng phát triển quan trọng trong kiến thức, thái độ, hành vi, lối sống và điều kiện sống của thanh thiếu niên có
diễn biến đáng lo ngại hơn ở SAVY II so với SAVY I
Viện Dân số và các vấn đề xã hội (IPSS) - Trường Đại học Kinh tế Quốc
Trang 29dân với sự hỗ trợ về kỹ thuật và tài chính của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) đã thực hiện một cuộc điều tra cuối kì năm 2006 chương trình Sáng kiến sức khỏe sinh sản cho thanh niên châu Á (RHIYA) về kiến thức, thái độ, hành vi SKSS của thanh thiếu niên” với đối tượng điều tra là các nam, nữ VTN&TN từ 15-24 tuổi đang sống tại gia đình, thuộc 7 tỉnh (Hà Nội, Hải Phòng, Hoà Bình, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Khánh Hoà, Tp.Hồ Chí Minh) Tổng số đối tượng VTN&TN trong mẫu khảo sát là 1.216 người, trong đó có 50,2% nam
và 49,8% nữ Kết quả điều tra như sau [24]:
- Kiến thức về SKSS: Kiến thức về khả năng thụ thai của VTN&TN vẫn
còn thấp, chỉ có 21,3% được đánh giá là có kiến thức đúng; Tỷ lệ VTN&TN biết nơi mua/nhận các BPTT khá cao 90,4% Tỷ lệ VTN&TN nêu được tên của ít nhất một BPTT lên tới 96,7%, tỷ lệ biết ít nhất hai BPTT là 80,4% BPTT được VTN&TN biết đến nhiều nhất là bao cao su (96,1%) và viên uống tránh thai (78,7%); HIV/AIDS là khối kiến thức tốt nhất của VTN&TN, tỷ lệ có hiểu biết đúng về khối kiến thức này lên tới 99,3% Kiến thức về từng nội dung trong SKSS khá cao, tuy nhiên kiến thức tổng hợp về SKSS của các em còn chưa sâu, chỉ có 32,6% các em có kiến thức đúng về khối kiến thức này và VTN&TN nữ
có kiến thức tổng hợp về SKSS tốt hơn nam rất nhiều
- Thái độ đối với SKSS: Hầu hết thanh niên (91,2%) đánh giá việc nhận
thông tin về các BPTT là rất quan trọng, 89,6% VTN&TN cho rằng việc tiếp cận với thông tin về các BPTT là khá dễ dàng Đối tượng chủ yếu được thanh niên tìm đến thảo luận về BPTT, HIV/AIDS và các bệnh LTQĐTD là bạn bè (khoảng
từ 60% đến 70%)
- Hành vi liên quan đến SKSS/TD: Tỷ lệ nam thanh niên có QHTD trước
hôn nhân nhiều hơn nữ (70 nam/10 nữ cho biết đã có QHTD trước hôn nhân) Đại bộ phận VTN&TN nam có QHTD lần đầu với bạn gái của mình, còn đại bộ phận VTN&TN nữ có QHTD lần đầu với chồng chưa cưới Tỷ lệ VTN&TN sử
dụng bao cao su khi QHTD khá cao 94,6%
Các công trình nghiên cứu trên đối tượng SV về SKSS ở các trường đại
Trang 30học thường không nhiều chủ yếu là tập trung nghiên cứu những vấn đề cụ thể
của SKSS Có thể kể ra một vài nghiên cứu sau đây:
Luận văn thạc sỹ y tế công cộng của Phạm Thị Phương Dung, trường Đại học Y tế công cộng, Hà Nội, 2006 nghiên cứu về “kiến thức, thực hành phòng chống bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS của nữ sinh viên một trường cao đẳng tại quận Tây Hồ, Hà Nội năm 2006” với cỡ mẫu khảo sát là 402 trường hợp Nghiên cứu tập trung tìm hiểu kiến thức của sinh viên về các bệnh LTQDTD (triệu chứng, nguyên nhân, cách phòng bệnh, nguyên tắc điều trị, nơi khám chữa và điều trị bệnh), về HIV/AIDS (con đường lây truyền và cách phòng tránh) và về thực hành của sinh viên trong phòng chống các bệnh LTQĐTD và HIV/AIDS (QHTD trước hôn nhân) Kết quả nghiên cứu cho thấy,
tỷ lệ nữ sinh viên đạt yêu cầu về kiến thức các bệnh LTQĐTD là 70,6% nhưng kiến thức cụ thể còn chưa tốt: 23,1% không kể được một bệnh lây truyền qua đường tình dục nào, dưới 70% biết được một số triệu chứng của bệnh, gần 40% không biết nguyên tắc điều trị các bệnh LTQĐTD; chỉ có 40,5% nữ sinh viên
đạt yêu cầu về kiến thức HIV… [13]
Quan niệm về sự chung thuỷ trong tình yêu của SV hiện nay của tác giả
Lê Thị Bừng nghiên cứu trên 143 sinh viên ở hai trường cao đẳng sư phạm Hưng Yên và đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn cho thấy đa số SV có quan niệm đúng về tình yêu, trong đó gần 60,14% cho rằng yếu tố đầu tiên trong tình yêu là phải có phẩm chất chung thủy [9]
Quan niệm của SV về vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân của tác giả Nguyễn Ánh Hồng nghiên cứu trên 230 SV ở 3 trường đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn, đại học Khoa học Tự nhiên và đại học Kinh tế đã phản ánh xu hướng dễ chấp nhận quan hệ tình dục trước hôn nhân trong SV hiện nay, quan niệm về hôn nhân và tình yêu của họ thường thoáng hơn [19]
Tóm lại, nghiên cứu về vấn đề SKSS/TD VTN&TN đã được nhiều nhà nghiên cứu trong nước đề cập tới bằng phương pháp điều tra xã hội học: thu thập thông tin, định lượng qua các bảng hỏi, thu thập thông tin định tính qua các
Trang 31phỏng vấn sâu, hội thảo, thảo luận nhóm Chủ đề chung xuyên suốt các nghiên cứu này là về vấn đề thực trạng nhận thức, thái độ, hành vi của vị thành niên đối với SKSS Những nội dung thường được đề cập đến là tình bạn, tình yêu, QHTD, sử dụng các BPTT, có thai sớm và nạo hút thai trong lứa tuổi VTN; nhận thức về HIV/AIDS Bên cạnh đó, nội dung về các tệ nạn xã hội cũng được nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là vị thành niên và thanh niên độ tuổi từ 15-
24 Tuy nhiên, nghiên cứu về vấn đề SKSS/TD VTN&TN cho thanh niên là sinh viên các trường đại học và cao đẳng là chưa nhiều Luận văn này tập trung tìm hiểu thực tế hiểu biết, thái độ và hành vi của sinh viên học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam đối với SKSS
1.4 CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH CỦA SINH VIÊN VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN
Có nhiều yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành về sức khỏe của sinh viên từ khách quan đến chủ quan Trong các yếu tố đó phải kể đến các yếu tố quan trọng như: yếu tố tuổi, giới tính vùng địa lý nơi sinh viên sinh sống, yếu tố gia đình, yếu tố bạn bè và môi trường xã hội Có những yếu tố chi phối đến cả kiến thức, thái độ và thực hành, cũng có những yếu tố liên quan đến từng lĩnh vực riêng về kiến thức, thái độ hoặc thực hành của sinh viên [14]
1.4.1 Yếu tối tuổi, giới tính, vùng địa lý nơi sinh viên sinh sống
Tuổi, giới tính, vùng địa lý là yếu tố có mối liên quan chặt chẽ với kiến thức, thái độ và thực hành của sinh viên về SKSS Theo nghiên cứu của tác giả Ngô Lan Vi (2014), “nghiên cứu kiến thức thái độ thực hành về SKSS của sinh viên nữ từ 18 – 24 tuổi tại Trường Đại học Tây Đô năm 2014 cho thấy những vùng địa lý ở miền núi, vùng cao, sinh viên ít có điều kiện tiếp cận với thông tin đại chúng nên không được trang bị đầy đủ kiến thức về SKSS như sinh viên ở thành thị [42]
Kết quả của cuộc nghiên cứu từ 2 giai đoạn khác nhau (SAVY I và SAVY II) cho phép so sánh sự thay đổi và xu hướng phát triển quan trọng trong kiến thức, thái độ, hành vi, lối sống và điều kiện sống của thanh thiếu niên Kết quả
Trang 32SAVY I cho thấy có 33,4% nam giới chưa kết hôn ở khu vực thành thị có quan
hệ tình dục trước hôn nhân so với nữ giới là 3,7% [7]
Tỷ lệ thanh niên chưa lập gia đình nhưng QHTD cũng tăng theo độ tuổi theo kết quả nghiên cứu của SAVY II Ở độ tuổi từ 14 – 17 rất ít thanh niên nam
nữ có QHTD, nhưng ở độ tuổi 18 – 21 tỷ lệ QHTD trước hôn nhân là 14,8 % nam và 2,1 % nữ, và ở độ tuổi từ 22 – 25 tỷ lệ này tăng một cách rõ rệt: 29,8% nam và 6,1 % nữ [8]
1.4.2 Yếu tố gia đình
Gia đình là môi trường xã hội hoá quan trọng bậc nhất của cá nhân bởi mỗi cá nhân đều sinh ra và lớn lên trong gia đình Mỗi gia đình có một tiểu văn hoá riêng được xây dựng trên nền tảng của văn hoá chung của xã hội và được tạo thành bởi nền giáo dục gia đình, truyền thống gia đình, lối sống của gia đình Các cá nhân sẽ tiếp nhận các giá trị, chuẩn mực của tiểu văn hoá này, sự quan tâm của cha mẹ sẽ có tác động lớn đối với thanh thiếu niên cũng như sinh viên
Thanh thiếu niên sinh viên có sống cùng cha mẹ hay không, hạnh phúc của gia đình hay việc thường xuyên trao đổi chia sẻ giữa cha mẹ và con cái là những yếu tố thuộc về gia đình có liên quan trực tiếp tới việc QHTD trước hôn nhân Theo nghiên cứu của Trần Mỹ Hạnh và cộng sự năm 2009 cho thấy thanh niên sống cùng cha mẹ, và bố mẹ thường trao đổi thường xuyên với con cái là các yếu tố làm giảm QHTD trước hôn nhân ở thanh thiếu niên [16]
1.4.3 Yếu tố bạn bè và môi trường xã hội
Phần lớn sinh viên hiện nay đang theo học tại các trường đại học tập trung tại các thành phố, đô thị lớn thường có cuộc sống tự lập và sống xa gia đình đi ở trọ vì vậy yếu tố bạn bè tác động rất lớn đến lối sống và hành vi của thanh thiếu niên nói chung và sinh viên nói riêng Theo nghiên cứu của Mee – Lian Wong và cộng sự (2009) tại một nước ở Châu Á đã chỉ ra rằng, những nam thanh niên biết bạn bè của mình đã QHTD trước hôn nhân thì nguy cơ QHTD trước hôn nhân cao gấp 3,37 lần so với nhóm còn lại [52] Nghiên cứu trên hơn 1000 nam giới từ độ
Trang 33tuổi 15 – 19 của Li N và cộng sự (2010) tại Bangladesh cho thấy thanh niên từng nói chuyện với bạn bè về tình dục có QHTD trước hôn nhân gấp 3 lần so với những người không trao đổi về vấn đề này [47]
Yếu tố xã hội cũng là một trong những yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến hành vi QHTD của thanh niên sinh viên hiện nay Trong xã hội hiện đại, chúng ta không thể bỏ qua vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng như báo, đài, vô tuyến truyền hình và nhất là sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ internet Trên mạng xã hội kết nối toàn cầu nơi các bạn trẻ có thể tự do tìm hiểu
về cuộc sống hiện đại và những quan điểm khác nhau về tình dục, đồng thời chúng cũng sẽ cung cấp cho các cá nhân những định hướng, quan điểm đối với các sự kiện và những vấn đề xảy ra trong cuộc sống hàng ngày [12] Một số nghiên cứu đã cho thấy các yếu tố thúc đẩy việc QHTD trước hôn nhân ở thanh thiếu niên là một hiện tượng mới nảy sinh trong xã hội hiện đại, quá trình hiện đại hóa đã dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ trong quan niệm và hành vi về tình yêu, tình dục, hôn nhân và gia đình Trong quá trình hiện đại hóa tuổi kết hôn tăng lên nhưng tuổi có hoạt động tình dục lần đầu dường như không tăng mà còn giảm dẫn đến sự gia tăng hoạt động tình dục trước hôn nhân [26]
Mỗi cá nhân, trong quá trình phát triển của mình sẽ tiếp thu tri thức, học tập các giá trị chuẩn mực theo hai kênh: chính thức (trường học) và không chính thức (gia đình, bạn bè, truyền thông đại chúng…) Kiến thức, thái độ và hành vi chăm sóc SKSS của mỗi cá nhân nói chung và của mỗi sinh viên nói riêng, chịu ảnh hưởng rất nhiều từ những khuôn mẫu, chuẩn mực giá trị của gia đình, cộng đồng xã hội
1.5 GIỚI THIỆU VỀ HỌC VIỆN Y DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 30/2005/QĐ-TTg ngày 02/02/2005 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở Trường Trung học YHCT Tuệ Tĩnh Đến nay sau 15 năm phát triển, Học viện đã phát triển mạnh mẽ, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học được đầu tư Chỉ tiêu, quy mô đào tạo hàng năm không
Trang 34ngừng tăng lên Học viện đang đào tạo 5000 sinh viên, học viên với các ngành đào tạo như: Bác sỹ YHCT, Bác sĩ đa khoa, Dược sĩ đai học, CĐ Điều dưỡng,
TC Dược, Đào tạo liên thông, liên kết Gần 1000 sinh viên ra trường mỗi năm, góp phần đáp ứng nguồn nhân lực chất lượng cao trong công cuộc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng
Năm học 2019 – 2020, số sinh viên của Học viện YDHCT Việt Nam là gần 5000 sinh viên học tại các nhóm ngành như Bác sỹ YHCT, Bác sĩ đa khoa, Dược sĩ đai học… Độ tuổi của các sinh viên Học viện từ 18 – 26 tuổi, từ khắp nơi trên cả nước đến học tập tại trường Học viện YDHCT Việt Nam trang bị đầy đủ các điều kiện học tâp và sinh hoạt cho sinh viên Bên cạnh việc đào tạo kiến thức chuyên môn theo chuyên ngành học, nhà trường cũng đã quan tâm đến việc giáo dục, đào tạo, tuyên truyền các kiến thức xã hội, kỹ năng sống, kiến thức CSSKSS cho sinh viên Tuy nhiên việc nâng cao kiến thức cho sinh viên cần phải được duy trì thường xuyên và phải có giải pháp cụ thể Bởi vì hiên nay môi trường sống cũng ảnh hưởng đến thái độ, thực hành về SKSS của sinh viên, tình trạng sống thử, quan hệ tình dục trước khi kết hôn của sinh viên ngày càng tăng
Trang 351.6 KHUNG LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU
SV HV YDHCTVN
Thực hành
về SKSS của
SV HV YDHCTVN
Nguyên nhân có thai
Thời điểm dễ có thai
Các biện pháp tránh thai
Bệnh lây truyền QĐTD
Địa điểm cung cấp
phương tiện tránh thai
Tác hại của nạo phá thai
Tình dục lành mạnh, an
toàn
Sử dụng BPTT khi QHTD
Thái độ của SV
về vấn đề QHTD trước hôn nhân Thái độ về có thai trước hôn nhân
Dấu hiệu dậy thì
Chia sẻ vấn đề tình yêu, giới tính với gia đình
Đã có bạn tình và QHTD hay chưa
TH của SV khi có thai
Lý do QHTD lần đầu
Thái độ của
SV về SKSS
Mức độ sử dụng BPTT
Lý do không sử dụng BPTT
Các nguồn cung cấp
thông tin về SKSS
TH các hành vi không an toàn
Tham gia các buổi truyền thông
Giới
tính
Năm học
Ngành học
Nơi
cư trú
Nơi ở hiện tại
Dân tộc
Hoàn cảnh gia đình
Trang 36CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Sinh viên hệ chính quy đang học năm thứ 1 và năm thứ 4 của Học viện Y– Dược học cổ truyền Việt Nam bao gồm các ngành: Bác sỹ YHCT, Bác sỹ Đa khoa và Dược sĩ
Sinh viên năm thứ nhất là đối tượng vừa thoát ly khỏi gia đình, là đối tượng có nhiều thay đổi khi bước vào một môi trường mới vì vậy tác giả lựa chọn đối tượng này nghiên cứu nhằm xác định thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành và quan hệ tình dục trước hôn nhân so sánh với sinh viên năm thứ tư
là đối tượng sắp ra trường, có nhiều va chạm và thay đổi về tâm sinh lý hơn so với năm thứ nhất
Tiêu chuẩn chọn
- Sinh viên nam và nữ đang học tập năm thứ 1 và năm thứ 4 tại truòng
- Sinh viên đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ
- Sinh viên không học năm thứ nhất và năm thứ 4 tại trường
- Sinh viên không đồng ý tham gia vào nghiên cứu
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm: Học viện Y – Dược học cổ truyền Việt Nam: Số 2 Trần Phú –
Hà Đông – Hà Nội
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành thu thập số liệu bắt đầu từ tháng 03 đến tháng 08/2020
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
2.2.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu:
2.2.2.1 Cách tính cỡ mẫu
Trang 37Cỡ mẫu được tính theo công thức
Z2(1-α/2) p (1- p)
n = x DE
d2Trong đó: n: Cỡ mẫu nghiên cứu
α : mức ý nghĩa thống kê, ở đây lấy α = 0,05
Z(1-α/2): Hệ số tin cậy ở mức 95% (Z(1-α/2)= 1,96)
p: Ước đoán tỷ lệ sinh viên có kiến thức về nội dung CSSKSS (Theo nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Tuân và Nguyễn Bạch Ngọc năm 2016 tại trường cao đẳng Y tế Hưng Yên, tỷ lệ SV có kiến thức không đúng
về SKSS là 47%) [40]
Vậy p = 0,47; q = 1 – p = 0,53
d: sai số tuyệt đối, chọn d = 0,05
DE: Hệ số thiết kế, chọn DE = 1,5
Thay vào công thức ta có: n = 573
Để tăng độ tin cậy và khống chế sai số trong nghiên cứu, cỡ mẫu làm tròn
Trang 38+ Cỡ mẫu tầng 1 (Sinh viên năm thứ nhất) = 287 sinh viên
+ Cỡ mẫu tầng 2 ( sinh viên năm thứ tư) = 313 sinh viên
- Tính hệ số k: Tính tổng sinh viên năm 1 và năm thứ 4 (1924 sinh viên)/ tổng số SV chọn tham gia nghiên cứu (600) Hệ số k tính được là 3,2
vị mẫu có số thứ tự là I+1k, I+2k, I+3k… cho đến khi đủ mẫu)
Kết quả số mẫu được chọn tính theo bảng sau:
TỔNG
SỐ CHỌN
Bác sỹ YHCT
517 SV
Chọn 161 SV: lập danh sách SV chọn 1 cách 3 đến đủ 161 sinh viên 161
Dược sỹ
190 SV
Chọn 60 SV: lập danh sách SV chọn 1 cách 3 đến đủ 60 sinh viên 60
Bác sỹ YHCT
680 SV
Chọn 212 SV: lập danh sách SV chọn 1 cách 3 đến đủ 212 sinh viên 212
Dược sỹ
225 SV
Chọn 70 SV: lập danh sách SV chọn 1 cách 3 đến đủ 70 sinh viên 70
Tổng là 600 sinh viên đươc đưa vào danh sách nghiên cứu
2.3 CÁC BIẾN SỐ VÀ CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU
Trang 39STT Tên biến Định nghĩa biến Loại
Cách TTSL
Tuổi
Tuổi dương lịch được tính như sau: Tuổi = năm hiện tại - năm sinh
Liên tục
Phát vấn
Số lượng, tỷ lệ
% người tham gia NC theo giới tính
Phát vấn
2 Dân tộc Là dân tộc của người tham
gia NC
Nhị phân
Số lượng, tỷ lệ
% người tham gia NC theo dân tộc
Phát vấn
3 Năm học Là số năm học của người
tham gia NC tại trường
Liên tục
Số lượng, tỷ lệ
% người tham gia NC theo năm học (khối học)
Phát vấn
học
Là ngành học người tham gia NC đang học tập tại
HV YDHCTVN
Danh mục
Số lượng, tỷ lệ
% người tham gia NC theo ngành học
Phát vấn
5 Nơi cư trú
Là nơi đăng kí hộ khẩu của người tham gia NC, chia theo 3 vùng: Thành thị, nông thôn, miền núi và hải đảo
Danh mục
Số lượng, tỷ lệ
% người tham gia NC theo nơi
cư trú
Phát vấn
6 Nơi ở
hiện tại
Là nơi ở hiện tại của người tham gia nghiên cứu: Ở cùng gia đình hay ở trọ
Danh mục
Số lượng, tỷ lệ
% người tham gia NC theo nơi
ở hiện tại
Phát vấn
Danh mục
Phát vấn
Trang 402.3.2 Biến số, chỉ số cho mục tiêu 1: Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành
về sức khỏe sinh sản của sinh viên trường Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam năm 2020
Cách
TT
SL
A Biến số, chỉ số về kiến thức của đối tượng nghiên cứu về SKSS
1 Dấu hiệu dậy
thì
Là những kiến thức chung về các dấu hiệu dậy thì như: Tăng chiều cao và cân nặng, Ngực lớn lên và hơi đau, Mọc lông vùng kín, Quan tâm đến bạn khác giới, Mọc mụn trứng cá, Bắt đầu có kinh nguyệt, Xuất tinh khi ngủ
Danh mục
Tỷ lệ % người tham gia NC
có kiến thức đúng về các dấu hiệu dậy thì
Phát vấn
2 Nguyên nhân
có thai
Là những hiểu biết của đối tượng tham gia nghiên cứu về nguyên nhân có thai khi hai người khác giới có quan
hệ tình dục qua đường
âm đạo
- không thể có thai khi 2 người khác giới ôm hôn, hay QHTD qua đường miệng, hậu môn
Danh mục
Tỷ lệ % người tham gia NC
có kiến thức đúng về nguyên nhân
có thai
Phát vấn
3 Thời điểm dễ
có thai
- Thời điểm dễ có thai
là QHTD sau khi hết Danh
mục
Tỷ lệ % người tham gia NC Phát
vấn