Giáo dục không phải chỉ là vấn đề quan trọng đối với thế hệ trẻ mà ngay cả đối với người trưởng thành, những người lớn tuổi cũng rất cấp bách và cần thiết. Giáo dục cho học sinh cũng là cách giáo viên tự hoàn thiện và giáo dục bản thân mình ngày một tốt hơn. Hiện nay trong các nhà trường nói chung và trường Tiểu học Nhân Thắng nói riêng việc giáo dục hình thành nhân cách giúp con người có đầy đủ các phẩm chất: Đức, trí, thể, mĩ. Chính vì lí do đó mà em chọn đề tài “vGiáo dục không phải chỉ là vấn đề quan trọng đối với thế hệ trẻ mà ngay cả đối với người trưởng thành, những người lớn tuổi cũng rất cấp bách và cần thiết. Giáo dục cho học sinh cũng là cách giáo viên tự hoàn thiện và giáo dục bản thân mình ngày một tốt hơn. Hiện nay trong các nhà trường nói chung và trường Tiểu học Nhân Thắng nói riêng việc giáo dục hình thành nhân cách giúp con người có đầy đủ các phẩm chất: Đức, trí, thể, mĩ. Chính vì lí do đó mà em chọn đề tài “Giáo dục sự hình thành và phát triển nhân cách con người”.
Trang 1I, PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
2 Mục tiêu nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
II, PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu 1.1 Khái niệm
1.2 Chức năng của giáo dục nhân cách 1.3 Hành vi, sụ phát triển nhân cách của tuổi tiểu học 1.4 Nhiệm vụ giáo dục nhân cách con người
1.5 Các con đường giáo dục nhân cách
2 Kết quả nghiên cứu
III, BIỆN PHÁP NÂNG CAO GIÁO DỤC NHÂN CÁCH HỌC SINH
1 Xây dựng môi trường văn hóa sư phạm
2 Nâng cao chất lượng dạy học
3 Đổi mới công tác chủ nhiệm
IV, PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1 Kết luận
2 Kiến nghị
V, TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2P HẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài 1.1 Về mặt lí luận
Cùng với sự phát triển của xã hội, con người cũng đang tự mình hướng tới sự hoàn thiện nhân cách của mình Thật vậy, như Bác Hồ đã từng dạy: “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức
mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” Ở nước ta hiện nay giáo dục là một vấn đề cấp bách, đặt lên hàng đầu và được xem là vấn đề quốc sách Lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa tuổi từ 7 đến 11 tuổi Đây là lứa tuổi các em trở thành một học sinh ở trường phổ thông chứ không còn là một em bé mẫu giáo “học mà chơi, chơi mà học” nữa Đó là một chuyển biến rất quan trọng trong sự phát triển của trẻ em, một đặc trưng quan trọng của lứa tuổi này
2.2 Về mặt thực tiễn
Với tốc độ công nghiệp phát triển cao về kinh tế, văn hóa, xã hội đang có thay đổi rõ nét thì giáo dục hình thành và phát triển nhân cách là hết sức quan trọng Giáo dục để tạo điều kiện và hướng cho thế hệ trẻ các em dần dần tự hoàn thiện bản thân
Giáo dục không phải chỉ là vấn đề quan trọng đối với thế hệ trẻ mà ngay cả đối với người trưởng thành, những người lớn tuổi cũng rất cấp bách và cần thiết Giáo dục cho học sinh cũng là cách giáo viên tự hoàn thiện và giáo dục bản thân mình ngày một tốt hơn Hiện nay trong các nhà trường nói chung và trường Tiểu học
người có đầy đủ các phẩm chất: Đức, trí, thể, mĩ Chính vì lí do đó mà em chọn đề tài “
2 Mục đích nghiên cứu
Qua quá trình nghiên cứu về lý luận và thực tiễn để đưa ra biện pháp nâng cao giáo dục nhân cách cho học sinh trường Tiểu học
3 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về thực trạng nhân cách của lứa tuổi tiểu học cho học sinh trường
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu về cơ sở lý luận của vấn đề
- Thực trạng giáo dục nhân cách cho
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục nhân cách
5 Phương pháp nghiên cứu
- Đọc tài liệu
- Giao tiếp với
- Sử dụng phương pháp quan sát và tự quan sát
II PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ
1 Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu 1.1 Khái niệm
a) Khái niệm giáo dục
Trang 3“Giáo dục là sự tác động của nhân cách này tới nhân cách khác là sự tác động của nhà giáo dục tới người được giáo dục, cũng như từ những người được giáo dục tới nhà giáo dục với nhau”
Qua khái niệm trên chúng ta thấy được hình thành và phát triển thông qua hệ thống giáo dục trước đây cũng như hiện nay, trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất đinh, lại có những quan điểm, nhận xét khác nhau về giáo dục
Giáo dục có vai trò chủ đạo tổ chức quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách hướng dẫn giáo dục cho trẻ sự hình thành và phát triển nhân cách, giáo dục chính là làm cho con người được ý thức, được yêu cầu của tập thể làm cho họ biết đề ra cho mình những phẩm chất và năng lực mới cho bản thân, chính hoạt động của bản thân con người là đường quyết định trực tiếp đối với sự hình thành và phát triển nhân cách con người
b) Khái niệm nhân cách
Nhân cách là một cấu tạo trọn vẹn thuộc loại đặc biệt, nhân cách không phải là chính thể được chế định theo kiểu di truyền tức là “người ta sinh không phải là nhân cách người mà người ta phải trở thành một nhân cách” “Nhân cách là một sản phẩm tương đối muộn của sự phát triển xã hội lịch sử và của sự tiến hóa cá thể con người” Nhân cách là một cấu tạo chuyên biệt của con người mà không thể rút ra từ hoạt động thích ứng của nó, cũng không thể tự hoạt động đó mà rút ra ý thức của con người hay nhu cầu
1.2.Chức năng của giáo dục nhân cách
Giáo dục là toàn bộ tác động của gia đình, nhà trường, xã hội bao gồm cả dạy học và các tác động khác đến con người, đó là theo nghĩa rộng
Còn theo nghĩa hẹp, giáo dục được xem như là quá trình tác động đến tư tưởng, đạo đức, hành vi của con người Giáo dục vạch ra phương hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách, vì giáo dục là quá trình tác động có mục đích xác định, hình thành một mẫu người cụ thể có nhân cách trong xã hội, đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống Giáo dục nhân cách đưa thế hệ trẻ “vào vùng phát triển gần” vươn tới những cái mà thế hệ trẻ sẽ có, tạo cho thế hệ trẻ sự phát triển nhanh, mạnh, hướng về tương lai
Giáo dục nhân cách của con người giúp học sinh phát triển đúng đắn, giúp học sinh có hành vi cư xử đúng mực trong các mối quan hệ gia đình, nhà trường, bạn bè, xã hội
1.3.Hành vi, sự phát triển nhân cách của lứa tuổi tiểu học
Ở lứa tuổi này ta nói về những thay đổi về cơ thể, môi trường sống và hoạt động: nhìn chung ở lứa tuổi này có những thay đổi cơ bản về những đặc điểm giải phẫu sinh lý So với trẻ mẫu giáo, lứa tuổi này đang diễn ra một sự kiện hoàn toàn đáng kể về cơ thể; não bộ, hệ xương, hoạt động của tim mạch, hệ thần kinh Đây là những tiền đề vật chất quan trọng tạo điều kiện cho trẻ chuyển sang hoạt động khác về chất so với hoạt động vui chơi ở tuổi mẫu giáo
Bước chân đến trường, đó là một biến đổi quan trọng trong đời sống của trẻ em cấp I Điều đó làm thay đổi một cách căn bản vị trí của trẻ trong xã hột, trong gia đình cũng như thay đổi cả nội dung
và tính chất hoạt động của chúng Trở thành một học sinh chính thức trẻ bắt đầu tham gia một hoạt động nghiêm túc, một hoạt động xã hội trọn vẹn của nó Hoạt động học tập trở thành hoạt động chủ đạo của các em Nội dung học tập với nhiều tri thức phong phú, nhiều môn học có tính chất khác nhau (toán, làm văn, thủ công, mĩ thuật ) đề ra những yêu cầu cao cho các em, buộc các em phải phấn đấu nỗ lực vượt qua mọi khó khăn trở ngại
Theo A.V.Petrovski, các em mới đến trường phải gặp ít nhất 3 trường hợp sau:
+ Học tập mới mẻ, phải dậy sớm, đến trường đúng giờ, phải làm bài tập đúng hạn, phải có cách học tập mới thích hợp
+ Mối quan hệ mới của các em với thầy, bạn, với tập thể lớp, các em lo ngại, rụt rè, thậm chí sợ sệt trước mọi người, các em chưa quen sinh hoạt với tập thể
+ Nhiệm vụ học tập làm trẻ mệt mỏi, uể oải
Học sinh tiểu học dễ thích nghi và tiếp nhận các mới và luôn hướng tới tuong lai Nhưng cũng thiếu sự tập trung cao độ, khả năng ghi nhớ và chú ý có chủ định chưa được phát triển mạnh, tính hiếu động, dễ xúc động còn bộc lộ rõ nét Trẻ nhớ rất nhanh và quên cũng nhanh
Trang 4Đối với trẻ em lứa tuổi tiểu học thì tri giác của học sinh tiểu học phản ánh những thuộc tính trực quan, của thể sự vật, hiện tượng và xảy ra khi chúng trực tiếp tác động lên giác quan Tri giác giúp trẻ định hướng nhanh chóng và chính xác hơn trong thế giới Tri giác còn giúp cho trẻ điều chỉnh hoạt động một cách hợp lí
Bên cạnh sự phát triển của tri giác, chú ý có chủ định của học sinh tiểu học còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ý có ý chí chưa mạnh
Học sinh tiểu học thường có nhiều nét tính cách tốt như tính hồn nhiên ham hiểu biết, lòng thương người, lòng vị tha, ở các em tính bắt chước vẫn còn đậm nét Thích hoạt động và thích làm việc gì
đó phù hợp với mình nên có thể sớm hình thành ở các em thói quen đối với lao động
1.4 Nhiệm vụ giáo dục nhân cách con người
Ở lứa tuổi tiểu học, các em còn đang từng ngày phát triển, cần nhận thức được mọi điều nên nhu cầu nhận thức ở trẻ là rất cao Chính vì vậy cần phải giúp trẻ phát triển nhận thức Nhu cầu tìm hiểu thế giới xunh quanh, khát vọng hiểu biết mọi thứ có liên quan Nhu cầu nhận thức của học sinh tiểu học là nhu cầu tinh thần Nó có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển của các em
Học sinh tiểu học rất dễ bị xúc động và khó kìm hãm cảm xúc của mình Tính dễ xúc cảm được thể hiện trước hết qua quá trình nhận thức: quá trình tri giác, tưởng tượng, tư duy Hoạt động trí tuệ của các em đượm màu sắc xúc cảm Các em bộc lộ tình cảm của mình một cách hồn nhiên, chân thật, nhiều khi vụng về thiếu tinh tế Tình cảm của học sinh tiểu học còn mỏng manh chưa bền vững Vậy nên giáo viên cần biết cách giáo dục sao cho hợp lí, hài hòa, giúp học sinh nhận thức, phát triển một cách tự nhiên
1.5 Các con đường giáo dục nhân cách
a) Con đường hoạt động dạy học
Dạy học giúp học sinh tự giác, tích cực độc lập hoàn thành các nhiệm vụ học tập đã được xác định dưới sự tổ chức của giáo viên nhằm phát triển nhân cách theo các mục tiêu đã đề ra
Hoạt động dạy học giúp cho học sinh chiếm lĩnh được những tri thức sơ đẳng ngày càng có hệ thống, vừa chiếm lĩnh được cách thức và những phẩm chất hoạt động trí tuệ Trên cơ sở đó các em phát triển được trí tuệ Hệ thống tri thức sẽ giúp cho các em có được những hiểu biết ngày càng đầy đủ và chân thực về thế giới hiện thực, làm cơ sở cho việc hình thành nhu cầu, trách nhiệm cải tạo thế giới phục vụ cho lợi ích của bản thân và xã hội
Dạy học là con đường giáo dục có vị trí, tác dụng quan trọng nhất trong toàn bộ các hoạt động giáo dục Hiện nay, dạy học luôn hướng vào người học, lấy hoạt động của giáo viên làm trung tâm, người học tích cực, củ động lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo dưới vai trò chủ đạo của giáo viên, xem người học vừa là chủ thể, vừa là mục đích cuối cùng của quá trình đó
b) Con đường hoạt động xã hội
Hoạt động xã hội là hoạt động mà học sinh tham gia tích cực và tự giác để góp phần phát triển xã hội về nhiều mặt như bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh môi trường, góp phần xóa đói giảm nghèo, phòng chống AIDS và các tệ nạn xã hội
Hoạt động xã hội tạo điều kiện cho các em tham nhập cuộc sống xã hội, gắn bó với cuộc sống xã hội, ý thức ngày càng đầy đủ và sâu sắc rằng mình là một thành viên của xã hội
Hoạt động xã hội giúp các em có điều kiện vận dụng những điều đã học vào cuộc sống ở chừng mực nhất định, mặt khác tạo điều kiện cho các em nhận thức được nhiều giá trị đa dạng của cuộc sống làm cho vốn hiểu biết được mở rộng đào sâu, phát triển và nhất là phản ánh được hiện thực
Hoạt động giúp các em có cơ hội trực tiếp đóng góp sức lực, trí tuệ, tiền của mình vào sự phát triển của xã hội tùy theo năng lực và điều kiện của mình Từ đó, hình thành và phát triển được những xúc cảm, tình cảm tích cực của một thành viên của xã hội
Hoạt động xã hội giúp cho các em phát huy được ý thức và năng lực tự giác làm quen với các hoạt động gắn liền với cuộc sống xã hội, rèn luyện ký năng hòa nhập xã hội
Hoạt động xã hội giúp các em có cơ hội mở rộng các quan hệ xã hội nư quan hệ với ngời khác, với những tổ chức xã hội, cơ quan những cơ sở sản xuất, những đoàn thể xã hội nhờ đó có thể giao lưu tiếp xúc và học tập những điều bổ ích
Trang 5c) Con đường tổ chức hoạt động lao động
Hoạt động lao động hướng vào việc tạo ra sản phẩm nhất định bằng cách làm biến đổi đối tượng hoạt động nhắm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người
Hoạt động lao động không những rèn luyện cho học sinh kĩ năng lao động mà còn có thể sáng tạo ra những sản phẩm vật chất hoặc tinh thần một cách vừa sức, phục vụ cho cuộc sống hằng ngày Hoạt động lao động nếu được thưc hiện tốt dẽ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hiệu quả của các mặt giáo dục khác như: trí dục, đức dục, mỹ dục, thể dục và nó được xem như là một con đường để giáo dục hướng nghiệp có hiệu quả
2 Kết quả nghiên cứu
a) Nhận thức của giáo viên, học sinh
- Nhận thức của giáo viên: Qua việc tiếp xúc trò chuyện với thầy cô tôi thấy đa số đội ngủ giáo viên trong trường luôn quan tâm đến việc giáo dục đạo đức, giáo dục nhân cách, phẩm chất cho học sinh Giáo viên chủ nhiệm thường xuyên kiểm tra sát xao, quan tâm đến hành vi đạo đức nhằm phát triển nhân cách cho học sinh của mình Hằng tuần mỗi tiết sinh hoạt, giáo viên nhắc nhở, khiển trách những học sinh hư, quậy phá, trêu trọc các bạn, không biết thương yêu, đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau Giáo viên luôn giúp đỡ các em ý thức được nhiệm vụ của mình trong việc hình thành và phát triển nhân cách bản thân
Giáo viên làm công tác Đội - sao cũng thường xuyên tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp theo chủ điểm, chủ đề trong năm học nhằm tuyên truyền giáo dục tryền thống cho học sinh Đồng thời cũng tổ chức các hoạt động: vòng tay bè bạn, đôi bạn giúp nhau nhằm rèn luyện cho các em những đức tính tốt và nhanh nhẹn Nói chung đa số đội ngũ giáo viên trong trường đều có các biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh
- Nhận thức của học sinh: Qua quá trình tiếp xúc, tìm hiểu các em học sinh lớp
nhờ các thầy cô gáo đã ngày ngày rèn luyện, quan tâm, chia sẻ, giúp các em nhận thức được những việc mình nên làm và không nên làm
b) Thực trạng
Giáo dục phát triển hình thành nhân cách cho học sinh tiểu học của trường Tiểu học
nhau
- Giáo dục thông qua cách dạy học: Các môn học ở trường tiểu học đều có ý nghĩa giáo dục học sinh phát triển nhận thức Thông qua việc giảng dạy, học tập các môn khoa học tụ nhiên, xã hội và nhân văn giúp học sinh hình thành thế giới quan, nhân sinh quan và các phẩm chất của nhân cách, giúp học sinh tự chiếm lĩnh một cách có hệ thống những tri thức đạo đức, giúp các em có định hướng đúng trước những hiện tượng xã hội, biết cái nào xấu, cái nào tốt để từ đó lựa chọn đúng đắn cách ứng xử trong các tình huống
+ Ví dụ: Ở môn Tự nhiên - Xã hội bài “Họ nội, họ ngoại” giáo viên đã giáo dục cho học sinh biết thể hiện tình cảm cuả mình đối với người thân, họ hàng của mình, bước đầu đã hình thành cho các
em giá trị đạo đức rất gần gũi với những người xunh quanh rồi từ đó các em có thể dần dần khái quát rộng hơn và sâu xa hơn
Ở lứa tuổi các em trong hoạt động nhận thức chủ yếu dùng tư duy trực quan chính vì thế mà trong các tiết học, bài học giáo viên đã biết dùng những hình ảnh, tranh, mô hình trực quan để hỗ trợ, giúp các em rèn luyện tính nhanh nhẹn, nhạy bén, có tinh thần kỷ luật, tập thể cao
- Giáo dục thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp: Hoạt động ngoài giờ lên lớp bao gồm các hoạt động nối tiếp giữa quá trình dạy học trên lớp với thực hành, trong cuộc sống hằng ngày hoạt động ngoài giờ lên lớp tạo điều kiện củng cố các kiến thức đã học Đồng thời giúp cho học sinh vận dụng những tri thức đó vào cuộc sống Nó bao gồm rất nhiều loại hoạt động được tổ chức, diễn ra theo các chủ điểm, theo tháng trong năm học, trong tiết chào cờ toàn trường, tiết sinh hoạt lớp Và trong những năm vừa qua nhà trường đã tổ chức được rất nhiều hoạt động bổ ích cho các em:
Trang 6+ Hoạt động theo chủ điểm, chủ đề: Trong đó nhà trường đã tổ chức cho các em kỷ niệm những ngày lễ lớn như vào ngày
Nam Kỉ niệm ngày
+ Nhà trường còn tổ chức cho học sinh đi tham quan, giã ngoại Tổ chức hội khỏe Phù Đổng hằng năm nhằm giáo dục cho các em tinh thần tập thể, hình thành tinh thần tự giác, có ý thức kỉ luật cao
“Trồng cây xanh” để các em thêm yêu quí cây xanh, bảo vệ môi trường
+ Các tiết hoạt động tập thể hàng tuần: Đây là một tiết hoạt động dành cho tập thể học sinh tiến hành những hoạt động xây dựng tập thể, là tiết dành cho nhi đồng, đội thiếu niên, lớp tiến hành sinh hoạt tập thể dưới sự hướng dẫn của thầy cô Bên cạnh đó còn tổ chức hội thi “ Vở sạch chữ đẹp” rèn cho các em tính cẩn thận, giữ gìn những trang vở thật đẹp, thật sạch
Hoạt động ngoài giờ lên lớp là môi trường giao tiếp giúp các em học hỏi lẫn nhau, giúp những em nhút nhát rụt rè có thể dạn dĩ, tự tin, mạnh bạo hơn,
- Giáo dục thông qua các hoạt động khác:
+ Giao tiếp với bạn bè: học sinh giao tiếp với các bạn bè tốt thì sẽ ý thức được mục đích cuộc sống, ý thức được quan hệ xã hội, từ đó điều chỉnh tốt hành vi của mình Điều này thể hiện rõ qua các giờ ra chõi
+ Qua nhân cách của người giáo viên: giáo dục không chỉ là trong quá trình học tập trên lớp mà phải trong suốt quá trình, ở mọi lúc mọi nơi Chính vì vậy mỗi giáo viên trường tiểu họ
luôn là những tấm gương sáng để các em noi theo Hằng năm nhà trường có tổ chức các cuộc thi giáo viên dạy giỏi
* Những mặt hạn chế trong công tác giáo dục hình thành nhân cách cho học sinh của trường:
Hiện nay nhà trường đã và đang thực hiện các hoạt động trên một cách tích cực nhưng bên cạnh những mặt làm được thì nhà trường cũng để lại sai sót dẫn đến học sinh chưa đạt hiệu quả cao trong công tác giáo dục Về mặt nhận thức, về mọi mặt hoạt động của bản thân các em chưa thực hiện được nhất là về cách ứng xử của bản thân mình Các em còn bướng bỉnh, hùng hổ, không chịu nghe lời người lớn tuổi, nghe lời thầy cô, còn nhiều tình trạng gây gổ với các bạn trong lớp, trong trường Đó cũng là mối lo ngại hàng đầu của gia đình, nhà trường hiện nay
c) Nguyên nhân
* Nguyên nhân chủ quan:
- Thứ hai ta phải nói đến là các bậc phụ huynh khi đã có ý nghĩ sai lầm là đưa con em đến trường “Trăm sự nhờ thầy” mà ở nhà không chịu giáo dục, làm gương cho con, chỉ chăm chăm lo nuôi nấng, cung cấp các phương tiện và điều kiện cho con đến trường
- Bên cạnh đó khi giáo dục đạo đức cho học sinh, người giáo viên lại chưa nắm được khả năng nhận thức của từng học sinh, đặc điểm tâm sinh lí của lứa tuổi Giáo viên chưa nắm bắt được kịp thời tình hình, hoạt động có xu hướng nảy sinh để ngăn chặn kịp thời Còn có sự chi phối hình thành nhân cách cho các em, có nhiều trường hợp phân vân khi thực hiện không biết đi theo cách giáo dục nào, của gia đình, nhà trường hay của xã hội? Những thiếu sót của nhà trường cùng với vai trò công tác của giáo viên chủ nhiệm đã để lại những nhận thức sai về mọi mặt ảnh hưởng rất lớn đến đạo đức, đến việc hình thành nhân cách học sinh
* Nguyên nhân khách quan:
Trong tình hình hiện nay không thể không nói đến sự tác động tiêu cực từ cuộc sống xã hội Nền kinh tế thì trường và sự mở của hội nhập đã thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của xã hội, song mặt trái của nó cũng không ít, những ảnh hưởng tiêu cực đến nhân cách của học sinh Đó là ảnh hưởng của văn hóa phẩm không lành mạnh, coi thường các chuẩn mực đạo lí làm cho công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh gặp không ít khó khăn Các cơ quan tổ chức chính quyền địa phương chưa thực sự quan tâm sát sao đến các em, quản lí không chặt chẽ mọi hoạt động của học sinh Các cơ quan chức trách thường xử phạt hành vi đạo đức qua biện pháp tra tấn khiến các em sợ hãi nhận liều
III Biện pháp nâng cao công tác giáo dục nhân cách học sinh
Trang 71 Xây dựng môi trường văn hóa sư phạm
- Cần phải xây dựng một chương trình phương pháp riêng để tập trung giáo dục đạo đức, hình thành và phát triển nhân cách cho các em được chu đáo hơn, tốt hơn thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp
- Tăng cường công tác phối hợp chặt chẽ với gia đình, xã hội và các đoàn thể trong và ngoại nhà trường
- Xây dựng được mối quan hệ mật thiết giữa nhà trường và gia đình thật sự, giáo viên cần phải quan tâm quán xuyến đi sâu vào tìm hiểu hoàn cảnh cụ thể của từng học sinh Vì các em còn nhỏ nên chưa ý thức đúng đắn trong từng lời ăn tiếng nói, việc làm mà cần phải có sự yêu thương, dìu dắt chỉ bảo của người lớn đê giúp các em có được những chuẩn mực đạo đức nhất định
- Cần phải bồi dưỡng trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho một số giáo viên để truyền đatj kiến thức cho các em được tốt hơn và hiệu quả hơn
- Và đặc biệt muốn giáo dục đạo đức để giúp các em có nhân cách tốt, công dân tốt của đất nước thì trước hết người giáo viên phải thực sự gương mẫu trong công việc, tìm hiểu tâm tư sinh lý và hoàn cảnh của từng học sinh lớp mình nhằm tìm ra những biện pháp giáo dục phù hợp cho từng đối tượng
2 Nâng cao chất lượng dạy học
Nhằm giúp học sinh có hứng thú học tập, say mê yêu thích các môn học thì điều quan trọng là giáo viên phải luôn luôn gần gũi, là điểm tựa đáng tin cậy của học sinh Để học sinh thấy rằng muốn đạt được mục tiêu trong học tập, ngoài môi trường, các tác nhân thuận lợi còn phải có sự cố gắng quyết tâm của cả thầy và trò trong quá trình học tập
Giáo viên cần giúp học sinh xác định đúng động cơ, thái độ học tập: Học là để có kiến thức, để làm người, để chiếm lĩnh trí thức của loài người, biến kiến thức đó thành kiến thức của mình, học để lập thân, lập nghiệp nhằm phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân Có như vậy học sinh mới tự giác học tập, chăm chỉ học tập, cố gắng vươn lên
Giáo viên cần phải bù lấp những kiến thức cơ bản cho học sinh yếu kém để các em kịp thời hòa nhập với lớp
Đổi mới phương pháp dạy học phải đổi mới từ khâu soạn giảng, quá trình lên lớp, đến kiểm tra đánh giá Bài soạn thực sựlà bản thiết kế để giáo viên thực hiện trong giờ dạy, kèm theo bản thiết kế
là sự chuẩn bị chu đáo các điều kiện cần thiết cho giờ dạy
Trong giờ học sinh phải được làm việc tham gia chiếm lĩnh kiến thức mới Để thục hiện tốt vấn đền này giáo viên cần quan tâm tới các đối tượng học sinh, đặc biệt với học sinh yếu kém
Dạy học sinh trong đó có tự học: Học => Hỏi => Hiểu => Hành
Thường xuyên kiểm tra đánh giá học sinh
Phối hợp chạt chẽ giữa gia đình và nhà trường
3 Đổi mới công tác chủ nhiệm
Không phải giáo viên chủ nhiệm nào cũng có phương pháp tốt để quản lí lớp, thậm chí, không ít giáo viên còn tỏ ra lúng túng trong một số tình huống sư phạm Giáo viên chủ nhiệm có vai trò quan trọng trong việc giáo dục học sinh, là người đại diện Hiệu trưởng quản lý hoạt động học tập, sinh hoạt của một lớp học trong nhà trường GVCN lớp chiếm vị trí trung tâm, trụ cột trong quá trình giáo dục, rèn luyện học sinh, là linh hồn của lớp học, là cố vấn đáng tin cậy dẫn dắt, định hướng giúp học sinh biết vượn lên, tự hoàn thiện và phát triển nhân cách Bởi vậy mỗi GVCN cần: tìm hiểu
và nắm vững học sinh trong lớp về mọi mặt để có biện pháp tổ chức giáo dục sát với đối tượng nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của từng học sinh và cả lớp; phối hợp chạt chẽ với gia đình học sinh; nhận xét, đánh giá xếp loại học sinh cuối kỳ và cuối năm học, đề nghị khen thưởng và kỷ luật học sinh, đề nghị danh sách học sinh được lên lớp, danh sách học sinh phải kiểm tra lại, phải rèn luyện thêm
về hạnh kiểm trong kì nghỉ hè, phải ở lại lớp, hoàn chỉnh việc ghi vào sổ điểm và học bạ học sinh; tham gia hướng dẫn hoạt động tập thể, hoạt động giáo dục và rèn luyện học sinh do nhà trường tổ chức; báo cáo thường kì hoặc đột xuất về tình hình của lớp với Hiệu trưởng Có như vậy mọi hoạt động học tập, rèn luyện của học sinh mới đảm bảo chặt chẽ, giúp học sinh hoàn thiện, phát triển bản thân theo hướng tích cực đi lên
Trang 8IV Kết luận
1 Kết luận
Qua quá trình tìm hiểu thực trạng đạo đức, giáo dục phát triển nhân cách của trường điều mà mọi người phải đặc biệt quan tâm vì đây là bước đầu hình thành nên nhân cách công dân thông qua những hành vi đạo đức trong các mối quan hệứng xửở gia đình, nhà trường và xã hội Đặc biệt là mối quan hệứng xửở gia đành, nhà trường nhằm góp phần hình thành nhân cách cho trẻ và đào tạo những con người toàn diện phục vụ đất nước sau này Vì lứa tuổi các em đang lớn, đang phát triển nên cần sự khuyên răn nuôi dưỡng của những bậc làm cha làm mẹ Giáo dục cho các em không chỉ giáo dục ở trường là đủ mà phải kết hợp giữa 3 lực lượng với nhau để giáo dục các em Gia đình, nhà trường, xã hội luôn sát cánh bên nhau để tạo điều kiện cho các em phát triển, hoàn tiện nhân cách, giúp các em nắm được hành vi sai trái của mình để từ đó có biện pháp để sửa chữa, giáo dục các em thành những con người có ích cho xã hội
Là cha mẹ ai cũng muốn con mình ngoan ngoãn, biết vâng lời, hiếu thảo Là thầy cô ai cũng muốn rằng học sinh của mình có những hành vi tốt trong lời ăn tiếng nói, biết yêu thương lễ phép Nhưng trong môi trường xã hội lại khác, môi trường xã hội lại làm ảnh hưởng đến các em Không phải đứng trước khó khăn như vậy mà chúng ta lại thờ ơ quên lãng đi phẩm chất vốn có của các em Mà qua
đó nhà trường và gia đình cùng phối kết hợp tạo mọi điều kiện thuận lợi, vun đắp, quan tâm, uốn nắn kịp thời các em Có như vậy mới xây dựng được xã hội gồm những công dân tốt
Giáo dục học sinh không phải công vệc hôm qua, nay mà phải trải dài suốt quá trình mãi về sau của gia đình, nhà trường và xã hội Đạo đức, nhân cách học sinh được hình thành có được là do quá trình giáo dục, rèn luyện tu dưỡng chứ không phải là cái vốn sẵn có Con người chỉ sinh ra con người còn giáo dục mới sản sinh ra nhân cách con người Công tác giáo dục của trường Tiểu học Lâm có được kết quả tốt là do nhiều năm qua nhà trường phải tập trung vào các nhiệm vụ thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp thông qua việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội
2 Kiến nghị
Từ việc nghiên cứu Đề tài “
Một là
những thái độ phản kháng tiêu cực như lầm lì, cứng đầu hay cãi bướng lại Như thế chỉ làm cho mối liên hệ giữa cha mẹ và con cái rạn nứt mà thôi Trong nhiều trường hợp, phụ huynh cần giữ bình tĩnh để nghe con giải thích, suy xét xem đúng hay sai hơn là la mắng, giận dữ Nếu con trình bày và cha mẹ thấy mình sai thì nên nhận khuyết điểm và lỗi lầm của mình Chính thái độ nhận lỗi này của cha mẹ là một tấm gương cho con biết nhận trách nhiệm khi làm sai và tạo được lòng kính trọng và tin cậy với con của mình Nếu muốn con trở nên một người tử tế trong xã hội thì cha mẹ phải làm gương cho con noi theo Chính hành động của cha mẹ là một bài học thực tế nhất cho con
Bố mẹ cũng lên tạo khoảng thời gian và không gian cho con em nghỉ ngơi, giải trí trong điều kiện có sự giám sát Về phần giải trí, có một số trường hợp bố mẹ càng cấm thì các bạn càng tò mò, càng cố gắng tìm tất cả các biện pháp để đạt được điều mình mong muốn và ngược lại; nếu bố mẹ để cho các bạn chơi khoảng một tuần thả phanh, dần dà các bạn sẽ cảm thấy chán và không còn mong muốn chơi nữa (chỉ những bạn có thói quen nhanh chán) Về học tập, bố mẹ có thể giảm bớt thời gian học thêm cho con, chỉ học thêm ít nhưng chất lượng
Hai là
mắt, cử chỉ, mức độ chú ý…; cần điều chỉnh cảm xúc theo các nội dung nhất định và diễn biến tâm lý của học sinh, nhất là phải giữ vững được thái độ tích cực của mình trước tập thể học sinh, không bao giờ mang tâm trạng tiêu cực đến lớp học; gây được thiện cảm ban đầu với học sinh, đó là những yếu tố tác động trực tiếp đến chất lượng dạy học, giờ học Ngoài ra, thầy cô còn cần hiểu rõ tính cách, khí chất, năng khiếu của người học.Mặt khác, cần chú ý tới tài liệu học tập: Tài liệu học tập phải súc tích về nội dung khoa học, phải gán với cuộc sống của học sinh, làm cho học sinh hiểu rõ ý nghĩa của kiến thức môn học, gây cho học sinh hứng thú học tập và phải trình bày bài học, phải gợi cho học sinh có nhu cầu tìm hiểu bài học đó, phải giúp đỡ học sinh biết cách học, có phương pháp học tập phù hợp
Trang 9Ba là,
dục của người lớn đối với trẻ em thông qua các yếu tố: nhà trường, gia đình, xã hội Tuy nhiên theo em, với tư cách là nhà trường, nơi giáo dục chính thống cho học sinh, mà cụ thể hơn là đề nghị các thầy cô giáo cần biết nhiều hơn về sự phát triển tâm lý của học sinh, vận dụng chúng trong giao tiếp, trong giải quyết các vấn đề hàng ngày liên quan đến các sản phẩm giáo dục do chính mình đào tạo, tạo ra mối quan hệ thầy (cô) – học trò gần gũi hơn, có nền tảng vững chắc hơn, từ đó xây dựng được các lâu đài nhiều tri thức hơn
Rất mong trong một ngày không xa, thiếu niên, tức học sinh trường trung học cơ sở sẽ là những con người tài năng, sáng tạo, nâng cao và phát triển tốt mọi mặt học tập, giao tiếp, nhân cách và ứng xử
Trên đây là những tìm hiểu thực tế, quan điểm ý kiến của riêng tôi trong việc tìm hiểu tâm lí học học sinh trung học cơ sở.Rất mong nhận được sự góp ý kiến của các thầy cô giáo Tôi xin trân trọng cảm ơn!
V TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005
2 Giáo trình tâm lí học đại cương (Nguyễn Quang Uẩn)
3 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh trung học cơ sở (Đỗ Thị Hạnh Phúc)
4 Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm ( Đỗ Văn Thông)
5 Tài liệu Bồi dưỡng thường xuyên theo các cấp học (Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý cơ sở giáo dục)
6 Hiểu đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học trò cơ sở để xây dựng quan hệ thầy trò (Võ Thị Minh Chí)
XÁC NHẬN CỦA CƠ SỞ THỰC TẬP ……ngày….tháng….năm 2017
Trang 10Giáo sinh
(ký và ghi rõ họ tên)