1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận: Phân tích phạm vi ảnh hưởng của thuế

20 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 828,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài Phân tích phạm vi ảnh hưởng của thuế nhằm trình bày các nội dung chính: nguyên tắc xác định ảnh hưởng của thuế, trách nhiệm pháp lý của thuế không phân định rõ ai là người gánh chịu thuế thực sự, mở rộng phạm vi ảnh hưởng của thuế.

Trang 1

Tiểu luận Phan tích phạm vi ảnh hưởng của thuế

Trang 2

MỤC LỤC



I Nguyên tắc xác định ảnh hưởng của thuế 3

1 Nguyên tắc 1: Trách nhiệm pháp lý của thuế không phân định rõ ai là người gánh chịu thuế thực sự 3

2 Nguyên tắc 2: Khía cạnh thị trường mà thuế đánh vào không phản ảnh thích hợp sự phân phối gánh nặng thuế 5

3 Nguyên tắc 3: Các đối tượng có cung hoặc cầu không co giãn thì gánh chịu thuế hoàn toàn 7 II Mở rộng phạm vi ảnh hưởng của thuế 10

1 Phạm vi ảnh hưởng của thuế trong thị trường các yếu tố sản xuất 10

2 Phạm vi ảnh hưởng của thuế trong thị trường cạnh tranh không hoàn hảo 13

Cân bằng thị trường độc quyền và ảnh hưởng của thuế 13

Đánh thuế vào thị trường độc quyền: 14

3 Phạm vi ảnh hưởng của thuế và vấn đề vốn hóa 14

4 Phạm vi ảnh hưởng của thuế đến sự cân bằng ngân sách 15

III Cân bằng tổng thể 16

1 Mô hình cân bằng tổng thể của Harberger 16

2 Xác định tính tương đương của thuế trong mô hình cân bằng tổng thể 17

3 Phân tích sự tác động các loại thuế khác nhau: 17

4 Một vài đặc tính khác cần xem xét 19

Trang 3

PHẠM VI ẢNH HƯỞNG CỦA THUẾ

I Nguyên tắc xác định ảnh hưởng của thuế

1 Nguyên tắc 1: Trách nhiệm pháp lý của thuế không phân định rõ ai là người gánh chịu thuế thực sự

 Phạm vi ảnh hưởng do luật pháp quy định: xác định chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý về nghĩa vụ nộp thuế

Đối với thuế trực thu, người nộp thuế (chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý) đồng thời

là người gánh chịu thuế

Ví dụ: Thuế thu nhập doanh nghiệp: Người nộp thuế đồng thời là người chịu thuế

Đối với thuế gián thu, chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý (chủ thể chịu trách nhiệm nộp thuế) khác với chủ thể gánh chịu thuế thực sự

Ví dụ: người tiêu dùng A mua một cây bút máy giá chưa có thuế VAT là 10.000

đồng, thuế VAT là 10% Vậy, tổng số tiền mà người A phải thanh toán là 11.000 đồng, trong đó người A phải gánh chịu 1000 đồng thuế VAT Về nghĩa vụ pháp lý, người bán phải có trách nhiệm nộp số tiền thuế này vào kho bạc nhà nước

 Phạm vi ảnh hưởng kinh tế: thể hiện mức thay đổi phân phối thu nhập thực của từng chủ thể do thuế gây ra

Trong thị trường cạnh tranh, khi thuế đánh vào người sản xuất, người sản xuất sẽ gia tăng giá cả ở chừng mực nhất định để bù đắp gánh nặng thuế và thu nhập của người sản xuất sẽ không giảm xuống bằng đúng số tiền thuế Khi thuế đánh vào người tiêu dùng, người tiêu dùng sẽ không sẵn lòng mua nhiều hàng hóa bị đánh thuế, vì thế giá cả sẽ giảm xuống

Ví dụ: Chính phủ đánh thuế 50 cent trên 1 galon dầu lửa và người sản xuất phải

nộp thuế

Trang 4

Hình 1.1: Gánh nặng pháp lý không phải là gánh nặng thực sự

- Hình 1.1a: Trước khi chính phủ

đánh thuế, thị trường cân bằng tại điểm A:

giá cả thị trường $1.50, người sản xuất sẵn

lòng cung cấp 100 tỷ gallon dầu lửa

- Hình 1.1b: Chính phủ đánh thuế 50 cent trên 1 galon dầu lửa và người sản xuất phải nộp thuế

+ Để cung cấp lượng cân bằng ban đầu

100 tỷ gallon, người sản xuất yêu cầu mức giá mới là $2.00 ($1.50 cent ban đầu + 50 cent tiền thuế, tại điểm B) Khi đó đường cung S1 chuyển sang S2

+ Ở mức giá cân bằng ban đầu $1.50,

có sự thiếu hụt về cầu 20 tỷ gallon: người tiêu dùng muốn số lượng dầu lửa ở mức cũ (100 tỷ gallon), người sản xuất chỉ sẵn lòng cung cấp 80

tỷ gallon (điểm C)

Người tiêu dùng phải chấp nhận tăng giá để có được số lượng cao hơn Giá cả tiếp tục tăng cho đến khi thị trường đạt điểm cân bằng mới (điểm D): giá thị trường $1.80 và số lượng 90 tỷ gallon

 Chính phủ đánh thuế vào người sản xuất có 02 ảnh hưởng đến những người tham gia thị trường dầu lửa:

 Giá cả thị trường tăng 30 cent: từ $1.50 lên $1.80

Trang 5

 Người sản xuất nộp thuế cho chính phủ 50 cent/gallon được bán trên thị trường Tiền thuế 50 cent này được bù đắp: họ nhận 30 cent lớn hơn mức giá cân bằng ban đầu, thực tế họ chỉ nộp thuế 20 cent Từ góc độ người tiêu dùng, họ phải trả thêm 30 cent/gallon

 Như vậy, mặc dù người tiêu dùng không chịu trách nhiệm pháp lý nộp thuế cho chính phủ nhưng thực tế họ gánh chịu thuế 30 cent (nhiều hơn so với người sản xuất 20 cent) Sự gia tăng giá cả đã chuyển giao gánh nặng thuế từ người sản xuất đến người tiêu dùng

 Tổng số sánh nặng thuế là 50 cent Đó còn gọi là góc thuế: chênh lệch giữa số

tiền người tiêu dùng trả ($1.80) và người sản xuất nhận được ($1.30)

2 Nguyên tắc 2: Khía cạnh thị trường mà thuế đánh vào không phản ảnh thích hợp sự phân phối gánh nặng thuế

Nguyên tắc 2 của ảnh hưởng thuế là khía cạnh thị trường mà thuế đánh vào là không thích hợp đối với phân phối gánh nặng thuế: gánh nặng thuế là giống nhau cho dù thuế đánh vào người sản xuất hoặc người tiêu dùng

Ví dụ: Trong hình 1.1, chúng ta đã xét trường hợp chính phủ đánh thuế 50 cent

vào người sản xuất Chúng ta cần xem xét thêm trường hợp chính phủ đánh thuế 50 cent vào người tiêu dùng (hình 1.2)

Hình 1.2: Khía cạnh thị trường là không thích hợp

Trang 6

+ Người tiêu dùng phải trả thêm 50 cent tiền thuế, nên làm cho đường cầu D1

dịch chuyển sang D2 bằng 50 cent Để có được 100 tỷ gallon tính sẵn lòng của họ chỉ ở mức giá $1.00 ($1.50 cent ban đầu - 50 cent tiền thuế, tại điểm B)

+ Ở mức giá cân bằng ban đầu $1.50, xảy ra tình trạng mức cung dầu lửa vượt quá: người sản xuất sẵn lòng cung cấp 100 tỷ gallon (điểm A), người tiêu dùng chỉ sẵn lòng mua với số lượng ít hơn 100 tỷ gallon ở mức giá này

 Người sản xuất hạ thấp giá để bán phần sản phẩm vượt quá Quá trình hạ giá được thực hiện cho đến khi thị trường đạt điểm cân bằng mới (điểm C): giá thị trường

$1.30 và số lượng 90 tỷ gallon

 Như ví dự trước, Chính phủ đánh thuế vào người tiêu dùng cũng có 02 ảnh hưởng đến những người tham gia thị trường dầu lửa:

 Giá cả thị trường giảm 20 cent: từ $1.50 xuống $1.30

 Người tiêu dùng nộp thuế cho chính phủ 50 cent/gallon mỗi đơn vị sản phẩm tiêu dùng Tiền thuế 50 cent này được bù lại bởi sự giảm đi 20 cent giá cả thị trường, thực tế họ chỉ nộp thuế 30 cent Từ góc độ người sản xuất, họ nhận ít hơn 20 cent/gallon trên mỗi đơn

vị dầu lửa được bán

 Như vậy, mặc dù người sản xuất không chịu trách nhiệm pháp lý nộp thuế cho chính phủ nhưng thực tế họ gánh chịu thuế 20 cent (ít hơn so với người tiêu dùng 30 cent) Giá cả giảm đã chuyển gánh nặng thuế từ người tiêu dùng đến người sản xuất

 So sánh với ví dụ trước, ta thấy: người tiêu dùng đều phải trả $1.80 (ở ví dụ này

là giá $1.30 + thuế $0.50) cho mỗi đơn vị tiêu dùng và người sản xuất cũng đều chỉ nhận được $1.30 (ở ví dụ trước là giá $1.80 – thuế $0.50)

 Một lần nữa, chênh lệch giữa số tiền người tiêu dùng trả ($1.80) và người sản

xuất nhận được ($1.30) là góc thuế 50 cent

 Những gánh năng thuế khi đánh thuế vào người tiêu dùng giống như gánh nặng thuế khi đánh thuế vào người sản xuất

 Có 02 mức giá khác nhau mà các nhà kinh tế thường chỉ ra trong mô hình ảnh hưởng thuế:

- Tổng giá cả: giá cả phải trả hoặc nhận được bởi đối tác không phải nộp thuế cho chính phủ, nó giống như giá cả thị trường

- Giá sau thuế: giá cả phải trả hoặc nhận được bởi đối tác nộp thuế cho chính phủ,

nó thấp hơn bằng số tiền thuế (nếu người sản xuất nộp thuế) hoặc cao hơn bằng số tiền thuế (nếu người tiêu dùng nộp thuế)

 Khi đánh thuế vào người sản xuất, tổng giá cả mà người tiêu dùng thanh toán là

$1.80 và giá cả sau thuế mà người sản xuất nhận được là $1.80 - $0.50 = $1.30

Trang 7

Khi đánh thuế vào người tiêu dùng, tổng giá cả mà người sản xuất nhận được là

$1.30 và giá sau thuế mà người tiêu dùng trả là $1.30 + $0.50 = $1.80

Giá sau thuế = Tổng giá + góc thuế (nếu thuế đánh vào người tiêu dùng)

Giá sau thuế = Tổng giá - góc thuế (nếu thuế đánh vào người sản xuất)

3 Nguyên tắc 3: Các đối tượng có cung hoặc cầu không co giãn thì gánh chịu

thuế hoàn toàn

Phạm vi ảnh hưởng của đánh thuế đối với người sản xuất và người tiêu dùng được quyết định bởi độ co giãn của cung và cầu

 Cầu không co giãn hoàn toàn:

Khi cầu không co giãn hoàn toàn, người tiêu dùng gánh chịu thuế hoàn toàn và người sản xuất không gánh chịu thuế Điều này còn gọi là sự dịch chuyển hoàn toàn của thuế vào người tiêu dùng

Ví dụ: Xem xét lại trường hợp chính phủ đánh thuế 50 cent trên 1 galon dầu lửa

vào người sản xuất Tuy nhiên, bây giờ đường cầu về dầu lửa không co giãn hoàn toàn

Hình 1.3 Những yếu tố không co giãn gánh chịu thuế

Khi đánh thuế vào người sản xuất, điều này làm gia tăng chi phí biên 50 cent Giá

cả tăng lên kéo theo cung giảm xuống: đường cung S1 dịch chuyển sang S2 Điểm cân bằng mới là P2 = $2.00, cao hơn 50 cent so với giá ban đầu P1 = $1.50

Trang 8

- Người tiêu dùng phải trả thêm $0.50 (giá cân bằng mới $2.00 – giá cân bằng cũ

$1.50) cho mỗi đơn vị tiêu dùng, đúng bằng khoản tiền thuế 50 cent mà người sản xuất phải nộp

- Người sản xuất phải nộp chính phủ khoản tiền thuế 50 cent, khoản tiền này được

bù đắp bằng khoản tăng giá từ $1.50 lên $2.00 cho mỗi sản phẩm được bán trên thị trường

 Như vậy, khi đường cầu không co giãn hoàn toàn, gánh nặng thuế là:

- Gánh nặng thuế của người tiêu dùng là 50 cent

- Gánh nặng thuế của người sản xuất là 0

 Cầu co giãn hoàn toàn:

Khi cầu co giãn hoàn toàn, người sản xuất gánh chịu thuế hoàn toàn và người tiêu dùng không gánh chịu thuế

Ví dụ: Xem xét lại trường hợp chính phủ đánh thuế 50 cent trên 1 galon dầu lửa

vào người sản xuất Tuy nhiên, bây giờ đường cầu về dầu lửa co giãn hoàn toàn

Hình 1.4 Những yếu tố co giãn tránh thuế

Khi đánh thuế 50 cent, đường cung S1 dịch chuyển sang S2 Điểm cân bằng mới

là P2 = P1 = $1.50, số lượng giảm xuống Q2 = 90 tỷ gallon

- Người tiêu dùng vẫn chỉ phải trả $1.50 cho mỗi đơn vị tiêu dùng

Trang 9

- Người sản xuất phải nộp chính phủ khoản tiền thuế 50 cent, khoản tiền này không được bù đắp vì giá vẫn là $1.50 cho mỗi sản phẩm được bán trên thị trường

 Như vậy, khi đường cầu co giãn hoàn toàn, gánh nặng thuế là:

- Gánh nặng thuế của người tiêu dùng là 0

- Gánh nặng thuế của người sản xuất là 50 cent

 Tổng quát về phạm vi ảnh hưởng thuế: các đối tượng có cung hặc cầu không

co giãn gánh chịu gánh nặng thuế, ngược lại các đối tượng có cung hoặc cầu co giãn sẽ tránh được thuế Những hàng hóa thay thế có cầu co giãn hơn

 Mức co giãn cung:

Mức độ co giãn cung cũng ảnh hưởng đến mức độ phân phối gánh nặng thuế Đường cung co giãn hơn khi người sản xuất có thể sử dụng các nguồ lực đầu vào thay thế hơn

Ví dụ: Trong ngắn hạn, nhà máy thép có cung không co giãn Nhà máy không thể

dễ dàng chuyển công nghệ luyện thép sang công nghệ chế tạo nhựa hoặc chế biến gỗ Ngược lại, đường cung của những người bán dạo trên đường phố rất co giãn Bởi vì cá nhân bán dạo có mức đầu tư thấp, nếu như chính phủ đánh thuế họ dễ dàng chuyển sang đầu tư lĩnh vực khác

So sánh phạm vi ảnh hưởng thuế đánh vào nhà máy thép và phạm vi ảnh hưởng thuế đánh vào người bán dạo với bất kỳ đường cầu như thế nào

Hình 1.5 Co giãn cung và gánh nặng thuế

Trang 10

- Hình 1.5a cho thấy ảnh hưởng của

thuế đánh vào nhà máy thép Thị trường thép

ban đầu cân bằng ở điểm A Nhà máy thép chỉ

giảm chút ít số lượng thép bởi vì mức đầu tư

vốn cố định không thay đổi Kết quả là, khi

nộp 50 cent/đơn vị sản phẩm tiền thuế cho

chính phủ, nhà máy thép vẫn sản xuất số

lượng thép hầu như ở mức như trước Về tổng

thể, cung nhà máy thép dịch chuyển hướng

vào trong từ S1 đến S2 Giá cả gia tăng nhẹ từ

P1 đến P2 và số lượng thép sản xuất giảm từ

Q1 xuống còn Q2 Điểm cân bằng mới là B

Bởi vì giá cả tăng rất nhỏ nên không bù đắp

số thuế mà nhà máy thép nộp Vì thế nhà máy

thép gánh chịu hầu hết gánh nặng thuế và

người tiêu dùng gánh chịu thuế rất ít

- Hình 1.5b cho thấy ảnh hưởng thuế đánh vào người bán dạo Những người bán dạo rất nhạy cảm với chi phí sản xuất trong quyết định đầu tư của họ, dẫn đến đường cung rất co giãn Ban đầu, họ sẵn lòng cung cấp số lượng Q1 hàng hóa ở mức P1 Nếu như chính phủ đánh thuế 50 cent/ đơn vị sản phẩm, những người bán dạo sẽ di chuyển sang lĩnh vực kinh doanh khác Khi đó đường cung S1 dịch chuyển sang S2, với giá cả tăng từ P1 đến P2 và số lượng hàng hóa bán được lại giảm từ Q1 xuống Q2 Sự gia tăng giá cao trong thị trường bán dạo

bù lại số tiền thuế mà những người bán dạo phải nộp, vì vậy họ ít gánh chịu gánh nặng thuế Trong khi người tiêu dùng hàng bán dạo gánh chịu hầu hết gánh nặng thuế

 Tóm lại, phạm vi ảnh hưởng của thuế được quyết định bởi cả độ co giãn

cung và cầu

II Mở rộng phạm vi ảnh hưởng của thuế

Phần này chúng ta áp dụng 3 nguyên tắc xác định ảnh hưởng của thuế vào một số trường hợp khác nhau như là đánh thuế vào các yếu tố sản xuất, thuế trong thị trường cạnh tranh không hoàn hảo

1 Phạm vi ảnh hưởng của thuế trong thị trường các yếu tố sản xuất

Sự phân tích phạm vi ảnh hưởng của thuế trong thị trường các yếu tố sản xuất giống như thị trường hàng hóa tiêu dùng

Điểm khác biệt là: người tiêu dùng các yếu tố sản xuất là các doanh nghiệp và người cung cấp các yếu tố sản xuất là các cá nhân

Xem xét trong 2 trường hợp: Trường hợp không có trở ngại về điều chỉnh tiền lương (không có quy định về mức lương tối thiểu và có trở ngại về điều chỉnh tiền lương (có quy định về mức lương tối thiểu)

Trường hợp 1: không có trở ngại về điều chỉnh tiền lương:

Ta xét thị trường lao động có:

D1: cầu lao động

S1: cung lao động

A: điểm cân bằng ban đầu trước thuế (W1=5,15$, H1) với W là tiền lương, H là giờ lao động

Trang 11

Giả sử chính phủ đánh thuế tiền lương: 1$/h trên tất cả người lao động ta phân tích ảnh hưởng của thuế trong thị trường các yếu tố sản xuất:

TH1: Thuế đánh vào lao động TH2: Thuế đánh vào công ty

 Thuế đánh 1$/h làm giảm thu nhập của

người lao động

 Các cá nhân yêu cầu tăng 1$ trong tiền

lương để sẳn lòng làm việc và cung lao động

dịch chuyển hướng lên trên

 Với cung lao động không đổi, tiền lương cân

bằng mới B (W2=5,65$, H2)

 Thuế đánh vào công ty, đường cầu thay đổi dịch chuyển đi xuống D2 và tiền lương thị trường giảm xuống 4,65$

 Công ty thanh toán cho lao động ít hơn 50 cent so với tiền gốc 5,15$, nhưng phải nộp 1$ cho chính phủ Thực tế công ty phải thanh toán là 5,65$

 Cân bằng mới điểm C (W3=4,65$, H2), gánh nặng thuế ko thay đổi

 Người lao động và công ty gánh chịu thuế như nhau

Tóm lại: Trong thị trường đầu ra ảnh hưởng của thuế đánh vào tiền lương cho thấy không khác biệt đối với khía cạnh thị trường mà thuế đánh vào và gánh nặng kinh tế khác với gánh nặng pháp lý

Tuy nhiên sự phân tích này sẽ không đúng nếu như có sự giới hạn điều chỉnh tiền lương tối thiểu – mức tiền lương tối thiểu bắt buộc mà tất cả người lao động được thanh toán cho mỗi giờ lao động

Trường hợp 2: Có trở ngại về điều chỉnh tiền lương (có quy định về mức lương tối thiểu):

Giả sử người lao động được thanh toán cho mỗi giờ lao động Với mức lương tối thiểu, nghĩa là tiền lương không thể điều chỉnh, vì thế ảnh hưởng của thuế sẽ khác nhau và mức tiền lương tối thiểu cân bằng ở mức ban đầu là Wm=5,15$

TH3: Thuế đánh vào lao động TH4: Thuế đánh vào công ty

Ngày đăng: 16/04/2021, 22:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w