1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tiểu luận: Khai thác và phát triển hoạt động du lịch lễ hội Đền Cờn phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

38 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 78,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC 1. Lí do chọn đề tài 4 2. Mục đích nghiên cứu 5 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5 4. Phương pháp nghiên cứu 5 5. Đóng góp của đề tài 5 6. Bố cục 6 Chương 1: LÍ LUẬN CHUNG VỀ LỄ HỘI, DU LỊCH VÀ TỔNG QUAN VỀ PHƯỜNG QUỲNH PHƯƠNG, THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN 7 1.1. Khái niệm về lễ hội 7 1.1.1. Khái niện về lễ hội 7 1.1.2. Một số tên gọi và cách hiểu tương đương 9 1.2. Khái niện về du lịch 10 1.2.1. Khái niệm về du lịch 10 1.2.2. Các loại hình du lịch 10 1.3. Vai trò của lễ hội và du lịch trong đời sống hiện nay 11 1.3.1. Vai trò của lễ hội đối với đời sống xã hội 11 1.3.2. Vai trò du lịch văn hóa trong đời sống xã hội hiện nay 12 1.4. Tổng quan về phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An 14 Chương 2: LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG ĐỀN CỜN PHƯỜNG QUỲNH PHƯƠNG, THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN 16 2.1. Lịch sử khu di tích Đền Cờn 16 2.1.1. Giới thiệu khái quát về Đền Cờn 16 2.1.2. Truyền thuyết về khu di tích đền Cờn 16 2.1.3. Cấu trúc khu di tích đền Cờn 17 2.1.4. Nghệ thuật điêu khắc và những hiện vật có giá trị của Đền Cờn 19 2.2. Lễ hội truyền thống Đền Cờn phường quỳnh phương, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An 19 2.2.1. Diễn trình lẽ hội Đền Cờn 19 2.2.2. Những giá trị văn hóa – lịch sử của đền Cờn phường Quỳnh Phương thị xã Hoàng Mai tỉnh Nghệ An 22 Chương 3: NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHAI THÁC, PHÁT TRIỂN VÀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH LỄ HỘI ĐỀN CỜN PHƯỜNG QUỲNH PHƯƠNG, 24 THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN 24 3.1. Những yếu tố khách quan để khai thác và phát triển du lịch lễ hội Đền Cờn phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An 24 3.1.1. Xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng 24 3.1.2. Trùng tu tôn tạo cảnh quan khu di tích đền Cờn 25 3.1.3. Sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền , cơ quan chức năng và toàn xã hội đối với lễ hội Đền Cờn 26 3.2. Khai tác và phát triển du lịch văn hóa trong lễ hội đền Cờn phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng mai, tỉnh Nghệ An 28 3.2.1. Xây dựng kịch bản chương trình lễ hội 28 3.2.2. Xây dựng và hình thành công tác hướng dẫn thuyết minh về lịch sử, truyền thuyết, về ý nghĩa lễ hội,về những giá trị văn hóa cho du khách 28 3.2.3. In ấn, quảng bá các giá trị văn hóa của lễ hội và cảnh quan thiên nhiên của khu di tích Đền Cờn 29 3.2.4. Liên kết hợp đồng với các nhà hàng, khách sạn, đáp ứng nhu cầu ăn nghỉ, niêm yết giá cả hàng hóa, đảm bảo lợi ích tiêu dùng cho du khách trong và ngoài nước. 31 3.2.5. Liên kết quan hệ với các công ty lữ hành du lịch các cơ sở địa phương, các quần thể di tích khác trong khu vực. 31 3.2.6. Xây dựng hình thành các tour du lịch trên địa bàn thị xã Hoàng Mai. 32 KẾT LUẬN 35

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành báo cáo thực tập của mình, trước tiên em xin bày tỏ lời cảm ơnsâu sắc nhất tới cô giáo ……,với những kinh nghiệm quý báu của mình,cô đã nhiệttình hướng dẫn, động viên, khích lệ em trong suốt thời gian qua, để em hoàn thiệnbài báo cáo thực tập năm 4 này

Em cũng xin cảm ơn cơ quan UBND thị xã Hoàng Mai, Trung tâm Văn hóa

- Thông tin - Thể thao thị xã Hoàng Mai, đặc biệt là các anh chị trong Phòng Vănhóa - Thông tin thị xã Hoàng Mai, Thư viện Phường Quỳnh Xuân - thị xã HoàngMai … đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, cung cấp tài liệu, tư liệu và tạo điều kiệnthuận lợi nhất cho em được thực tập để hoàn thiện bài báo cáo này

Tuy nhiên , do thời gian hạn chế đề tài nghiên cứu báo cáo thực tập khôngtránh khỏi khiếm khuyết, kính mong nhận được sự quan tâm chỉ bảo và góp ý của

cô giáo và các bạn để báo cáo đạt kết quả cao nhất

Em xin trân trọng cảm ơn

Sinh Viên

Trang 2

MỤC LỤC

1 Lí do chọn đề tài 4

2 Mục đích nghiên cứu 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Đóng góp của đề tài 5

6 Bố cục 6

Chương 1: LÍ LUẬN CHUNG VỀ LỄ HỘI, DU LỊCH VÀ TỔNG QUAN VỀ PHƯỜNG QUỲNH PHƯƠNG, THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN 7

1.1 Khái niệm về lễ hội 7

1.1.1 Khái niện về lễ hội 7

1.1.2 Một số tên gọi và cách hiểu tương đương 9

1.2 Khái niện về du lịch 10

1.2.1 Khái niệm về du lịch 10

1.2.2 Các loại hình du lịch 10

1.3 Vai trò của lễ hội và du lịch trong đời sống hiện nay 11

1.3.1 Vai trò của lễ hội đối với đời sống - xã hội 11

1.3.2 Vai trò du lịch văn hóa trong đời sống xã hội hiện nay 12

1.4 Tổng quan về phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An 14

Chương 2: LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG ĐỀN CỜN PHƯỜNG QUỲNH PHƯƠNG, THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN 16

2.1 Lịch sử khu di tích Đền Cờn 16

2.1.1 Giới thiệu khái quát về Đền Cờn 16

2.1.2 Truyền thuyết về khu di tích đền Cờn 16

2.1.3 Cấu trúc khu di tích đền Cờn 17

2.1.4 Nghệ thuật điêu khắc và những hiện vật có giá trị của Đền Cờn 19

2.2 Lễ hội truyền thống Đền Cờn phường quỳnh phương, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An 19

Trang 3

2.2.1 Diễn trình lẽ hội Đền Cờn 19 2.2.2 Những giá trị văn hóa – lịch sử của đền Cờn phường Quỳnh Phương - thị xã Hoàng Mai - tỉnh Nghệ An 22

Chương 3: NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHAI THÁC, PHÁT TRIỂN VÀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH LỄ HỘI ĐỀN CỜN PHƯỜNG QUỲNH PHƯƠNG, 24THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN 243.1 Những yếu tố khách quan để khai thác và phát triển du lịch lễ hội Đền Cờn phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An 24

3.1.1 Xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng 24 3.1.2 Trùng tu tôn tạo cảnh quan khu di tích đền Cờn 25 3.1.3 Sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền , cơ quan chức năng và toàn xã hội đối với lễ hội Đền Cờn 26

3.2 Khai tác và phát triển du lịch văn hóa trong lễ hội đền Cờn phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng mai, tỉnh Nghệ An 28

3.2.1 Xây dựng kịch bản chương trình lễ hội 28 3.2.2 Xây dựng và hình thành công tác hướng dẫn thuyết minh về lịch sử, truyền thuyết, về ý nghĩa lễ hội,về những giá trị văn hóa cho du khách 28 3.2.3 In ấn, quảng bá các giá trị văn hóa của lễ hội và cảnh quan thiên nhiên của khu di tích Đền Cờn 29 3.2.4 Liên kết hợp đồng với các nhà hàng, khách sạn, đáp ứng nhu cầu ăn nghỉ, niêm yết giá cả hàng hóa, đảm bảo lợi ích tiêu dùng cho du khách trong

và ngoài nước 31 3.2.5 Liên kết quan hệ với các công ty lữ hành du lịch các cơ sở địa phương, các quần thể di tích khác trong khu vực 31 3.2.6 Xây dựng hình thành các tour du lịch trên địa bàn thị xã Hoàng Mai 32

KẾT LUẬN 35

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Là một thành tố đặc biệt quan trọng trong kho tàng di sản văn hóa việt Nam

Lễ hội có vai trò to lớn, không thể tách rời trong đời sống của cộng đồng Việt Lễhội là nơi sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng Nó là một nhu cầu thiết yếu gần gũi và gắn

bó với đời sống tâm linh của con người

Lễ hội trở thành bộ phận quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần củangười dân Một diện mạo văn hóa mới của họ

Đền Cờn, một trong những ngôi đền linh thiêng và cổ kính nhất xứ Nghệ ĐềnCờn - một di tích lịch sử văn hóa - một danh lắm thắng cảnh gắn với lễ hội mà dù

có đi đâu xa xôi con người nơi đây vẫn hoan hỉ, háo hức hướng về với tên gọithiêng liêng đó là lễ hội Đền Cờn Sự linh thiêng ấy ứng với câu thơ của ông chaxưa mà đến đời nay vẫn còn lưu giữ:

“ Nhất Cờn, nhì Quả, tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trưng”

Chính vì sự linh thiêng của ngôi đền, không chỉ trong những ngày lễ hội, màquanh năm, nhất là vào mùa xuân, du khách thập phương từ mọi miền đất nướckhông quản đường sá xa xôi lại tụ hội về xứ Nghệ, đến với đền Cờn tế lễ để nguyệncầu những điều an lành, hạnh phúc và thịnh vượng cho bản thân và gia đình Trongthúc ước làng Phương Cần xưa đã có câu:

“Tha thướt gấu quần chân dép Màu nhởn nhơ khách thị, khách thành”

Gắn lễ hội với du lịch là cách tốt nhất để quảng bá lễ hội, là cách gìn giữ lưutruyền lễ hội Việc tổ chức Lễ hội đền Cờn ngày nay vẫn cần được tiếp tục nghiêncứu để bổ sung thêm một số nội dung nhằm gắn lễ hội với phát triển du lịch nhưngvẫn giữ được không khí trang nghiêm, sự linh thiêng của lễ hội Đây cũng là một

Trang 5

cách để qua đó có thể đáp ứng nhu cầu tham quan du lịch của các du khách gần xa.Tạo cơ hội phát triển, tăng thu nhập cho người dân nơi đây Vì vậy em chọn đề tài:

“Khai thác và phát triển hoạt động du lịch lễ hội Đền Cờn phường Quỳnh Phương,thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An” làm bài báo cáo thực tập

2 Mục đích nghiên cứu

- Giới thiệu về lễ hội Đền Cờn

- Định hướng cho việc khai thác, phát triển lễ hội đền Cờn để phục vụ du lịch

Đề ra những biện pháp khả thi để xây dựng, phát triển khu di tích lịch sử văn hóa Đền Cờn

-3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Khai thác và phát triển hoạt động du lịch

Phạm vi nghiên cứu: Lễ hội Đền Cờn phường Quỳnh Phương, thị xã HoàngMai, Tỉnh Nghệ An

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng những phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp điền dã

- Phương pháp trao đổi phỏng vấn

- Phương pháp phân tích tổng hợp tư liệu

5 Đóng góp của đề tài

Giới thiệu về lễ hội Đền Cờn thông qua đó làm sáng tỏ các vấn đề xung quanh

lễ hội, đi sâu nghiên cứu tổng kết phân tích đánh giá các giá trị văn hóa, vai trò và ýnghĩa của lễ hội Từ đó đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả khai thác và phát

Trang 6

triển du lịch lễ hội Đền Cờn phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai, tỉnh NghệAn

Trang 7

Chương 1

LÍ LUẬN CHUNG VỀ LỄ HỘI, DU LỊCH VÀ TỔNG QUAN VỀ PHƯỜNG QUỲNH PHƯƠNG, THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN 1.1 Khái niệm về lễ hội

1.1.1 Khái niện về lễ hội

Theo từ điển bách khoa Việt Nam (2005): Lễ là hệ thống các hành vi, động tácnhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước

mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năngthực hiện Như vậy theo định nghĩa này lễ là hình thức quy cách – nguyên tắc ứng

xử được thực thi với một đối tượng được cử lễ nào đó

Trong từ điển Bách khoa Việt Nam (2005): Hội là sinh hoạt văn hóa, tôn giáonghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và pháttriển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia đình, sựvững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của mùa

màng, mà từ bao đời nay quy tụ thành niềm mơ ước chung vào bốn chữ “nhân khang, vật thịnh”.

Đoàn Văn Chúc lại cho rằng: “Hội là cuộc vui chơi bằng vô số hoạt động giải trí công cộng, diễn ra tại một địa điểm nhất định vào dịp cuộc lễ kỉ niệm một

sự kiện tự nhiên xã hội, nhằm diễn đạt sự phấn khích, hoan hỉ của công chúng dự lễ.”

Trong tiếng Việt, Hội là danh từ để chỉ sự tập hợp một số cá nhân vào trongmột tổ chức nào đó, tồn tại trong một không gian và thời gian cụ thể Đôi khi hộichỉ là sự liên kết giữa các cá nhân, tổ chức có chung mục đích hoặc các mục đíchgần giống nhau Hội còn được coi là cuộc vui tổ chức cho đông đảo người dự theo

Trang 8

phong tục, tập quán, hay phong trào, trào lưu ở một thời điểm nào đó trong quátrình phát triển xã hội Đây chính là dịp người ta tổ chức hoạt động vui chơi giải trícho đông đảo những người tham dự Các hoạt động này được diễn ra thường niêntheo phong tục, tập quán truyền thống của các địa phương, vùng miền hoăc tổ chứcvào các dịp đặc biệt trong năm để hướng tới, tôn vinh với mong muốn đạt đượcnhững mục tiêu, giá trị cụ thể nào đó trong đời sống văn hóa cộng đồng Như vậy,trong hội lưu giữ một phần kho tàng di sản văn hóa đặc sắc của địa phương và dântộc.

Trong hội, có thể tìm thấy những biểu tượng điển hình của sự thể hiện tâm lýcộng đồng, những đặc trưng của văn hóa dân tộc, những quan niệm, cách ứng xửđối với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội của các cá nhân và cả cộng đồngngười Những hoạt động diễn ra trong hội luôn phản ánh và thể hiện một phần lịch

sử địa phương, đất nước Như vậy: “ Hội là tập hợp những hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội của một cộng đồng dân cư nhất định, là cuộc vui tổ chức cho đông đảo người dự theo phong tục truyền thống hoặc nhân những dịp đặc biệt Những hoạt động diễn ra trong hội phản ánh điều kiện, khả năng và trình độ phát triễn của địa phương, đất nước ở vào thời điểm diễn ra các sự kiện đó”.

Qua các cách hiểu trên có thể hiểu:“Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định; nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại; đồng thời là dịp để biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên - thần thánh và con người trong xã hội”

Lễ hội là một sinh hoạt văn hóa dân gian nguyên hợp mang tính cộng đồngcao của các tầng lớp nhân dân, diễn ra trong những chu kỳ về không gian và thờigian nhất định để tiến hành nhưng nghi thức mang tính biểu trưng về sự kiện nhânvật được thờ cúng Những hoạt động này nhằm để tỏ rõ những ước vọng của conngười, để vui chơi giải trí trong tính cộng đồng cao Lễ hội là những hoạt động,

Trang 9

những sinh hoạt văn hóa mà ở đó có sự gắn kết không thể tách rời của cả nội dung

và hình thức của hai thành tố cơ bản là Lễ và Hội

Lễ hội là sinh hoạt văn hoá cộng đồng, bởi vì đây là hoạt động văn hóa của tậpthể, thuộc về tập thể , do tập thể tổ chức tiến hành Bất cứ lễ hội nào cũng gắn vớiđịa bàn dân cư cụ thể, là hoạt động văn hóa của địa phương đó Lễ Hội là sự biểu

hiện đạo lí “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, thể hiện cách ứng xử văn hóa với

thiên nhiên, thần thánh , con người, thông qua các hoạt động trong lễ hội Đó lànhững ứng xử tập thể, của cộng đồng cư dân với cả 2 đối tượng: siêu hình (thầnthánh) và hữu hình (con người) Nó cũng phản ánh mối quan hệ, giao thoa giữasiêu và thực, giữa con người và con người trong những hoàn cảnh và hoạt động cụthể

1.1.2 Một số tên gọi và cách hiểu tương đương

Trong thực tiễn đời sống văn hóa ở Việt Nam, người ta cũng thường dùngmột số tên gọi với cách hiểu tương đương như cụm từ “Lễ hội” và đồng thời biểuthị tính chất hay xuất xứ của lễ hội Theo dòng tên gọi dân gian thì lễ hội có 9 cáchgọi tên như sau: Trò, hội, đám xứ, tiệc làng, việc làng, hội làng, làng vào đám, làng

mở hội

Còn theo các nhà ngiên cứu thì lễ hội còn có những tên như: lễ hội, hội lễ, lễhội truyền thống, lễ hội dân gian, lễ hội cổ truyền, lễ hội dân gian truyền thống,niên hoan du lịch làng nghề truyên thống, ngày hội văn hóa thể thao các dân tộc, lễhội văn hóa thể thao du lịch, liên hoan du lịch quốc tế, lễ hội du lịch, lễ hội mới,festival…

Qua hai hệ thống tên gọi trên, cho ta thấy rằng: hệ thống tên gọi thứ nhất xuấtphát từ hoạt động nội tại của hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng do chínhnhững người tổ chức nói về hoạt đông do chính họ tiến hành Còn hệ thống tên gọi

Trang 10

thứ hai do những người từ bên ngoài nhìn vào lễ hội với tư cách một thành tố vănhóa, đặt lễ hội trong môi trường hoạt động của nó để diễn giải về nó

1.2 Khái niện về du lịch

1.2.1 Khái niệm về du lịch

Có rất nhiều cách phát biểu khác nhau về khái niệm du lịch, tùy thuộc vào góc

độ tiêp cận của các nhà nghiên cứu Ví như Asher có quan niệm: “Du lịch là nghệ thuật đi chơi của cá nhân”, hay quan niệm: “ Du lịch là hoạt động của con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đến một nơi khác nhằm thẩm nhận giá trị vật chất

và tinh thần độc đáo, đặc sắc, khác lạ không nhằm mục đích sinh lợi và đồng tiền”

của Trần Nhoãn Hoặc coi du lịch là sự mở rộng không gian văn hóa của con người(Nguyễn Khắc Viện)…

Hội nghị liên hợp quốc về du lịch tại Roma cho rằng: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của các cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của

họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến không phải là nơi làm việc của họ”.

1.2.2 Các loại hình du lịch

Loại hình du lịch là một tập hợp các sản phẩm du lịch có đặc điểm giốngnhau, hoặc vì chúng thõa mãn nhu cầu, động cơ du lịch tương tự hoặc được cùngbán cho một nhóm khách hành hoặc vì chúng có một cách phân phối, một cách tổchức như nhau hoặc được sắp xếp theo một giá bán nào đó

Có nhiều cách phân loại về loại hình du lịch, tùy thuộc vào cách thức tiếp cậncủa các nhà nghiên cứu

+ Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ bao gồm: Du lịch quốc tế, du lịch nội địa

Trang 11

+ Căn cứ vào đối tượng khác nhau bao gồm: Du lịch trẻ em, du lịch thanhniên, du lịch trung niên, du lịch người già

+ Căn cứ vào hình thức tổ chức bao gồm: Du lịch đi lẻ, du lịch theo đoàn+ Căn cứ vào phương tiện bao gồm: Du lịch motor, du lịch bus, du lịch xe đạp,

du lịch tàu hỏa

+ Căn cứ theo nhu cầu nảy sinh hoạt động du lịch thì bao gồm có các loại hìnhsau: Du lịch chữa bệnh, du lịch nghỉ ngơi, giải trí, du lịch thể thao săn bắn, câu cá,leo núi; du lịch tôn giáo, du lịch thăm thân, du lịch công vụ thực hiện nhiệm vụ,công tác nghề nghiệp nào đó: hội nghị, hội thảo, triển lãm…

1.3 Vai trò của lễ hội và du lịch trong đời sống hiện nay

1.3.1 Vai trò của lễ hội đối với đời sống - xã hội

Là một thành tố đặc biệt quan trọng trong kho tàng di sản văn hóa Việt Nam,

lễ hội truyền thống có vai trò to lớn, không thể tách rời đời sống của cộng đồng dântộc Lễ hội là nơi con người gửi gắn những ước mơ những khát vọng mà cuộc sốnghằng ngày không đáp ứng được cho họ, nơi họ giấu tâm tư tình cảm, nơi gắn kếtcon người lại gần nhau… Lễ hội còn là nơi con người giải trí thư giãn sau nhữngvất vả mệt nhọc của cuộc sống thường nhật với bộn bề toan tính Cụ thể:

- Lễ hội là dịp tưởng nhớ, tạ ơn và đòi hỏi của đông đảo quần chúng nhân dânđối với đối tượng mà họ thờ cúng

- Lễ hội giúp con người ta trở về, đánh thức cội nguồn

- Lễ hội góp phần giữ gìn, bảo lưu và phát triển những truyền thống tốt đẹpcủa quê hương và dân tộc

- Lễ hội góp phần cố kết và nâng cao các mối quan hệ trong xã hội

- Lễ hội là nơi vui chơi giải trí, thu nạp năng lượng cho cuộc sống mới

Trang 12

- Lễ hội đáp ứng nhu cầu đi tìm hạnh phúc, ý nghĩa cuộc sống của con ngườingoài cái thông thường của đời thường bằng việc xác lập niềm tin và thể hiện niềntin trước siêu nhiên.

- Lễ hội làm cho diện mạo của đời sống văn hóa thêm sinh động, đa dạng và làmột nguồn lực quan trọng của tinh thần xã hội

- Lễ hội là môi trường dễ cảm thông giữa cá nhân, nhóm, cộng đồng… có nềnvăn hóa khác nhau cũng như thõa mãn nhu cầu giao tiếp

Thực tế của đời sống văn hóa tâm linh ở nước ta đã khẳng định vai trò của lễhội Nó đã góp phần xây dựng một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Giúp ViệtNam xác lập được nền văn hóa trong quá trình hội nhập quốc tế

1.3.2 Vai trò du lịch văn hóa trong đời sống xã hội hiện nay

Trên con đường tiến tới tiến bộ xã hội, nhân loại ngày càng nhận ra rằng, bêncạnh yếu tố kinh tế, kĩ thuật yếu tố văn hóa được đưa vào sản xuất và đời sống sẽtạo ra những bước phát triển không ngờ Văn hóa là động lực và đồng thời cũng làmục tiêu của sự phát triển Đối với du lịch, văn hóa càng có vai trò và vị trí quantrọng , là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh chóng và bền vữngcủa du lịch Sự phát triển du lịch của một số nước có nền văn hóa lâu đời như HiLạp, Trung quốc, Ai Cập, Pháp, Italia… cùng với sự thay đổi hướng đi của dukhách trong những năm gần đây tới văn hóa phương Đông huyền bí chính lànhững minh chứng hùng hồn, chính văn hóa đã là yếu tố quyết định hướng pháttriển du lịch theo hướng du lịch văn hóa

Thực ra, khai thác di sản văn hóa cho phát triển du lịch trên thế giới khôngphải là ý tưởng mới Tuy nhiên cho đến gần đây, khái niệm du lịch văn hóa mớiđược hình thành và phát triển

Ngày nay, do bản thân khái niệm văn hóa được mở rộng, đối tượng của du lịchvăn hóa không chỉ lầ các di tích cổ, mà còn bao hàm tất cả những sản phẩm vật

Trang 13

chất và tinh thần của con người như các di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, cácsinh hoạt lễ hội, văn nghệ dân gian, các sản phẩm thủ công truyền thống, văn hóa

ẩm thực… Đặc biệt yếu tố con người – chủ thể sáng tạo ra các nền văn hóa

Du lịch văn hóa không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà quan trọng hơn nó làmột phương tiện truyền tải những giá trị văn hóa của một cộng đồng tới một cộngđồng khác, hoặc tới những thế hệ khác trong bản thân cộng đồng, giúp họ hiểuđược và trân trọng các giá trị đó, từ đó hình thành nhân cách và thế giới quan nềntảng truyền thống dân tộc, nâng cao ý thức bảo tồn các giá trị văn hóa đó

Phát triển du lịch văn hóa có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn và pháthuy các giá trị truyền thống Điều đó đồng nghĩa với việc duy trì và phát triển môitrường xã hội nhân văn lành mạnh an toàn, yếu tố quan trọng của phát triển du lịchbền vững

Nước ta là một nước có nền văn hóa độc đáo với hàng ngàn di tích lịch sử,trong đó có nhiều di tích có nhiều giá trị đặc biệt, hàng trăm làng nghề thủ côngtruyền thống, nhiều lễ hội diễn ra trong năm với những hình thức sinh hoạt đa dạng,phong phú và sôi động Đây cũng là đất nước của cộng đồng 54 dân tộc sinh sốngtrong sự đoàn kết Mỗi dân tộc lại có những phong tục, tập quán một nền văn nghệdân gian riêng biệt Tiềm năng quí giá đó là điều kiện và tiền đề thúc đẩy sự pháttriển của ngành du lịch văn hóa nước ta

Nhiều di tích đã được bạn bè quốc tế biết đến như là biểu tượng của Việt Namnhư di tích của thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến, quần thể kiến trúc cố đô Huế,Thánh địa Mỹ Sơn, phố cổ Hội An, khu thắng cảnh Hương Sơn, nhiều lễ hội đi vàotâm thức của khách du lịch quốc tế như: hội Đền Hùng, chùa Hương… Điều đặcbiệt hơn nữa là ở nước ta, hầu hết các di tích lịch sử văn hóa đều phân bố ở nhữngnơi có cảnh quan thiên nhiên đẹp và hấp dẫn Đây là những yếu tố hết sức thuận lợicho các cuộc du lịch sinh thái và văn hóa, ngoài ra nó còn là chiếc nam châm cósức hút mạnh mẽ đến du khách Việt Nam

Trang 14

Sự ra đời và phát triển của du lịch văn hóa đã làm sống lại ý thức bảo tồn vàphát huy các giá trị văn hóa cổ xưa của cả cộng đồng dân cư lẫn bản thân du kháchtại các điểm di tích lịch sử văn hóa, lễ hội cổ truyền và làng nghề truyền thống Đócũng chính là yếu tố để du lịch văn hóa có thể tồn tại và phát triển bởi du lịch vănhóa có thể hiểu đơn thuần là du lịch đến các điểm có di tích lịch sử văn hóa, làngnghề, lễ hội, phong tục tập quán, lối sống độc đáo, đặc sắc của dân tộc, của đấtnước.

Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, du lịch đã trở thành một bộ phận tất yếucủa xã hội Du lịch không những là nghành kinh tế mũi nhọn của các quốc gia màcòn là cầu nối giao lưu giữa các dân tộc, quốc gia và các vùng miền trong một đấtnước Bạn bè quốc tế trước đây biết đến Việt Nam là 1 quốc gia phải trải qua nhiềuthập kỉ chiến tranh với các thế lực xâm lược mạnh hơn gấp nhiều lần và họ đã anhdũng đánh bại các thế lực xâm lược đó, bảo vệ toàn vện lãnh thổ non sông của đấtnước Bởi vậy ngày nay, khi khách du lịch đến với việt Nam họ thường ngạc nhiên

và tự hỏi “không hiểu vì sao những con người mãnh liệt, dũng cảm lập nhiều kì tích trong chiến tranh như vậy lại cuốn hút khách tham quan bởi sự hiền hậu, chân tình, và thân thiện chứ không phải bằng những hào quang chiến thắng” Có lẽ một

phần câu trả lời đang ẩn mình trong tính cách và tuyền thống của người Việt, bởitrải qua hàng ngàn năm lịch sử, người Việt đã tạo dựng cho mình một phong cách,một nền văn hóa thuần phong mĩ tục riêng

Du lịch văn hoá là một trong những loại hình du lịch bền vững, hấp dẫn dukhách, có nhiều điều kiện, nguồn lực để phát triển Việt Nam, một đất nước trải dàitheo thời gian thông qua năm tháng đã được tích lũy một kho tàng văn hóa lớn và

nó ngày càng có sức hút sự quan tâm chú ý của mọi người trên các quốc gia khácnhau

Phần lớn hoạt động du lịch văn hoá gắn liền với địa phương- nơi lưu giữ niều

lễ hội văn hóa, với nhiều loại như du lịch tôn giáo, du lịch tham quan, du lịch

Trang 15

nghiên cứu, du lịch giải trí… việc thu hút khách du lịch tham gia du lịch văn hóa đãgóp phần tạo ra dòng chảy mới cải thiện đời sống tinh thần của nhân dân.

1.4 Tổng quan về phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ

An

Phường Quỳnh Phương là một phường thuộc thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ

An, Việt Nam

Địa giới hành chính của Phường Quỳnh Phương:

- phía Đông giáp biển Đông

- Tây giáp phường Quỳnh Dị

- Nam giáp xã Quỳnh Liên

- Bắc giáp xã Quỳnh Lập

Phường có diện tích 3,45 km², dân số năm 2013 là 15.790 người, mật độ dân

số đạt 4.571 người/km²

Tiền thân là xã Quỳnh Phương thuộc huyện Quỳnh Lưu Ngày 3 tháng 4 năm

2013, được nâng lên thành phường thuộc Thị xã Hoàng Mai theo Nghị quyết47/2013/NQ-CP của Chính phủ

Trang 16

Chương 2

LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG ĐỀN CỜN PHƯỜNG QUỲNH PHƯƠNG,

THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN 2.1 Lịch sử khu di tích Đền Cờn

2.1.1 Giới thiệu khái quát về Đền Cờn

Phường Quỳnh Phương – thị xã Hoàng Mai – tỉnh Nghệ An cách thành phốVinh khoảng 75 km về phía Bắc, cách Hà Nội 220 km về phía Nam

Tọa lạc ở vị trí sơn thủy hữu tình, trong khung cảnh thiên nhiên khoáng đạt,

đền Cờn thật xứng với danh tiếng của nó: “nhất CỜn, nhì Quả, Bạch Mã, Chiêu Trưng” Khi xứ nghệ có 4 đền nổi tiếng nhất là đền Cờn, đền Quả, đền Bạch Mã,

đền Chiêu Trưng thì đền Cờn được coi là đứng đầu bởi tính thiêng liêng, qui môkiến trúc bề thế, có nhiều mảng nghệ thuật dặc sắc

Đền Cờn với tục thờ Tứ Vị Thánh Nương là một sự kết hợp độc đáo giữa tínngưỡng thờ mẫu và lễ hội cầu ngư Nó không chỉ có giá trị về mặt văn hóa tâm linh

mà còn có giá trị lịch sử chính trị rất lớn lao đó là việc từng ngầm giúp đỡ quân độinhà Trần rồi nhà Lê vượt biển bình an, chiến thắng Chiêm Thành ttrong những lầnchinh phạt phương Nam

Trang 17

2.1.2 Truyền thuyết về khu di tích đền Cờn

Có nhiều sách đề cập đến đền Cờn và Tứ Vị Thánh Nương, từ quốc sử như

Đại Việt sử kí toàn thư đến các sách viết theo lối địa chí, kí sự,… như Thượng kinh

ký sự, Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Nam thống nhất chí,Thanh Chương huyện chí, An Tĩnh cổ lục,

Theo sách Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên, bản dịch tập II, NXB

KHXH, Hà Nội 1967:

“Lập đền thần ở cửa biển Cần Hải.Trước đây (mùa đông, tháng12, tân hợi năm thứ 19-1311) vua (Trần Anh Tông Hoàng đế) thân chinh đi đánh chiêm thành, đến cửa biển Cần Hải (nguyên trước là Càn Hải, vì tránh tên húy nên đổi là Càn Hải) đóng quân ở đây, đêm chiêm bao thấy có nữ thần khóc và nói:“Thiếp là cung phi nhà Triệu Tống, bị giặc bức bách, gặp sóng gió chết đuối trôi dạt đến đây, Thượng đế phong cho làm thần Biển ở đây đã lâu, nay thấy bệ hạ đem quân

đi, thiếp xin giúp đỡ lập công” Khi tỉnh dậy vua cho gọi các bô lão ở đấy hỏi sự thực, ban tế 1 tuần rồi mới đi, thì biển không nổi sóng, tiến thẳng đến thành Chà Bàn, bắt được vua chiêm đêm về Đến nay (tháng6,nhâm tý, năm thứ 20 đời vua Trần Anh Tông) sai Hữu ty lập đền, tuế thì cúng tế”.

2.1.3 Cấu trúc khu di tích đền Cờn

“Nhất Cờn, nhì Quả, tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trưng”

Quần thể di tích đền Cờn bao gồm có hai đền: Đền Cờn Trong và Đền CờnNgoài

Đền Cờn trong có kiến trúc cổ kính và nằm trên mảnh đất có phong thủy đẹp.Đền làm trên đồi Quạ (do đó còn có tên là đền Quạ) Phía sau ngôi đền có 2 đồinhỏ nhô cao, giăng dài ra 2 bên như cánh phượng Tại hai đồi có 2 giếng nước,tương truyền đây là mắt phượng Trước mặt là dòng sông Mai Giang thơ mộng, bênkia sông Mai Giang là núi Voi thuộc dãy núi Xước, và sau lưng là biển

Trang 18

Trước đây đền có 5 tòa, ba tòa trong làm theo kiểu chữ công gồm:

- Tòa 1: Hậu cung chính điện gồm 3 gian nằm ngang

- Tòa 2: Thượng điện gồm 3 gian nằm dọc

- Tòa 3: Trung điện, cũng có 3 gian nằm ngang

- Tòa 4: Tòa ca vũ( hay còn gọi là tòa bái đường)

- Tòa 5: Tiền môn (hay còn gọi là tòa nghi môn)3gian

Theo nhiều bô lão kể lại, khuôn viên đền cờn trước kia rất rộng Hai bên tòa

ca vũ có tả vu và hữu vu Tả vu và hữu vu là nơi ăn uống, xem hát múa, nó cũng lànơi chuẩn bị lễ vật, cổ bàn… trước khi lễ thần

Ngoài ra, trong khuôn viên Đền Cờn còn có khuôn viên nhà đồ Nhà đồ có 4gian rộng, mỗi gian đặt 1 cái rương lớn Trong rương đựng mâm, bát, đĩa và nhiều

đồ tế khí kể cả những mảnh ván của thuyền bơi, những bộ phận của kiệu rướcthần… Mỗi giáp một rương

Nhà làm theo kiểu tứ trụ, kẻ truyền, cột cái cao khoảng 5m, cột nhà, khóagiang, xà nhà cho đến thượng lương, hoành tải đều được bào trơn đóng bén,không chạm trổ hoa lá mà đánh vécni đậm trông bóng loáng

Đền Cờn Trong được xây dựng vào thời Trần, phát triển quy mô lớn ở thời

Lê, trùng tu nhiều ở thời Nguyễn, bởi vậy, di tích mang đậm phong cách văn hóacuối Lê đầu Nguyễn Trải qua thời gian, ngôi Đền hiện chỉ còn tòa Nghi môn,Chính điện, Trung điện, Hạ điện và tòa ca vũ Đi qua cổng Đền vào sân, bước lên

10 bậc đá sẽ tới tòa Nghi môn Đây là một tòa nhà hình chữ công bề thế, gồm cóhai tầng, 8 mái, liền tiếp sau nó là Chính điện, Trung điện và Hạ điện

Năm 2002, tòa thượng điện mới xây dựng lại gồm 1 gian 2 hồi Gian giữarộng khoảng 4m, 2 hồi mỗi hồi rộng khoảng 5m, như vậy nhà dài khoảng 11m,chiều rộng khoảng 8m, trong đó hè rộng hơn 1m

Đền Cờn ngoài cách đền Cờn trong khoảng 1km Đền tọa lạc trên hòn thằnlằn hay còn gọi là hòn Rắn, tên chữ là Hùng Vương Phía sau là núi Hạc Đền thờ

Trang 19

các vị thần như: Đế Bính, Trương Thế Kiệt, Lục Tú Phu… các vị thần này trướcđược thờ ở đền Cờn trong, song do quan niệm Nho Giáo bất đồng cung nên đếnthời Lê đền thờ được xây riêng Đền được đặt trên núi ngay sát cửa biển.

Đền cũng có 3 tòa bố cục theo kiểu chữ tam, nhưng qui mô nhỏ hơn đềnTrong, làm vào đời Gia Long Hiện tại Đền còn chỉ có 2 tòa, hướng mặt ra biểnĐông Cả 2 tòa đều làm bằng gỗ theo kiểu tứ trụ, nhưng đơn giản

- Tòa trong (thượng điện) có chiều dài khoảng 9m, chiều rộng khoảng 6m,được chia làm 3 gian

- Tòa ngoài (Hạ điện), rộng hơn thượng điện, có chiều dài khoảng 11m, chiềurộng 7m, kể cả hè Và cũng có 3gian Trong ba gian của tòa Hạ điện này, hai giangiữa đặt 2 tượng ông Hoàng Chín và ông Hoàng Mười Hai gian tả hữu gian bên

tả đặt tượng Bắc Đẩu, gian bên hữu đặt tượng Nam Tào Đền Ngoài được làm mớilại hoàn toàn, có kiến trúc theo kiểu mới

2.1.4 Nghệ thuật điêu khắc và những hiện vật có giá trị của Đền Cờn

Đền Cờn là một sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố kĩ thuật và mĩ thuật Hầu hếtcác chi tiết gỗ của bộ khung nhà từ oai bẩy đến câu đầu, từ thượng ốc đến quágiang, từ xà đến tầu mái, đầu dư cổ nghé, những bức cuốn đến ván nong đều đượcchạm lộng hoặc bong kênh ( các đồ trang trí: long, ly, quy, phượng, tùng, trúc, cúc,mai, các điển tích)… đường nét chạm khắc khá tinh tế, lúc mềm mại uyển chuyển,lúc rắn rỏi khỏe mạnh Các con vật lúc ẩn lúc hiện, khi thể hiện trọn vẹn duyêndáng, lúc cách điệu dữ dằn

Hiện nay, đền Cờn còn khoảng 142 hiện vật các loại là các cổ vật quý hiếm.Ngoài các bằng sắc, thần phả, câu đối, đại tự, các đồ tế khí: kiệu, tán lọng, còn có 2bia đá 2 mặt cao khoảng 1,6m x rộng 1,2m dựng năm 1665 Chuông đồng đúc nămCảnh Hưng 1470, nặng khoảng 300kg Những dấu tích còn lại trên bia và chuôngcòn là hiện vật chứng tích tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ Đặc biệt, đền Cờn có

Ngày đăng: 16/04/2021, 21:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đổng Chi (chủ biên), (2000), Sách “kho tàng truyện cổ tích Việt Nam” tập II,Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: kho tàng truyện cổ tích ViệtNam
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
2. Nguyễn Ngọc Định (chủ biên), (2010), Đền Cờn lịch sử và lễ hội, Nxb Văn hóa Dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đền Cờn lịch sử và lễ hội
Tác giả: Nguyễn Ngọc Định (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Vănhóa Dân tộc
Năm: 2010
3. Ninh Viết Giao ( biên soạn), (2009), Đền Cờn tục thờ tứ vị thánh nương và quần thể di tích văn hóa ở xã Quỳnh Phương, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đền Cờn tục thờ tứ vị thánh nương vàquần thể di tích văn hóa ở xã Quỳnh Phương
Tác giả: Ninh Viết Giao ( biên soạn)
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2009
4. Cao Đức Hải (chủ biên), Quản lí lễ hội và sự kiện, Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí lễ hội và sự kiện
Nhà XB: Nxb Đại Học Quốc GiaHà Nội
5. Ngô Sĩ Liên (chủ biên),( 1967), Đại Việt Sử Kí Toàn Thư, bản dịch tập II, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt Sử Kí Toàn Thư
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
7. Dương Văn Sáu (chủ biên), 2004, Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch, Trường Đại học văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển dulịch
8. Hồ Đức Thọ,( 2001), Đền Cờn với lịch sử văn hóa trong tâm thức dân gian, Nxb văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đền Cờn với lịch sử văn hóa trong tâm thức dângian
Nhà XB: Nxb văn hóa dân tộc
9. Tổng quan du lịch, (2005), Trường Đại học văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan du lịch
Tác giả: Tổng quan du lịch
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w