NỘI DUNG I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CA TRÙ 1. Nguồn gốc, sự hình thành và phát triển của Ca Trù 1.1. Nguồn gốc Hát ca trù hay hát ả đào, hát nhà tơ, hát cô đầu,… là một bộ môn nghệ thuật truyền thống gắn liền với khu vực đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam. Ca trù thịnh hành từ thế kỷ 15, từng là một loại ca trong cung đình và được giới quý tộc và trí thức yêu thích. Ca trù là một sự phối hợp nhuần nhuyễn và đỉnh cao giữa thi ca và âm nhạc.
Trang 1CÁC LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT VIỆT NAM
ĐỀ TÀI: THỊ HIẾU CÔNG CHÚNG VỀ ÂM NHẠC DÂN
GIAN VIỆT NAM: CA TRÙ
NỘI DUNG
I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CA TRÙ
1 Nguồn gốc, sự hình thành và phát triển của Ca Trù
1.1 Nguồn gốc
Hát ca trù hay hát ả đào, hát nhà tơ, hát cô đầu,… là một bộ môn nghệ thuật truyền thống gắn liền với khu vực đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam Ca trù thịnh hành
từ thế kỷ 15, từng là một loại ca trong cung đình và được giới quý tộc và trí thức yêu thích Ca trù là một sự phối hợp nhuần nhuyễn và đỉnh cao giữa thi ca và âm nhạc
1.2 Sự hình thành và phát triển của nghệ thuật Ca Trù.
Cũng giống như 1 số bộ môn nghệ thuật khác, ca trù xuất hiện khá sớm Tuy nhiên chưa rõ thời gian cụ thể, chỉ biết rằng tới thế kỉ thứ 15, hát ca trù bắt đầu được thịnh hành, được coi là một hiện tượng văn hóa hết sức đặc biệt
Sau Cách Mạng Tháng 8, ca trù bị xem là "trò chơi hư hỏng, trụy lạc" và bị cấm đoán vì bị xem là liên quan đến mại dâm Mãi đến những thập niên gần đây ca trù mới được cho phép hát trở lại
Ngày 1 tháng 10 năm 2009, tại kỳ họp lần thứ 4 của Ủy ban liên chính phủ Công ướcUNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (từ ngày 28 tháng 9 tới ngày
2 tháng 10 năm 2009), ca trù đã được công nhận là di sản phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp
Trang 2Ca trù trải dài khắp 16 tỉnh phía Bắc gồm: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội,Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình
2 Các Câu Lạc Bộ Ca Trù ở nước ta
Theo thống kê của các nhà nghiên cứu, năm 2010 có 63 câu lạc bộ ở 16 tỉnh, thành phố trên cả Việt Nam có hoạt động thường xuyên và có kế hoạch luyện tập truyền nghề ca trù Một số tỉnh thành phía Bắc, điển hình là các tỉnh có nhiều câu lạc bộ ca trù như:
• Hà Nội: Câu lạc bộ Ca trù Lỗ Khê, CLB Ca trù Thăng Long, CLB Ca trù thôn Chanh (Phú Xuyên), CLB Ca trù Hà Nội
• Ninh Bình: Câu lạc bộ Ca trù đền thờ Nguyễn Công Trứ, CLB Ca trù Cố Viên Lầu
• Hà Tĩnh: Câu lạc bộ Ca trù Nguyễn Công Trứ, CLB Ca trù Cổ Đạm
• Bắc Ninh: CLB Ca trù Thanh Khương (Thuận Thành), CLB Ca trù Tiểu Than (Gia Bình) và CLB Ca trù Đông Tiến (Yên Phong)
Nghệ nhân Dân gian
• Nghệ nhân Nguyễn Thị Thiệp (Bắc Ninh)
• Nghệ nhân Nguyễn Văn Khôi (Hà Nội)
II ĐẶC ĐIỂM CỦA LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT DÂN GIAN CA TRÙ
1 Các tên gọi của loại hình nghệ thuật Ca Trù
-Ca trù còn gọi là hát “ả đào” vì ở TK 15 có người con gái là Đào Thị hát hay, múa giỏi, có công giết được nhiều giặc ngoại xâm Khi chết được lập đền thờ nên người di hát còn gọi là ả đào
- Ca trù còn gọi là hát “ả đào” vì ở TK 15 có người con gái là Đào Thị hát hay, múa giỏi, có công giết được nhiều giặc ngoại xâm Khi chết được lập đền thờ nên người di hát còn gọi là ả đào
Trang 3- Ca trù còn gọi là hát nhà tơ vì trước đây ả đào thường được các quan mời đến hát trong ty (tơ)
- Ca trù còn được gọi là hát cô đầu vì trước đây những ả đào danh ca dạy con
em thành nghề, khi con em của họ đi hát thành thục phải trích khoản tiền đầu tiên
để phụng dưỡng thầy Đó là đạo thờ thầy rất đặc biệt của nghệ thuật này Nửa cuối thế kỷ 19, đầu thế kỉ 20, khi người Pháp chiếm Việt Nam thì các Nhà hát Cô đầu mọc lên rất nhiều ở các thành phố, thị xã Ở Hà Nội, nổi bật nhất là phố Khâm Thiên, Vạn Thái, Ngã tư Sở, và trong Nam vùng Phú Nhuận, có nhiều nhà hát, chỉ biết tiếp khách nên đã làm cho nghệ thuật này bị lợi dụng và mang tiếng
- Ngoài ra , ca trù còn có nhiều tên gọi khác nữa xuất hiện theo từng giai đoạn khác nhau
2 Không gian ca trù
Gắn liền với 3 không gian, cũng là 3 thể hát chính :
- Hát cửa đình: xuất phát từ dân gian là hát thờ thần trong dịp tế lễ thành hoàng vào mùa xuân Mục đích chính là hát thờ thần linh, tôn vinh thành hoàng, cầu cho dân làng nhân khang, vật thịnh trong dịp lễ hội hàng năm của làng Người hát ở ngoài thềm trước bàn thờ thần, quan viên hương lão ngồi theo thứ tự trên dưới quanh chiếu hát, dân làng ngồi nghe ở sân đình
- Hát cửa quyền: là hát trong cung vua
- Hát ca quán: Hát nhà trò, hát cô đầu vốn từ tên gọi hát ả đào mà ra, và tên này xuất hiện từ đầu thế kỷ XX
3 Các danh xưng trong một không gian biểu diễn Ca Trù
Sau khi đưa vào ca quán, một chầu hát được rút gọn còn 3 thành phần:
- Một nữ ca sĩ (gọi là "đào" hay "ca nương") sử dụng bộ phách gõ lấy nhịp,
- Một nhạc công nam giới (gọi là "kép") chơi đàn đáy phụ họa theo tiếng hát
- Người thưởng ngoạn (gọi là "quan viên", ngày xưa thường là tác giả bài hát) đánh trống chầu chấm câu và biểu lộ chỗ đắc ý bằng tiếng trống
Trang 4Không gian trình diễn ca trù có phạm vi tương đối nhỏ Đào hát ngồi trên chiếu ở giữa Kép và quan viên ngồi chếch sang hai bên Khi bài hát được sáng tác
và trình diễn ngay tại chỗ thì gọi là "tức tịch," nghĩa là "ngay ở chiếu."
4 Âm nhạc trong Ca Trù
Ca trù vừa là một loại thanh nhạc vừa là một loại khí nhạc Có một ngôn ngữ
âm nhạc tế nhị, tinh vi
- Thanh nhạc: Ca nương phải có một giọng thanh - cao - vang, khi hát phải biết ém hơi, nhả chữ và hát tròn vành rõ chữ, biết nảy hạt (đổ hột), đổ con kiến Ca nương vừa hát, vừa gõ phách Phải biết rành 5 khổ phách cơ bản, đánh lưu không, tiếng phách phải chắc và giòn, lời ca và tiếng phách phải ăn khớp với nhau
- Khí nhạc: Kép đàn dùng đàn đáy phụ họa Bản đàn không nhất thiết phải đi theo bài hát, vì phải theo khổ đàn, nhưng khổ đàn – khổ phách – tiếng ca hợp nhau, hài hòa nhuần nhuyễn Có những cách đàn ca chân phương- theo lề lối hay hàng hoa- sáng tạo và bay bướm
- Quan viên là người cầm chầu, tiếng trống chầu vừa chấm câu khi tham gia vào cuộc diễn tấu, nhưng có tính chất phê phán, khen chê đúng chỗ, để khích lệ ca nương – kép đàn, giúp cho thính giả biết được đoạn nào hay - thật hay và như thế được giáo dục âm nhạc trong cách nghe
- Nhạc cụ đi liền với hát Ca Trù là Đàn Đáy và Phách và Trống Chầu
5 Cách biểu diễn
- Ca trù là một loại hình nghệ thuật độc đáo, vừa dân gian, vừa bác học, trước đây được cung đình tiếp nhận làm trò diễn xướng, gọi là hát cửa quyền, rồi lại trở lại với dân gian, gọi là hát ả đào, hát cô đầu, hát nhà trò hay hát nhà tơ
- Đạt đến trình độ cao, mang tính bác học, cao siêu,
- Là một loại ca, có sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa đỉnh cao của thi ca và âm nhạc
Trang 5- Kết hợp chặt chẽ giữa vũ đạo và hát, thể hiện được thần khí của ca nương, thể hiện được tâm tư của ca nương gửi gắm vào từng giai điệu
III THỊ HIẾU CỦA CÔNG CHÚNG VỀ ÂM NHẠC DÂN GIAN CA TRÙ
1 Thị hiếu là gì ?
Thị hiếu là xu hướng ham thích về hứng thú của chủ thể trong tiếp nhận các giá trị thẩm mỹ
Từ đây có thể hiểu rằng thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc là xu hướng ham thích, cảm thụ và hiểu biết về cái đẹp trong âm nhạc Vì lẽ âm nhạc là loại hình nghệ thuật dùng âm thanh để phản ảnh cuộc sống hiện thực và thế giới nội tâm, nên thưởng thức âm nhạc là cả một quá trình cảm thụ âm nhạc, tiếp nhận sự kích thích của âm nhạc thông qua tai nghe, mắt thấy Không phải thụ động một chiều, không phải chỉ bó hẹp trong thời gian nghe nhìn, mà ngay sau đó, người thưởng thức còn tiếp tục rung động, suy gẫm, tưởng tượng khi hòa mình trong thế giới âm thanh của nhạc phẩm Thị hiếu âm nhạc hình thành từ trong bối cảnh xã hội, mức sống vật chất, mặt bằng trí tuệ, đặc điểm dân tộc, địa phương…
Tuy nhiên, cần phân biệt giữa thị hiếu âm nhạc đích thực và sở thích tò mò, hiếu kỳ, vọng ngoại, chuộng cái lạ
2 Sơ lược về cách tiến hành điều tra
Âm nhạc dân gian hiện hữu trong mọi hoạt động sống của con người, trong những ngày tết, ngày hội, ngày mừng nhà mới, ngày cưới Cái hay, cái đẹp, cái riêng của từng dân tộc đã hòa thành cái chung của 54 dân tộc anh em chỉ rõ truyền thống âm nhạc dân gian của Việt Nam rất phong phú, đa dạng và nhiều màu sắc Hát Ca Trù là một bộ môn nghệ thuật truyền thống ở phía Bắc Việt Nam kết hợp hát cùng một số nhạc cụ dân tộc Ca Trù thịnh hành từ thế kỷ 15, từng là một
Trang 6loại ca trong cung đình và được giới quý tộc và trí thức yêu thích Ca Trù là một sự phối hợp nhuần nhuyễn và đỉnh cao giữa thi ca và âm nhạc
Chúng tôi là nhóm sinh viên Khoa Văn Hoá Học trường Đại học Văn Hoá Hà Nội Hiện nay, chúng tôi đang tiến hành khảo sát về thị hiếu của công chúng đối với bộ môn nghệ thuật Ca Trù Kết quả khảo sát sẽ giúp chúng tôi hiểu và từ đó
có các đề xuất nhằm bảo tồn, phát triển một số loại hình âm nhạc dân gian Việt Nam trong đó có nghệ thuật hát Ca Trù đang có nguy cơ bị mai một
Xin quý Anh (Chị) bỏ chút thời gian điền đầy đủ vào bảng câu hỏi dưới đây Rất mong nhận được sự hợp tác của Anh (Chị)!
Bài điều tra trên 100 người có độ tuổi từ dưới 16 tuổi – trên 35 tuổi, bao gồm học sinh, sinh viên và tầng lớp lao động (chân tay và trí óc), không phân biệt giới tính Kết quả khảo sát được thống kê và biểu thị qua biểu đồ như sau :
3 Kết quả khảo sát
Trang 7- Câu 1 : Anh/chị thuộc nhóm tuổi nào sau đây :
3.00%
72.00%
15.00%
10.00%
Dưới 16 tuổi Từ 16- 22 tuổi Từ 22-35 tuổi Trên 35 tuổi
- Câu 2: Nhắc đến âm nhạc dân gian, bạn nghĩ đến loại hình nào đầu tiên :
Trang 820.00%
18.00%
12.00%
Sales
Ca trù Chèo Quan họ Đáp án khác
Câu 3: Mức độ quan tâm đến ca trù của bạn là
-Quan tâm; 28.00%
Không quan tâm; 72.00%
Trang 9Câu 4: Anh/chị biết đến ca trù theo phương thức nào:
-63.00%
37.00%
Gián tiếp (youtobe,tivi ) Nghe trực tiếp
Câu 5: Anh/chị biết gì về nguồn gốc của ca trù?
a Bắt nguồn từ miền Trung
b Xuất phát từ người nông dân trồng lúa
c Là lối hát cửa đình, mang tính bác học
Câu 6: Ca trù xuất hiện vào thời gian nào:
17% trả lời đúng ở khoảng thế kỉ 15
Câu 7: Loại nhạc cụ nào đi liền với điệu hát Ca trù :
a Đàn Tính
b Đàn bầu, mõ
c Đàn đáy, phách
Trang 10Câu 8: Người hát ca trù được gọi là gì :
a Ca nương, đào nương
b Ca sĩ
c Liền anh liền chị
d Tên gọi khác
Câu 9: Tên gọi khác của ca trù
40% trả lời : hát cô đầu, hát ả đào
60% có đáp án là không biết hoặc tên gọi khác
Câu 10: Anh/chị có từng biết đến nghệ sĩ, nghệ nhân hát ca trù nào không?
40.00%
53.00%
7.00%
Hà Thị Cầu Không biết Bạch Vân
Câu 11: Anh/chị có thích ca trù ko?
Trang 1138.00%
20.00%
Bình thường Không thích Thích
Câu 12: Vì sao không thích ?
a Nghe không hợp, không thấy hay
b Không thấy được phổ biến nhiều
c Lý do khác
Câu 13: Nếu có một vé mời của chương trình biểu diễn Ca trù, anh chị có tới tham dự không ?
60% trả lời có tham dự vì thấy tò mò và yêu thích
Cảm ơn anh /chị đã dành ít thời gian thực hiện bài điều tra này, kính chúc anh/chị sức khỏe !
4 Kết luận
Như vậy có thể thấy 1 số vấn đề như sau:
- Công chúng vẫn có hiểu biết nhất định đối với loại hình này
- Ca trù không phân biệt độ tuổi
Trang 12- Mức độ phổ biến của ca trù không rộng rãi
IV TỔNG KẾT
Với thực trạng đang có nguy cơ bị mai một, Ca trù đứng trước những thuận lợi và khó khăn trên con đường phát triển hơn nữa, cả ở trong nước và hướng tới cả thế giới
1 Thuận lợi
- Ngày 1 tháng 10 năm 2009, tại kỳ họp lần thứ 4 của Ủy ban liên chính phủ Công ước UNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể Ca Trù được công nhận là di sản văn hóa Phi vật thể của thế của thế giới cần được bảo tồn
- Ngày càng nhận được sự quan tâm của công chúng, nhất là đội ngũ thế hệ trẻ
- Qua khảo sát thấy đa số đối tượng đều quan tâm đến ca trù, biết đến ca trù như loại hình nghệ thuật dân gian cần bảo tồn, mang đậm nét truyền thống
- Ca trù có thể phát triển hơn nữa nhờ buổi liên hoan ca nhạc được nhà nước
tổ chức
- Từ năm 2002, khi Quỹ Ford tài trợ cho chúng ta tổ chức các lớp dạy ca trù trong 3 tháng Và đây cũng là lớp nghệ nhân ca trù đầu tiên được đào tạo chính thống
- Sau khi Ca trù được UNESCO vinh danh, chúng ta mở một số lớp đào tạo ca trù và phát huy rất tốt trong việc truyền dạy Rất nhiều học viên sau khi trở về địa phương đã làm công tác giảng dạy, truyền tải lại cho thế hệ sau rất tốt
2 Khó khăn
- Có một thực tế đáng buồn là hiện những nghệ nhân cao tuổi- lực lượng góp phần đáng kể trong việc truyền lửa di sản thì dường như đang bị bỏ quên
- Chỉ biết rằng, hiện nay rất nhiều nghệ nhân cao tuổi sống vô cùng nghèo khó Họ không có bảo hiểm xã hội Chưa có chính sách đãi ngộ hợp lý
Trang 13- Các trung tâm đào tạo quy mô nhỏ Do các nghệ nhân đam mệ tự mở lớp giảng dạy nên chưa thu hút sự quan tâm của công chúng
- Các lớp giáo sinh ca trù này mới chỉ được tổ chức trong thời gian ngắn chỉ
có 15 ngày Chưa thật sự mang lại hứng thú và kiến thức chuyên sâu cho học viên
- Trước sự phát triển của phương tiện truyền thông tiên tiến, âm nhạc dân gian
bị lu mờ trước dòng nhạc thị trường, thế hệ trẻ ngày nay thờ ơ với nét văn hóa truyền thống
3 Giải pháp
- Xây dựng kế hoạch cụ thể để có phương án bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa hợp lý
- Nhà nước cần có chính sách "Hỗ trợ đời sống nghệ nhân để nghệ nhân truyền dạy nghệ thuật của mình cho cộng đồng” Hỗ trợ ở đây không có nghĩa là trả lương, mà chúng ta phải tổ chức nhiều lớp đào tạo để các nghệ nhân trở thành bậc thầy và nghệ nhân được hưởng những thù lao đào tạo
- Mở các lớp dạy ca trù cho học sinh, sinh viên, những người yêu thích và tâm huyết với loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống này
- Mở các buổi liên hoan ca nhạc, qua đó tập hợp, giao lưu giữa các đoàn ca trù của các vùng khác nhau, giao lưu như vậy gắn kết họ thành một khối vững chắc hơn
- Quảng bá ca trù Việt Nam trên phương tiện truyền thông và quảng bá cho khách du lịch và bạn bè thế giới