CTR phát sinh từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp, làng nghề và chất thải rắn sinh hoạt CTRSH là những nguồn chính gây ô nhiễm môi trường ONMT nông thôn hiện nay.. Phân loại chất thải
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
PGS TS LƯU ĐỨC HẢI
Hà Nội-2016
Trang 22
LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Khoa Môi trường Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội và được sự đồng ý của Thầy hướng dẫn PGS TS Lưu Đức Hải, tôi đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý chất thải rắn nông thôn tại huyện Ứng Hòa, Hà Nội”
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Lưu Đức Hải, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận văn của mình
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy, cô Khoa Môi trường của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội đã truyền đạt cho tôi những kiến thức cần thiết trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi xin cảm ơn các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đã tạo điều kiện cung cấp thông tin, nguồn tư liệu, số liệu, tài liệu hữu ích phục vụ trong quá trình thực hiện
đề tài nghiên cứu
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đối với gia đình
và người thân, là nguồn động lực chính giúp tôi có sức lực để vượt qua mọi khó khăn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn này
Kết quả nghiên cứu và luận văn này được thực hiện trong khoảng thời gian hơn một năm, mặc dù đã có nhiều cố gắng và nỗ lực để thực hiện đề tài nghiên cứu này một cách hoàn chỉnh nhất, song do năng lực bản thân có hạn, thiếu những kiến thức về kinh nghiệm thực tế, cũng như do nhiều yếu tố khách quan khác nên không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy
cô và các bạn để bài luận văn được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 05 năm 2016
Trang 33
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các tƣ liệu và số liệu sử dụng trong luận văn đều đƣợc trích dẫn nguồn và có độ tin cậy cao trong phạm vi nghiên cứu của đề tài
Hà Nội, ngày tháng 05 năm 2016
Trang 44
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 2
4 Kết cấu nội dung đề tài 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Tổng quan về chất thải rắn nông thôn tại Việt Nam 3
1.1.1 Một số khái niệm và phân loại chất thải rắn 3
1.1.1.1 Một số khái niệm về chất thải rắn 3
1.1.1.2 Phân loại chất thải rắn 3
1.1.2 Tổng quan vấn đề phát sinh chất thải rắn nông thôn tại Việt Nam 5
1.1.2.1 Tổng quan vấn đề phát sinh chất thải rắn sinh hoạt nông thôn 5
1.1.2.2 Tổng quan vấn đề phát sinh chất thải rắn nông nghiệp nông thôn 6
1.1.2.3 Tổng quan vấn đề phát sinh chất thải rắn làng nghề nông thôn 7
1.1.3 Tổng quan vấn đề quản lý chất thải rắn nông thôn 8
1.1.3.1 Tổng quan vấn đề quản lý chất thải rắn sinh hoạt nông thôn 8
1.1.3.2 Tổng quan vấn đề quản lý chất thải rắn nông nghiệp nông thôn 11
1.1.3.3 Tổng quan vấn đề quản lý chất thải rắn làng nghề nông thôn 13
1.2 Một số mô hình quản lý chất thải rắn nông thôn tại Việt Nam 14
1.2.1 Mô hình quản lý tư nhân 14
1.2.2 Mô hình quản lý chất thải rắn dựa vào cộng đồng 14
1.2.3 Mô hình 3R 15
1.2.4 Mô hình thu gom chất thải rắn sinh hoạt do dân tự tổ chức 15
1.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 16
1.3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 16
1.3.1.1 Vị trí địa lý 16
1.3.1.2 Địa hình 16
1.3.1.3 Đặc trưng khí hậu, thủy văn 17
Trang 55
1.3.2 Điều kiện kinh tế-xã hội khu vực nghiên cứu 18
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 20
2.2 Nội dung nghiên cứu 20
2.3 Phương pháp nghiên cứu 20
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 20
2.3.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa 21
2.3.3 Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia 22
2.3.4 Phương pháp dự báo khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh 22
2.3.5 Phương pháp xử lý, phân tích, tổng hợp số liệu 23
2.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 23
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
3.1 Thực trạng vấn đề phát sinh chất thải rắn nông thôn tại huyện Ứng Hòa 24
3.1.1 Thực trạng vấn đề phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Ứng Hòa 24
3.1.2 Thực trạng vấn đề phát sinh chất thải rắn làng nghề tại huyện Ứng Hòa 26
3.1.3 Thực trạng vấn đề phát sinh chất thải rắn nông nghiệp tại huyện Ứng Hòa 29
3.1.3.1 Chất thải rắn phát sinh từ phụ phẩm nông nghiệp 29
3.1.3.2 Chất thải rắn phát sinh từ hoạt động sử dụng phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật 30
3.1.3.3 Chất thải rắn phát sinh từ hoạt động chăn nuôi 31
3.2 Hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn nông thôn tại huyện Ứng Hòa 32
3.2.1 Hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Ứng Hòa 32
3.2.1.1 Hiện trạng mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt 32
3.2.1.2 Hiện trạng công tác thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt 33
3.2.1.3 Hiện trạng công tác xử lý chất thải rắn sinh hoạt 37
3.2.2 Hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn làng nghề tại huyện Ứng Hòa 40
3.2.2.1 Công tác quản lý chất thải rắn làng nghề tái chế phế liệu Xà Kiều 40
Trang 66
3.2.2.2 Công tác quản lý chất thải rắn các làng nghề sản xuất tăm hương tại xã Quảng
Phú Cầu 41
3.2.3 Hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn nông nghiệp tại huyện Ứng Hòa 43
3.3 Xây dựng mô hình quản lý tổng hợp chất thải rắn nông thôn tại huyện Ứng Hòa 46 3.3.1 Xây dựng khung mô hình quản lý tổng hợp chất thải rắn nông thôn tại huyện Ứng Hòa 46
3.3.2 Môt số giải pháp ưu tiên triển khai trên địa bàn huyện Ứng Hòa để thực hiện Khung mô hình quản lý tổng hợp CTR nông thôn đã đề xuất 52
3.3.2.1 Hoàn thiện mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt 52
3.3.2.2 Xây dựng mô hình phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn và ủ phân compost từ chất thải rắn hữu cơ 53
3.3.2.3 Tăng cường hiệu quả mô hình thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại 28 xã huyện Ứng Hòa 58
3.3.2.4 Quy hoạch lại vị trí các điểm tập kết chất thải rắn sinh hoạt chưa phù hợp 60
3.3.2.5 Nâng cấp, mở rộng số ô chôn lấp tại bãi chôn lấp chất thải rắn Vân Đình 60
3.3.3 Hoàn thiện mô hình quản lý chất thải rắn làng nghề tại huyện Ứng Hòa 62
3.3.3.1 Hoàn thiện mô hình quản lý chất thải rắn làng nghề tái chế phế liệu Xà Kiều 62 3.3.3.2 Giải pháp quản lý chất thải rắn phát sinh từ hoạt động sản xuất tăm hương 64
3.3.4 Xây dựng mô hình quản lý chất thải rắn nông nghiệp tại huyện Ứng Hòa 65
3.3.4.1 Mô hình sản xuất than sinh học từ phụ phẩm nông nghiệp 65
3.3.4.2 Xây dựng mô hình quản lý bao bì hóa chất bảo vệ thực vật 69
KẾT LUẬN 71 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 77
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Khối lượng CTR phát sinh tại một số nhóm làng nghề tái chế 8
Bảng 1.2 Thực trạng một số biện pháp xử lý CTR trong chăn nuôi quy mô trang trại (TT) và hộ gia đình tại các tỉnh thành trong toàn quốc 12
Bảng 3.1: Ước tính khối lượng theo thành phần CTRSH tại huyện Ứng Hoà năm 2013 25
Bảng 3.2: Diễn biến gia tăng dân số huyện Ứng Hòa giai đoạn 2010-2014 25
Bảng 3.3: Dự báo khối lượng CTRSH phát sinh tại huyện Ứng Hòa đến năm 2020 26
Bảng 3.4: Danh sách các làng nghề chính của huyện Ứng Hòa 27
Bảng 3.5: Khối lượng CTR phát sinh tại một số làng nghề huyện Ứng Hòa 28
Bảng 3.6: Khối lượng phát sinh CTR theo sản lượng nông sản của huyện Ứng Hòa 30
Bảng 3.7: Lượng CTR chăn nuôi phát sinh trên địa bàn huyện Ứng Hòa năm 2014 31
Bảng 3.8 Tổng hợp khối lượng phát sinh CTR nông thôn tại huyện Ứng Hòa 31
Bảng 3.9: Tỷ lệ CTRSH được thu gom tại thị trấn Vân Đình 33
Bảng 3.10: Các điểm tập kết CTRSH tồn đọng tại huyện Ứng Hòa 36
Bảng 3.11: Định mức hóa chất xử lý CTRSH tại BCL CTR Vân Đình 38
Bảng 3.12: Phương thức thành lập, hoạt động của tổ thu gom CTRSH tại các xã 58
Bảng 3.13: So sánh chi phí phương án đề xuất xử lý và phương án xử lý hiện tại 63
Bảng 3.14: Cấu tạo và kích thước lò sản xuất TSH từ rơm rạ có công suất sản xuất 100kg/ngày 66
Trang 88
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1: Mô hình quản lý CTRSH tại huyện Ứng Hòa 32
Hình 3.2: Sơ đồ quy trình vận hành xử lý CTRSH tại BCL CTR Vân Đình 38
Hình 3.3 : Sơ đồ công nghệ vận hành xử lý nước rỉ rác tại BCL CTR Vân Đình 39
Hình 3.4 : Mô hình quản lý CTR làng nghề tái chế phế liệu Xà Kiều 40
Hình 3.5: Các hình thức xử lý CTR từ các làng nghề sản xuất tăm hương 41
Hình 3.6: Khung mô hình quản lý tổng hợp CTR nông thôn huyện Ứng Hòa 47
Hình 3.7: Hoàn thiện mô hình quản lý CTRSH tại huyện Ứng Hòa 52
Hình 3.8: Mô hình phân loại CTRSH tại nguồn và ủ phân compost 53
Hình 3.9: Hoàn thiện mô hình quản lý CTR làng nghề tái chế phế liệu Xà Kiều 62
Hình 3.10: Quy trình sản xuất TSH từ rơm rạ 67
Hình 3.11: Mô hình quản lý bao bì hóa chất BVTV 69
Trang 9TCXDVN Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam
Trang 101
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chất thải rắn (CTR) phát sinh từ các hoạt động sống của con người ngày càng gia tăng cùng với sự phát triển dân số và kinh tế, đặc biệt trong xã hội công nghiệp Theo kết quả khảo sát của Tổng cục Môi trường năm 2014, lượng CTR thông thường phát sinh cả nước khoảng 28 triệu tấn/năm, theo số liệu dự báo của
Bộ Xây dựng và Bộ Tài nguyên và Môi trường đưa ra trong Thông báo Môi trường Quốc gia năm 2011 về CTR, năm 2015 khối lượng CTR phát sinh ước tính khoảng
44 triệu tấn/năm Với những số liệu thống kê nêu trên cho thấy CTR đã và đang là vấn đề thách thức đối với công tác quản lý chất thải tại Việt Nam
Quản lý CTR không còn là vấn đề cấp bách của riêng các đô thị và các thành phố lớn mà đã trở thành vấn đề đáng báo động cả ở các vùng nông thôn trên toàn quốc Cùng với sự phát triển mạnh mẽ các ngành nghề ở nông thôn, việc thay đổi tập quán sinh sống làm cho các áp lực từ CTR khu vực nông thôn gia tăng cả về thành phần, tính độc hại và tải lượng CTR phát sinh từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp, làng nghề và chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) là những nguồn chính gây ô nhiễm môi trường (ONMT) nông thôn hiện nay
Hiện nay, công tác quản lý CTR tại các vùng nông thôn chưa đạt được những kết quả tích cực Việc quản lý CTR tại nông thôn còn gặp nhiều hạn chế trong công tác thu gom, phân loại CTR tại nguồn; điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, kỹ thuật trong xử lý CTR nông thôn còn lạc hậu Điều quan trọng nhất đối với công tác quản lý CTR nông thôn trên địa bàn cấp huyện hiện nay là chưa có mô hình quản lý phù hợp Do vậy, việc nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý CTR nông thôn trên địa bàn cấp huyện là việc làm cấp thiết và có ý nghĩa khoa học thực tiễn
Ứng Hòa là một huyện ngoại thành của thành phố Hà Nội, vốn là huyện có nền kinh tế phát triển theo hướng sản xuất nông nghiệp Trong những năm gần đây, bên cạnh nền phát triển nông nghiệp, các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
và làng nghề đang có sự mở rộng phát triển trên địa bàn huyện đã góp phần làm
Trang 112
thay đổi cơ cấu kinh tế của huyện cũng như cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân tại địa phương Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu kinh tế đem lại, sự phát triển của các ngành nghề sản xuất trên địa bàn huyện cũng gây ra những áp lực đáng
kể đến chất lượng môi trường sống CTR phát sinh từ các làng nghề, hoạt động sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt trên địa bàn huyện đã và đang là vấn cần quan tâm của địa phương Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, học viên thực hiện đề tài
“Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý chất thải rắn nông thôn tại huyện Ứng Hòa,
Hà Nội” nhằm mục tiêu cải thiện hiệu quả quản lý CTR nông thôn tại địa phương
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá được thực trạng công tác quản lý CTR nông thôn tại huyện Ứng Hòa
- Xây dựng khung mô hình quản lý CTR nông thôn tại huyện Ứng Hòa, trên
cơ sở đó đề xuất và hoàn thiện các mô hình quản lý cụ thể đối với từng loại CTR nông thôn tại địa phương
3 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả luận văn có sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau bao gồm: phương pháp thu thập số liệu; phương pháp điều tra, khảo sát thực địa;phương pháp dự báo; phương pháp xử lý, phân tích và tổng hợp số liệu; phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia và một số phương pháp khác
4 Kết cấu nội dung đề tài
Luận văn gồm 73 trang, chia thành 3 chương và các phần mở đầu, kết luận, kiến nghị Trong luận văn có 16 bảng, 11 hình và 28 tài liệu tham khảo
Trang 123
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về chất thải rắn nông thôn tại Việt Nam
1.1.1 Một số khái niệm và phân loại chất thải rắn
1.1.1.1 Một số khái niệm về chất thải rắn
- Theo Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ quy định về quản lý CTR thì CTR là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác, CTR bao gồm CTR thông thường và CTR nguy hại
- CTR là toàn bộ các loại vật chất không phải dạng lỏng và khí được con người thải bỏ trong các hoạt động kinh tế- xã hội (KT-XH) của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng…) Trong đó, quan trọng nhất là các loại CTR sinh ra từ các hoạt động sản xuất và hoạt động sống
1.1.1.2 Phân loại chất thải rắn
- Phân loại theo nguồn gốc phát sinh:
+ CTRSH: là những chất thải liên quan đến hoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ thương mại; CTRSH có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói
vỡ, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương, lông động vật, tre, gỗ, vải, da, giấy, rơm rạ, xác động vật, vỏ củ quả, xỉ than, tro, các thiết bị đồ điện hỏng, pin, ắc quy hỏng…
+ CTR công nghiệp: là CTR phát sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thành phần CTR công nghiệp rất đa dạng và mang tính đặc trưng của ngành nghề sản xuất
+ CTR xây dựng: phát sinh trong hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng, nhà ở gồm các phế thải như đất, đá (do các họa động đào móng trong xây dựng), gạch
Trang 134
ngói, bê tông vỡ do các hoạt động phá vỡ, dỡ bỏ công trình xây dựng, các vật liệu
kim loại, bao bì, vật liệu dẻo…
+ CTR nông nghiệp và chăn nuôi: là các loại chất thải phát sinh từ hoạt động sản xuất nông nghiệp như: trồng trọt (thực vật chết, tỉa cành, làm cỏ…), thu hoạch nông sản (rơm, rạ, trấu, lõi ngô, thân ngô, thân cây…), các phế phẩm nông nghiệp như rơm, dạ, chấu, bao bì phân bón, bao bì thuốc bảo vệ thực vật, chai lọ đựng thuốc trừ sâu, các chất thải từ chăn nuôi như thức ăn dư thừa, chất lót chuồng trại, xác động vật chết, phân gia súc, gia cầm, chất thải từ giết mổ động vật, chế biến sữa, chế biến thực phẩm…
+ CTR làng nghề: phát sinh từ các làng nghề thủ công CTR làng nghề gồm nhiều loại, phụ thuộc vào nguồn phát sinh mang đặc tính của loại hình sản xuất Một số nhóm ngành nghề chính như làng nghề chế biến lượng thực thực phẩm phát sinh CTR chủ yếu là các loại nông sản bị loại bỏ trong quá trình chế biến, phế phụ phẩm bị ôi thiu, các loại vỏ, bã, xơ nông sản; nhóm làng nghề tái chế phế liệu phát sinh các loại CTR như nilong, cao su, thủy tinh, nhựa không có khả năng tái chế; nhóm làng nghề thủ công mỹ nghệ phát sinh CTR như gỗ vụn, gỗ mảnh, mùn cưa, dăm bào, vỏ trai, giấy giáp thải; nhóm làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ và thuộc da: CTR chủ yếu là xỉ than, hóa chất nhuộm, vải vụn, xơ vải… và một số nhóm làng nghề khác
+ CTR y tế: phát sinh từ các hoạt động khám chữa bệnh tại các bệnh viện, trung tâm y tế, trạm xá, phòng khám chữa bệnh tư nhân hoặc khám chữa bệnh tại nhà CTR y tế bao gồm các loại bông, băng, gạc, nẹp dùng trong khám bệnh, điều trị, phẫu thuật; các loại kim tiêm, ống tiêm, ống truyền dịch, lọ truyền dịch; mô bệnh phẩm và cơ quan người từ các phòng mổ và tiểu phẫu, các bệnh phẩm nuôi cấy, mô hoặc xác động vật từ phòng thử nghiệm thải ra, các chất thải nhiễm trùng từ phòng cách ly; các loại chất thải phóng xạ từ các thiết bị y tế; các CTR thông thường từ các cơ quan hành chính của bệnh viện như chất hữu cơ, giấy, gỗ, kim loại, sành sứ gạch vỡ, thủy tinh, nhựa, nilong và các thành phần khác
Trang 145
- Phân loại theo mức độ nguy hại:
+ CTR nguy hại: bao gồm các hoá chất dễ gây phản ứng, các chất độc hại, chất thải sinh học dễ thối rữa, các chất dễ cháy, dễ gây nổ, các chất thải nhiễm khuẩn, lây lan, chất thải phóng xạ, có nguy cơ đe dọa đến sức khỏe con người, động vật và cây cỏ Nguồn gốc phát sinh chất thải nguy hại chủ yếu từ các hoạt động y tế, công nghiệp và nông nghiệp
+ CTR không nguy hại: là những chất thải không chứa các chất và các hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc gián tiếp
- Phân loại theo tính chất:
+ CTR vô cơ là những chất thải không có khả năng phân hủy trong điều kiện
tự nhiên hoặc có thể phân hủy nhưng trong thời gian rất dài: bao gồm các loại CTR
có thành phần là gỗ, thủy tinh, nhựa, kim loại, nilong, gạch, đá, bê tông, gốm sứ…
+ CTR hữu cơ là các chất thải có chứa các hợp chất hữu cơ, có khả năng hoặc dễ dàng phân hủy sinh học bao gồm các chất thải từ có nguồn gốc từ thực vật; thực phẩm, thực phẩm dư thừa, phế thải nông nghiệp (rơm, rạ), xác động thực vật chết, lá cây rụng, thân cây, cành cây mục nát, thực phẩm hỏng hoặc thừa (rau, quả, thịt, cá, trứng, phế thải sinh hoạt (đồ dùng từ vải, bông, sợi bông, carton), phế thải của làng nghề chế biến tinh bột…
1.1.2 Tổng quan vấn đề phát sinh chất thải rắn nông thôn tại Việt Nam
CTR nông thôn là những loại CTR phát sinh từ các khu vực nông thôn, chủ yếu gồm 3 nhóm chính là: CTRSH, CTR nông nghiệp và CTR làng nghề
1.1.2.1 Tổng quan vấn đề phát sinh chất thải rắn sinh hoạt nông thôn
Dân số ngày càng gia tăng, điều kiện KT-XH ngày càng phát triển, nhu cầu tiêu dùng của người dân tại các vùng nông thôn nói chung và khu dân cư nói riêng ngày càng phong phú và đa dạng, đây cũng là nguyên nhân chính làm gia tăng thành phần và tải lượng CTRSH tại các vùng nông thôn trên cả nước
Trang 156
CTRSH nông thôn phát sinh từ các nguồn chủ yếu như: hộ gia đình, chợ, nhà kho, trường học, bệnh viện, cơ quan hành chính… CTRSH khu vực nông thôn có tỷ
lệ chất hữu cơ khá cao, chủ yếu là từ thực phẩm thải, chất thải vườn và phần lớn đều
là chất hữu cơ dễ phân hủy
Theo ước tính, với mức phát sinh trung bình khoảng 0,3 kg/người/ngày thì lượng CTRSH phát sinh tại các khu vực nông thôn trên cả nước năm 2013 là 18.200 tấn/ngày, tương đương với 6,6 triệu tấn/năm, trong đó, Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng có khối lượng CTRSH nông thôn phát sinh lớn nhất [2]
1.1.2.2 Tổng quan vấn đề phát sinh chất thải rắn nông nghiệp nông thôn
CTR nông nghiệp bao gồm CTR nông nghiệp thông thường và CTR nông nghiệp nguy hại CTR nông nghiệp thông thường bao gồm các loại CTR phát sinh
từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp như: trồng trọt (thực vật chết, tỉa cành, làm cỏ, ), thu hoạch nông sản (rơm, rạ, trấu, cám, lõi ngô, thân ngô…), các CTR từ chăn nuôi, giết mổ động vật, chế biến sữa, chế biến thuỷ sản, CTR nông nghiệp nguy hại chủ yếu phát sinh từ các hoạt động nông nghiệp (bao bì hoá chất BVTV, thuốc kích thích, tăng trưởng…), hoạt động chăm sóc thú y (chai lọ đựng thuốc thú
y, dụng cụ tiêm, mổ) CTR nông nghiệp gồm nhiều chủng loại khác nhau, phần lớn
là các thành phần có thể phân hủy sinh học như phân gia súc, gia cầm, rơm rạ, trấu, CTR từ chăn nuôi Ngoài ra, một phần CTR nông nghiệp là các chất thải khó phân hủy và độc hại như bao bì hóa chất BVTV Tình trạng sử dụng hóa chất trong nông nghiệp như phân bón hóa học, hóa chất BVTV đang diễn ra tràn lan, thiếu kiểm soát Do đó, các CTR bao bì đựng phân bón, hóa chất BVTV tăng lên đáng kể và không thể kiểm soát Theo thống kê của Viện Môi trường Nông nghiệp Việt Nam, mỗi năm tại các khu vực nông thôn nước ta phát sinh khoảng 14.000 tấn bao bì hóa chất BVTV, phân bón hóa học [1]
CTR từ trồng trọt: Vào những ngày thu hoạch, lượng rơm rạ và các phụ phẩm nông nghiệp khác phát sinh nhiều và chiếm thành phần chủ yếu trong CTR
Trang 167
nông nghiệp Tại các vùng đồng bằng, diện tích canh tác lớn, do vậy lượng CTR nông nghiệp từ trồng trọt là rất lớn, thành phần CTR cũng rất khác so với những vùng trung du, miền núi Với khoảng 7.5 triệu hecta đất trồng lúa ở nước ta, hàng năm lượng rơm rạ thải ra lên tới 76 triệu tấn Tuy nhiên, hiện nay lượng rơm rạ thải này không được tính toán trong thống kê lượng CTR phát sinh của các địa phương cũng như toàn quốc [1]
CTR chăn nuôi: Hiện tại, tại các vùng nông thôn Việt Nam có khoảng 8,5 triệu hộ chăn nuôi với gần 6 triệu bò; gần 3 triệu trâu; 27 triệu lợn; 300 triệu gia cầm Riêng về nuôi lợn, từ 1 - 5 con chiếm 50% số hộ, nuôi 6 - 10 con chiếm 20%,
từ 11 con trở lên chiếm 30%, tương đương với việc tạo ra khoảng 74 triệu tấn CTR chăn nuôi mỗi năm [1]
1.1.2.3 Tổng quan vấn đề phát sinh chất thải rắn làng nghề nông thôn
CTR làng nghề chiếm một phần đáng kể trong nguồn phát sinh CTR nông thôn Sự phát triển mạnh mẽ của các làng nghề đã và đang mang lại những lợi ích to lớn về KT-XH cho các địa phương trên cả nước Tuy nhiên, sự phát triển đó cũng tạo sức ép đối với môi trường khi thải ra lượng CTR lớn Tính đến năm 2011, cả nước có khoảng 1.324 làng nghề được công nhận làng nghề và 3.221 làng có nghề Hoạt động sản xuất nghề nông thôn đã tạo ra việc làm cho hơn 11 triệu lao động, thu hút khoảng 30% lực lượng lao động nông thôn; đặc biệt có những địa phương
đã thu hút được hơn 60% lao động của cả làng, đã và đang có nhiều đóng góp cho
ổn định đời sống nông dân, góp phần phát triển kinh tế nông thôn Làng nghề phân
bố không đồng đều giữa các vùng, miền (miền Bắc khoảng 60%, miền Trung 30%, miền Nam 10%) Trong đó các làng nghề có quy mô nhỏ, trình độ sản xuất thấp, thiết bị cũ và công nghệ lạc hậu chiếm phần lớn (trên 70%) Vì vậy, đã và đang nảy sinh nhiều vấn đề môi trường tại các làng nghề CTR làng nghề gồm nhiều chủng loại khác nhau, phụ thuộc vào nhiều nguồn phát sinh và mang đặc tính của loại hình sản xuất Một số nhóm ngành nghề chính như làng nghề chế biến lượng thực thực phẩm phát sinh CTR chủ yếu là các loại nông sản bị loại bỏ trong quá trình chế
Trang 178
biến, phế phụ phẩm bị ôi thiu, các loại vỏ, bã, xơ nông sản; nhóm làng nghề tái chế phế liệu phát sinh các loại CTR như nilong, cao su, thủy tinh, nhựa không có khả năng tái chế; nhóm làng nghề thủ công mỹ nghệ phát sinh CTR như gỗ vụn, gỗ mảnh, mùn cưa, dăm bào, vỏ trai, giấy giáp thải; nhóm làng nghề dệt nhuộm, ươm
tơ và thuộc da phát sinh CTR chủ yếu là xỉ than, hóa chất nhuộm, vải vụn, xơ vải…
và một số nhóm làng nghề khác Trung bình mỗi ngày, hoạt động sản xuất tại các làng nghề thải ra từ 300 đến 500 tấn bã, hàng trăm tấn CTR chứa các chất tẩy rửa hóa học…[1]
Bảng 1.1: Khối lượng CTR phát sinh tại một số nhóm làng nghề tái chế
1 Làng nghề tái
chế chì
Vỏ ắc quy, rỉ sắt vụn, bùn, đất
4,0-4,5 kg phế thải/bình ắc quy
2 Làng nghề tái
chế nhựa
Nhựa phế thải, nhãn mác, băng ghim, các tạp chất
8,0-11,2 kg phế thải/ tấn phế liệu nhựa
(Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia năm 2014)
1.1.3 Tổng quan vấn đề quản lý chất thải rắn nông thôn
1.1.3.1 Tổng quan vấn đề quản lý chất thải rắn sinh hoạt nông thôn
Phân loại CTRSH nông thôn
Việc phân loại CTRSH đang gặp nhiều khó khăn ở cả các khu vực đô thị và nông thôn Hiện nay việc phân loại CTRSH nông thôn được thực hiện ngay tại các
hộ gia đình bằng việc thu gom riêng một số loại CTR như giấy, bìa carton, kim loại, nhựa, thức ăn thừa…, các loại CTR khác không có khả năng sử dụng hầu hết không được phân loại và bỏ chung với nhau, bao gồm cả loại CTR có khả năng phân hủy
và CTR khó phân hủy Mặc dù tại một số địa phương đã thực hiện mô hình phân
Trang 189
loại CTRSH tại nguồn và đã đạt được những kết quả bước đầu Tuy nhiên, trên phạm vi cả nước hiện nay việc phân loại CTRSH nông thôn còn gặp nhiều khó khăn
và chưa đạt được hiệu quả cao
Thu gom CTRSH nông thôn
Tại khu vực trung du, miền núi với diện tích tự nhiên lớn, mật độ dân cư ở mức thấp, CTRSH phát sinh không quá nhiều và chưa phải là vấn đề đáng lo ngại
và quan tâm nên hầu như tại các địa phương này chưa có dịch vụ thu gom, xử lý tập trung đối với CTRSH Đối với các thành phần hữu cơ chủ yếu được người dân địa phương tận dụng cho việc chăn nuôi, phần còn lại chủ yếu được người dân tự xử lý bằng phương pháp đốt, chôn lấp ngay trong vườn nhà hoặc đổ tại các bãi đất trống hay các khu vực công cộng
Tại các vùng ven đô thị, vùng đồng bằng tập trung nhiều dân cư thì việc thu gom, xử lý CTRSH đang đặt ra nhiều thách thức lớn Hiện tại, CTRSH tại các khu vực này đã được các tổ, đội vệ sinh môi trường (VSMT) thu gom và vận chuyển về các bãi chôn lấp (BCL) Hình thức BCL lộ thiên, hầu hết không có hệ thống xử lý nước rỉ rác hoặc có nhưng hoạt động không hiệu quả gây ONMT xung quanh
Thực hiện tiêu chí 17 của Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, tại một số địa phương đã đẩy mạnh việc thành lập đơn vị thu gom CTR tập trung Việc thu gom, xử lý cũng mới bước đầu được áp dụng đối với CTRSH Đến nay đã có khoảng 40-50% xã trong toàn quốc thành lập tổ, đội thu gom CTRSH, tăng 10% so với trước thời điểm thực hiện xây dựng nông thôn mới Tuy nhiên, tỷ lệ thu gom CTRSH nông thôn ở mức này được đánh giá là còn thấp và có
sự phân biệt theo vùng miền Tại các vùng ven đô thị, tỷ lệ này đạt khoảng 80%, nhưng ở một số vùng sâu, vùng xa, tỷ lệ thu gom chỉ đạt dưới 10% Các tổ, đội thu gom CTRSH hoạt động với mô hình tự quản và kinh phí hoạt động do người dân tự đóng góp Tuy nhiên, nhiều nơi vẫn còn hiện tượng CTRSH đổ bừa bãi, gây ONMT, cảnh quan, ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của người dân Công tác thu gom, vận chuyển CTRSH nông thôn mặc dù đã có chuyển biến xong chưa đồng bộ giữa các vùng miền và còn nhiều bất cập Các công cụ hỗ trợ thu gom, vận chuyển còn thô
Trang 1910
sơ và chưa được quan tâm đầu tư, nhiều nơi các thiết bị rất thiếu hoặc đã hư hỏng, xuống cấp và chưa được đầu tư cải tiến phù hợp Chưa vùng nào hình thành các quy định về định mức để có thể giao kế hoạch sản xuất và dịch vụ công ích như ở đô thị Trong khi đó, nhu cầu về quản lý CTR nông thôn ngày càng bức xúc [2]
Đốt cũng là một phương pháp xử lý CTRSH tại nhiều vùng nông thôn, một
số mô hình lò đốt đã được áp dụng thí điểm ở nhiều địa phương trong toàn quốc, bước đầu các công nghệ đốt đã cho thấy có thể giúp giảm khối lượng CTRSH phát sinh, hạn chế gây ONMT và mất mỹ quan khu vực Tuy nhiên do CTRSH nông thôn
có thành phần chủ yếu là các chất hữu cơ, chứa hàm lượng nước lớn và lẫn trong đó các thành phần khó phân hủy như nilong, thủy tinh…nên việc đốt tiêu hao nhiều nhiên liệu và không xử lý được triệt để các thành phần CTRSH Việc vận hành không đúng yêu cầu kỹ thuật như không đảm bảo đảo nhiệt độ đốt của lò, khối lượng CTRSH cần đốt lớn hơn công suất thiết kế của lò đốt…cũng có thể làm phát sinh các loại khí độc hại trong quá trình đốt như Dioxin, Fura Mặt khác, chi phí đầu
tư và tuổi thọ thực tế của các lò đốt nhập khẩu cũng là vấn đề cần được xem xét, kiểm định trước khi đưa vào sử dụng trong điều kiện thực tế của Việt Nam
Trang 2011
1.1.3.2 Tổng quan vấn đề quản lý chất thải rắn nông nghiệp nông thôn
Quản lý CTR phát sinh từ hoạt động trồng trọt
Việc thu gom, xử lý CTR bao bì hóa chất BVTV từ hoạt động trồng trọt hiện nay còn hạn chế Tại một số địa phương, việc thu gom các loại bao bì được áp dụng nhưng ở quy mô nhỏ, bao bì hóa chất BVTV được lưu trong các thùng chứa hoặc bể
xi măng cố định Tại nhiều địa phương chưa có hướng xử lý các loại bao bì hóa chất BVTV sau thu gom Thực tế, các loại bao bì hóa chất BVTV thường bị vứt bừa bãi tại ruộng, góc vườn hay nguy hiểm hơn là bị vứt bỏ ngay đầu nguồn nước sinh hoạt, tưới tiêu
Rơm rạ và phụ phẩm sau thu hoạch là nguồn nguyên liệu dồi dào để làm phân bón, thức ăn gia súc, chất đốt sinh hoạt…phần còn lại thường được xử lý bằng phương pháp đốt ngay trên những cánh đồng để lấy tro bón ruộng, tuy nhiên cách
xử lý này vừa gây lãng phí, vừa gây ONMT Đốt rơm rạ đang là hiện tượng phổ biến ở nhiều vùng nông thôn khu vực phía Bắc như Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình…Quá trình đốt diễn ra ngoài trời, mang tính tự phát, làm phát tán vào không khí các loại bụi, khí CO, CO2, NOx, SO2 và một số khí độc hại Khi rơm rạ cháy không hết có thể sinh ra khí andehit và bụi mịn Đặc biệt vào những đợt nắng nóng, không khí được luân chuyển, khói rơm rạ tích tụ ở lớp không khí sát mặt đất lẫn với khí thải từ các nguồn khác làm bầu không khí toàn vùng bị phủ khói mù Ngoài ra, phần rơm rạ không bị đốt thường bị xả bừa bãi trên đường giao thông, đổ lấp xuống các kênh, mương, ao, hồ xung quanh Tại nhiều địa phương, nhất là các khu vực phía Nam, công nghệ tái chế đang được áp dụng như thu mua rơm rạ làm nguyên liệu trồng nấm hoặc chăn nuôi trâu, bò; thu mua vỏ trấu để làm nguyên liệu đốt lò hơi…
Quản lý CTR phát sinh từ hoạt động chăn nuôi
Đối với CTR từ chăn nuôi, việc quản lý CTR còn gặp nhiều khó khăn Ba biện pháp chủ yếu được người nông dân thường áp dụng là: xử lý bằng công nghệ khí sinh học (biogas), ủ làm phân bón cho cây trồng, hay thải trực tiếp ra kênh, mương, ao, hồ
Trang 2112
Bảng 1.2 Thực trạng một số biện pháp xử lý CTR trong chăn nuôi quy mô trang
trại (TT) và hộ gia đình tại các tỉnh thành trong toàn quốc
Công nghệ khác
Chưa áp dụng xử lý
(Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia năm 2014)
Ngoài ra, một số phương pháp xử lý khác cũng đang bước đầu được áp dụng như dùng đệm lót sinh học, xử lý chất thải bằng sinh vật thủy sinh (cây muỗi nước, bèo lục bình), xử lý bằng hồ sinh học
Việc xử lý CTR chăn nuôi bằng công nghệ biogas là hình thức phổ biến nhất hiện nay với tổng số cơ sở chăn nuôi áp dụng biện pháp này chiếm tỷ lệ 31.79% trong toàn quốc Hiện nay toàn quốc đã có khoảng 235.000 công trình được ứng dụng thành công, góp phần giảm đáng kể ô nhiễm do CTR từ chăn nuôi Tuy nhiên,
so với hơn 4 triệu hộ chăn nuôi lợn trên cả nước thì tỷ lệ các công trình xử lý vẫn còn thấp Việc xả thẳng CTR ra môi trường xung quanh mà không qua xử lý tồn tại chủ yếu ở các hộ chăn nuôi quy mô hộ gia đình nhỏ lẻ Đối với chăn nuôi quy mô
hộ gia đình, có 61.429 hộ trên tổng số 5.671.287 hộ chăn nuôi được điều tra áp
Trang 221.1.3.3 Tổng quan vấn đề quản lý chất thải rắn làng nghề nông thôn
Công tác phân loại, thu gom và xử lý CTR tại các làng nghề hiện nay chưa được chú trọng đúng mức Mặc dù đã có nhiều nỗ lực nhưng hầu hết các làng nghề chưa được thiết lập một hệ thống thu gom, vận chuyển và xử lý các loại CTR một cách hoàn chỉnh Tình trạng CTR sản xuất được thu gom chung với CTRSH còn khá phổ biến Tại một số làng nghề, CTR phát sinh từ hoạt động sản xuất bước đầu
đã có sự phân loại để tái sử dụng làm nguyên liệu, nhiên liệu, phần còn lại được thu gom tập trung mang đi chôn lấp tại bãi thải hoặc xử lý theo phương pháp đốt lộ thiên hoặc bằng các lò đốt thủ công Ngoài ra, còn một lượng không nhỏ CTR đổ thải tự do trong khuôn viên hộ làm nghề hay nơi công cộng Tại các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, phần CTR không được tận thu thường xả bừa bãi vào môi trường CTR tại các làng nghề tái chế phế liệu như tái chế giấy, nhựa, kim loại với các thành phần phức tạp, khó phân hủy thường được xử lý bằng phương pháp đốt hoặc mang đi chôn lấp Tại các làng nghề ươm tơ, dệt vải, lượng CTR sản xuất phát sinh không nhiều, hầu hết được tận thu, phần còn lại được chôn lấp hoặc đốt thủ công
Trên địa bàn cả nước, một số địa phương đã có sự quan tâm đến công tác xử
lý CTR làng nghề, một số khu xử lý CTR tập trung cho cụm công nghiệp làng nghề
đã được xây dựng và đi vào hoạt động Một số mô hình xử lý CTR đã được nghiên
Trang 2314
cứu và áp dụng đối với các loại hình làng nghề như dệt nhuộm, chế biến nông sản thực phẩm, tái chế…Bên cạnh đó, quy trình sản xuất sạch hơn cũng đã được nghiên cứu và áp dụng mô hình điểm tại một số làng nghề như sản xuất gạch gốm, cơ kim khí… đã mang lại hiệu quả thiết thực giảm thiểu lượng CTR phát sinh, giảm áp lực cho quá trình thu gom, xử lý, nâng cáo hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường (BVMT) Tuy nhiên, việc triển khai nhân rộng các mô hình này vẫn còn gặp nhiều khó khăn
1.2 Một số mô hình quản lý chất thải rắn nông thôn tại Việt Nam
1.2.1 Mô hình quản lý tư nhân
Mô hình công ty Môi trường đô thị: ở một số vùng ven đô, các công ty Môi trường đô thị đã mở rộng dịch vụ thu gom CTRSH cho các các xã lân cận Công ty
có thể làm dịch vụ trọn gói từ thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH hoặc chỉ vận vận chuyển hay xử lý Kinh phí hoạt động của công ty từ nguồn thu phí của dân và ngân sách của tỉnh, thành phố Thu nhập của người làm dịch vụ từ 1.200.000-2.000.000 đồng/người/tháng và được hưởng đầy đủ các chế độ của lao động nặng
và độc hại Hiện chỉ có một số rất ít các xã ven các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh được hưởng các dịch vụ này
1.2.2 Mô hình quản lý chất thải rắn dựa vào cộng đồng
Một số thành phố của Việt Nam đang tiến hành chương trình cộng đồng tập trung vào hoạt động thu gom CTR, thông qua đó các nhóm dân cư, hợp tác xã (HTX), các doanh nghiệp tư nhân có trách nhiệm trong hoạt động thu gom CTR Các chương trình xã hội hóa đã chia sẻ trách nhiệm quản lý CTR cho cộng đồng dân cư địa phương và đang trở lên phổ biến tại Việt Nam Hiện nay, các nhóm dân
cư địa phương đã tự đứng ra tổ chức thu gom CTR, đầu tư các trang thiết bị thu gom CTR và quản lý toàn bộ hệ thống thu gom CTR với nguồn tài chính từ việc thu phí vệ sinh và một phần hỗ trợ từ nguồn tài chính Nhà nước Với mô hình quản lý CTR dựa vào cộng đồng thì các tổ chức đoàn thể như Hội phụ nữ, Mặt trận tổ quốc,
Trang 2415
Đoàn thanh niên có vai trò đóng góp quan trọng trong công tác hỗ trợ cho hoạt động được duy trì ổn định và được thực hiện có hiệu quả, đồng thời đóng góp cho công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức người dân giữ gìn VSMT
1.2.3 Mô hình 3R
3R là mô hình phân loại CTRSH tại nguồn thành 3 loại khác nhau nhằm mục đích tái chế, tái sử dụng một phần CTRSH trước khi đem đi xử lý Phân loại CTRSH tại nguồn góp phần hạn chế việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, giảm bớt khối lượng CTRSH cần phải thu gom, vận chuyển và xử lý Phương pháp 3R được thực hiện qua các bước bao gồm: bước một là phân loại được hai loại CTR là CTR
vô cơ và CTR hữu cơ; bước hai là phân loại được ba loại CTR là hữu cơ, vô cơ có thể tái chế và vô cơ không thể tái chế Với mô hình này, CTRSH được phân loại ngay tại thùng rác của mỗi hộ gia đình Có thể sử dụng thùng rác 2 ngăn hoặc 2 thùng rác riêng biệt để bỏ riêng CTR vô cơ và CTR hữu cơ Khi xe thu gom vận chuyển CTR đi cũng phân tách riêng hai loại CTR này trên cơ sở phân loại của từng
hộ gia đình Với mỗi loại CTR sau khi được phân loại sẽ được áp dụng những cách
xử lý khác nhau sao cho phù hợp nhất với từng loại Nhật Bản là đất nước đầu tiên xây dựng và triển khai thành công mô hình quản lý CTR theo theo phương pháp 3R Tại Việt Nam, mô hình 3R được bắt đầu áp dụng trong nhiều năm, cho đến nay đã đạt được những hiệu quả nhất định tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh
1.2.4 Mô hình thu gom chất thải rắn sinh hoạt do dân tự tổ chức
Mô hình thu gom CTRSH do dân tự tổ chức là hình thức phổ biến ở các vùng nông thôn, do người dân tự thỏa thuận và cử người thu gom cho 1 xóm hoặc một cụm dân cư CTRSH sau khi thu gom thường được đổ lộ thiên ven đường làng, bờ mương, chưa được sự quan tâm, hỗ trợ của các cấp địa phương cả về tài chính và chính sách Người thu gom phải tự trang bị phương tiện thu gom, thu nhập trung bình chỉ đạt 100.000-150.000 đồng/người/tháng, không được hưởng các chế độ bảo hiểm y tế, xã hội và bảo hộ lao động Hoạt động của người thu gom không chuyên
Trang 2516
nghiệp, số lần thu gom trung bình 1 lần/tuần, có nơi 2 tuần/1 lần, chủ yếu thu gom CTRSH cho khu vực ven đường chính và khu vực tập trung dân cư
Từ các phân tích tổng quan trên đây cho thấy rằng có nhiều mô hình thu gom
và xử lý CTR ở khu vực nông thôn Các mô hình mang lại hiệu quả rất khác nhau, nhưng vấn đề quan trọng nhất là không có pháp nhân nào đứng ra chịu trách nhiệm cho hiệu quả hoạt động của mô hình đó trên địa bàn địa phương Trong khi đó, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện theo quy định phải chịu trách nhiệm trước
cơ quan cấp trên về các hoạt động và diễn biến chất lượng môi trường của huyện đứng ngoài các mô hình đã nêu Vấn đề xây dựng mô hình quản lý CTR nông thôn, trong đó có sự tham gia và quản lý của phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện
để tăng cường tính hiệu quả và xác lập tính pháp lý trong quản lý CTR trên địa bàn nông thôn cấp huyện là cấp bách và cần thiết
1.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu
1.3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
1.3.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Ứng Hoà nằm ở phía Nam của thành phố Hà Nội, có tọa độ địa lý:
200 38’ đến 200 43’ vĩ độ Bắc và từ 1050 54’ đến 1050 49’ kinh độ Đông.Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 186,37 km2
Huyện có đường ranh giới giáp với các địa phương sau: phía Bắc giáp huyện Chương Mỹ và huyện Thanh Oai; phía Đông giáp huyện Phú Xuyên; phía Tây giáp huyện Mỹ Đức; phía Nam giáp huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam
Huyện Ứng Hoà có 28 xã và 01 thị trấn, nằm trên đường quốc lộ 21B, cách quận Hà Đông 30km về phía Bắc và cách khu du lịch Chùa Hương 20 km về phía Nam Huyện có tỉnh lộ 428, tỉnh lộ 78 đi qua và các đường liên huyện, liên xã để giao lưu với thị trường bên ngoài và tiếp cận với tiến bộ khoa học kỹ thuật
1.3.1.2 Địa hình
Ứng Hoà có dạng địa hình đồng bằng, với độ dốc thoải từ Bắc xuống Nam,
Trang 26- Vùng vàn và trũng gồm 16 xã: Hoa Sơn, Trường Thịnh, Quảng Phú Cầu, Liên Bạt, Phương Tú, Tảo Dương Văn, Trung Tú, Đồng Tân, Minh Đức, Kim Đường, Đông Lỗ, Đại Hùng, Đại Cường, Hòa Lâm, Trầm Lộng, Đội Bình Do điều kiện địa hình vàn thấp và trũng, không được phù sa bồi đắp hàng năm nên đất đai có
độ chua cao
1.3.1.3 Đặc trưng khí hậu, thủy văn
- Khí hậu: Khí hậu của huyện Ứng Hòa mang tính chất khí hậu nhiệt đới,
chịu ảnh hưởng lớn của hai hướng gió chính là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông
Nam, phân thành 4 mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông)
- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình tháng trong năm dao động từ 16,0 đến
29,00C (trạm Ba Thá) Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, thời tiết lạnh và khô Tháng lạnh nhất là tháng 1 và tháng 2 Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình tháng thường trên 230C, tháng nóng nhất là tháng 7 [22]
- Chế độ ẩm: Độ ẩm tương đối trung bình từ 83% - 86% Tháng có độ ẩm
trung bình cao nhất là tháng 3 và tháng 4 độ ẩm lên tới 88%, các tháng có độ ẩm trung bình thấp nhất là tháng 11, tháng 12 (80 - 81%).[22]
- Chế độ gió: Gió theo mùa, mùa đông thường là gió Đông Bắc, mùa hè
thường là Đông Nam
- Chế độ bức xạ: Huyện Ứng Hòa nằm trong vùng mang tính chất chung của
vùng đồng bằng Bắc Bộ, hàng năm có từ 120 - 140 ngày nắng Số giờ nắng trong năm từ 1.163 giờ đến 1.867 giờ Số giờ nắng thường xuất hiện nhiều đợt không có
Trang 2718
nắng kéo dài 2 - 5 ngày Tháng 2, 4 có số giời nắng thấp nhất, độ ẩm cao sẽ làm phát sinh nhiều dịch bệnh cho cây trồng, vật nuôi [22]
- Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình năm 1.900mm, cá biệt năm mưa nhiều
nhất đạt 2.200mm (1997), năm ít mưa nhất 1.124mm (1998) Tuy nhiên, lượng mưa phân bố không đồng đều theo không gian và thời gian Do hoạt đông của gió mùa
đã phân hoá chế độ mưa thành 2 mùa [22]:
+ Mùa mưa: Từ tháng 5 đến tháng 10 với lượng mưa trung bình 1.200mm, chiếm 70 - 80% tổng lượng mưa năm Mưa lớn thường tập trung vào các tháng 6,7,8 với lượng mưa xấp xỉ 300mm/tháng
+ Mùa khô: Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa mùa này khoảng
300 - 500mm, chiếm 20 - 30% lượng mưa năm Các tháng có lượng mưa ít nhất thường là tháng 12, 1 và 2
Thuỷ văn
- Mạng lưới sông ngòi
Huyện Ứng Hoà có mạng lưới sông ngòi, hồ, ao phong phú và đa dạng, với 2
hệ thống sông chủ yếu là sông Đáy ở phía Tây Nam và sông Nhuệ ở phía Đông Nam cùng với kênh Ngoại Độ là nguồn cung cấp nước chủ yếu để phát triển một nền nông nghiệp nhiều thành phần
+ Sông Đáy có chiều dài khoảng 240km và lưu vực (cùng với phụ lưu sông Nhuệ) Sông Đáy chảy qua địa phận huyện với tổng chiều dài 31km
+ Sông Nhuệ là một con sông nhỏ dài khoảng 76km, chảy ngoằn ngoèo gần như theo hướng Tây Bắc – Đông Nam Đoạn chảy qua địa bàn huyện Ứng Hoà có chiều dài 11km
1.3.2 Điều kiện kinh tế-xã hội khu vực nghiên cứu
Tổng giá trị sản xuất toàn huyện năm 2013 đạt 7.405 tỷ đồng, bình quân tăng trưởng giai đoạn 2009 - 2013 đạt 11,34%/năm Ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn: 42,7%, ngành công nghiệp – xây dựng chiếm 36,4%, ngành thương mại - dịch vụ chiếm 20,9% Thu nhập bình quân đầu người ngày càng tăng: năm 2009 đạt
Trang 2819
8,7 triệu đồng/người/năm đến năm 2013 là 16,46 triệu đồng/người/năm.[22]
Dân số: Tính đến 31/12/2014 toàn huyện có tổng dân là 194.769 người với
51.581 hộ Tốc độ phát triển dân số bình quân thời kỳ 2010 – 2014 là 1,3, tỷ lệ sinh con thứ 3 giai đoạn 2010 - 2014 là 14,71% [18]
Lao động: Năm 2014 toàn huyện có 110.421 người trong độ tuổi lao động,
chiếm 57,6% dân số Trong đó, lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 105.030 người, lao động nông nghiệp chiếm đa số với 89% Hàng năm đã giải quyết việc làm cho gần 3.000 lao động góp phần giảm tỷ lệ lao động thất nghiệp xuống còn 4,1% và tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 5,59% [22]
Giáo dục - Đào tạo: Sự nghiệp giáo dục – đào tạo luôn được sự quan tâm
của các cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân Toàn huyện đã có 19 trường học
được công nhận đạt chuẩn quốc gia (trong đó có 1 trường mầm non, 10 trường tiểu
học và 8 trường trung học cơ sở) Tuy nhiên, hiện nay ở cấp mầm non còn 210
phòng cấp 4 và bán kiên cố, ở cấp tiểu học vẫn còn 86 phòng cấp 4 và bán kiên cố,
ở cấp trung học cơ sở là 44 phòng tạm và bán kiên cố
Trên địa bàn huyện có 01 Trung tâm dạy nghề, 01 Trung tâm hướng nghiệp
và 01 Trung tâm giáo dục thường xuyên với chức năng tổ chức đào tạo nghề cho thanh niên Giáo dục dạy nghề mới hình thành quy mô còn nhỏ, chưa đồng bộ về cơ
sở vật chất, đội ngũ giáo viên và ngành nghề đào tạo
Y tế - Văn hoá:
Tính đến năm 2014, toàn huyện có 425 cán bộ y tế; tuyến xã, thị trấn có 158 cán bộ y tế; 100% trạm y tế đều có y sỹ đa khoa Trên địa bàn toàn huyện có 01 bệnh viện đa khoa cấp 2, 03 phòng khám khu vực và trung tâm y tế, 29/29 xã, thị trấn có trạm y tế Thực hiện tốt chương trình tiêm chủng mở rộng (99,9% trẻ dưới một tuổi được tiêm đầy dủ các loại vắc xin) Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng 12% (giảm 1,2% so với năm 2013) [22]
Trang 2920
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Vấn đề phát sinh CTR nông thôn trên địa bàn huyện Ứng Hòa, Hà Nội, bao gồm vấn đề phát sinh: CTRSH, CTR nông nghiệp và CTR làng nghề
- Công tác quản lý CTR nông thôn trên địa bàn huyện Ứng Hòa, Hà Nội, bao gồm công tác quản lý: CTRSH, CTR nông nghiệp và CTR làng nghề
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về thực trạng vấn đề phát sinh và công tác quản lý CTRSH, CTR nông nghiệp, CTR làng nghề phát sinh trên địa bàn 29 xã, thị trấn của huyện Ứng Hòa, Hà Nội giai đoạn 2010 đến nay và định hướng đến năm 2020
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra, tìm hiểu về thực trạng vấn đề phát sinh CTR nông thôn tại huyện Ứng Hòa;
- Điều tra, nghiên cứu về hiện trạng công tác quản lý CTR nông thôn tại huyện Ứng Hòa;
- Đánh giá chung về công tác quản lý CTR nông thôn tại huyện Ứng Hòa;
- Xây dựng khung mô hình quản lý tổng hợp CTR nông thôn tại huyện Ứng Hòa, để từ đó đề xuất các mô hình, phương án quản lý cụ thể, phù hợp với từng loại CTR nông thôn tại địa phương
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp thu thập số liệu là một trong những phương pháp quan trọng được sử dụng trong quá trình thực hiện nội dung đề tài nghiên cứu Phương pháp
Trang 30- Số liệu về điều kiện tự nhiên, KT-XH của huyện Ứng Hòa;
- Số liệu về tình hình phát sinh CTRSH tại huyện Ứng Hòa;
- Các số liệu về thành phần, tính chất CTRSH trên địa bàn huyện Ứng Hòa;
- Thu thập thông tin, số liệu liên quan đến hoạt động thu gom, vận chuyển và
xử lý CTRSH tại huyện Ứng Hòa;
- Thu thập số liệu từ BCL CTR Vân Đình về quy trình xử lý chôn lấp CTR, quy trình công nghệ xử lý nước rỉ rác;
- Số liệu về các ngành nghề sản xuất nông nghiệp, tình hình phát sinh các loại CTR nông nghiệp tại huyện Ứng Hòa
- Số liệu thống kê về trồng trọt, chăn nuôi trên địa bàn huyện Ứng Hòa;
- Số liệu liên quan đến hoạt động sản xuất tại các làng nghề của huyện Ứng Hòa và vấn đề phát sinh CTR tại các làng nghề…
2.3.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Tác giả đã tiến hành điều tra và khảo sát thực địa tại các địa điểm sau đây:
- Khảo sát thực địa tại BCL CTR Vân Đình để xác định khối lượng CTRSH
và CTR làng nghề tái chế phế liệu Xà Kiều đã được tiếp nhận hàng ngày để xử lý chôn lấp tại BCL Khảo sát quy trình xử lý chôn lấp CTR, xử lý bằng hóa chất đối với CTR, công tác vận hành hệ thống xử lý nước rỉ rác tại BCL CTR Vân Đình;
- Khảo sát trên những cánh đồng lúa sau vụ mùa tại một số xã huyện Ứng Hòa để làm cơ sở đánh giá hiện trạng xử lý rơm rạ sau mùa vụ của người dân tại địa phương;
- Điều tra, khảo sát về tình hình hiện trạng các điểm tập kết CTRSH trên địa bàn các xã;
Trang 3122
- Tìm hiểu về hoạt động sản xuất tăm hương tại các cơ sản sản xuất tăm hương của làng nghề xã Quảng Phú Cầu Điều tra, khảo sát về khối lượng phát sinh CTR từ hoạt động sản xuất tăm hương Tìm hiểu về những cách xử lý đối với CTR
từ hoạt động sản xuất tăm hương của các cơ sở sản xuất Tìm hiểu về nhu cầu sử dụng CTR từ sản xuất tăm hương cho hoạt động sản xuất củi ép;
- Tìm hiểu về hoạt động sản xuất, tái chế CTR tại làng nghề tái chế phế liệu
Xà Kiều Điều tra, khảo sát về thành phần CTR phát sinh từ hoạt động tái chế phế liệu tại Xà Kiều, xã Quảng Phú Cầu
2.3.3 Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia
Thao khảo ý kiến chuyên gia là phương pháp tham vấn ý kiến của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu và quản lý môi trường nói chung và quản lý CTR nói riêng Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, tác giả có tham khảo ý kiến hướng dẫn của các thầy, cô Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội, tham vấn ý kiến của cán bộ phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Ứng Hòa về việc xây dựng và đánh giá tính khả thi của các mô hình quản lý CTR nông thôn
2.3.4 Phương pháp dự báo khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh
Dựa vào số dân và tỷ lệ gia tăng dân số hàng năm của địa phương để tính lượng CTRSH hiện tại và ước tính khối lượng CTRSH phát sinh đến năm 2020
Công thức tính (theo mô hình Euler cải tiến):
N * i+1 = N i +r.N i ∆t
Trong đó:
N i : là số dân hiện tại (người)
N * i+1 : là số dân sau một năm (người)
r: là tốc độ tăng trường (%/năm)
∆t: là thời gian (năm)
Trang 3223
2.3.5 Phương pháp xử lý, phân tích, tổng hợp số liệu
Dựa trên những nguồn số liệu sơ cấp và thứ cấp thu thập được trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã tiến hành sử dụng các phương pháp xử lý, phân tích và tổng hợp các số liệu bằng các phần mền tin học thông dụng, word, excel để cung cấp cho nội dung bài nghiên cứu những nguồn số liệu cụ thể, phản ánh được những mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Đề tài nghiên cứu được xây dựng từ sự kết hợp giữa kết
quả khảo sát, thu thập số liệu với tổng hợp, phân tích số liệu Trên cơ sở đánh giá hiện trạng quản lý CTR nông thôn trên địa bàn huyện Ứng Hòa nhằm xây dựng mô hình quản lý CTR nông thôn phù hợp đối với địa phương
Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài nghiên cứu là cơ sở tài liệu tham khảo phục vụ ủy
ban nhân dân (UBND) huyện Ứng Hòa định hướng trong công tác quản lý CTR nông thôn trên địa bàn huyện trong tương lai
Trang 3324
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thực trạng vấn đề phát sinh chất thải rắn nông thôn tại huyện Ứng Hòa
3.1.1 Thực trạng vấn đề phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Ứng Hòa
CTRSH là một thành phần chiếm khối lượng chủ yếu trong tổng khối lượng CTR nông thôn phát sinh tại huyện Ứng Hòa CTRSH phát sinh trên địa bàn huyện
từ các nguồn chủ yếu sau:
- CTRSH từ hộ dân: phát sinh từ hoạt động sống thường ngày của các hộ gia đình CTRSH từ các hộ dân có các thành phần chủ yếu là thực phẩm trong quá trình nấu nướng, ăn uống như rau, củ, quả, thức ăn ôi thiu, dư thừa, đồ ăn hết hạn sử dụng…; các thành phần nilong, giấy, nhựa, thủy tinh, cao su, tro than tổ ong, gỗ, da… và một số thành phần nguy hại khác như pin, ắc quy
- CTRSH từ các cơ quan, công sở, các cơ quan hành chính Nhà nước: có thành phần chủ yếu là giấy, báo, nilong, nhựa, thủy tinh, thực phẩm dư thừa…
- CTRSH từ chợ: huyện Ứng Hòa có 1 chợ trung tâm lớn tại thị trấn Vân Đình, ngoài ra còn có các chợ nhỏ và chợ cóc phân bố ở các xã CTRSH phát sinh
từ chợ có thành phần hữu cơ là chủ yếu bao gồm các loại rau, củ, quả,…
- CTRSH khu kinh doanh, thương mại: nguồn CTRSH này phát sinh từ các cửa hàng kinh doanh hàng hóa tiêu dùng, các nhà hàng ăn uống, nhà nghỉ, khách sạn, cửa hàng sửa chữa, may mặc…bao gồm nhiều thành phần khác nhau như rau,
củ, quả, nilong, vải, da, nhựa, thủy tinh, giấy carton,…
Theo Báo cáo thống kê của Trung tâm Dân số và Kế hoạch hóa gia đình huyện Ứng Hòa, tính đến hết năm 2014, tổng dân số toàn huyện là 194.769 người Nếu tính theo mức phát sinh CTRSH bình quân đầu người tại nông thôn hiện nay là 0,5kg/người/ngày thì tổng lượng CTRSH phát sinh trên địa bàn huyện Ứng Hòa là khoảng 97 tấn/ngày
Thành phần CTRSH phát sinh tại huyện Ứng Hòa chủ yếu là CTR hữu cơ dễ phân hủy, đồ nhựa, kim loại, giấy, nilong, thủy tinh, cao su… Thành phần CTRSH phát sinh tại huyện Ứng Hòa được thể hiện trong bảng 3.1:
Trang 34Kim loại
Thuỷ tinh
Cao su, vải, da
chất trơ
Nguy hại Khác
(Nguồn: Báo cáo môi trường huyện Ứng Hòa năm 2013)
Từ số liệu thống kê khối lượng theo thành phần CTRSH tại một số khu vực của huyện Ứng Hòa được trình bày trong bảng 3.1 cho thấy: tỷ lệ thành phần chất hữu cơ trong CTRSH chiếm khối lượng chủ yếu (57,0%); nhựa chiếm 9,76%; giấy, carton chiếm 8,73%; kim loại chiếm 3,19%; thủy tinh chiếm 3,16%; cao su, vải, da chiếm 2,98%; chất trơ chiếm 2,43%; CTR nguy hại chiếm 5,49%; thành phần khác chiếm 7,26%
Dự báo diễn biến phát sinh CTRSH đến năm 2020 bằng công thức tính theo
mô hình Euler cải tiến:
Để dự báo khối lượng phát sinh CTRSH đến năm 2020, áp dụng công thức: Khối lượng phát thải = dân số x hệ số phát thải (kg/ngày/người)
Căn cứ vào số liệu thống kê dân số qua các năm tại huyện Ứng Hòa, tính được tỷ lệ gia tăng dân số qua các năm được thể hiện trong bảng 3.2
Bảng 3.2: Diễn biến gia tăng dân số huyện Ứng Hòa giai đoạn 2010-2014
Trang 3526
Số liệu dân số thể hiện trong bảng 3.2 cho phép tính được tỷ lệ gia tăng dân
số tự nhiên của huyện Ứng Hòa trung bình là 1,3%/năm và lựa chọn hệ số phát thải CTRSH tại vùng nông thôn là 0,5kg/ngày/người Từ tỷ lệ gia tăng đó, có thể đưa ra bảng dự báo khối lượng CTRSH phát sinh trên địa bàn huyện Ứng Hòa tới năm
2020 (Bảng 3.3)
Bảng 3.3: Dự báo khối lượng CTRSH phát sinh tại huyện Ứng Hòa đến năm 2020
3.1.2 Thực trạng vấn đề phát sinh chất thải rắn làng nghề tại huyện Ứng Hòa
Ứng hòa là một huyện có nhiều làng nghề truyền thống từ lâu đời Trong đó,
có một số làng nghề nổi tiếng như làng nghề sản xuất tăm hương, làng nghề may áo dài, làng nghề sản xuất nhạc cụ dân tộc, làng nghề dệt màn Tổng số 113/138 thôn của huyện Ứng Hòa có nghề, trong đó có 23 thôn được công nhận làng nghề Một
số làng nghề chính của huyện Ứng Hòa được thể hiện trong bảng 3.4
Trang 363 Hoa Đường- Trường Thịnh Mây tre đan
4 Cầu Bầu- Xà Kiều Sản xuất tăm hương
5 Phú Lương Thượng- Quảng Phú Cầu Sản xuất tăm hương
8 Phí Trạch- Phương Tú Đan guộc tế
9 Xà Kiều- Quảng Phú Cầu Tái chế phế liệu
10 Đạo Tú- Quảng Phú Cầu Sản xuất tăm hương
11 Quảng Nguyên- Quảng Phú Cầu Sản xuất tăm hương
12 Phú Lương Hạ- Quảng Phú Cầu Sản xuất tăm hương
13 Bặt Chùa- Liên Bạt Sản xuất bún
14 Đào Xá- Đông Lỗ Sản xuất nhạc cụ dân tộc
16 Trung Thượng- Đại Hùng Làm bông vải sợi
17 Trần Đăng- Hoa Sơn Sản xuất tăm hương, đan
guộc tế
19 Đống Vũ- Trường Thịnh Sản xuất tre giang
20 Hoàng Dương- Sơn Công Sản xuất may tre đan
(nguồn: Báo cáo môi trường huyện Ứng Hòa năm 2013)
Mặc dù huyện có nhiều làng nghề truyền thống, nhưng do quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở nước ta diễn ra mạnh mẽ trong những thập kỷ gần đây khiến cho nhiều sản phẩm thủ công của các làng nghề truyền thống không còn phù hợp với nhu cầu tiêu thụ của thị trường Chính vì vậy, nhiều làng nghề truyền thống tại địa phương đã và đang dần mai một và bị thu hẹp sản xuất Trên địa bàn huyện Ứng Hòa hiện nay chỉ còn một số làng nghề có sự phát triển mở rộng sản xuất bao gồm làng nghề sản xuất tăm hương, làng nghề mây tre đan, làng nghề sản xuất bún, làng nghề may áo dài, làng nghề tái chế phế liệu
Trang 3728
CTR phát sinh từ các làng nghề tại huyện Ứng Hòa có thành phần đặc trưng phụ thuộc vào ngành nghề sản xuất Khối lượng và thành phần CTR phát sinh tại một số làng nghề chính của huyện Ứng Hòa được thống kê trong bảng 3.5
Bảng 3.5: Khối lượng CTR phát sinh tại một số làng nghề huyện Ứng Hòa
sản xuất
Thành phần CTR chính phát sinh
Khối lượng phát sinh (tấn/ngày)
4 Mây tre đan Vật liệu thải bỏ từ tre, nứa, giang 0,91
(nguồn: Báo cáo môi trường huyện Ứng Hòa năm 2013)
Huyện Ứng Hòa có nhiều làng nghề sản xuất tập trung tại xã Quảng Phú Cầu, bao gồm làng nghề tái chế phế liệu và các làng nghề sản xuất tăm hương
Thôn Xà Kiều, xã Quảng Phú Cầu là làng nghề tái chế phế liệu đã có cách đây hơn 20 năm, và là một trong những làng nghề tái chế phế liệu lớn của thành phố
Hà Nội Tính đến năm 2015, tổng số hộ làm nghề tái chế phế liệu ở thôn Xà Kiều là khoảng 200 hộ Các hộ sản xuất có quy mô lớn nhỏ khác nhau, chủ yếu các hộ sản xuất đi thu mua phế thải rồi sau đó phân loại, sơ chế và bán lại cho các cơ sở sản xuất khác, bên cạnh đó một số cơ sở tiến hành sản xuất sản xuất các loại hạt nhựa thô hoặc các linh kiện, sản phẩm nhựa thành phẩm Thành phần CTR làng nghề Xà Kiều phát sinh chủ yếu là nilong, giấy được bóc tách ra từ các vỏ chai nhựa; nhựa không có khả năng tái chế; cao su; các thiết bị linh kiện điện tử, thủy tinh; bao tải dứa…
Trang 3829
Ngoài làng nghề tái chế phế liệu, tại xã Quảng Phú Cầu còn tập trung nhiều làng nghề truyền thống sản xuất tăm hương, có 5/6 thôn của xã Quảng Phú Cầu là làng nghề chuyên sản xuất tăm hương bao gồm các thôn: Cầu Bầu, Quảng Nguyên, Phú Lương Thượng, Phú Lương Hạ và Đạo Tú Trong quá trình sản xuất tăm hương phát sinh ra CTR là các loại mùn tăm hương có nguồn gốc từ vầu, tre, nứa với tỷ lệ phát sinh rất lớn Trung bình cứ 100kg nguyên liệu vầu, tre, nứa thì tạo ra khoảng 25kg tăm hương thành phẩm, phần còn lại tạo thành CTR Trung bình mỗi ngày xã Quảng Phú Cầu tiếp nhận khoảng 200 tấn nguyên liệu vầu, tre, nứa các loại phục vụ sản xuất tăm hương, tương đương phát sinh khối lượng CTR là khoảng 150 tấn Đặc biệt, do nhu cầu đáp ứng một lượng lớn hương, nhang các loại cho thị trường trong đợt Tết nguyên đán nên hoạt động sản xuất tăm hương trong những tháng trước tết càng trở lên sôi động hơn những khoảng thời gian khác trong năm
Đối với các làng nghề sản xuất khác trên địa bàn huyện Ứng Hòa có khối lượng CTR phát sinh không đáng kể do quy mô sản xuất nhỏ lẻ, phân tán và tỷ lệ phát sinh CTR thấp
3.1.3 Thực trạng vấn đề phát sinh chất thải rắn nông nghiệp tại huyện Ứng Hòa
3.1.3.1 Chất thải rắn phát sinh từ phụ phẩm nông nghiệp
Huyện Ứng Hòa là một huyện thuần nông, phần lớn đời sống của người dân gắn liền với hoạt động sản xuất nông nghiệp quanh năm Diện tích gieo trồng toàn huyện là khá lớn Tổng diện tích gieo trồng năm 2014 của toàn huyện là 25.100 ha, trong đó tổng diện tích lúa là 20.534 ha; diện tích đậu tương là 3.434 ha; diện tích ngô là 261 ha; diện tích khoai lang là 63 ha; diện tích rau các loại 729 ha, diện tích các loại cây khác 84 ha; với năng suất lúa bình quân đạt 5,6 tấn/ha, tổng sản lượng lúa năm 2014 là 114.990 tấn [13]
Căn cứ vào diện tích gieo trồng và sản lượng cây trồng nông nghiệp của huyện Ứng Hòa, ước tính khối lượng một số loại phế phẩm phát sinh (bảng 3.6)
Trang 39Sản lượng (Tấn/năm)
Khối lượng phụ phẩm phát sinh* (Tấn/năm)
Hoạt động trồng trọt luôn gắn liền với việc sử dụng các loại phân bón hóa học và hóa chất BVTV Lượng phân bón hóa học sử dụng ở nước ta trung bình là 150-180kg/ha đối với đất trồng lúa và 80-90 kg/ha đối với đất trồng các loại cây khác [1] Với tổng diện gieo trồng của huyện Ứng Hòa trong năm 2014 là 25.100 ha thì lượng phân bón hóa học sử dụng trung bình đạt 3.776 tấn/năm tương ứng phát sinh khối lượng các loại bao bì đựng phân bón là 377,6 tấn/năm (khối lượng bao bì tương ứng 10% tổng khối lượng phân bón) Bên cạnh việc phát sinh CTR thông thường, trong hoạt động sản xuất nông nghiệp còn phát sinh một số loại CTR nguy hại khác, bao gồm các loại CTR phát sinh từ hoạt động sử dụng hóa chất BVTV như: thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc diệt ốc bươu vàng, thuốc diệt chuột,… với các thành phần chủ yếu là nilong, nhựa, thủy tinh, kim loại, giấy… có bám dính thành phần hóa chất độc hại Với tỷ lệ sử dụng hóa chất BVTV bình quân là 0,9 kg/ha/vụ [1], thì trong 1 năm, nhu cầu sử dụng hóa chất BVTV trong sản xuất nông nghiệp của huyện Ứng Hòa là 22,59 tấn, tương đương với việc thải ra môi trường khối lượng CTR nguy hại là 2,26 tấn/năm
Trang 4031
3.1.3.3 Chất thải rắn phát sinh từ hoạt động chăn nuôi
Tính đến ngày 01/10/2014 toàn huyện Ứng Hòa có đàn trâu 4.800 con; đàn
bò 4.250 con; đàn lợn 109.911 con; đàn gia cầm 1.343.000 con Toàn huyện có 117 trang trại gồm 60 trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm; 43 trang trại nuôi trồng thủy sản; 14 trang trại tổng hợp Diện tích nuôi trồng thuỷ sản năm 2014 ƣớc đạt 2800ha với sản lƣợng ƣớc đạt 21840 tấn [13] Khối lƣợng CTR phát sinh từ hoạt động chăn nuôi tại huyện Ứng Hòa năm 2014 đƣợc thống kê trong bảng 3.7:
Bảng 3.7: Lƣợng CTR chăn nuôi phát sinh trên địa bàn huyện Ứng Hòa năm 2014
nuôi
Tổng số đầu con
CTR bình quân * (kg/ngày/con)
Tổng CTR (tấn/năm)
(Nguồn*: Báo cáo môi trường quốc gia năm 2011)
Từ những trình bày ở trên về thực trạng vấn đề phát sinh CTR nông thôn tại huyện Ứng Hòa, tổng hợp về khối lƣợng phát sinh của các loại CTR nông thôn tại huyện Ứng Hòa đƣợc thể hiện trong bảng 3.8
Bảng 3.8 Tổng hợp khối lƣợng phát sinh CTR nông thôn tại huyện Ứng Hòa
STT Loại CTR nông thôn Tổng khối lƣợng
phát sinh (kg/ngày)
Tổng khối lƣợng phát sinh (tấn/năm)