1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu điều chế bột tio2 kích thước nano pha tạp nitơ và natri

70 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu điều chế bột tio2 kích thước nano pha tạp nitơ và natri
Tác giả Vũ Thị Phương Thúy
Người hướng dẫn PGS.TS Ngô Sỹ Lương
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội - Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên
Chuyên ngành Hóa vô cơ
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để mở rộng khả năng sử dụng năng lượng bức xạ mặt trời cả ở vùng bước sóng nhìn thấy vào phản ứng quang xúc tác, các nhà nghiên cứu đã tiến hành pha ta ̣p vật liệu TiO2 bằng nhiều phươn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Vũ Thị Phương Thúy

KÍCH THƯỚC NANO

PHA TẠP NITƠ VÀ NATRI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội – Năm 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Vũ Thị Phương Thúy

KÍCH THƯỚC NANO PHA TẠP NITƠ VÀ NATRI

Chuyên ngành: Hóa vô cơ

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn thạc sĩ này được hoàn thành tại phòng thí nghiệm Vật liệu mới của bộ môn Hóa vô cơ, khoa Hóa học, trường đại học Khoa học tự nhiên, đại học Quốc gia Hà Nội

Để hoàn thành được luận văn thạc sĩ này , em xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS TS Ngô Sỹ Lương người thầy đã giao đề tài và tận tình hướng dẫn , giúp đỡ ,chỉ bảo sâu sắc về mặt khoa học và thực nghiệm trong suốt quá trình em thực hiê ̣n và hoàn thành luận văn này

Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô ở bộ môn Hóa vô cơ , các anh chi ̣ và các bạn trong phòng thí nghiê ̣m Vật liê ̣u mới đã tạo điều kiê ̣n và giúp đỡ em trong suốt thời gian làm luận văn

Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn tới bố me ̣, chị em trong gia đình đã chu

Học viên

Vũ Thị Phương Thúy

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN 3

1.1 GIỚI THIỆU VỀ TITAN ĐIOXIT KÍCH THƯỚC NANÔ MÉT 3

1.1.1 Cấu trúc và tính chất vật lý của TiO2 3

1.1.2 Sự chuyển dạng thù hình của titan đioxit 5

1.1.3 Tính chất hóa học của titan đioxit 6

1.1.4 Các ứng dụng của vật liệu TiO2 kích thước nm 6

1.2 GIỚI THIỆU VỀ TiO2 KÍCH THƯỚC NANO MÉT PHA TA ̣P 10

1.3 PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHẾ VẬT LIỆU NANO TiO2 PHA TẠP 11

1.3.1 Một số phương pháp vật lý 11

1.3.2 Một số phương pháp hóa học điển hình 12

1.4 CÁC NGHIÊN CỨU ĐIỀU CHẾ TiO2 PHA TA ̣P BẰNG NaOH 15

1.5 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU ĐIỀU CHẾ TiO 2 PHA TẠP BẰNG CÁC HỢP CHẤT N(-III) 16

1.6 MỘT SỐ KẾT LUẬN RÚT RA TỪ CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 20

Chương 2- THỰC NGHIỆM 22

2.1 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu của luận văn 22

2.1.1 Mục tiêu nghiên cứu 22

2.1.2 Các nội dung nghiên cứu 22

2.2 Hóa chất, dụng cụ và thiết bị 22

2.2.1 Hóa chất 22

2.2.2 Dụng cụ và thiết bị 23

2.3 Thực nghiệm điều chế bột TiO2 kích thước nm 24

Trang 5

2.4 Các phương pháp nghiên cứu 25

2.4.1 Phương pháp đo quang xác định hiệu suất quang xúc của sản phẩm 25

2.4.2 Phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD) 29

2.4.3 Phương pháp hiển vi điện tử truyền qua TEM 31

2.4.4 Phổ tán xạ năng lượng tia X ( EDS ) 33

2.4.5 Phương pháp phân tích nhiệt 34

Chương 3- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36

3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc tinh thể – thành phần pha – họat tính quang xúc tác của sản phẩm bô ̣t TiO 2 kích thước nm 36

3.1.1 Ảnh hưởng của tỷ lệ % mol N/TiO2 36

3.1.2 Ảnh hưởng của tỷ lệ NaOH/TiO 2 41

3.1.3 Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ nung 45

3.1.4 Khảo sát ảnh hưởng của thời gian nung 51

3.2 Quy trình điều chế N-Na.TiO2 dạng bột kích thước nm 52

3.2.1 Quy trình điều chế 52

3.2.2 Cách tiến hành 53

3.2.3 Các đặc trưng cấu trúc và tính chất của sản phẩm 53

3.2.3.1 Kết quả đo nhiễu xạ tia X (XRD) 54

3.2.3.2 Kết quả đo EDS 56

3.2.3.3 Kết quả đo TEM 57

KẾT LUẬN 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Một số tính chất của dạng anata và rutin 5

Bảng 1.2: Sản lượng titan đioxit trên thế giới qua một số năm 7

Bảng 2.1 Nồng độ của dung dịch MB và độ hấp thụ quang 28

Bảng 3.1 hiệu suất phân hủy quang của các mẫu nghiên cứu 37

Bảng 3.2 Kích thước hạt tinh thể trung bi ̀nh 40

Bảng 3.3 Bảng hiệu suất phân hủy quang của các mẫu nghiên cứu 41

Bảng 3.4 Kích thước hạt tinh thể trung bi ̀nh 45

Bảng 3.5 kích thước hạt tinh thể trung bi ̀nh 49

Bảng 3.6 Bảng hiệu suất phân hủy quang của các mẫu nghiên cứu 49

Bảng 3.7 Hiệu suất phân hủy quang của các mẫu nghiên cứu ở các thời gian nung khác nhau 51

DANH MỤC HÌNH Hình 1.1: Cấu trúc tinh thể các dạng thù hình của TiO 2 3

Hình 1.2 Lượng TiO 2 sử dụng hằng năm trong lĩnh vực quang xúc tác 7

Hình 2.1 Sơ đồ quá trình thực nghiệm ảnh hường của % mol Na.TiO2 24

Hình 2.2: Quang phổ đèn compact 40W hiệu Golsta 27

Hình 2.3: Thiết bị phản ứng phân hủy xanh metylen (MB) 27

Hình 2.4 Đồ thị và phương trình đường chuẩn biểu diễn sự phụ thuộc giữa độ hấp thụ quang Abs và nồng độ xanh metylen 29

Hình 2.5 Sự phản xạ trên bề mặt tinh thể 30

Hình 2.6 Nhiễu xạ kế tia X D8- Advance 5005 (CHLB Đức) 31

Hình 2.7: Kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM) 31

Hình 3.1 Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của tỉ lệ % mol N.TiO2 đến hiệu suất phân hủy quang của các mẫu nghiên cứu 37

Hình 3.2: Phổ EDS và thành phần hóa học của sản phẩm N-TiO 2 39

Hình 3.3.Giản đồ XRD của mẫu sản phẩm N-TiO2 được điều chế vớ i tỉ lệ % mol N.TiO 2 khác nhau 40

Trang 7

Hình 3.4 Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của tỷ lệ % mol Na.TiO2 đến hiệu suất phân

hủy quang của các mẫu nghiên cứu 42

Hình 3.5 Phổ EDS và thành phần hóa học của sản phẩm N-Na.TiO2 43

Hình 3.6 Giản đồ XRD của mẫu sản phẩm N-Na.TiO 2 được điều chế vớ i tỉ lệ % mol Na.TiO2 khác nhau 44

Kích thước hạt tinh thể trung bình tính theo phương trình Scherrer là khá nhỏ (như được chỉ ra ở bảng 3.4) 44

Hình 3.7 Giản đồ phân tích nhiệt của mẫu pha ta ̣p nitơ với 46

Hình 3.8 Giản đồ phân tích nhiệt của mẫu pha ta ̣p nitơ và natri với 46

Hình 3.9 Giản đồ XRD phụ thuộc vào nhiệt độ nung 48

Hình 3.10 Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của nhiệt độ nung đến 50

Hình 3.11 Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của thời gian nungđến hiệu suất phân hủy quang xúc tác 51

Hình 3.12 Giản đồ XRD phụ thuộc vào thời gian nung 52

Hình 3.13 Sơ đồ quá trình thực nghiệm điều chế bột nano N-Na.TiO2 theo phương pháp thủy phân 53

Hình 3.14 Giản đồ XRD mcủa hai mẫu sản phẩm ứng với tỉ lệ % mol 55

Hình 3.15 Phổ EDS và thành phần hóa học của sản phẩm N-Na.TiO 2 56

Hình 3.16 Ảnh TEM của bột N-Na TiO2 với tỉ lệ % mol N.TiO2 = 2.4% và tỉ lệ % mol N.TiO2 = 0.54% 57

Trang 8

MỞ ĐẦU

Titan đioxit (TiO2) là chất bán dẫn có dải trống năng lượng của rutin là 3.05 eV và của anata là 3.25 eV nên có khả năng thực hiện các phản ứng quang xúc tác Khả năng quang xúc tác của TiO2 thể hiện ở 3 hiệu ứng: quang khử nước trên điện cực TiO2, tạo bề mặt siêu thấm nước và quang xúc tác phân hủy chất hữu cơ dưới ánh sáng tử ngoại λ < 380 nm Vì vậy hiện nay vật liệu TiO2 đang được nghiên cứu và sử dụng nhiều, nhất là trong lĩnh vực xử lý môi trường nước và khí với vai trò xúc tác quang Tuy nhiên phần bức xạ tử ngoại trong quang phổ mặt trời đến bề mặt trái đất chỉ chiếm ~ 4% nên việc

sử dụng nguồn bức xạ này vào mục đích xử lý môi trường với xúc tác quang TiO2 bị hạn chế [30]

Để mở rộng khả năng sử dụng năng lượng bức xạ mặt trời cả ở vùng bước sóng nhìn thấy vào phản ứng quang xúc tác, các nhà nghiên cứu đã tiến hành pha ta ̣p vật liệu TiO2 bằng nhiều phương pháp khác nhau như đưa thêm các kim loại, oxit kim loại của các nguyên tố khác nhau vào trong mạng tinh thể TiO2 như Zn, Fe, Cr, Eu, Y, Ag, Ni ,Li ,Na ,K…hoặc đưa thêm các phi kim như N, C, S, F, Cl… hoặc đồng thời đưa hỗn hợp các nguyên tố vào mạng tinh thể TiO2… Hầu hết những sản phẩm được biến tính có hoạt tính xúc tác cao hơn so với TiO2 nguyên chất trong vùng ánh sáng nhìn thấy [30]

Cho đến nay, số công trình nghiên cứu pha ta ̣p TiO2 kích thước nm khá lớn, đặc biệt là pha tạp bằng nitơ Sở dĩ pha ta ̣p TiO2 kích thước nm bằng nitơ được nghiên cứu nhiều vì các hợp chất chứa nitơ (NH3, ure, các muối amoni, các hợp chất amin) được sử dụng phổ biến trong quá trình điều chế TiO2 kích thước nm với vai trò điều chỉnh pH, làm chất định hướng cấu trúc Đồng thời nhiều công trình nghiên cứu cho thấy N3- có tham gia vào cấu trúc TiO2 làm thay đổi cấu trúc và tính chất quang xúc tác của vật liệu Còn phương pháp

Trang 9

điều chế TiO2 bằng phương pháp thủy phân muối củ a titan trong dung di ̣ch nước có sử dụng NaOH làm nguồn cung cấp đưa ion Na+

vào thành phần của TiO2 nhằm nâng cao hoạt tính quang xúc tác của sản phẩm là phương pháp khá đơn giản, kinh tế, có tính khả thi và hiệu quả cao

Với mong muốn được đóng góp một phần nhỏ vào sự phát triển của lĩnh vực vật liệu mới nói chung và vâ ̣t liê ̣u TiO2 với kích thước cỡ nm nói riêng, chúng tôi đã lựa cho ̣n đ ề tài nghiên cứu cho lu ận văn này là: “Nghiên cứu điều chế bô ̣t TiO 2 kích thước nano pha tạp nitơ và natri”.

Trang 10

CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN 1.1 GIỚI THIÊ ̣U VỀ TITAN ĐIOXIT KÍCH THƯỚC NANÔ MÉT

1.1.1 Cấu trúc và tính chất vật lý của TiO 2

Titan đioxit là chất rắn màu trắng, khi đun nóng có màu vàng, khi làm

lạnh thì trở lại màu trắng Tinh thể TiO2 có độ cứng cao, khó nóng chảy (Tnc =

1870oC) [4,7]

TiO2 có bốn dạng thù hình Ngoài dạng vô định hình, nó có ba dạng

tinh thể là anata (tetragonal), rutin (tetragonal) và brukit (orthorhombic),

nhưng chỉ có anata và rutin được sử dụng làm quang xúc tác Cấu trúc tinh thể

của ba dạng thù hình anata, rutin và brukit được đưa ra trong hình 1.1

Dạng anata Dạng rutin Dạng brukit

Rutin là dạng bền và phổ biến nhất của TiO2, có mạng lưới tứ phương

trong đó mỗi ion Ti4+ được ion O2- bao quanh kiểu bát diện, đây là kiến trúc

điển hình của hợp chất có công thức MX2, anata và brukit là các dạng giả bền

và chuyển thành rutin khi nung nóng Tất cả các dạng tinh thể đó của TiO2

đều có thể tồn tại trong tự nhiên dưới dạng các khoáng, nhưng chỉ có rutin và

anata ở dạng đơn tinh thể là được tổng hợp ở nhiệt độ thấp

Cấu trúc mạng lưới tinh thể của rutin, anata và brukit là chuỗi các hình

tám mặt (octahedra) TiO6 nối với nhau qua cạnh hoặc qua đỉnh oxi chung

Mỗi ion Ti4+ được bao quanh bởi tám mặt tạo bởi sáu ion O2-

Trang 11

Các mạng lưới tinh thể của rutin, anata và brukit khác nhau bởi sự biến dạng của mỗi hình tám mặt và cách gắn kết giữa chúng Hình tám mặt trong rutin là không đồng đều do có sự biến dạng hệ trực thoi yếu Các hình tám mặt trong anata bị biến dạng mạnh hơn, vì vậy mức đối xứng của hệ là thấp hơn rutin Khoảng cách Ti – Ti trong anata (3.04 Å) lớn hơn trong rutin (2.96 Å), còn khoảng cách Ti - O trong anata lại ngắn hơn so với rutin Trong cấu trúc rutin, mỗi hình tám mặt được gắn kết với mười tám hình tám mặt lân cận (hai hình tám mặt chung cạnh và tám hình tám mặt chung oxy ở đỉnh) Trong cấu trúc anata, mỗi hình tám mặt được tiếp xúc với tám hình tám mặt lân cận (bốn hình tám mặt chung cạnh và bốn hình tám mặt chung oxy ở đỉnh) hình thành chuỗi các mắt xích zich zắc xoắn quanh trục Vì vậy, anata có tỷ khối nhỏ hơn rutin và khoảng cách Ti – Ti lớn hơn [29].

Những sự khác nhau trong cấu trúc mạng lưới dẫn đến sự khác nhau về tỷ khối và cấu trúc điện tử giữa hai dạng thù hình rutin và anata của TiO2 và đây là nguyên nhân của một số sự khác biệt về tính chất giữa chúng (bảng 1.1) Tính chất và ứng dụng của TiO2 phụ thuộc rất nhiều vào cấu trúc tinh thể các dạng thù hình và kích thước hạt của các dạng thù hình này Chính vì vậy khi điều chế TiO2 cho mục đích ứng dụng thực tế cụ thể người ta thường quan tâm đến kích thước, diện tích bề mặt và cấu trúc tinh thể của sản phẩm

Ngoài ba dạng thù hình tinh thể nói trên của TiO2, khi điều chế bằng cách thuỷ phân muối vô cơ của Ti4+

hoặc các hợp chất cơ titan trong nước ở nhiệt độ thấp người ta có thể thu được kết tủa TiO2 vô định hình Tuy vậy, dạng này không bền để lâu trong không khí ở nhiệt độ phòng hoặc khi được đun nóng thì chuyển sang dạng anata

Trang 12

Bảng 1.1 Một số tính chất của dạng anata và rutin

Khối lượng riêng (g/cm3)

1.1.2 Sự chuyển dạng thù hình của titan đioxit

Hầu hết các tài liệu tham khảo đều chỉ ra rằng quá trình thuỷ phân các muối vô cơ của titan đều tạo ra tiền chất titan đioxit dạng vô định hình hoặc dạng cấu trúc anata hay rutin Khi nung axit metatitanic H2TiO3, một sản phẩm trung gian chủ yếu của quá trình sản xuất TiO2 nhận được khi thuỷ phân các dung dịch muối titan, thì trước hết tạo thành anata Khi nâng nhiệt độ lên thì anata chuyển thành rutile

Quá trình chuyển dạng thù hình của TiO2 từ vô định hình → anata → rutin bị ảnh hưởng rõ rệt bởi các điều kiện tổng hợp và các tạp chất, quá trình chuyển pha từ dạng vô định hình hoặc cấu trúc anata sang cấu trúc rutile xảy

ra ở nhiệt độ trên 4500C Ví dụ: Với các axit metatitanic sạch, không có tạp chất, thì nhiệt độ chuyển pha từ anata thành rutin sẽ nằm trong khoảng

Trang 13

610730OC Với axit metatitanic thu được khi thuỷ phân các muối nitrat của titan thì quá trình chuyển thành rutin dễ dàng hơn nhiều (ở gần 5000

C

1.1.3 Tính chất hóa học của titan đioxit

TiO2 bền về mặt hoá học (nhất là dạng đã nung), không phản ứng với

nước, dung dịch axít vô vơ loãng, kiềm, amoniăc, các axit hữu cơ

TiO2 tan không đáng kể trong các dung dịch kiềm tạo ra các muối titanat TiO2 tan rõ rệt trong borac và trong photphat nóng chảy Khi đun nóng lâu với axit H2SO4 đặc thì nó chuyển vào trạng thái hoà tan (khi tăng nhiệt độ nung của TiO2 thì độ tan giảm) TiO2 tác dụng được với axit HF hoặc với kali bisunfat nóng chảy Ở nhiệt độ cao TiO2 có thể phản ứng với cacbonat và oxit kim loại để tạo thành các muối titanat Đồng thời, TiO2 dễ bị hidro, cacbon monooxit và titan kim loại khử về các oxit thấp hơn

1.1.4 Các ứng dụng của vật liệu TiO 2 kích thước nm

Gần đây, sản lượng titan đioxit trên thế giới không ngừng tăng lên (Bảng 1.2) Gần 58% titan đioxit sản xuất được được dùng làm chất màu trắng trong công nghiệp sản xuất sơn Chất màu trắng titan đioxit cũng đã được sử dụng một lượng lớn trong sản xuất giấy, cao su, vải sơn, chất dẻo, sợi tổng hợp và một lượng nhỏ trong công nghiệp hương liệu Các yêu cầu đòi hỏi đối với sản phẩm là rất đa dạng phụ thuộc vào công dụng của chúng

Trang 14

Bảng 1.2: Sản lượng titan đioxit trên thế giới qua một số năm

Titan đioxit là một vật liệu cơ bản trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta Các nhà quan sát công nghiệp cho rằng lượng titan đioxit tiêu thụ tại một quốc gia có mối quan hệ rất gần với tiêu chuẩn cuộc sống Hình 1.3 đưa

ra biểu đồ dạng cột về lượng TiO2 sử dụng hằng năm trong lĩnh vực quang xúc tác Nhìn vào hình 1.3 ta có thể thấy lượng TiO2 sử dụng cho lĩnh vực quang xúc tác chiếm gần 50% trong những ứng dụng của TiO2 và tăng dần theo thời gian

Sau đây là một số ứng dụng đáng quan tâm của TiO2 kích thước nm:

Năm

1.1.4.1 Ứng dụng trong xúc tác quang hóa xử lý môi trường

Khi titan thay đổi hóa trị tạo ra cặp điện tử - lỗ trống ở vùng dẫn và vùng hóa trị dưới tác dụng của ánh sáng cực tím chiếu vào Những cặp này sẽ

di chuyển ra bề mặt để thực hiện phản ứng oxi hóa khử, các lỗ trống có thể

Tấn

Trang 15

tham gia trực tiếp vào phản ứng oxi hóa các chất độc hại, hoặc có thể tham gia vào giai đoạn trung gian tạo thành các gốc tự do hoạt động để tiếp tục oxi hóa các hợp chất hữu cơ bị hấp phụ trên bề mặt chất xúc tác tạo thành sản phẩm cuối cùng là CO2 và nước ít độc hại nhất [17]

1.1.4.2 Ứng dụng trong các lĩnh vực sơn tự làm sạch, chất dẻo

TiO2 còn được sử dụng trong sản xuất sơn tự làm sạch (sơn quang xúc tác TiO2) Thực chất sơn là một dạng dung dịch chứa vô số các tinh thể TiO2

khoảng 8  25 nm Do tinh thể TiO2 có thể lơ lửng trong dung dịch mà không lắng đọng nên còn được gọi là sơn huyền phù TiO2 Khi được phun lên tường, kính, gạch, sơn sẽ tự tạo ra một lớp màng mỏng bám chắc vào bề mặt vật liệu

Nguyên lý hoạt động của loại sơn trên như sau: Sau khi các vật liệu được đưa vào sử dụng, dưới tác dụng của tia cực tím trong ánh sáng mặt trời, oxi và nước trong không khí, TiO2 sẽ hoạt động như một chất xúc tác để phân huỷ bụi, rêu, mốc, khí độc hại, hầu hết các chất hữu cơ bám trên bề mặt vật liệu thành H2O và CO2 TiO2 không bị tiêu hao trong thời gian sử dụng do nó

là chất xúc tác không tham gia vào quá trình phân huỷ Cơ chế của hiện tượng này có liên quan đến sự quang - oxi hoá các chất gây ô nhiễm trong nước bởi TiO2 Các chất hữu cơ béo, rêu, mốc, bám chặt vào sơn có thể bị oxi hoá bằng cặp điện tử - lỗ trống được hình thành khi các hạt nano TiO2 hấp thụ ánh sáng và như vậy chúng được làm sạch khỏi màng sơn Điều đặc biệt là chính lớp sơn không bị tấn công bởi các cặp oxi hoá - khử mạnh mẽ này Người ta phát hiện ra rằng, chúng có tuổi thọ không kém gì sơn không được biến tính bằng các hạt nano TiO2

1.1.4.3 Xử lý các ion kim loại nặng trong nước [10,12]

Khi TiO2 bị kích thích bởi ánh sáng thích hợp giải phóng các điện tử hoạt động Các ion kim loại nặng sẽ bị khử bởi điện tử và kết tủa trên bề mặt vật liệu Vật liệu xúc tác quang bán dẫn công nghệ mới hứa hẹn nhiều áp

Trang 16

dụng trong xử lý môi trường Chất bán dẫn kết hợp với ánh sáng UV đã được dùng để loại các ion kim loại nặng và các hợp chất chứa ion vô cơ Ion bị khử đến trạng thái ít độc hơn hoặc kim loại từ đó dễ dàng tách được

1.1.4.4 Diệt vi khuẩn, vi rút, nấm, tế bào ung thư

TiO2 được ứng dụng để chế tạo các loại sơn tường, cửa kính, gạch lát nền có khả năng khử trùng, diệt khuẩn cao và tạo môi trường vô trùng Phòng

mổ bệnh viện, phòng nghiên cứu sạch là những nơi luôn yêu cầu về độ vô trùng rất cao Khi được chiếu với một đèn chiếu tử ngoại, các vật liệu trên có khả năng diệt khuẩn hoàn toàn trong thời gian rất ngắn

Hiện nay, TiO2 cũng đang được xem xét như là một hướng đi khả thi cho việc điều trị ung thư Người ta thử nghiệm trên chuột bằng cách cấy các tế bào tạo các khối ung thư trên chuột, sau đó tiêm một dung dịch chứa TiO2vào khối u Sau vài ngày, người ta chiếu sáng vào khối u, thời gian 3 giây là

đủ để tiêu diệt các tế bào ung thư

Trang 17

1.1.4.5 Các ứng dụng khác của bột titan đioxit kích thước nano mét

TiO2 còn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác như: Vật liệu gốm, chất tạo màu trắng, chất độn, làm vật liệu chế tạo pin mặt trời, làm sensor để nhận biết các khí trong môi trường ô nhiễm, trong sản xuất bồn rửa tự làm sạch bề mặt trong nước (tự xử lý mà không cần hoá chất), làm vật liệu sơn trắng do khả năng tán xạ ánh sáng cao, bảo vệ bề mặt khỏi tác động của ánh sáng Sử dụng TiO2 tạo màng lọc quang xúc tác trong máy làm sạch không khí, máy điều hoà, v.v

1.2 GIỚI THIỆU VỀ TiO 2 KÍCH THƯỚC NANO MÉT PHA TA ̣P

Rất nhiều ứng dụng của các vật liệu nano TiO2 liên quan mật thiết đến các tính chất quang học của nó Tuy nhiên, khả năng ứng dụng các vật liệu nano TiO2 đôi khi bị cản trở bởi bề rộng dải trống của nó Dải trống của TiO2

tinh khiết nằm trong vùng tử ngoại gần (3,05 eV cho pha rutin và 3,25 eV cho pha anata), dải này chỉ chiếm một vùng nhỏ trong toàn bộ dải năng lượng ánh sáng từ mặt trời (~4%)

Vì vậy, một trong những mục tiêu để cải thiện hoạt tính quang học của vật liệu nano TiO2 là chuyển dịch dải trống từ vùng tử ngoại về vùng ánh sáng nhìn thấy để có thể tận dụng nguồn ánh sáng mặt trời vào các quá trình quang xúc tác hữu ích của TiO2 Có vài phương pháp để thực hiện mục tiêu này Thứ nhất, có thể kích hoạt vật liệu nano TiO2 với những nguyên tố mà chúng có khả năng thu hẹp dải trống, do đó thay đổi tính chất quang học của vật liệu nano TiO2 Thứ hai, có thể hoạt hóa TiO2 bởi các chất vô cơ hoặc hữu cơ có màu sắc, cách này cũng có thể cải thiện tính chất quang học của nó trong vùng ánh sáng nhìn thấy Thứ ba, có thể cặp đôi dao động cộng hưởng của electron trong dải dẫn trên bề mặt của các hạt nano kim loại với electron trong dải dẫn của nano TiO2 như trong các vật liệu nano compozit kim loại - TiO2 Thêm vào đó, sự biến tính bề mặt các hạt nano TiO2 bởi các chất bán dẫn

Trang 18

khác có thể làm thay đổi khả năng chuyển điện tích của TiO2 với môi trường xung quanh, nhờ đó nâng cao ứng dụng của các thiết bị sử dụng vật liệu này

Tuy nhiên, một xu hướng đang được các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều là tìm cách thu hẹp bớt giá trị năng lượng vùng cấm của TiO2 bằng cách đưa các ion kim loại và không kim loại vào trong mạng lưới TiO2

Theo nhiều tài liệu tham khảo, có thể phân thành bốn loại thế hệ quang xúc tác trên cơ sở TiO2 kích thước nano mét như sau:

+ Thế hệ thứ nhất: TiO2 tinh khiết

+ Thế hệ thứ hai: TiO2 pha ta ̣p bằng các ion kim loại

+ Thế hệ thứ ba: TiO2 được pha ta ̣p bằng các nguyên tố không kim loại + Thế hệ thứ tư: TiO2 được pha tạp đồng thời bởi hỗn hợp các ion của các nguyên tố kim loại và không kim loại

Những năm gần đây, vật liệu TiO2 pha tạp đang được các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều

1.3 PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHẾ VẬT LIỆU NANO TiO 2 PHA TA ̣P

1.3.1 Một số phương pháp vật lý [6]

- Phương pháp bắn phá ion (sputtering): Các phân tử được tách ra khỏi nguồn rắn nhờ quá trình va đập của các khí ví dụ Ar+, sau đó tích tụ trên đế Phương pháp này thường được dùng để điều chế màng TiOx đa tinh thể nhưng thành phần chính là rutile và không có hoạt tính xúc tác

- Phương pháp ăn mòn quang điện: phương pháp này tạo ra TiO2 có cấu trúc tổ ong, kích thước nanomét, vì vậy có diện tích bề mặt rất lớn nhưng sản phẩm tạo thành lại ở dạng rutin

Trang 19

1.3.2 Một số phương pháp hóa học điển hình

1.3.2.1 Phương pháp sol-gel [26,28]

Phương pháp sol-gel là phương pháp hữu hiệu nhất hiện nay để chế tạo các loại vật liệu kích thước nanomet dạng bột hoặc màng mỏng với cấu trúc, thành phần như ý muốn Ưu điểm của phương pháp này là dễ điều khiển kích thước nhạt và đồng đều, đặc biệt là giá thành hạ

Sol là một hệ keo chứa các hạt có kích thước 1-100 nm trong môi trường phân tán rất đồng đều về mặt hóa học Gel là hệ bán cứng chứa dung môi trong mạng lưới sau khi gel hóa tức là ngưng tụ sol đến khi độ nhớt của

hệ tăng lên đột ngột Sau khi khuấy trộn tiền chất trong dung môi và điều kiện thích hợp ta thu được dung dịch sol,sau khi ngừng khuấy để dung môi bay hơi thì gel tạo thành để lưu gel ta thu được xerogel Tùy vào yêu cầu của vật liệu

mà người ta có thể phun sol tạo bản mỏng ( dung môi thích hợp), kéo sợi hoặc

sấy khô gel, nghiền và nung tạo sản phẩm

1.3.2.2 Phương pháp sử dụng sóng siêu âm

Sóng siêu âm được sử dụng trong lĩnh vực khoa học vật liệu trong vài năm gần đây Ví dụ tác giả công trình [11] đã đưa ra phương pháp dùng sóng siêu âm để điều chế TiO2 kích cỡ nano mét

Quy trình điều chế được tiến hành như sau:Lấy 1g TiO2 anatase cho vào

200 ml dung dịch NaOH xM (x= 1,2,3…10), hỗn hợp huyền phù được khuấy bằng máy khuấy từ và đồng thời được kích hoạt bằng sóng siêu âm tần số 2,5 MHz trong 20h Sau đó huyền phù được pha loãng tới thẻ tích 1 lít và rủa mẫu bằng dung dịch HCl 0,1 M và nước cất cho đến khi dung dịch nước lọc thu được môi trường trung tính và không còn ion Cl-

Sấy mẫu ở 100oC trong 24h

và nung ở 400oC trong 15 phút Đặc tính của sản phẩm được xác định bằng các phương pháp XRD, TEM,SEM Kết quả thực nghiệm cho thấy, bột TiO2

Trang 20

xử lí trong môi trường kiềm nồng độ 5M có sự tăng cường của sóng siêu âm

có dạng hạt hình cầu kích thước khoảng 70nm.Ưu điểm của phương pháp này

là điều kiện tổng hợp đơn giản,nguyên liệu rẻ tiền,sản phẩm có độ lặp lại cao,

dễ sử dụng

1.3.2.3 Phương pháp thủy nhiệt [21,29]

Phương pháp thủy nhiệt đã được biết đến từ lâu và ngày nay nó vẫn chiếm một vị trí rất quan trọng trong nhiều ngành khoa học và công nghệ mới, đặc biệt là trong công nghệ sản xuất các vật liệu kích thước nanomet

Thủy nhiệt là những phản ứng hóa học hỗn tạp xảy ra với sự có mặt của một dung môi thích hợp (thường là nước) ở trên nhiệt độ phòng, áp suất cao (trên 1atm) trong một hệ thống kín

Tổng hợp bằng phương pháp thủy nhiệt thường được chúng ta tiến hành trong autoclave, nó có thể gồm lớp teflon chịu nhiệt độ cao và chịu được điều kiện môi trường axit và kiềm mạnh, có thể điều chỉnh nhiệt độ, áp suất cho phản ứng xẩy ra Nhiệt độ có thể được đưa lên cao hơn nhiệt độ sôi của nước, trong phạm vi áp suất hơi bão hòa Nhiệt độ và lượng dung dịch hỗn hợp đưa vào autoclave sẽ tác động trực tiếp đến áp suất xảy ra trong quá trình thủy nhiệt Phương pháp này đã được sử dụng rộng rãi để tổng hợp các sản phẩm trong công nghiệp gốm sứ với các hạt mịn kích thước nhỏ

Trang 21

Quá trình kết tủa đồng thể được bắt đầu bằng sự thay đổi nhiệt độ của dung dịch TiOCl2, từ nhiệt độ phòng đến 100oC dưới áp suất khí quyển Kết tủa được lọc bằng màng polytetrafloetilen có kích thước lỗ 0.2m và được rửa bằng nước cất hoặc etanol Sấy khô kết tủa ở 50OC trong 12h thu được sản phẩm cuối cùng

1.3.2.5 Phương pháp thuỷ phân dung dịch [9]

Trong số các muối vô cơ của titan được sử dụng để điều chế titan oxit dạng anatase thì TiCl4 được sử dụng nhiều nhất và cũng cho kết quả khá tốt

+ Thủy phân TiCl4 trong dung dịch nước hoặc trong etanol

Chuẩn bị dung dịch nước TiCl4 bằng cách rót TiCl4 vào nước hoặc hỗn hợp rượu-nước đã được làm lạnh bằng hỗn hợp nước đá-muối để thu được dung dịch đồng nhất Sau đó dung dịch được đun nóng để quá trình thuỷ phân xảy ra

Quá trình xảy ra theo phản ứng sau:

TiCl4 + 4H2O Ti(OH)4 + 4HCl Sau đó, Ti(OH)4 ngưng tụ loại nước để tạo ra kết tủa TiO2.nH2O Kết tủa sau đó được lọc, rửa, sấy chân không, nung ở nhiệt độ thích hợp để thu được sản phẩm TiO2 kích thước nano Kết quả thu được từ phương pháp này khá tốt, các hạt TiO2 kích thước nano mét dạng tinh thể rutile có kích thước trung bình từ 5 đến 10,5 nm và có diện tích bề mặt riêng là 70,3 đến

141 m2/g

1.3.2.6 Phương pháp bốc bay hơi nhiệt

Sử dụng thiết bị bay hơi titan kim loại ở nhiệt độ cao, sau đó cho kim loại dạng hơi tiếp xúc với oxi không khí để thu được oxit kim loại Sản phẩm thu được là TiO2 dạng bột hoặc màng mỏng

Trang 22

1.4 CÁC NGHIÊN CỨU ĐIỀU CHẾ TiO 2 PHA TẠP BẰNG

CHẤT ĐẦU LÀ NaOH

Các nghiên cứu về biến tính TiO2 bằng các kim loại kiềm nói chung và

Na nói riêng có số lượng khá hạn chế Sau đây là tổng hợp những công trình nghiên cứu chúng tôi sưu tầm được :

- Các tác giả [9] đã điều chế bột TiO2 bằng phương pháp thủy phân TiCl4 ở nhiệt độ phòng và huyền phù hóa bằng NaOH 10%,tách bột rửa hết ion Cl- sấy khô ở 100oC trong 24h rồi nung 3 h ở các nhiệt độ khác nhau Các kết quả phân tích cho thấy khi nhiệt độ nung tăng lên thì kích thước hạt tăng theo và mẫu ở nhiệt độ nung 700oC có tốc độ quang xúc tác phân hủy beta-naphthol cao gấp 2 lần Degussa P-25 Các tác giả giải thích do dung lượng hấp phụ và sự phân bố đồng đều hơn của các hạt nano TiO2 trong mẫu điều chế được là nguyên nhân chính dẫn tới khả năng quang xúc tác cao như vậy

- Các tác giả [10] điều chế TiO2 dạng ống bằng phương pháp thủy nhiệt với qui trình giản lược như sau : Anatase được trộn với 10 Mol NaOH và sấy

ở 130oC trong 72h sau đó rửa bằng HCl loãng và đem nung ở 400o

C trong 15h Sản phẩm thu được có dạng ống nano tương đối đồng đều với đường kính ngoài từ 10 tới 20 nm và đường kính trong 5 tới 8 nm với chiều dài 1 micromet

- Các tác giả [11] khảo sát ảnh hưởng của các kim loại kiềm biến tính TiO2 Kết quả cho thấy với qui trình điều chế bằng phương pháp sol-gel,cấp

độ tinh thể hóa của mẫu phụ thuộc vào bản chất và nồng độ của các ion kim loại kiềm và có chiều giảm dần từ Li>Na>K biến tính TiO2 và các tác giả nhận thấy các kim loại kiềm làm bền hóa pha anatase Sự tích tụ điện tích có xuất hiện trên bề mặt chất xúc tác trong môi trường axit và trung tính phụ

Trang 23

thuộc vào nồng độ kim loại kiềm Trong các thí nghiệm phân hủy quang xúc tác thì các mẫu đều phân hủy tốt chất ô nhiễm hữu cơ

- Các tác giả [12] xử lí bột TiO2 anatase trong môi trường NaOH đặc được hỗ trợ bởi sóng siêu âm Qui trình điều chế được tiến hành như sau:Lấy 1g TiO2 anatase cho vào 200 ml dung dịch NaOH xM (x= 1,2,3…10), hỗn hợp huyền phù được khuấy bằng máy khuấy từ và đồng thời được kích hoạt bằng sóng siêu âm tần số 2,5 MHz trong 20h Sau đó huyền phù được pha loãng tới thẻ tích 1 lít và rủa mẫu bằng dung dịch HCl 0,1 M và nước cất cho đến khi dung dịch nước lọc thu được môi trường trung tính và không còn ion

Cl- Sấy mẫu ở 100oC trong 24h và nung ở 400oC trong 15 phút Đặc tính của sản phẩm được xác định bằng các phương pháp XRD, TEM,SEM và thử quang xúc tác phân hủy methyl đỏ đạt hiệu quả cao Kết quả tốt nhất ở mẫu

xử lí trong nồng độ kiềm là 5M Kích thước hạt giảm khi tăng nồng độ NaOH, khi tăng đến mức nào đó thì nó cản trở sự truyền sóng siêu âm

Nhìn chung,sử dụng các kim loại kiềm biến tính TiO2 khá kinh tế và đem lại hiệu quả cao trong lĩnh vực quang phân hủy các chất hữu cơ Các qui trình điều chế khá đơn giản, dễ triển khai Nhận thấy được sự thuận lợi đó, với điều kiện cho phép ở phòng thí nghiệm, chúng tôi nhận thấy phương pháp điều chế bột TiO2 kích thước nanomet từ TiCl4 trong dung dịch nước có mặt NaOH có tính khả thi cao, dễ thực hiện, có nhiều tiềm năng trong triển khai

áp dụng sản xuất ở qui mô công nghiệp Do đó, trong khóa luận này chúng tôi lựa chọn phương pháp trên làm mục tiêu nghiên cứu

1.5 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU ĐIỀU CHẾ TiO2 PHA TẠP BẰNG CÁC HỢP CHẤT N(-III)

Số lượng các công trình nghiên cứu về TiO2 biến tính nitơ khá lớn Bởi vì: thứ nhất, có nhiều hợp chất của nitơ như NH3, ure, các amin (trietyl amin,

Trang 24

hexametylen tetramin…), hidrazin, NH4NO3, (NH4)2CO3, NH4Cl… tham gia vào quá trình thủy phân các hợp chất của titan để tạo ra sản phẩm TiO2; thứ hai, theo một số công trình nghiên cứu cho thấy nitơ còn tham gia vào việc điều khiển cấu trúc của TiO2 như thành phần pha [9, 19]

Các phương pháp điều chế vật liệu TiO2 biến tính nitơ khá phong phú,

từ những phương pháp truyền thống như sol-gel [22], thủy phân [15, 20], đồng kết tủa [23] các phương pháp đơn giản mà hiệu quả như phương pháp tẩm [9, 13] Chất đầu để điều chế TiO2 cũng khá đa dạng, từ muối titan cơ kim loại như: tetra isopropyl octhotitanat (TTIP), tetra-n-butyl othortitanat (TBOT); muối clorua như TiCl3, TiCl4; muối sunfat như Ti(SO4)2; đến các sản phẩm công nghiệp như axit metatitanic từ công nghệ sunfat…

Sau đây là tổng hợp mô ̣t số công trình nghiên cứu điều chế bô ̣t titan đioxit pha ta ̣p nitơ bằng các phương pháp khác nhau

Các tác giả [22] đã điều chế bột TiO2 biến tính nitơ màu vàng bằng phương pháp sol-gel ở nhiệt độ phòng với nguồn nitơ là dung dịch NH3 Các kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các mẫu xúc tác đều là TiO2 anatase Kích thước tinh thể của các mẫu tăng khi tỉ lệ N/Ti tăng Cả dung lượng hấp phụ và hằng số cân bằng hấp phụ đều được cải thiện nhờ biến tính nitơ Việc biến tính nitơ có thể mở rộng vai hấp thụ sang vùng nhìn thấy, do đó TiO2 biến tính nitơ có hoạt tính trong vùng ánh sáng nhìn thấy được giải thích bởi khả năng phân hủy metyl da cam (MO) và 2-mecaptobenzothiazon (MBT) cao hơn dưới ánh sáng nhìn thấy Thực nghiệm cho thấy ở tỉ lệ nồng độ N/Ti tối

ưu (4% mol) mẫu bộc lộ hoạt tính quang dưới ánh sáng nhìn thấy cao nhất Hoạt tính dưới ánh sáng UV của xúc tác TiO2 biến tính nitơ kém hơn so với mẫu TiO2 tinh khiết và Degussa Pronoun-25 Thêm vào đó, N-TiO2 có hoạt tính giảm đáng kể trong vùng nhìn thấy khi tỉ lệ N/Ti tăng, trong khi có mối liên hệ ngược lại với ánh sáng UV Kết luận rằng, việc nâng cao sự quang

Trang 25

phân hủy MO và MBT sử dụng xúc tác N.TiO2 chủ yếu liên quan đến việc cải thiện khả năng hấp phụ chất hữu cơ vào huyền phù xúc tác và làm tăng sự phân tách cặp electron-lỗ trống do sự có mặt của Ti3+

Quy trình điều chế: Trộn 17 ml tetra-n-butyl titan với 40 ml etanol nguyên chất được dung dịch a, nhỏ từng giọt dung dịch a vào dung dịch b chứa 40 ml etanol nguyên chất, 10 ml axit axetic băng, và 5 ml nước cất 2 lần, kèm theo khuấy mạnh, thu được dung dịch keo trong suốt Thêm các thể tích dung dịch NH3 (ở các tỉ lệ N.Ti là 2, 4, 6, 8 và 10% mol) vào huyền phù keo trong suốt ở trên kèm theo khuấy trong 30 phút, sau đó làm già trong 2 ngày thu được gel khô, nghiền thành bột, nung ở 400o

C trong 2h, nghiền lại bằng cối mã não để thu được bột cuối cùng

Công trình [23] trình bày quá trình điều chế, đặc trưng và đánh giá hoạt tính xúc tác của xúc tác quang TiO2 xốp biến tính nitơ cho sự phân hủy MB

và MO TiO2 biến tính nitơ được điều chế bằng con đường hóa học mềm tức

là đồng kết tủa đồng thể không theo khuôn mẫu, chậm và có kiểm soát từ phức ngậm nước titan oxisunfat axit sunfuric, ure, etanol và nước Tỉ lệ mol giữa TiOSO4 và ure được thay đổi để điều chế TiO2 biến tính nitơ ở % nguyên

tử khác nhau N.TiO2 ở dạng anatase xốp với kích thước hạt trung bình 10

nm Tất cả các mẫu N.TiO2 cho thấy có hoạt tính quang xúc tác cao hơn so với Degussa P25 và TiO2 xốp không biến tính Mẫu chứa 1% nitơ nguyên tử

có hoạt tính cao nhất

Tác giả [9] đã khảo sát quá trình điều chế bột TiO2 biến tính nitơ bằng cách thủy phân TiCl4 trong dung môi etanol-nước, sau đó chế hóa huyền phù TiO2.nH2O với dung dịch NH3 trong nước có nồng độ khác nhau Các kết quả nghiên cứu cho thấy nitơ đã tham gia được vào thành phần cấu trúc TiO2, hoạt tính quang xúc tác của sản phẩm dịch chuyển về vùng ánh sáng nhìn thấy và

Trang 26

có hiệu suất phân hủy xanh metylen cao hơn hơn so với mẫu sản phẩm không biến tính

Xúc tác quang TiO2 biến tính nitơ có hoạt tính quang tốt dưới ánh sáng nhìn thấy được điều chế bằng phương pháp ướt đơn giản [17] Hydrazin được dùng làm nguồn nitơ Chất đầu bột TiO2 vô định hình được tẩm bằng hidrazin, và nung ở 110oC trong không khí N.TiO2 được tổng hợp thành công nhờ sự tự đốt cháy Phân tích XPS cho thấy các nguyên tử N đã sát nhập vào mạng lưới TiO2 trong quá trình đốt cháy của hidrazin trên bề mặt TiO2 Etilen được lựa chọn làm chất ô nhiễm dưới sự kích thích của ánh sáng nhìn thấy để đánh giá hoạt tính của xúc tác quang này Xúc tác quang N.TiO2 được điều chế với hoạt tính quang xúc tác mạnh và độ bền quang hóa cao dưới ánh sáng nhìn thấy được mô tả đầu tiên trong bài báo này

Bột TiO2 biến tính nitơ được điều chế sử dụng 1 phương pháp đơn giản bằng cách xử lý TiO2 vô định hình với hidrazin ở 110oC Theo đó, 10ml TTIP được nhỏ từng giọt vào 200 ml nước cất kèm theo khuấy mạnh Sản phẩm thu được được lọc và rửa bằng nước cất vài lần, sau đó sấy khô ở 60o

C tạo thành bột màu trắng Sau đó tẩm bột trắng trong hidrazin (80%) trong 12h, sau đó lọc và sấy khô ở 110oC trong 3h trong không khí Cuối cùng thu được bột màu vàng

Các tác giả [15] đã nghiên cứu khả năng oxi hóa của huyền phù TiO2biến tính nitơ cho sự phân hủy các loại thuốc diệt cỏ axit RS-2-(4-cloro-o-tolyloxi)propionic (mecoprop) và axit (4-clo-2-metylphenoxi)axetic (MCPA)

sử dụng các nguồn sáng khác nhau Bột TiO2 kết tinh biến tính nitơ được tổng hợp bằng cách nung sản phẩm thủy phân của TTIP trong dung dịch NH3 Sản phẩm kết tinh ở dạng anatase với đường kính hạt trung bình 7-15 nm và diện tích bề mặt riêng 121±1 m2/g Các mẫu cho thấy có hoạt tính quang xúc tác dưới ánh sáng nhìn thấy ở khoảng 530 nm Mặc dù hàm lượng nitơ trong TiO2

Trang 27

thấp (<1% về nguyên tử), nhưng hoạt tính quang của chúng lại cao hơn 1.5

lần so với TiO2 Degussa P25 dưới ánh sáng nhìn thấy nhân tạo khi phân hủy

mecoprop và MCPA, và gấp khoảng 6 lần so với quang phân trực tiếp

Quy trình thực nghiệm: Nhỏ từng giọt 100 ml NH3 (28%) vào 25 ml TTIP 95% ở 0oC kèm khuấy mạnh, tạo thành kết tủa trắng Rửa kết tủa bằng

nước và sấy khô ở nhiệt độ phòng trong chân không đến khối lượng không

đổi Cuối cùng nung bột thu được trong lò nung ở 400o

C trong 2h

Các tác giả [24] đã điều chế TiO2 biến tính nitơ bằng cách thủy phân

TiCl4 với chất đầu của nitơ Nhỏ từng giọt TiCl4 0.05M vào nước cất thu được

400 ml đồng thời làm lạnh bằng đá xung quanh Sau khi khuấy vài phút, nhỏ

từng giọt dung dịch hỗn hợp 5M chứa NH3 và hidrazin để điều chỉnh pH tới

5.5 Kết tủa được lọc và rửa bằng nước vài lần, sau đó làm già 24h Trước tiên

sấy kết tủa ở 70oC trong không khí để loại bỏ nước, sau đó nung ở 400o

C trong 4h thu được xúc tác quang TiO2 biến tính nitơ Các kết quả nghiên cứu

cho thấy các mẫu TiO2 biến tính nitơ điều chế được có hiệu quả phân hủy

quang cao dưới cả ánh sáng UV và ánh sáng nhìn thấy

1.6 MỘT SỐ KẾT LUẬN RÚT RA TỪ CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Từ các công trình của các tác giả đã đề cập đến ở trên, chúng tôi thấy :

- Việc nghiên cứu điều chế bột TiO2 kích thước nm pha tạp bằng các tác

nhân NaOH (để đưa ion Na+

vào cấu trúc của TiO2) và bằng các tác nhân

NH3, các amin hoặc muối amoni (để đưa N(-III) vào cấu trúc TiO2) đã được

nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và kết quả cho thấy việc pha tạp đã có hiệu

quả nâng cao hoạt tính quang xúc tác của sản phẩm điều chế được trong vùng

ánh sáng nhìn thấy

- Tuy nhiên việc đồng pha tạp cả Na+ và N(-III) đối với vật liệu bột

TiO2 chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm

Trang 28

- Cả hai tác nhân NaOH và NH3 trong dung dịch nước đều có tính kiềm, đều có khả năng xúc tiến quá trình thủy phân của muối Ti4+

để thu kết tủa TiO2.nH2O nên có thể sử dụng chúng trong quá trình điều chế bột TiO2 kích thước nm

- Việc nghiên cứu quá trình điều chế bột TiO2 kích thước nm pha tạp

Na+ và N(-III) bằng các tác nhân NaOH và NH3 bằng phương pháp kết tủa TiO2.nH2O trong dung dịch nước là thích hợp vì phương pháp này đơn giản,

dễ thực hiện

- Chất đầu được sử dụng thích hợp để làm nguồn cung cấp Ti4+ là dung dịch TTIP 10% trong etanol để có thể kiểm soát được quá trình thủy phân

Trang 29

Chương 2- THỰC NGHIỆM 2.1 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu của luận văn

2.1.1 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu điều chế bô ̣t TiO 2 kích thước nm pha tạp nitơ và natri có họat tính xúc tác quang cao trong vùng ánh sáng nhìn thấy , bằng phương pháp thủy phân từ chất đầu là tetrapropyl orthotitanat (TTIP) và dung dịch

NH3, NaOH

2.1.2 Các nội dung nghiên cứu

Với mục tiêu đặt ra ở trên, chúng tôi tiến hành nội dung nghiên cứu sau:

- Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc tinh thể – thành phần pha – họat tính quang xúc tác của sản phẩm bột TiO2 kích thước nm pha tạp nitơ và natri

- Xác định cấu trúc, thành phần pha, kích thước hạt trung bình của mẫu sản phẩm điều chế bằng phương pháp XRD

- Xác định hình thái hạt của mẫu bằng ảnh SEM, TEM và xác định thành phần nguyên tố bằng phổ EDS

- Khảo sát hoạt tính quang xúc tác phân hủy chất nhuộm công nghiệp xanh methylen dưới ánh sáng đèn compact 40W, xác định hiệu suất phân hủy quang bằng máy đo UV-vis

2.2 Hóa chất, dụng cụ và thiết bị

2.2.1 Hóa chất

Các hóa chất sử dụng cho việc tiến hành thực nghiệm như sau:

Trang 30

Số thƣ́ tƣ̣ Tên hóa chất Công thƣ́c hóa ho ̣c Nguồn gốc

1 Tetraisopropyl orthotitanat

(TTIP)

C11H28O4Ti Merk(Đức)

4 Xanh metylen C16H18ClN3S.3H2O Trung quốc

2.2.2 Dụng cụ và thiết bị

- Bóng đèn compact 40w

- Cối nghiền mã não

- Máy khuấy từ gia nhiệt Bibby Sterilin HC 502 (Anh)

- Máy ly tâm Hettich Zentrifugen D78532 Tuttlingen (Đức)

- Tủ sấy chân không SheLab 1425-2 (Mỹ)

- Cân phân tích Precisa (Thụy Sỹ)

- Lò nung Lenton (Anh)

Trang 31

mức Hút 10 ml dung dịch đó để chuẩn độ xác định nồng độ NH3 lại bằng dung dịch HCl 0,1M vớ i chỉ thi ̣ metyl da cam

+ Cân chính xác khoảng 12g NaOH viên trên cân phân tích Hòa tan lượng NaOH vừa cân trong cốc có sẵn khoảng 300ml nước cất cho tới khi NaOH tan hoàn toàn thành dung dịch trong suốt , để nguội về nhiệt độ phòng Sau đó, chuyển định lượng dung di ̣ch vừa pha từ cốc vào trong bình định mức dung tích 1000ml, thêm nước tới va ̣ch , lắc đều Lấy 10 ml dung dịch NaOH vừa pha đem chuẩn đô ̣ la ̣i bằng dung dịch HCl 0,1M vớ i chỉ thi ̣ là phenolphatalein để xác định chính xác nồng độ NaOH trong dung dịch pha tạp

2.3 Thực nghiệm điều chế bột TiO 2 kích thước nm

Quá trình thực nghiệm điều chế bột TiO2 kích thước nm pha tạp Na+ và N(III) – ký hiệu là Na.N.TiO2 được thực hiê ̣n theo sơ đồ đã mô tả trong hình 2.1

Hình 2.1 Sơ đồ quá trình thực nghiệm ảnh hường của % mol NaOH/TTIP

Dung dịch TTIP

Trang 32

Cách tiến hành như sau: Đầu tiên, nhỏ V1 ml dung di ̣ch NH3 nồng độ xác định từ từ từng gio ̣t bằng buret vào cốc đã chứa sẵn V ml dung dịch TTIP, tiếp đến nhỏ V2 ml dung dịch NaOH với các nồng đô ̣ khác nhau vào cốc chứa

hỗn hợp trên, vừa nhỏ vừa khuấy đều trên máy khuấy từ gia nhiệt Thuỷ phân

dung di ̣ch ở nhiê ̣t đô ̣ 70- 80o

C trong 2 giờ Thu được tủa màu trắng Rửa, ly tâm kết tủa 4 lần bằng nước cất hai lần ở nhiệt độ phòng và sấy ở 100o

C trong 4h, nghiền trong cối mã não Cuối cùng nung bột thu được trong lò nung ở nhiệt đô ̣ và thời gian xác đi ̣nh

Các mẫu sản phẩm N.TiO2 cũng được điều chế theo sơ đồ trên nhưng không thêm dung dịch NaOH

2.4 Các phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp đo quang xác định hiệu suất quang xúc của sản phẩm

a, Nguyên tác của phương pháp

Nguyên tắc của phương pháp là dựa trên định luật Lambert-Beer qua biểu thức:

A = lg (Io/I) = ε(λ).l.C Trong đó:

A : Độ hấp thụ quang , đơn vị Abs

Trang 33

Hiệu suất phân huỷ thuốc nhuộm được xác định theo công thức:

H(%) = ((Cd – Cc)/ Cd )*100 = ((Ad – Ac)/Ad) *100

b Phương pháp đánh giá

Trong luận văn này, hiệu suất quang xúc tác của sản phẩm được đánh giá qua khả năng quang phân hủy màu dung dịch xanh metylen, sử dụng nguồn chiếu sáng yếu của đèn compact dân dụng 40W

Xanh metylen là hợp chất dị vòng thơm, khối lượng phân tử 319.85g/mol, với công thức phân tử C16H18N3SCl Cấu tạo phân tử xanh metylen được biểu diễn như sau:

Xanh metylen tinh khiết ở dạng tinh thể có màu xanh lục, có ánh kim, tan tốt trong nước, etanol, thường được dùng làm chất chỉ thị trong hóa phân tích, làm thuốc sát trùng, làm chất giải độc xianua, làm thuốc nhuộm, mực in

c Bộ dụng cụ thử quang xúc sử dụng bức xạ của đèn compact dân dụng

Hiệu suất quang xúc tác là một thông số quan trọng nhất để đánh giá sản phẩm, nó phụ thuộc chủ yếu vào cường độ nguồn sáng sử dụng Vì vậy, việc chọn nguồn sáng và dụng cụ thử quang xúc tác có chế độ hoạt động ổn định là rất cần thiết

Hiện nay, trong các công trình nghiên cứu về quang xúc tác trong và ngoài nước, nhiều nguồn sáng và phương thức chiếu xạ khác nhau đã được sử dụng như: đèn BLET, đèn xenon 320W, đèn thủy ngân cao áp 200w chiếu ngoài cách 10 cm, đèn huỳnh quang 13w 2% UV

Trang 34

Trong công trình này, bộ đèn compact dân dụng Golstar đã được chọn làm nguồn sáng, bóng đèn được nhúng trực tiếp vào dung dịch thử Quang phổ đèn compact được đưa ra trên hình 2.3

Hình 2.2: Quang phổ đèn compact 40W hiệu Golsta

Trong quang phổ đèn được đưa ra trên hình 2.2 cho thấy: bước sóng ánh sáng của đèn chủ yếu nằm trong vùng λ = 400÷600 nm, vùng phổ có λ ≥

600 nm khá nhỏ, vùng phổ có λ ≥ 300 nm không có, bước sóng trung bình của quang phổ đèn là λ = 540 nm Phổ đèn như trên sẽ cho kết quả thử quang xúc tác phân hủy MB có độ chính xác cao nhất Thiết bị thử hoạt tính quang xúc tác của vật liệu dưới tác dụng của đèn compact được đưa ra trong hình 2.3

Hình 2.3: Thiết bị phản ứng phân hủy xanh metylen (MB)

Trang 35

d, Quá trình xác định hiệu suất quang xúc tác của sản phẩm

Để đánh giá khả năng quang xúc tác của sản phẩm điều chế được, chúng tôi tiến hành xác định hiệu suất quang xúc tác của sản phẩm qua phản ứng phân hủy xanh metylen trong dung dịch nước dưới bức xạ của đèn compact Quá trình được tiến hành như sau: Cân chính xác 10mg xanh metylen hòa tan trong nước, định mức bằng bình định mức 1lít bằng nước cất Lấy chính xác 200ml dung dịch Sau đó cân một lượng chính xác bột sản phẩm đã điều chế được với lượng phù hợp cho từng thí nghiệm rồi cho vào cốc phản ứng đã chứa 200 ml dung dịch xanh metylen nồng độ 10 mg/l, khuấy đều hỗn hợp phản ứng trên máy khuấy từ để bột sản phẩm đã điều chế phân tán đều vào dung dịch (khuấy liên tục trong suốt quá trình thí nghiệm) Chiếu dung dịch trên bằng đèn Compact công suất 40W trong 2h, dung dịch sau đó được lấy đem ly tâm để loại bỏ bột rồi đo mật độ quang (ABS) ở bước sóng λ = 663 nm So sánh độ hấp thụ quang của dung dịch xanh metylen trước và sau khi chiếu xạ và từ đó xác định được phần trăm lượng chất bị phân hủy và đánh giá được khả năng xúc tác của bột sản phẩm điều chế được

Để xây dựng đường chuẩn cho phép xác định nồng độ xanh metylen trong dung dịch nước theo phương pháp đo quang, chúng tôi tiến hành pha chế các dung dịch MB với nồng độ xác định trong khoảng từ 0.02÷10.5 mg/l

Độ hấp thụ quang của dung dịch MB được đo trên máy CECIL – CE 1011 (Đức) ở λ = 663 nm Các giá trị độ hấp thụ quang (Abs) được đưa ra trong bảng 2.1

Bảng 2.1 Nồng độ của dung dịch MB và độ hấp thụ quang

C MB

(mg/l)

0,02 0,10 0,50 2,00 4,00 6,00 8,00 10,00 10,50

Abs 0,017 0,036 0,170 0,366 0,750 1,190 1,480 1,980 2,00

Ngày đăng: 16/04/2021, 15:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w