Bảng 4.4: Công thức các hợp chất phân lập được từ lá cây Bằng lăng Bảng 4.5: Kết quả định lượng axit Asiatic chuẩn 51 Bảng 4.6: Kết quả định lượng axit Asiatic trong mẫu cao BL02 54 Bảng
Trang 1NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC
CỦA CÂY BẰNG LĂNG NƯỚC
(LAGERSTROEMIA SPECIOSA) Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
NGUYỄN THỊ LƯU
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC
CỦA CÂY BẰNG LĂNG NƯỚC
(LAGERSTROEMIA SPECIOSA) Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Hóa Hữu Cơ
Trang 3LỜI CẢM ƠN!
Luận văn tốt nghiệp cao học này được hoàn thành, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Viện Hóa học-Viện Hàn Lâm Khoa Học Công Nghệ Việt Nam và Đại học Khoa Học Tự Nhiên-Đại học Quốc Gia Hà Nội ,đặc biệt là
TS.Trần Văn Lộc đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt giúp đỡ em với những chỉ dẫn
khoa học quý giá trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Em xin chân thành cảm ơn các cô chú anh chị em trong phòng Tổng hợp Hữu Cơ- Viện Hóa Học đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo giúp đỡ em hoàn thành được luận văn
Em gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo của trường Đại Học Khoa học Tự Nhiên
đã trực tiếp giảng dạy, truyền đạt những kiến thức khoa học chuyên ngành cho em trong những năm tháng qua
Em xin ghi nhận công sức và những đóng góp quý báu, nhiệt tình của các cô chú anh chị em trong phòng Tổng hợp Hữu cơ, thầy cô giáo và các bạn học viên lớp cao học K24 đã đóng góp ý kiến và giúp em triển khai luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Lưu
Trang 4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 2
TỔNG QUAN 2
1.1 Đặc điểm chung của họ Lythraceae 2
1.2 Đặc điểm chung của chi Lagerstroemia (Bằng lăng)[3] 2
1.2.1 Lagerstroemia quinquevalvis Koehne (Bằng lăng 5-mảnh) 2
1.2.2 Lagerstroemia indica L (Bằng lăng sẻ) 3
1.2.3 Lagerstroemia floribunda Jack.(Bằng lăng nhiều hoa) 3
1.2.4.Lagerstroemia calyculata Kurz.(Bằng lăng tía hay Săng lẻ)[1] 4
1.2.5 Lagerstroemia crispa Pierre ex Lan (Bằng lăng ổi) 5
1.2.6 Lagerstroemia tomentosa Presl ( Bằng lăng lông ) 6
1.2.7 Lagerstroemia micrantha Merr ( Bằng lăng hoa nhỏ ) 6
1.2.8 Lagerstroemia duperreana Pierre ex Lan (Bằng lăng láng) 6
1.2.9 Lagerstroemia loudonii Teijsm & Binn.(Bằng lăng vàng) 6
1.2.10 Lagerstroemia speciosa ( Bằng Lăng Nước )[5] 7
1.3.Nghiên cứu về thành phần hóa học của chi Bằng lăng 7
1.3.1 Nghiên cứu ở nước ngoài 7
1.3.2 Nghiên cứu ở trong nước 10
1.4 Hoạt tính sinh học 12
CHƯƠNG 2 16
NGUYÊN LIỆU, HÓA CHẤT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Nguyên liệu, hóa chất 16
2.2 Phương pháp nghiên cứu 16
2.2.1 Phương pháp điều chế các phân đoạn 16
2.2.2 Phương pháp tách và tinh chế chất 17
Trang 53.1 Dụng cụ, thiết bị thí nghiệm 18
3.2 Dung môi, hóa chất 18
3.3 Mẫu lá cây Bằng lăng nước 18
3.4.Tách và tinh chế các chất trong lá Bằng lăng nước (Theo sơ đồ 1 và 2) 18
3.4.1 Phân lập các chất từ dịch chiết n-hexan (sơ đồ 2) 20
3.4.2 Phân lập các chất từ dịch chiết EtOAc 20
3.4.3 Số liệu phổ của các chất tách được 21
CHƯƠNG 4 23
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23
4.1 Xác định cấu trúc của các chất phân lập được 23
4.1.1.chất 16(β-sitosterol) 23
4.1.2 Chất 17 : quercetin 27
4.1.3 Chất 18: Chất 18: β-sitosterol-3-O-β-D-glucopyranosid (BL5.3) 34
4.1.4 Chất 19 : axit asiatic 39
4.1.5 Chất 20: axit corosolic 42
4.2 Định lượng axit asiatic và axit corosolic bằng sắc ký lỏng cao áp 50
4.2.1.Định lượng axit asiatic 51
4.2.1.1 Chuẩn bị mẫu: 51
4.2.1.2 Kết quả định lương các mẫu phân tích: 52
4.2.2.Định lượng axit corosolic 55
4.2.2.1.Chuẩn bị mẫu : 55
4.2.2.2 Kết quả định lương các mẫu phân tích: 56
KẾT LUẬN 60
1 Kết luận 60
2 Kiến nghị 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DEPT : Distortionless enhancement by polarsation transfer
DMSO : Dimethyl sulfoxide
DMSO – d6 : DMSO đã được đơteri hóa
D2O : Nước đã được đơteri hóa
EtOAc : Ethyl acetate
FT : Fourier transform
IR : ( Phô hồng ngoại)
HMBC : Heteronuclear multiple bond correlation
HSQC : Heteronuclear single quantum coherence
m : Multiplet (NMR)
MS : Mass spectrometry
NMR : Nuclear magnetic resonance
ppm : Parts per million
Rf : Retention factor
s : Singlet (NMR)
t : Triplet (NMR)
UV : Utraviolet
Trang 7Bảng 4.4: Công thức các hợp chất phân lập được từ lá cây Bằng lăng
Bảng 4.5: Kết quả định lượng axit Asiatic chuẩn 51 Bảng 4.6: Kết quả định lượng axit Asiatic trong mẫu cao BL02 54 Bảng 4.7: Kết quả định lượng axit Corosolic chuẩn 55 Bảng 4.8: Kết quả định lượng axit Corosolic trong mẫu cao BL02 59
Bảng 4.9: Hàm lượng corosolic axit và asiatic trong các mẫu cao Bằng
lăng nước bằng phương pháp HPLC 59
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Lagerstroemia indica L 3 Hình 1.2 Lagerstroemia floribunda Jack 3 Hình 1.3 Lagerstroemia calyculata Kurz 4 Hình 1.4 Lagerstroemia crispa 5 Hình 1.5 Lagerstroemia tomentosa 6 Hình 1.6 Lagerstroemia macrocarpa 7 Hình 1.7 Lagerstroemia speciosa 7 Hình 4.8 Phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1H-NMR của chất β- 25
Trang 8Số TT Nội dung Trang
sitosterol Hình 4.9 Phổ cộng hưởng từ hạt nhân
13
C-NMR của chất
Hình 4.10 Phổ IR của chất Quercetin 30 Hình 4.11 Phổ 1
H-NMR của chất Quercetin 31 Hình 4.12 Phổ 13
C-NMR của chất Quercetin 32 Hình 4.13 Phổ DEPT và 13
C-NMR của chất Quercetin 33 Hình 4.14 Phổ 1
H-NMR (DMSO, 500 MHz) của chất 18 36 Hình 4.15 Phổ 13C-NMR (CDCl3, 125 MHz) của chất 18 37 Hình 4.16 Phổ DEPT và 13C-NMR của chất 18 38 Hình 4.17 Phổ
1H-NMR (MeOD, 500 MHz) của chất 19 (Axit
Hình 4.18 Phổ 13C-NMR và phổ DEPT của chất 19 (Axit asiatic) 40 Hình 4.19 Phổ khối ESI-MS của chất 19 (Axit asiatic) 41 Hình 4.20 Phổ cộng hưởng từ hạt nhân
Sơ đồ 1: Chiết, tách các chất từ dịch chiết cồn 70% của cây
19
Trang 10Số TT Nội dung Trang
21 Phụ lục 21 Phổ 13C-NMR - DEPT của chất 19 (Axit asiatic) 86
22 Phụ lục 22 Phổ khối ESI-MS của chất 19 (Axit asiatic) 87
23 Phụ lục 23 Phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1H-NMR của chất
28 Phụ lục 28 Phổ cộng hưởng từ hạt nhân 13C-NMR giãn của
29 Phụ lục 29 Phổ cộng hưởng từ hạt nhân 13
C-NMR – DEPT của chất axit corosolic 94
30 Phụ lục 30 Phổ cộng hưởng từ hạt nhân 13C-NMR – DEPT
giãn của chất axit corosolic 95
31 Phụ lục 31 Phổ khối MS của chất axit corosolic 96
Trang 111
MỞ ĐẦU
Từ xưa đến nay, những cây thuốc dân gian đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống hàng ngày của chúng ta Từ khi ngành hóa dược chưa phát triển, nhiều cây cỏ trong tự nhiên đã được con người sử dụng rộng rãi để chữa bệnh Nhiều loại bệnh đã được chữa khỏi nhờ các loại thảo dược quý Nhưng người sử dụng chưa biết nhiều về những hợp chất tự nhiên chứa trong các loài thảo dược đó
Vì thế là một nhà khoa học, chúng ta có nhiệm vụ nghiên cứu các hợp chất tự nhiên
có hoạt tính sinh học, để có phương pháp khai thác hợp lí, tránh tình trạng khai thác bừa bãi làm cạn kiệt nguồn tài nguyên quý báu
Bằng lăng là một loài thực vật có nhiều ở Việt Nam Ngày nay, Bằng lăng được trồng ngày một nhiều hơn, hầu như ở các công trình công cộng lúc nào cũng
có mặt cây Bằng lăng như một loài cây cảnh và để che bóng mát Trong các loài
Bằng lăng thì cây Bằng lăng nước (Lagerstroemia speciosa), một loài cây ở Đông
Nam Á thường được gọi là Banaba (tiếng Philippin), được truyền thống người Philippin sử dụng dưới các hình thức khác nhau để điều trị bệnh tiểu đường và một
số bệnh liên quan Trong những năm 1990, sự phát triển của thảo dược này bắt đầu thu hút những nhà khoa học trên thế giới Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu cô lập được nhiều hợp chất từ cây Bằng lăng nước Trong đó, axit Corosolic được cô lập từ lá Bằng lăng nước có hoạt tính chữa bệnh đái tháo đường Chất trích
ly từ lá Bằng lăng nước thường tìm thấy trong các thuốc bổ sung đa thành phần để chữa bệnh đái tháo đường, giảm béo[8] Đến nay, thế giới đã công bố nhiều công trình nghiên cứu về cây Bằng lăng nước, đặc biệt là ở một số nước phát triển như:
Mỹ, Nhật …Tuy nhiên, ở Việt Nam các nghiên cứu về loài thực vật này còn chưa
nhiều Do đó, tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu thành phần hóa học của cây Bằng lăng
nước (Lagerstroemia speciosa ) ở Việt Nam”
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Đặc điểm chung của họ Lythraceae
Họ Lythracea là danh pháp của một họ thực vật có hoa Họ này có khoảng
620 loài, 32 chi, chủ yếu là thân thảo, với một ít loài là cây bụi hoặc cây thân gỗ Họ Lythraceae phân bố phần lớn các loài ở vùng nhiệt đới, ít phổ biến hơn ở vùng khí
hậu ôn đới Họ Lythraceae có hai tông lớn là: Lythreae và Lagerstroemia
1.2 Đặc điểm chung của chi Lagerstroemia (Bằng lăng) [3]
Chi Lagerstroemia (Bằng lăng) là một chi thực vật quan trọng và phổ biến
trong họ Lythraceae Đặc điểm chung của chi này là cây thường rụng lá sớm, thân
gỗ có nguồn gốc ở vùng Đông Nam Á Chi này có nhiều loài được ứng dụng trong y học cổ truyền để điều trị bệnh tiểu đường và khá nhiều bệnh khác như trị tiêu chảy,
chống ôxi hóa, giảm mỡ máu, kháng khuẩn Ở nước ta, chi Lagerstroemia là chi
thảo mộc khá lớn, mọc nhiều nhất ở các rừng Đông Nam Bộ Ngày nay, chi này được trồng rải rác nhiều nơi dùng làm cây cảnh, che bóng mát
Chi Lagerstroemia có trên 20 loài, xin giới thiệu khái quát vài nét của một số
loài đặc trưng đã và đang được nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.1 Lagerstroemia quinquevalvis Koehne (Bằng lăng 5-mảnh)
Đại mộc nhỏ; thân có vài gai to; nhánh không gai Lá có phiến xoan to 7x3,5-5,5cm, mặt dưới trăng trắng, gân phụ 7cặp; cuống 5– 6mm Chùm tụ tán cao 20cm, lúc mang trái, đài có lông dày hay như nhung, có 6 sóng cạnh Nang xoan cao 2 cm, có nhăn mịn dọc; mảnh 5; hột cao 15mm (luôn cánh)
Trang 13cánh Ra hoa vào mùa hạ
Cây có hoa đẹp thường được trồng
làm cây cảnh Vỏ dùng trị sốt, phấn khích
1.2.3 Lagerstroemia floribunda Jack.(Bằng lăng nhiều hoa)
Cây gỗ to, cao 10 -15m Lá
phiến bầu dục, hai đầu tà, không
lông, dai, cứng Chùm tụ tán đứng
ở ngọn nhánh với hoa trắng và hoa
tim tím trộn nhau, trục có lông
Cây có hoa đẹp được trồng
làm cây cảnh và cho gỗ tốt dùng trong xây dựng, đóng đồ đạc, làm ván, làm đồ mĩ nghệ
Hình 1.1 Lagerstroemia indica L
Hình 1.2.Lagerstroemia floribunda Jack
Trang 141.2.4.Lagerstroemia calyculata Kurz.(Bằng lăng tía hay Săng lẻ)[1]
Cây gỗ to, cao 20 – 30m,
cành non có cạnh và lông hình sao
màu hung, cành già hình trụ, nhẵn
Lá mọc so le, hình mác, dài 7 –
14cm, rộng 2 – 5cm, gốc thuôn, đầu
nhọn, phiến dài, mặt trên lúc đầu có
lông hình sao, sau nhẵn mặt dưới
lông dày hơn, gân lá chằn chịt tạo
thành mạng rõ, cuống lá ngắn có
lông mịn
Cụm hoa tận cùng mọc
thành chùm, có lông màu vàng, dài 12 – 20cm, lá bắc rõ, hoa màu trắng tập hợp 6 –
8 cái ở một mấu, đài hình chuông, có lông, 6 thùy; cánh hoa 6, có móng; nhị nhiều gần đều nhau; bầu có lông ở đỉnh, vòi nhụy dài
Quả nang, hình trứng, dài 1,2cm, nằm sâu 1/3 trong đài, đầu có mũi nhọn, khi chín nứt thành 6 mảnh Mùa ra hoa quả tháng 5 – 7
Bằng lăng tía là một trong số ít loài phân bố tương đối phổ biến ở một số tỉnh Miền Bắc và Miền Nam như Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, các tỉnh Tây Nguyên và Tây Nam Bộ Độ cao phân bố thường dưới 800m Cây còn thấy nhiều ở Lào, Campuchia.Cây ra hoa quả nhiều hàng năm, khả năng tái sinh từ hạt
và từ gốc sau khi chặt khá tốt
Vỏ cây Bằng lăng tía có chứa alcaloid, flavonoid, saponin, tanin và sterol tanin Trong vỏ chủ yếu là tanin catechic 23% và một lượng nhỏ tanin gallic 7% Ngoài ra còn có đường, chất nhầy, gôm và pectin Gôm và chất nhầy trong lá cao hơn trong vỏ, thân, còn tỉ lệ tanin trong lá ít hơn trong vỏ Do đó, Vỏ cây Bằng lăng tía được thu hái quanh năm, tốt nhất vào mùa thu, đem về cạo vỏ ngoài, phơi hoặc
Hình 1.3.Lagerstroemia calyculata Kurz
Trang 155
Đồng bào các dân tộc Ba Na, Gia Rai ở Tây Nguyên đã dùng nước sắc vỏ cây Bằng lăng tía để rửa đắp vết thương, vết bỏng, chữa lị và ghẻ lở Nhân dân miền Trung đã dùng cao Bằng lăng tía phối hợp với lá ổi, lá sim để chữa vết thương, chữa hắc lào Để chữa các bệnh ngoài da, dùng cao chiết với cồn 60% vỏ cây Bằng lăng tía 15% bôi trên da nơi bị bệnh
Một số bài thuốc được dân gian dùng chữa bệnh:
Chữa tiêu chảy, kiết lị: Vỏ, thân lá Bằng lăng tía (20-30 g) cắt nhỏ, phơi khô, đem sắc với 400 ml nước còn lại khoảng 100 ml, uống ngày 2 lần Có thể tán thành bột hoặc nấu cao rồi bào chế thành viên để uống.Thời gian dùng khoảng 7 đến 10 ngày
Chữa bỏng: Cân khoảng 300 g vỏ thân Bằng lăng tía tươi Lấy 100g đun sôi với nước cho đặc dùng để rửa vết thương Lượng còn lại 200 g thái nhỏ, đun sôi với nước rồi lọc và đem cô thành cao lỏng, ngày bôi 2 – 3 lần Lớp cao bôi lên vết thương sẽ se lại thành lớp màng mỏng, có độ mềm và dai, tránh được bụi bẩn bám trên vết thương nên không cần phải băng, do đó tránh gây đau đớn cho người bị thương lúc thay băng
1.2.5 Lagerstroemia crispa Pierreex Lan (Bằng lăng ổi)
Loài cây gỗ lớn, rụng lá vào mùa
khô, cao khoảng 35 m, thân to 60 cm;
nhánh non có 4 cạnh thấp, có lông mịn
lá đơn, mọc đối, hình trứng rộng, thuôn,
dài 4 – 15 cm; rộng 3 – 5 cm Phiến lá
dày, cứng, mặt trên xanh lục thẫm, mặt
dưới hơi nhạt hơn, có lông dày Chùm
hoa ở ngọn nhánh, hẹp, cao 15 – 20 cm;
đài không lông, cao 12 mm, có 6 cánh
dúng; cánh hoa dài 5 mm; tiểu nhụy
nhiều; noãn sào không lông Nang tròn tròn, to 1 cm
Hình 1.4.Lagerstroemia crispa
Trang 16Bằng lăng ổi có hoa nhiều màu đẹp nên thường được trồng làm cây cảnh
1.2.6 Lagerstroemia tomentosa Presl ( Bằng lăng lông )
Cây gỗ lớn, rụng lá vào mùa khô
hàng năm, cao khoảng 15 – 20 m.Thân
thẳng tròn, gốc có nhiều múi Tán lá
thưa, cành khẳng khiu, lá có phiến to,
dài 10 – 24 cm, mặt dưới đầy lông hình
sao vàng, gân phụ 8 – 12 cặp Chùm tụ
tán cao khoảng 6 – 20 cm, đầy lông
vàng; lá hoa mau rụng; nụ có 12 sóng;
đài 6 thùy; cánh hoa 15 mm; noãn sào
có lông Nang cao 12 – 17 mm; 6 mảnh;
hạt có cánh.Cây trồng nhiều ở Nghệ Tĩnh, Thanh Hóa, Quảng Bình, Huế Cây cho
gỗ tốt thường dùng làm các sản phẩm hàng mỹ nghệ đồ mộc cao cấp như trạm trổ, khắc tượng, đóng bàn ghế, tàu thuyền…
1.2.7 Lagerstroemia micrantha Merr ( Bằng lăng hoa nhỏ )
Tiểu mộc Lá có phiến nhỏ, dài 5 – 8 cm, lúc non có lông mịn, sau chỉ còn lông ở gân chính, gân phụ 4 -6 cặp; cuống 3 mm Chùm tụ tán ở ngọn, có lông nâu nâu; nụ tròn, to 3 mm, có 12 sóng; đài 6 thùy; cánh hoa nhỏ 2 mm; noãn sào không lông
1.2.8 Lagerstroemia duperreana Pierre ex Lan (Bằng lăng láng)
Cây gỗ cao khoảng 30 m; nhánh non tròn, không lông Lá dày, dai, không lông, đầu tròn hay lõm, gân phụ 9 – 13 cặp, từu từ hẹp trên cuống ngắn Chùm tụ tán cao đến 40 cm; nụ đầy lông, có 6 u nhỏ; đài có sọc mịn dọc, thùy có lông ở phần trên; cánh hoa 15 mm, màu tím tím Trái cỡ 15 mm, 6 mảnh, hột dài 1 cm
1.2.9 Lagerstroemia loudonii Teijsm & Binn.(Bằng lăng vàng)
Hình 1.5.Lagerstroemia tomentosa
Trang 177
Chùm tụ tán ở chót nhánh, cao 20 – 30 cm; nụ tròn, đầy lông; cánh hoa hường, to 1,5 – 2 cm; noãn sào đầy lông Nang cao 1,5 – 2,2 cm; hột luôn cánh dài 1,5 cm
1.2.10 Lagerstroemia speciosa ( Bằng Lăng Nước ) [5]
Bằng lăng nước có tên khoa học Lagerstroemia speciosa (L.) Pers.thuộc họ
Bằng lăng (Lythraceae), Bằng lăng nước (tiếng Philippin: Banaba, tiếng Campuchia: Banglang, tên Ấn Độ: Pride of India) hay còn được gọi là Bằng lăng tiên Cây gỗ lớn thân cao từ 10 – 15 m vỏ nứt màu nâu đen Tán lá rậm, hình chóp, rụng vào mùa khô (cành mềm hơi rũ xuống) Lá hình bầu dục, tròn ở gốc, nhọn ngắn ở chóp, cứng nhẵn, dài 10 – 20 cm, rộng 5 – 9 cm, cuống to dài 5 – 7 mm Cụm hoa chùm, mọc ở đỉnh cành, hình tháp tán Hoa có 5 – 6 đài dính, cánh tràng màu hồng nhạt gồm 5 – 6 cánh dúng, tiểu nhụy nhiều Quả nang, hình trứng, kích thước 20 x18 mm Hạt có cánh mềm Quả nang cắt vách hơi tròn dạng trứng, lá đài còn lại xòe ra, quả dài 1,5 – 2cm, rộng 1 – 1,5 cm cứng, bên ngoài hơi nhám, hạt có cánh mỏng, có đường kính 12 – 15 mm Ra hoa vào tháng 4
Hình 1.6 Lagerstroemia macrocarpa Hình 1.7 Lagerstroemia speciosa
1.3.Nghiên cứu về thành phần hóa học của chi Bằng lăng
1.3.1 Nghiên cứu ở nước ngoài
Các loài thực vật thuộc chi Lagerstroemia phân bố rộng và có nhiều loài
được dùng trong Y học Do vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về chúng và chỉ
ra rằng, đây là một chi thực vật chứa nhiều tanin và ancaloit
Trang 18Theo dõi trên Chemical Abstract cho đến năm 1999 cho thấy: Phần lớn các công trình nghiên cứu về cây Bằng lăng nước tập trung vào các hướng sau:
- Nghiên cứu thành phần hóa học của lá cây
- Nghiên cứu công dụng của một số hợp chất có trong lá để chữa bệnh
Năm 1961, Carew D.P và Chin T.F [11] đã làm các thí nghiệm để kiểm tra một số nhóm chất có trong lá Bằng lăng nước ở Philippin và đã đi đến kết luận: Trong lá có tanin, glucosit trợ tim, flavonoit và sterol không có ancaloit Kết quả
của các nghiên cứu khác cho thấy, thành phần hóa học của chi Lagerstroemia
bao gồm: Axit béo và dẫn xuất, các tecpenoit, các ancaloit và tanin, v.v…
Một số nghiên cứu khác cho thấy, trong hạt cây Bằng lăng nước có chứa axit (Z)-9-oxooctadec-11-enoic [19], trong lá có các amino axit như isoleuxin, alanin, axit α-aminobutyric và methionin [11]
+ Tecpenoit
Từ cây Bằng lăng nước đã phân lập được một số tecpenoit như:
stigmast-4-en-3,6-diol, lagerstronolit, lagerenol, lagerenyl axetat [13]
+ Ancaloit [9,16,18]
Kết quả của những công trình nghiên cứu về loài Lagerstroemia indica Linn
cho biết, thành phần hóa học chủ yếu của loài này là các ancaloit Một số ancaloit
đã được phân lập là: Lagerin , o-metyllagerin
Khi nghiên cứu lá loài Lagerstroemia subcostata Iida H và CominsD.L đã
phát hiện một số ancaloit khác nhau: Subcosin I , lasubin I , lasubin II, subcosin II [12]
+ Tanin
Trong lá, vỏ của cây Bằng lăng nước đều có chứa tanin với thành phần rất phong phú và đa dạng, nhất là ở lá Những tanin được phân lập từ lá, vỏ là dẫn xuất của axit gallic và catechin [23]
Trang 199
Một số hợp chất cô lập được từ lá ba loài Bằng lăng [17]: Lagerstroemia calyculata,
Lagerstroemia floribunda và Lagerstroemia tomentosa
1 Dihydro-β-cyclopyrethrosin 2 Clauslactone-K
5 R1= H, R2= OH : Acid 3β,29-dihydroxy-olean-12-en-28-oic
6 R1= OH, R2= H : Acid arjunolic
Trang 20
Một nghiên cứu khác về loài Lagerstroemia indica cho biết thành phần hóa
học chủ yếu của loài này là các ancaloit Một số ancaloit đã được phân lập là:
Lagerin(9), o-metyllagerin(10), dihydroverticillatin(11), vertin(12), decamin(13)
1.3.2 Nghiên cứu ở trong nước
Năm 2001, PGS.TS.Đỗ Đình Rãng cùng các cộng sự trường ĐHSP Hà Nội
đã phân tích các lớp chất có trong lá, vỏ và thử hoạt tính sinh học dịch chiết của chúng Các thí nghiệm đã chứng minh rằng dịch chiết lá cây Bằng lăng nước có phản ứng dương tính với FeCl3 và thuốc thử Libermann-Buchardt, còn dịch chiết
vỏ cây chỉ có phản ứng dương tính với FeCl3.Điều đó chứng tỏ trong lá cây này có
Trang 2111
Thử hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định, nhóm tác giả này đã cho biết:
Dịch chiết lá Bằng lăng nước chỉ có khả năng kháng một loại vi khuẩn là E.coli; còn dịch chiết của vỏ có hoạt tính kháng 2 loại vi khuẩn là E.coli và B subtillis
Năm 2011 nhóm nghiên cứu của Nguyễn Quyết Tiến & cộng sự Viện Hóa
học Viện Hàn Lâm Khoa học CNVN đã phân lập được 5 hợp chất ( 1-5) từ lá cây
bằng lăng nước thu hái tại Từ Liêm, Cầu Giấy, Hà Nội [2]
Năm 2012 Tôn Nữ Liên Hương và cộng sự trường Đại học Cần Thơ trong quá trình khảo sát hóa học vỏ cây bằng lăng nước trồng tại kí túc xá đã cô lập và định danh được ba chất [4]: stigmasterol (C29H48O) (1), acid betulinic (C30H48O3)
(14) và hợp chất oleana-9(11),12-dien-3-ol (C30H48O) (15)
14 axit Betulinic 15 Oleana-9(11),12-dien-3-ol
Trang 221.4 Hoạt tính sinh học
Y học truyền thống Châu Á dùng lá Bằng lăng nước làm trà uống để trị đau bao tử và bệnh tiểu đường [8] Các chất trích li đã được thương mại hóa và đôi khi cũng được dùng làm giảm bớt béo phì Chất trích từ lá Bằng lăng nước, ví dụ như cortislim, thường dùng trong các thuốc bổ sung đa thành phần để làm giảm cân
Ở Việt Nam, cây Bằng lăng mọc nhiều ở khu vực miền Bắc Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên Trên thế giới Bằng lăng nước phân bố ở các nước vùng Nam và Đông Nam Á như: Myanma, Malaysia, Thái Lan, Lào, Campuchia, Philippines Ở Nam Trung Quốc, Ấn Độ và Australia cũng gặp loài này Theo Phạm Hoàng Hộ (2000), trong y học người ta sử dụng lá Bằng lăng nước để trị bệnh tiểu đường và béo phì, rễ trị sốt, vỏ cũng trị sốt, đau và loét dạ dày, trái đắp trị lở miệng Mặt khác cây Bằng lăng nước với hoa tím, bóng mát còn được trồng làm cây cảnh ở đường phố, công sở, trường học Trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu
về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học trên lá Bằng lăng nước, chủ yếu tập trung vào nhóm hợp chất có tác dụng làm hạ đường huyết và nhóm hợp chất phân cực Ở nước ta cho đến nay chỉ thấy nghiên cứu về hoạt tính và công dụng của lá
mà chưa thấy công trình công bố nghiên cứu sâu về thành phần hóa học của cây Bằng lăng nước Cho nên việc nghiên cứu về thành phần hóa học của lá cây Bằng lăng nước hiện nay ở nước ta là cần thiết và có nhiều ý nghĩa đối với hóa học
Bằng lăng nước có nhiều công dụng làm thuốc tùy theo bộ phận dùng: Hạt gây ngủ; vỏ thân và lá làm thuốc hãm uống trị tiêu chảy; rễ làm se, kích thích và hạ nhiệt; quả dùng đắp ngoài trị bệnh áp-tơ miệng (tổn thương loét đau ở miệng); lá được nhân dân các nước Philippine, Ấn Độ hãm uống như trà để chữa tiểu đường Nhiều nghiên cứu dược lý hiện đại trong và ngoài nước đã chứng minh thành phần acid corosolic có nhiều trong lá và quả già Bằng lăng nước có tác dụng làm giảm đường huyết và giảm béo phì Hoạt chất này đã được nghiên cứu chiết xuất và sử dụng rộng rãi làm thuốc chữa tiểu đường và béo phì tại nhiều nước trên thế giới
Trang 2313
còn chứa valoneic acid dilactone (VAD) được sử dụng như chất ức chế xanthine
oxidase làm giảm acid uric trong bệnh gout Dịch chiết từ lá bằng lăng được chứng
minh có tác dụng đối với bệnh gout tốt hơn biệt dược Zylopzim (chứa allopurinol) Trong các bộ phận của cây bằng lăng nước thì lá và quả già có tác dụng hạ đường huyết tốt nhất Lá non và hoa cũng có tác dụng chữa bệnh nhưng hiệu lực chỉ bằng 70% so với quả và lá già
Vỏ Bằng lăng nước điều trị bệnh nấm ngoài da, bệnh lỵ trực khuẩn, chữa bỏng; cao đặc vỏ cây bằng lăng tía có tác dụng làm se khô, giảm nhiễm khuẩn và tạo màng thuốc che phủ các vết thương, không cần phải băng, tránh đau đớn cho người bệnh khi thay băng
Đầu năm 1940, Garcia đã công bố những nghiên cứu đầu tiên của mình về khả năng làm giảm hàm lượng đường huyết của cao đặc từ Bằng lăng nước tương tự như insulin
Đến năm 1996, Kakuda đã nghiên cứu về hoạt tính ngăn ngừa bệnh tiểu đường của dịch chiết từ cây Bằng lăng nước Trong nghiên cứu này cho thấy dịch chiết có thể làm giảm mức insulin, đường huyết và hàm lượng cholesterol trong máu
Một số bài thuốc có sử dụng cây bằng lăng nước
- Sử dụng lá và quả Bằng lăng nước:
+ Dạng trà thuốc: 50 g lá già hoặc quả khô hãm với 0,5 lít nước sôi, uống 4 – 6 cốc mỗi ngày để phòng và chữa bệnh tiểu đường (20g) lá và quả khô trong 100 cc nước
có tác dụng tương đương với 6 - 7,7 đơn vị insulin)
+ Một số sản phẩm chứa cao khô Bằng lăng nước chuẩn hóa hàm lượng axit corosolic 1% có liều dùng là 16 – 48 mg/ngày Kết quả thử độc tính cho thấy cao khô Bằng lăng nước tuyệt đối an toàn khi sử dụng và chưa có báo cáo về tác dụng phụ được công bố Tuy nhiên, cần lưu ý sử dụng thận trọng trong các trường hợp trẻ
em, phụ nữ có thai và cho con bú Bệnh nhân tiểu đường đang sử dụng thuốc hạ
Trang 24đường huyết nhóm sulfonylurea (Glypizide và Glyburide) cần phải điều chỉnh liều nếu sử dụng kết hợp với sản phẩm chứa Bằng lăng nước
- Sử dụng vỏ cây bằng lăng nước
+ Chữa tiêu chảy, kiết lỵ: Vỏ thân bằng lăng tía 20-30 g, cắt nhỏ, phơi khô, sắc với
400 ml nước còn 100 ml, uống làm 2 lần/ngày; có thể tán bột hoặc nấu cao rồi bào chế thành viên để uống; dùng từ 7-10 ngày
+ Chữa bỏng: Vỏ thân bằng lăng tía 300 g Lấy 100 g nấu với nước cho đặc dùng
để rửa Lượng còn lại 200 g, băm nhỏ, nấu với 2 lần nước, lọc rồi cô thành cao lỏng; ngày bôi từ 2-3 lần Lớp cao bôi lên vết thương sẽ se lại thành màng, có độ mềm và dai, tránh được bụi bẩn nên không cần băng
+ Chữa nấm da (hắc lào): Vỏ thân bằng lăng tía thái nhỏ, ngâm với cồn 600 với tỷ lệ 20-30%, dùng bôi vào vùng có nấm da hoặc hắc lào
- Hoạt tính của axit asiatic
+ Hoạt tính gây độc tế bào và kháng ung thư của axit asiatic và asiaticosid:
Ya-ling Hsu và cộng sự ở khoa Dược, trường đại học Y, Cao Hùng, Đài Loan lần đầu tiên nghiên cứu tác dụng chống ung thư của axit asiatic tách từ cây rau
má đối với hai dòng tế bào ung thư vú là MCF-7 và MDA-MB-231 Các tác giả này thấy rằng axit asiatic ức chế mạnh sự tăng sinh tế bào thông qua việc làm ngừng chu trình và gây ra giáng hoá (apoptosis) của tế bào ung thư ở giai đoạn S-G2/M Quá trình ngừng trệ chu trình phát triển tế bào ung thư được gắn với việc giảm lượng P21/WAF1 và giảm lượng cyclin B1, cyclin A, Cdc2 và Cdc25C theo cách không phụ thuộc vào P53 [28]
Trong bằng độc quyền sáng chế US 2004/0097463A1 năm 2004 các tác giả
đã sử dụng axit asiatic để điều trị ung thư Các loại ung thư đã được nghiên cứu điều trị bao gồm: ung thư biểu mô, ung thư vú, ung thư túi mật , ung thư bàng quang, ung thư não, ung thư cổ, ung thư dạ dầy, ung thư màng tử cung, ung thư
Trang 2515
đa u nang thận [26] Nhìn chung liều dùng các hoạt chất axit asiatic dao động từ 0,01µg/kg/ngày đến 1000µg/kg/ngày Tuy nhiên, liều từ 50-500 µg/kg/ngày là phù hợp, ưu tiên bằng đường uống từ 1 đến nhiều lần /ngày Trong một số trường hợp
có thể sử dụng kết hợp asiaticosid và axit asiatic cùng một chất mang thích hợp để
dễ sử dụng Thuốc có thể được bào chế ở dạng viên nang cứng, viên nén, viên hình thoi hoặc dạng sirô Ngoài ra axit asiatic còn có thể được bào chế dưới dạng phóng thích chậm, phóng thích theo thời gian với các hệ chất mang khác nhau
Yoshinati Ohnishi và cộng sự ở trường đại học Tokushima Nhật Bản đã nghiên cứu hoạt tính hiệp đồng ức chế sinh trưởng của tế bào ung thư ruột kết HT-
29 khi sử dụng cùng với thuốc chống ung thư irinotecan hydrochlorid (CPT-11) axit Asiatic có tính độc tế bào với tế bào HT-29 tuỳ theo liều lượng Axit Asiatic đẩy nhanh quá trình giáng hoá (apoptosis- tự chết của tế bào) HT-29 thông qua việc hoạt hoá men caspase-3
+ Các hoạt tính khác của axit asiatic
a) Axit asiatic có khả năng làm tăng hoạt tính của thuốc kháng sinh, ví dụ như của
thuốc Ciprofloxacin và Tabramycin với vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa [15]
b) Hoạt tính chống xơ vữa động mạch: Trong bằng độc quyền sáng chế đăng ký tại Hoa Kỳ US 2007/0010459A1, Jan.11, 2007, nhóm nghiên cứu đã xử dụng axit asiatic để điều trị bệnh xơ vữa động mạch và xơ vữa phổi trên động vật thực nghiệm
là chó và chuột cống Các kết quả là rất khả quan [27]
c) Hoạt tính giảm đau và kháng viêm
d) Tác dụng chữa vết thương, vết bỏng:
Axit asiatic hỗ trợ điều trị vết thương qua việc làm tăng hàm lượng hydroxyprolin, thành phần của peptid, tăng độ đàn hồi của cơ da, tăng sinh tổng hợp collagen, tăng tạo mạch và tạo biểu mô [21]
Trang 26CHƯƠNG 2
NGUYÊN LIỆU, HÓA CHẤT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nguyên liệu, hóa chất
Nguyên liệu để nghiên cứu trong luận văn là: Lá cây Bằng lăng, được Công
ty Traphaco cung cấp năm 2014
Mẫu thực vật được phơi khô trong bóng râm, hoặc sấy ở 45oC trong tủ sấy,
để nguội, xay nhỏ và chiết với các dung môi có độ phân cực khác nhau như hexan, etyl axetat, methanol và butanol
n-Hóa chất :
+ Dung môi được cất lại qua cột trước khi dùng
+ Chất hấp phụ silica gel có cỡ hạt 0,063 mm, pha đảo RP18 và Sephadex LH20 dùng để chạy cột được mua của hãng Merck CHLB Đức và Aldrich, Hoa Kì
+ Bản mỏng tráng sẵn trên nhôm với silica gel G60 có chất huỳnh quang F254 của hãng Merck được dùng để kiểm tra quá trình tách trên cột và cũng như độ tinh khiết của chất tách được
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp điều chế các phân đoạn
Lá cây Bằng lăng sau khi đã sấy khô và xay nhỏ được cân chính xác và chiết với các dung môi có độ phân cực khác nhau theo hai cách:
+ Cách thứ nhất: Ngâm chiết với methanol ở nhiệt độ phòng Rút dịch chiết và
thêm dung môi mới 3 lần, mỗi lần ngâm 4 giờ Cất loại dung môi dưới áp suất giảm
ở nhiệt độ 45oC ( bằng máy quay cất chân không) Cặn thu được được chế thêm
nước cất Sau đó chiết lần lượt với n-hexan, etyl axetat và butanol Các dịch chiết
được cất loại dung môi cho đến khi khô sẽ thu được các dịch chiết tương ứng để nghiên cứu tiếp
+ Cách thứ hai: Mẫu thực vật khô được chiết lần lượt với các loại dung môi
Trang 27n-17
chiết và thêm dung môi mới ba lần Mỗi lần ngâm ba tiếng, cất loại dung môi dưới
áp suất giảm ở nhiệt độ 45oC cho tới khô (sử dụng máy quay cất chân không) sẽ thu được các cặn dịch chiết tương ứng để nghiên cứu tiếp
2.2.2 Phương pháp tách và tinh chế chất
Các cặn dịch chiết trong các dung môi khác nhau thu được được tách và tinh chế bằng phương pháp sắc kí cột và sắc kí lớp mỏng với các hệ dung môi thích hợp Sắc kí cột (SKC) gồm sắc kí cột thường và sắc kí cột nhanh (flash chromatography)
sử dụng silica gel Đối với các chất phân cực có thể sử dụng Sephadex LH20 hoặc pha đảo RP18 Trường hợp cần thiết có thể chạy cột lặp lại nhiều lần hoặc dùng phương pháp kết tinh phân đoạn để tinh chế chất Kiểm tra độ tinh khiết của các chất cũng như kiểm tra quá trình chạy cột bằng sắc kí lớp mỏng (SKLM) với nhiều
hệ dung môi khác nhau để xác định Rf tối ưu ( Rf 0,4-0,6 )
2.2.3 Phương pháp xác định cấu trúc hóa học của các chất
Việc xác định cấu trúc hóa học của các chất sạch được thực hiện thông qua việc kết hợp các phương pháp phổ hiện đại như phổ hồng ngoại (FT-IR), phổ khối (MS), sắc kí lỏng cao áp gắn với khối phổ (LC/MS), phổ cộng hưởng từ hạt nhân một chiều và hai chiều (1D và 2D NMR) như 1H, DEPT, COSY, HSQC và HMBC Trong trường hợp cần thiết sẽ điều chế dẫn xuất acetyl của những chất chứa nhóm hydroxyl để khẳng định thêm cấu trúc của chúng
Trang 28CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM
3.2 Dung môi, hóa chất
Các dung môi được sử dụng để chiết tách và tinh chế là: n-hexan, etyl axetat,
diclometan, metanol và butanol
3.3 Mẫu lá cây Bằng lăng nước
Trong luận văn này chúng tôi đi sâu vào tách, tinh chế và xác định cấu trúc của
một số thành phần hóa học trong dịch chiết n-hexan của lá cây Bằng lăng nước 3.4.Tách và tinh chế các chất trong lá Bằng lăng nước (Theo sơ đồ 1 và 2)
1,6 kg lá Bằng lăng nước khô, xay nhỏ và ngâm chiết với EtOH /H2O=70% (3 lần x 10lít) ở nhiệt độ phòng trong 8 h cho mỗi lần chiết Quay cất dung môi dưới
áp suất giảm, ở nhiệt độ 500
C, thu được 200 gam cặn Cặn được hòa với MeOH/
H2O, chiết với n-hexan (3 lần x1lít), sau đó tiếp tục chiết với etyl axetat (3 lần x1lít)
và cuối cùng dịch nước được chiết bằng butanol (3 lần x 1lít) Quay cất dung môi dưới áp suất giảm, ở nhiệt độ 500C, thu được12 gam cặn n-hexan, 25 gam cặn
ethylacetat và 28 gam cặn butanol
Trang 29SK silica gel SK cột silica gel SK cột RP18
n-hexan/EtOAc n-hexan/EtOAc MeOH/H2O CH2Cl2/MeOH
:95/5 :9/1 :8/1 :9/1
1 Hòa trong MeOH/nước
2 Chiết với n-hexan
Chất 20
BLE03 (0,65 g)
Chất không sạch
Lá Bằng lăng nước Nghiền nhỏ (1,6kg)
Dịch chiết EtOH
Trang 303.4.1 Phân lập các chất từ dịch chiết n-hexan (sơ đồ 2)
12 g cặn chiết hexan được đưa lên cột silica gel, giải hấp bằng dung môi hexan/EtOAc (với EtOAc tăng dần: 5-20%) thu được 4 phân đoạn chính Phân đoạn
n-2 tiếp tục tách trên trên cột silica gel (dung môi rửa giải: n-hexan: EtOAc (9:1) thu
được 650 mg chất 16
3.4.2 Phân lập các chất từ dịch chiết EtOAc
Phần dịch chiết EtOAc được khảo sát bằng sắc ký lớp mỏng silica gel Merck
60 F254 dày 0,25 mm tráng sẵn trên nền nhôm và thuốc hiện là H2SO4-vanilin Sau khi thử nghiệm với các hệ dung môi khác nhau để tìm hệ dung môi thích hợp cho sắc ký cột, đã tìm thấy hệ dung môi phù hợp là n-hexan/EtOAc
25 g cặn chiết EtOAc được hòa tan vừa đủ bằng CHCl3 và trộn với 30 gam silica gel, quay cất đến khô, sau đó nghiền thành bột mịn để các chất hấp phụ đều trên silica gel Bột silica gel có tẩm dịch chiết này được sử dụng để đưa lên cột sắc ký
Silica gel Merck (cỡ hạt 0,043- 0,063 mm; 600 gam) được nhồi vào cột sắc
ký có kích thước 8 cm x 90 cm theo phương pháp nhồi ướt với hệ dung môi
n-hexan/EtOAc = 95:5 Sau khi cột được nén bằng máy nén khí đã tương đối ổn định, bột silicagel tẩm dịch chiết được đưa lên cột, và giải hấp với hệ dung môi rửa giải là n-hexan/EtOAc có độ phân cực tăng dần Quá trình rửa giải chúng tôi thu được 100 phân đoạn khác nhau, mỗi phân đoạn là 15 ml.100 phân đoạn này được gộp thành 6nhóm (F1-F6) theo kết quả kiểm tra trên sắc ký lớp mỏng như sau:
Trang 31- Nhóm F4 bao gồm phân đoạn từ 77- 84 được cất loại dung môi dưới áp suất giảm, thu được 1,6 g cặn và được tinh chế lại một lần nữa bằng sắc ký cột nhanh, hệ dung môi rửa giải là CH2Cl2:MeOH= 9:1 thu được 0,65g chất 20 (ký hiệu là BLE03)
- Nhóm F5 bao gồm phân đoạn từ 86 - 100 được cất loại dung môi dưới áp suất giảm, thu được 1,6 g cặn và được tinh chế lại một lần nữa bằng sắc ký cột nhanh hệ dung môi rửa giải là CH2Cl2:MeOH= 85:15 Các phân đoạn được kiểm tra trên bản mỏng phân tích nhưng không thu được chất sạch
*) Chất 17 (quercetin):
- IR (KBr, cm-1): 3450 (OH), 1662 (C=O), 1614 (C=C), 1H-NMR (δ, CDCl3): 6.20
(1H, d, J = 1.9 Hz, 6); 6.40 (1H, d, J = 1.9 Hz, 8), 6.90 (1H, d, J = 8.5 HZ, 5’), 7.65 (1H, dd, J = 2.0, 8.5 Hz, H-6’), 7.75 (1H, J = 2.0 Hz, H-2’)
H-*) Chất 18: (β-sitosterol-3-O-β-D-glucopyra- noside, Daucosterol)
- Phổ 1H – NMR(DMSO-d6, 500MHz) δ(ppm), J(Hz): 0,65(3H, s); 0,80(3H, d,
J=6,9); 0,81(3H, d, J=6,8); 0,90(3H, d, J=6,5); 0,96 (3H, s); 1,00 (3H, d,J=6,7);
1,23(3H, s); 1,38-1,41 (5H, m); 1,43-1,49 (4H, m); 1,62-1,49 (1H, m); 1,90-1,97 (3H); 2,10-2,17 (1H, m); 2,34-2,38 (1H, m), 2,87-2,91 (1H, m), 3,05-3,08 (1H, m);
Trang 323,10-3,14 (3H, m); 3,38-3,48 (2H, m); 3,64 (1H, dd, J=5,5;10,1); 4,22(1H, d,
J=7,8); 4,39 (1H, t, J=5,7); 4,83 (3H, m); 5,32 (1H, d)
- Phổ 13C-NMR (CDCl3, 125 MHz) δ(ppm), J (Hz): 11,68; 11,78; 18,60;1 8,85;
19,14; 19,60; 20,93; 22,95; 24,14; 26,0; 28,08; 29,06; 29,54; 31,76; 33,84; 36,0; 36,59; 37,12; 38,60; 39,64; 42,20; 45,75; 48,45; 50,07; 55,95; 56,63; 61,80; 70,04; 73,42; 75,58; 76,25; 76,76; 100,98; 122,04; 140,15
*) Chất :Axit corosolic
- Phổ 13C-NMR (CDCl3, 125 MHz) (ppm): 47,0 (C-1), 67,1 (C-2), 82,2 (C-3), 39,1 (C-4), 54,7 (C-5), 18 (C-6), 32,6 (C-7), 39,2(C-8), 46,9 (C-9), 37,5 (C-10), 242,9 (C-11), 124,5 (C- 12), 138,2 (C-13), 41,7 (C-14), 27,5 (C-15), 23,8 (C-16), 47,0 (C-17), 52,3 (C-18), 38,4 (C-19), 38,5 (C-20), 30,1 (C-21), 36,3 (C-22), 28,8 (C-23), 17,1 ( C-24), 16,4 (C-25), 16,9 (C-26), 23,2 (C-27), 178,2 (C-28), 17,0 (C-
Trang 3323
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Xác định cấu trúc của các chất phân lập được
Trang 3525 Hình 4.8 Phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1
H-NMR của chất β-sitosterol
Trang 3727
4.1.2 Chất 17 (GCLB17): quercetin
O HO
6 7 8
3' 4'
5' 6'
17.Quercetin
Trạng thái
Hợp chất GCLB17 (17) thu được dưới dạng tinh thể hình kim, màu vàng, phát
quang dưới ánh sáng tử ngoại có = 365 nm cho thấy chất có chứa hệ nối đôi liên hợp hoặc nhân thơm hoặc carbonyl liên hợp
Phổ IR đo dưới dạng viên nén KBr cho các đỉnh hấp thụ mạnh, đặc trưng ở
3450 cm-1 (υ-OH), 1662 cm-1 (υ-C=O) cho thấy sự có mă ̣t của nhóm hydroxy và nhóm cacbonyl liên hợp trong phân tử, 1614 cm-1 (υ-C=C nhân thơm)
Phổ 1
H-NMR phía trường thấp có tín hiê ̣u của 5 proton thơm: cặp doublet ở
H 6,19 và 6,40 có hằng số tương tác J = 1,9 Hz, cho thấy vòng A thơm có 2 proton
ở vị trí meta với nhau Tín hiệu ở H 6,90 (d, J = 8,5Hz, H-5’) với hằng số tương tác của hai proton ở vị trí ortholà H-5’ và H-6’(J = 8,5 Hz), ở H 7,75 (d, H-2’) với hằng số tương tác của hai proton ở vị trí meta là H-2’ và H-6’(J = 2,0 Hz) và tín
hiệu ở H 7,65 (dd, H-6’) với các hằng số tương tác J = 2,0 và 8,5 Hz ( J H2’/ H6’=
2Hz và J H6’/ H5’= 8,5 Hz) cho thấy vòng B có nhóm thế ở C -3’ và C-4’ Số liệu phổ 1
H- và 13C-NMR của chất này (bảng 4.2) phù hợp vớ i số liê ̣u đã công bố của quercetin Số liệu của phổ 1H-NMR còn được hỗ trợ bởi phổ 13C-NMR của chất này Cụ thể như sau:
Phổ 13
C-NMR, DEPT 135, DEPT 90 cho biết hợp chất 17 có 15 carbon đặc
trưng cho hợp chất có khung flavonol, trong đó có 5 nhóm CH (methin) và 10
cacbon bậc 4 Pic carbon bậc 4 có δC = 177.3 ppm, đặc trưng cho nhóm C=O trong
Trang 38vòng chứa nối đôi liên hợp, 9 pic cacbon bậc 4 còn lại có δC trong khoảng từ 100 đến 164 ppm phù hợp với khung cacbon của quercetin Số liệu phổ NMR của chất
da
Quercetin đã được phát hiện có hoạt tính ức chế vius HIV-1 Ngoài ra, quercetin có vai trò quan trọng trong hóa trị liệu phòng chống ung thư (cancer chemoprevention) Người ta đã tìm thấy nó có hoạt tính cao, ức chế cả ba giai đoạn hình thành tế bào ung thư Ngoài ra, nó còn được dùng tổ hợp với cis-platin trong điều trị ung thư để làm giảm độc tố của thuốc điều trị
Trang 40Hình 4.10 Phổ IR của chất Quercetin
O HO
7 8
3'
4'
5' 6' 1
OH 2'