1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của lịch sử phát triển địa chất và điều kiện cổ địa lý trong đệ tứ đối với sự hình thành chất lượng nước các tầng pleistocen ở đồng bằng sông cửu long

144 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 891,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

---[ \--- NGUYỄN ĐÌNH TỨ VAI TRÒ CỦA LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN ĐỊA CHẤT VÀ ĐIỀU KIỆN CỔ ĐỊA LÝ TRONG ĐỆ TỨ ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH CHẤT LƯỢNG NƯỚC CÁC TẦNG PLEISTOCEN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Trang 1

-[ \ -

NGUYỄN ĐÌNH TỨ

VAI TRÒ CỦA LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN ĐỊA CHẤT

VÀ ĐIỀU KIỆN CỔ ĐỊA LÝ TRONG ĐỆ TỨ ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH CHẤT LƯỢNG NƯỚC CÁC TẦNG PLEISTOCEN

Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

CHUYÊN NGÀNH : ĐỊA CHẤT KHOÁNG SẢN & PHƯƠNG PHÁP THĂM DÒ MÃ SỐ NGÀNH : 2 08 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ

TP.HỒ CHÍ MINH, tháng 10 năm 2003

Trang 2

Cán bộ hướng dẫn khoa học:

(học hàm, học vị, họ và tên, chữ ký)

TS NGUYỄN VIỆT KỲ Cán bộ chấm nhận xét 1:

(học hàm, học vị, họ và tên, chữ ký)

-

Cán bộ chấm nhận xét 2 :

(học hàm, học vị, họ và tên, chữ ký)

Trang 3

Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2003

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

MSHV: ĐCKS12 - 004

I TÊN ĐỀ TÀI: Vai trò của lịch sử phát triển địa chất và điều kiện cổ địa lý

trong Đệ Tứ đối với sự hình thành chất lượng nước các tầng Pleistocen ở Đồng bằng Sông Cửu Long

II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:

- Thu thập tài liệu liên quan đến các vấn đề nghiên cứu, xử lý, phân tích các tài liệu

- Nêu được lịch sử phát triển địa chất và cổ địa lý trong Đệ Tứ trên cơ sở những phát hiện mới của các nhà khoa học

- Giải thích được vai trò của lịch sử phát triển địa chất và cổ địa lý trong Đệ Tứ đối với sự hình thành chất lượng nước trong tầng Pleistocen ở Đồng bằng Sông Cửu Long

- Tìm ra quy luật phân bố nước nhạt, lợ, mặn trong tầng Pleistocen ở Đồng bằng Sông Cửu Long, lập các bản đồ chuyên ngành

III NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 10/02/2003

IV NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 10/09/2003

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN CHỦ NHIỆM NGÀNH BỘ MÔN QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH

Nội dung và đề cương luận văn thạc sĩ đã được Hội Đồng Chuyên Nhành thông qua

Trang 4

Lời cảm ơn

-Trãi qua 2 năm học tập, đến nay tôi đã hoàn thành chương trình Cao học, tôi thực sự biết ơn gia đình, thầy cô, bè bạn đã dành cho tôi nhiều tình cảm, chỉ bảo động viên để tôi có thời gian, điều kiện, niềm tin và nghị lực học tập, nâng cao trình độ bản thân năng lực công tác Cảm ơn tình thương yêu của bố mẹ đã cho con niềm tin và nghị lực để con có thể tiếp tục con đường học tập, rèn luyện và trưởng thành

Lời đầu tiên, cho tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với thầy TS.Nguyễn Việt Kỳ, người đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này Cảm ơn các thầy cô trong khoa Địa chất – Dầu Khí, Trường Đại học Bách Khoa Cảm ơn các thầy cô đã giảng dạy tôi trong 2 năm qua

Tôi xin trân trọng cảm ơn Thầy TS Đỗ Tiến Hùng, cảm ơn các cô chú, anh chị thuộc Liên Đoàn Địa chất Thủy văn – Địa chất Công trình Miền Nam đã nhiệt thành giúp đỡ tôi trong thời gian tôi học tập và thực hiện Luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn các cô chú, anh chị thuộc Liên đoàn Bản đồ Địa chất Miền Nam Cảm ơn tất cả các cơ quan, đơn vị đã giúp đỡ tôi trong công tác thu thập tài liệu

Tôi xin trân trọng cảm ơn Bộ môn Địa Kỹ Thuật đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi để tôi vừa hoàn thành nhiệm vụ của một Cán bộ giảng dạy, vừa hoàn thành chương trình cao học, cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, cảm ơn các Thầy, Cô đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn

UUU

Trang 5

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ

Luận văn bao gồm 135 trang đánh máy vi tính, trong đó có 36 bảng vẽ, hình ảnh minh hoạ, 19 biểu bảng, 20 tài liệu tham khảo Nội dung của luận văn bao gồm:

Phần mở đầu: Nêu tổng quan về đề tài, mục đích, nhiệm vụ của đề tài, những

điểm mới, cơ sở khoa học và ý nghĩa khoa học - thực tiễn của đề tài

Chương I: Nêu đặc điểm địa lý, tự nhiên, xã hội vùng nghiên cứu Trong đó có

một bản đồ được biên hội mới (Hình I.1)

Chương II: Nêu lịch sử nghiên cứu địa chất, địa chất thủy văn, địa chất công

trình vùng nghiên cứu

Chương III: Nêu đặc điểm địa chất vùng nghiên cứu Những đặc điểm này kết

hợp với tài liệu thực tế, tài liệu lỗ khoan tác giả thu thập được để xây dựng các bản đồ chuyên ngành, làm cơ sở khoa học để giải quyết những luận điểm cần bảo vệ

Chương IV: Nêu lên lịch sử phát triển địa chất và cổ địa lý vùng nghiên cứu

Trong chương này có 7 Sơ đồ tướng đá - Cổ địa lý (hình IV.1-IV.7) từ Pliocen muộn đến Holocen sớm-giữa được tác giả biên hội lại làm cơ sở cho những luận điểm chính của luận văn

Chương V: Nêu đặc điểm địa chất thủy văn vùng nghiên cứu, trong đó nêu khá

chi tiết về 2 tầng chứa nước Pleistiocen hạ và giữa-muộn Trong chương này có

5 mặt cắt địa chất thủy văn được tác giả biên hội lại nhằm minh hoạ cho các giải thích trong luận văn

Chương VI: Là chương chính của luận văn, trong chương này tác giả đã vận

dụng nhiều nguồn tài liệu làm cơ sở khoa học giải thích sự hình thành chất lượng nước các tầng Pleistocen Có 4 hình vẽ (trong đó có 2 hình được tác giả vẽ, 2 hình sưu tầm), 5 mặt cắt địa chất thủy văn và 13 bản đồ được tác giả biên hội và xây dựng lại Các bản đồ này có thể được ứng dụng vào công tác quản lý và khai thác bền vững nước dưới đất Đồng bằng sông Cửu Long phục vụ dân sinh

Trang 6

MỞ ĐẦU

a Tổng quan về đề tài

Đặc điểm địa chất thủy văn nói chung, sự phân bố chất lượng nước nói

riêng khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long rất phức tạp Những hiểu biết đầy đủ

về nước dưới đất sẽ giúp chúng ta rút ra được những kết luận về nguồn gốc, quy

luật hình thành, và sự phân bố của chúng để từ đó đề ra những biện pháp khai

thác kinh tế và hiệu quả nhất nhằm đáp ứng nhu cầu về nước sạch đang ngày

càng trở thành công việc quan tâm hàng đầu không những của địa phương mà của

cả quốc gia, của cả khu vực và thế giới

Đối với xã hội ta, việc nghiên cứu chi tiết nước dưới đất càng trở nên quan

trọng khi vấn đề nước sạch phục vụ nhân sinh đang ngày trở nên vấn đề bức thiết,

đặc biệt là các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long Tìm ra được quy luật phân bố

nước dưới đất các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long có ý nghĩa cực kỳ to lớn trong

công cuộc xây dựng và phát triển đất nước

Trước đây, đã có những nghiên cứu về sự hình thành chất lượng nước ở các

tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long, nhưng do mức độ nghiên cứu về địa tầng chưa

được chi tiết dẫn đến kết qủa nghiên cứu về chất lượng nước bị ảnh hưởng ít

nhiều về tính chính xác, khách quan

Trong những năm qua, với sự đầu tư của nhà nước và trình độ khoa học kỹ

thuật phát triển mạnh mẽ, đặc điểm địa chất Đồng bằng Sông Cửu Long đã được

nghiên cứu khá chi tiết, nhiều vấn đề đã được làm sáng tỏ hơn, điều này thực sự

có ý nghĩa trong công tác nghiên cứu địa chất thủy văn và nhiều công tác khác

Trang 7

Trên quan điểm đó, đề tài “Vai trò của lịch sử phát triển địa chất và

điều kiện cổ địa lý trong Đệ Tứ đối với sự hình thành chất lượng nước các

tầng Pleistocen ở Đồng bằng Sông Cửu Long” sẽ vận dụng những khía cạnh,

quan điểm mới về đặc điểm địa chất để giải thích việc hình thành chất lượng

nước trong tầng Pleistocen ở Đồng bằng Sông Cửu Long, làm tiền đề cho công

tác nghiên cứu ở các tầng chứa nước khác Đồng thời góp phần khẳng định về

nguồn gốc nước dưới đất của các tầng Pleistocen nói riêng, các tầng chứa nước

khác nói chung ở Đồng bằng sông Cửu Long

b Mục đích và nhiệm vụ của đề tài là:

- Nêu được lịch sử phát triển địa chất và cổ địa lý trong Đệ Tứ trên cơ sở

những phát hiện mới của các nhà khoa học

- Giải thích được vai trò của lịch sử phát triển địa chất và cổ địa lý trong Đệ

Tứ đối với sự hình thành chất lượng nước trong các tầng Pleistocen ở Đồng bằng

Sông Cửu Long

- Tìm ra quy luật phân bố nước nhạt, lợ, mặn trong tầng Pleistocen ở Đồng

bằng Sông Cửu Long

c Những điểm mới của đề tài:

- Sử dụng những kiến thức mới về lịch sử phát triển địa chất và cổ địa lý

trong Đệ Tứ của các nhà địa chất trong và ngoài nước để giải quyết vấn đề chất

lượng nước thuộc địa chất thủy văn ở Đồng bằng Sông Cửu Long

- Giải thích được vai trò của lịch sử phát triển và cổ địa lý Đệ Tứ trong việc

hình thành chất lượng nước trong các tầng Pleistocen ở Đồng bằng Sông Cửu

Long

Trang 8

- Tìm ra quy luật phân bố nước nhạt, lợ, mặn trong tầng Pleistocen ở Đồng

bằng Sông Cửu Long

d Cơ sở tài liệu và ý nghĩa khoa học thực tiễn của đề tài:

Cơ sở tài liệu: Đề tài của luận án được xây dựng trên cơ sở:

9 Tài liệu địa chất của Liên đoàn bản đồ địa chất Miền Nam

9 Tài liệu địa chất thủy văn của Liên đoàn Địa chất Thủy văn – Địa chất Công

trình Miền Nam

Tp.HCM và khoa Địa chất Trường Khoa học Tự nhiên TP.HCM

9 Tài liệu của các Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thuộc vùng Đồng

bằng Sông Cửu Long

Ýù nghĩa khoa học thực tiễn của đề tài:

Ýù nghĩa khoa học:

9 Giải thích vai trò của lịch sử phát triển địa chất và cổ địa lý trong Đệ Tứ đối

với sự hình thành chất lượng nước tầng Pleistocen (nhạt, lợ, mặn)

9 Aùp dụng kết quả nghiên cứu này với các đồng bằng có lịch sử phát triển điều

kiện hình thành tương tự

Ýù nghĩa thực tiễn:

9 Giúp cho việc quản lý và khai thác nước dưới đất ở Đồng bằng Sông Cửu

Long bền vững

e Phương pháp nghiên cứu

9 Nghiên cứu, vận dụng các cơ sở lý thuyết

Trang 9

9 Phương pháp phân tích lịch sử phát triển địa chất

9 Phương pháp cổ địa lý

9 Lý thuyết địa chất thuỷ văn, địa chất công trình, lý thuyết động lực học nước

dưới đất

9 Các phương pháp địa chất thủy văn thông thường

9 Thu thập tài liệu có liên quan đến đề tài, kế thừa các kết quả nghiên cứu, tổng

hợp, phân tích tài liệu thu thập được

9 Sử dụng các phần mềm tin học về địa chất, địa chất thủy văn

9 Phương pháp đồ thị, thống kê

Trang 10

CHƯƠNG I

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ, TỰ NHIÊN, XÃ HỘI

VÙNG NGHIÊN CỨU I.1 Vị trí địa lý

Đồng bằng Sông Cửu Long nằm phía Đông Nam Bán đảo Đông Dương là

vùng cực Nam của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam giới hạn bởi toạ

độ địa lý:

Từ 8°34’ đến 11°02’: vĩ độ Bắc

Từ 104°27’ đến 106°48’: kinh độ Đông

Diện tích 39560 Km2 ,vùng Đồng bằng Sông Cửu Long giáp ranh phía Bắc

với Campuchia và tiếp nối với vùng đất liền Đông Nam Bộ qua các tỉnh Tây

Ninh, Bình Dương, TP.HCM, phía Đông và Phía Nam giáp Biển Đông và phía

Tây giáp vịnh Thái Lan

Vùng nghiên cứu có 12 đơn vị hành chánh gồm các tỉnh Cà Mau, Bạc

Liêu, Kiên Giang, Sóc Trăng, Cần Thơ, An Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng

Tháp, Bến Tre, Long An,Tiền Giang (Hình I.1)

I.2 Đặc điểm địa hình

Địa hình khu vực nghiên cứu có hướng nghiêng dần từ Đông Bắc xuống

Tây Nam Vùng nằm giữa hai sông Vàm Cỏ và Sài Gòn có độ cao 7-15m, phần

còn lại có độ cao nhỏ hơn 5m

Địa hình khu vực nghiên cứu bị chia cắt bởi các con sông lớn: Vàm Cỏ

Đông, Vàm Cỏ Tây, Tiền Giang và Hậu Giang cùng mạng lưới kênh rạch Trong

khu vực tồn tại những vùng có địa hình thấp trũng thường bị triều ngập như U

Minh, Năm Căn và các vùng ven biển Các đồng trũng thường bị ngập lụt: Tứ

Trang 11

Trong khu vực nghiên cứu có những núi cao ở Ba Thê, Núi Sập (104m),

Bảy Núi, Cô Tô (658m), núi Sam (270m)

I.3 Đặc điểm khí hậu

Khí hậu khu vực nghiên cứu mang tính chất khí hậu gió mùa cận xích đạo

Các yếu tố khí hậu như độ ẩm không khí, bốc hơi, nắng, bức xạ, nhiệt độ tuy thay

đổi theo mùa nhưng tương đối ổn định từ năm này qua năm khác và ít thay đổi

theo không gian

Mưa và gió là yếu tố không ổn định trong từng năm và biến động nhiều

theo không gian

Khí hậu khu vực nghiên cứu chia làm hai mùa rõ rệt trong năm:

Mùa mưa: Từ tháng 5 đến 10, lượng mưa rơi chiếm 90-94% lượng mưa cả

năm, trong lúc lượng bốc hơi chiếm 47-60%, độ ẩm không khí 70-80% Lượng

mưa rơi cao nhất vào tháng 8 và tháng 9

Lượng mưa trung bình năm vùng Rạch Giá – Hà Tiên: 1604 mm và ở Sóc

Trăng- Cà Mau là 1976 mm

Nhiệt độ trung bình năm từ 24-27oC, cao nhất từ tháng 3 đến tháng 6 và

thấp nhất từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau Độ lệch giữa giá trị trung bình cao

nhất và thấp nhất khoảng 3-4oC

Hướng gió: Mùa khô gió thổi theo hướng Đông và Đông Bắc, mùa mưa gió

thổi theo hướng Nam, Đông Nam và Tây Nam Vận tốc gió trung bình 2,3-3 m/s

I.4 Đặc điểm thủy văn

Trong khu vực nghiên cứu chịu tác động chủ yếu bởi hệ thống sông Mê

Kông

Trang 12

Sông Mê Kông chảy vào Việt Nam ở cửa ngõ Tân Châu và Châu Đốc

thành hai nhánh sông: Sông Tiền và Sông Hậu đổ ra biển trên chiều dài 450 km

theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Trước khi chảy ra biển đoạn hạ lưu sông Tiền

phân nhánh toả tia thành các sông Mỹ Tho, Cổ Chiên, Hàm Luông Nước sông

Tiền và Sông Hậu đổ ra biển bằng 9 cửa sông

Lưu lượng nước trên sông Tiền và sông Hậu đo được ở Tân Châu và Châu

Đốc chênh nhau rất lớn: 80% ở sông Tiền và 20% ở sông Hậu

Sau khi chảy đến Chợ Mới nước sông Tiền chảy qua Vàm Nao, nước dồn

vào sông Hậu thêm 30% Từ đó chảy về phía hạ lưu, lưu lượng nước chảy trên hai

sông tương đương nhau

Nước sông Mê Kông trước khi chảy vào Việt Nam được điều tiết qua Biển

Hồ (Campuchia) làm ảnh hưởng đến chế độ nước ở hạ lưu: Giảm lũ lụt vào cao

điểm mùa mưa và tăng nước vào mùa khô Lượng nước chảy về hạ lưu phân phối

chảy trên các sông nhánh đổ ra biển qua các sông theo tỷ lệ được trình bày ở

bảng 1

Lưu lượng nước đổ ra biển ở các cửa sông khác nhau do đó sự xâm nhập

mặn của nước biển ở trên các cửa sông cũng khác nhau Cao điểm mùa khô năm

1998 quan sát dược như sau: Nước xâm nhập mặn (1g/l), ở sông Hậu 30Km; sông

Mỹ Tho 70Km; sông Ba Lai 70Km; sông Cổ Chiên 60Km; sông Hàm Luông

Trang 13

I.5 Kinh tế – xã hội

I.5.1 Giao thông vận tải:

Đường bộ: Quốc lộ 1 chạy từ Bắc vào Nam qua thành phố Hồ Chí Minh, Mỹ

Tho, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau Ngoài ra còn có các tuyến liên tỉnh

như LT18 từ Cần Thơ đi Châu Đốc, LT21 từ Trà Vinh đi Sa Đéc, Rạch Giá, Hà

Tiên Đường bộ liên huyện, liên xã cũng được phát triển

Đường thủy: Hệ thống sông Mê Kông có thể giao lưu các phương tiện vận tải

lớn Mạng lưới sông nhỏ, kênh, rạch giao lưu với các vùng xa hẻo lánh bằng các

phương tiện từ hiện đại đến thô sơ Tại khu vực nghiên cứu giao thông đường

thuỷ rất phát triển

Đường hàng không: Đang xây dựng sân bay Cà Mau

I.5.2 Dân cư:

Dân số các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long xấp xỉ 17 triệu, chủ yếu dựa

vào nền kinh tế nông nghiệp và thủy hải sản, mức sống ở đây khá thấp, số lượng

sinh viên trên vạn dân khu vực này thấp nhất nước : 17,2 sinh viên/ vạn dân,

(thấp hơn cả Tây nguyên là 26,7 sinh viên/ vạn dân) Dân cư phân bố không đều,

tập trung chủ yếu ở các thành phố, thị xã, thị trấn ven trục lộ giao thông, các

vùng đất được khai phá sớm và điều kiện thiên nhiên ưu đãi gần gũi với các trung

tâm kinh tế phát triển Những năm gần đây các vùng đất mới được cải tạo dân cư

được phân bố lại, nhưng mật độ dân số vẫn còn chênh lệch quá xa giữa các vùng

Trang 14

Mật độ dân số trung bình là 430 người /km2 Sống trong vùng có một số dân tộc

khác nhau: Khơ Me, Chàm

I.5.3 Kinh tế:

Đồng bằng Sông Cửu Long đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của

cả nước, đặc biệt là khu vực phía Nam, là khu vực được xem là vựa gạo và là nơi

cung cấp thủy hải sản cho các tỉnh phía Nam

Khai thác hải sản phát triển nhất là đánh cá biển, cá sông, tôm Những

năm gần đây nghành đánh bắt và chế biến hải sản phát triển, sản phẩm xuất khẩu

đạt hiệu quả kinh tế cao, cải thiện được nguồn lao động đánh bắt, phát triển kinh

tế khu vực Điển hình như Năm Căn, Gành Hào, Cà Mau, Bình Đại, Ba Tri (Bến

Tre), Long Toàn, Gò Công (Tiền Giang) Ngoài ra, trong thời gian gần đây các

tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long đang tập trung phát triển các khu công

nghiệp, cảng biển, làm động lực để phát triển các ngành kinh tế khác

Trang 15

CHƯƠNG II

LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT, ĐỊA CHẤT THỦY VĂN, ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH

Từ lâu, vùng nghiên cứu nói riêng và toàn Miền Nam nói chung đã được các

nhà địa chất trong và ngoài nước nghiên cứu Tuy mức độ và kết qủa nghiên cứu

mỗi thời kỳ đều có những đặc điểm riêng, nhưng vẫn mang đặc thù cái sau kế

thừa và bổ sung cho cái trước do nguồn tài liệu ngày càng phong phú hơn Có thể

chia lịch sử nghiên cứu của vùng thành 2 giai đoạn với mốc thời gian là năm

1975

II.1 Giai đoạn trước năm 1975

Về nghiên cứu địa chất

Trước năm 1975, Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và bán đảo Đông

Dương nói chung đã được các nhà địa chất Pháp nghiên cứu Các công trình đã

được công bố và hiện vẫn còn lưu trữ có thể kể ra như sau:

Năm 1932, Jacov Ch Với tờ bản đồ địa chất Đông Dương tỷ lệ 1: 500.000

Năm 1937, Saurin E và Lacroix A thành lập tờ bản đồ địa chất Sài Gòn tỷ

lệ 1: 500.000

Năm 1942, Fromaget J cho ra đời tờ bản đồ địa chất Đông Dương tỷ lệ

1:500.000

Năm 1962, Saurin E chỉnh lý và phát hành lại tờ bản đồ địa chất Đông

Dương tỷ lệ 1:500.000

Nhìn chung, giai đoạn này các công trình nghiên cứu còn ít, sơ lược và đều

do các nhà địa chất Pháp tiến hành Tuy nhiên các kết quả nghiên cứu đã phân

chia và định tuổi được các thang địa tầng địa chất, tạo điều kiện thuận lợi và làm

cơ sở cho các giai đoạn nghiên cứu tiếp theo

Trang 16

Về nghiên cứu địa chất thủy văn, địa chất công trình

Công tác này trước đây chưa được nghiên cứu có hệ thống, mà chỉ tập

trung vào các công trình đơn lẻ phục vụ cho các nhu cầu cấp nước và xây dựng

Các tài liệu này hiện nay đã bị thất lạc, hoặc còn lưu trữ nhưng nằm rải rác ở một

số nơi Kết quả nghiên cứu rất nghèo nàn và thiếu chính xác về các thông tin địa

tầng, địa chất thủy văn nên việc sử dụng hạn chế

II.2 Giai đoạn từ 1975 đến nay

Sau ngày đất nước thống nhất, Đảng và Nhà nước rất chú trọng đến công

tác điều tra địa chất, địa chất thủy văn, địa chất công trình ở Đồng bằng Sông

Cửu Long cũng như trong phạm vi Miền Nam và cả nước Các công trình được

nghiên cứu một cách bài bản và có hệ thống từ tỷ lệ nhỏ đến tỷ lệ lớn với mục

đích làm sáng tỏ các điều kiện địa chất, địa chất thủy văn, địa chất công trình

trong từng vùng và khu vực để phục vụ công tác quy hoạch lãnh thổ Trong đó

đáng kể nhất là các công trình nghiên cứu sau:

Về địa chất

Năm 1976-1982, Đoàn địa chất 500 thuộc Liên đoàn bản đồ Địa chất (cũ)

đã tiến hành khảo sát và chỉnh lý tờ bản đồ địa chất Việt Nam tỷ lệ 1:500.000 do

Nguyễn Xuân Bao chủ biên

Từ năm 1980-1991, Đoàn địa chất 204 thuộc Liên đoàn Địa chất 6 (cũ) đã

thành lập bản đồ địa chất nhóm tờ Đồng bằng Nam Bộ tỷ lệ 1:200.000

Trang 17

Năm 1992, Liên đoàn bản đồ địa chất 6 (nay là Liên đoàn bản đồ địa chất

Miền Nam) tiến hành hiệu đính loạt tờ bản đồ địa chất toàn Miền Nam tỷ lệ

1:200.000

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã làm sáng tỏ được điều kiện địa

chất của vùng, đã phân chia được khá chi tiết về thang địa tầng và tuổi địa chất,

làm cơ sở cho việc thành lập các bản đồ địa chất thủy văn Việt Nam tỷ lệ

1:500.000 và bản đồ địa chất thủy văn, địa chất công trình tỷ lệ 1:200.000 cho

vùng Đồng bằng Nam Bộ Hiện nay nó vẫn là các tài liệu chính để các giai đoạn

nghiên cứu tiếp theo lấy đó làm nền thành lập các loại bản đồ tỷ lệ lớn hơn

Về địa chất thủy văn, địa chất công trình

Năm 1976, Nguyễn Thượng Hùng, Phạm Kim Hinh, Ngô Ngọc Cát, Phạm

Chín đã thành lập bản đồ phong phú nước ngầm phần miền Nam, tỷ lệ

1:1.000.000 Trên cơ sở đó, các tác giả đã sơ bộ phân chia được các phân vị địa

tầng chứa nước và mức độ phong phú nước ngầm Nam Bộ một cách khái quát

Năm 1983, Đoàn 500N đã thành lập bản đồ địa chất thủy văn Việt Nam tỷ

lệ 1:500.000 do Trần Hồng Phú chủ biên Kết quả nghiên cứu đã phân chia được

các tầng và tầng chứa nước cũng như các thông số địa chất thủy văn cho từng

vùng, tạo tiền đề thuận lợi cho các giai đoạn nghiên cứu tiếp theo

Năm 1992, Liên đoàn 8 (nay là Liên đoàn địa chất thủy văn-địa chất công

trìng Miền Nam) thành lập bản đồ địa chất thủy văn-địa chất công trình tỷ lệ

1:200.000 cho đồng bằng Nam Bộ do kỹ sư Bùi Thế Định chủ biên, bộ bản đồ

này đã phân chia rõ thêm các đơn vị địa tầng địa chất thủy văn (ĐCTV) của bản

đồ tỷ lệ 1:500.000, và đặt nền móng đầu tiên về công tác địa chất công trình

Trang 18

(ĐCCT) cho toàn khu vực Đây là tài liệu cơ bản định hướng cho công tác lập bản

đồ địa chất thủy văn-địa chất công trình cho các vùng trong khu vực nghiên cứu

Năm 1988, kỹ sư Phạm Văn Giắng chủ biên đã thành lập báo cáo thăm dò

sơ bộ nước dưới đất vùng Rạch Giá Kết quả đã chỉ ra những đối tượng có khả

năng cấp nước, đồng thời định hướng cho công tác khai thác nước ngầm một cách

hiệu quả, tránh được những ảnh hưởng xấu làm phá hủy tầng chứa nước

Năm 1995, đề án xây dựng mạng lưới quan trắc quốc gia phần đồng bằng

Nam Bộ được thành lập do kỹ sư Trần Văn Lã chủ biên Tài liệu của hệ thống

quan trắc này làm cơ sở tin cậy cho nhiều luận điểm của luận văn, và làm cơ sở

để xây dựng các bản đồ chuyên ngành của luận văn

Cũng trong năm 1995, đề án nghiên cứu nước sâu vùng Nam Bộ ra đời do

kỹ sư Nguyễn Quốc Dũng chủ biên Kết quả nghiên cứu của đề án đã cho thấy rõ

quy mô phân bố của các tầng chứa nước trong khu vực, đặc biệt đã tìm ra nguồn

trữ lượng khai thác phong phú nhằm giải quyết nguồn nước sạch phục vụ nhân

sinh

Năm 1999, Liên đoàn ĐCTV-ĐCCT Miền Nam đã hoàn thành việc nghiên

cứu địa chất cho các đô thị Long Xuyên, Rạch Giá, Hà Tiên do kỹ sư Lương

Quang Lân chủ biên Năm 2002, báo cáo lập bản đồ ĐCTV-ĐCCT tỷ lệ 1:50.000

vùng Rạch Giá-Thốt Nốt do Vũ Bình Minh chủ biên đã được nghiệm thu

Cũng trong những năm gần đây, chương trình nước sạch nông thôn do

UNICEF bảo trợ đã khoan nhiều lỗ khoan cấp nước nhỏ cho các cụm dân cư trên

đồng bằng Các cơ quan, xí nghiệp có thiết bị khoan khai thác đã khoan hàng

trăm giếng khoan khai thác công nghiệp, giải quyết yêu cầu về nước trong nhịp

Trang 19

độ phát triển của kinh tế hiện nay Nguồn tài liệu này đã bổ sung cho các lỗ

khoan chuẩn

Đặc biệt gần đây còn có những nghiên cứu riêng biệt về thủy địa hoá về

ĐBSCL của Trần Hồng Phú, luận án phó tiến sĩ của Hòang Văn Hưng, Luận án

phó tiến sĩ của Nguyễn Việt Kỳ, của Đỗ Tiến Hùng cũng đề cập và nghiên cứu

khá kỹ đến các tầng chứa nước N2 – QI, QI-III bên cạnh đó Tiến sĩ Nguyễn Văn

Lập đã và đang nghiên cứu chi tiết về địa tầng tầng QIV và sẽ nghiên cứu tiếp các

tầng QI-III một số tỉnh thuộc vùng nghiên cứu Tháng 3 năm 2003, đề tài cấp Bộ

“Cơ chế hình thành các đới nhiễm mặn nước dưới đất vùng Bắc Sông Tiền” do

TS Nguyễn Việt Kỳ và TS Đỗ Tiến Hùng làm chủ đề tài đã được nghiệm thu

Và hiện tại, đề án N-Q Đồng Bằng Nam Bộ là đề án cấp nhà nước đang được

thực hiện bởi Liên đoàn Bản đồ địa chất Miền Nam và Liên đoàn Địa chất thủy

văn-Địa chất công trình Miền Nam

Nhìn chung, các nghiên cứu phục vụ cho mục đích tìm kiếm thăm dò và

khai thác nguồn tài nguyên này, sau đó đã có những nghiên cứu về sự hình thành

chất lượng nước ở các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long, nhưng do mức độ nghiên

cứu về địa tầng chưa được chi tiết dẫn đến kết qủa nghiên cứu về chất lượng nước

bị ảnh hưởng ít nhiều về tính chính xác, khách quan Trong đó khi nói đến thành

phần hóa học nước dưới đất, nhất là về sự hình thành các đới nhiễm mặn, trước

tiên phải xuất phát từ nguồn gốc của nước dưới đất – một vấn đề hiện nay còn

nhiều tranh cãi mặc dù số lượng tài liệu thực tế ngày càng nhiều Có thể nêu 2

quan điểm để giải thích về nguồn gốc nước dưới đất ở đây: quan điểm thứ 1 cho

rằng nước dưới đất vẫn thường xuyên được bổ sung, quan điểm này được Nguyễn

Thượng Hùng đề xướng và nhiều người khác ủng hộ Quan điểm thứ 2 cho rằng

nước dưới đất đồng bằng Tây Nam bộ có nguồn gốc chôn vùi, quan điểm này

Trang 20

thuộc các tác giả như Nguyễn Kim Cương, Nguyễn Kim Ngọc, Hoàng Văn Hưng

Trong các nghiên cứu sau này, nhờ vào sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ

thuật với sự hỗ trợ của hệ thống các thiết bị cũng như tài liệu chi tiết hàng ngàn lỗ

khoan, nhiều khúc mắc đã được làm sáng tỏ Trong đó, các tác giả đều thừa nhận

sự tác động mạnh mẽ của các đợt biển tiến, biển lùi trong việc hình thành chất

lượng nước dưới đất, và nhờ vào nguồn tài liệu phong phú từ hàng ngàn lỗ khoan,

lịch sử phát triển khu vực được tái hiện khá chi tiết, điều này thực sự có ý nghĩa

trong công tác nghiên cứu địa chất thủy văn và nhiều công tác khác

Trang 21

CHƯƠNG III

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG III.1 ĐỊA TẦNG

Hệ Jura, thống hạ, hệ tầng Đray Linh (J 1đl )

Hầu hết các lỗ khoan trong vùng không bắt gặp các trầm tích của hệ tầng

này Ở phía Tây và Tây Bắc, tại LK222 gặp phần mái của hệ tầng ở độ sâu

302,0m Thành phần là bột kết màu xám xanh trong chứa can- xít

Quan hệ dưới không rõ, quan hệ trên bị phủ bất chỉnh hợp lên trên tầng

trầm tích của hệ tầng Phụng Hiệp ( N13ph ) Chiều dày thấy được 8m

Hệ Jura, thống thượng, hệ tầng Long Bình (J 3lb)

Chúng không lộ ra trên mặt, dưới sâu bắt gặp duy nhất trong LKS60 (Thị trấn Hồng Ngự - Đồng Tháp) Thành phần chủ yếu là phun trào Đacit màu

xám tro, xám xanh ở phía Đông Bắc, ngay tại LK822 ở độ sâu từ 240,0 -248,0m

Thành phần đá gồm Anđecit và tuf của chúng có màu xám xanh tới xám sẫm Đá

có cấu tạo khối, kết cấu vững chắc Bề dày khoảng 100m

Ranh giới dưới chưa rõ, phía trên chúng bị các trầm tích Neogen phủ bất

chỉnh hợp lên trên

Hệ Neogen, thống Miocen, phụ thống trung - thượng, hệ tầng Bến Tre (N 1 2-3bt)

Trong vùng, duy nhất gặp trầm tích của hệ tầng tại lỗ khoan 218 (bệnh

viện đa khoa Bến Tre) ở độ sâu 560,5m Mặt cắt quan sát được của hệ tầng bao

gồm: dưới là cát kết hạt mịn màu xám sáng xen các tập sét kết, bột kết màu xám

xanh, xám nâu, chuyển lên trên là cát kết hạt vừa tới mịn màu xám nhạt, xám

Trang 22

vàng Rải rác trong mặt cắt phát hiện các bào tử phấn hoa: Florschuetzia levipoli,

Picea sp.Juglans sp.Betula sp

Ngoài rìa phía Nam của vùng, hệ tầng Bến Tre còn gặp trong các lỗ khoan

CL.1 tại Trà Cú, HG.1 tại Phụng Hiệp Nhìn chung thành phần mặt cắt trong các

lỗ khoan này so với LK218 không khác biệt nhiều, thường chúng phân bố ở độ

sâu 600m tới 900m tăng dần về phía Nam, Đông Nam Ranh giới dưới chưa phát

hiện rõ, ranh giới trên bị hệ tầng Phụng Hiệp phủ bất chỉnh hợp lên trên

Bề dày thấy được khoảng 70m, chiều dày chung toàn vùng khoảng

200,0m Hệ tầng được định tuổi vào Miocen giữa-muộn dựa vào bào tử phấn hoa

Hệ Neogen, thống Miocen, phụ thống thượng, hệ tầng Phụng Hiệp ( N 1 3ph )

Hệ tầng được xác định dựa trên lỗ khoan HG.1 tại thị trấn Phụng Hiệp

Trong vùng, có hai lỗ khoan khống chế hết chiều dày của hệ tầng ở các độ sâu:

446,0m - 560,5m ( LK218 ), 231,0-286,5m ( LK222 ) Thành phần trầm tích từ

dưới lên gồm 3 tập:

Tập 1: chủ yếu là hạt thô cuội kết, cát kết màu vàng nhạt, phớt hồng phân

lớp vừa tới dày ở một số lỗ khoan trong tập này có hóa thạch Foraminifera và

các tập bào tử phấn hoa Bề dày khoảng 94m Lớp đáy của tập nằm trên bề mặt

bào mòn của hệ tầng Bến Tre

Tập 2: chủ yếu gồm các tập cát kết hạt mịn xen các thấu kính sét, bột kết

chứa vôi màu nâu phân lớp mỏng Bề dày thay đổi từ 80,0-100,0m

Tập 3: phổ biến hạt mịn gồm sét, sét-bột màu vàng nâu loang lổ trắng

chứa ít kết vón laterir dạng hạt đậu Thành phần khoáng vật chủ yếu là kaolin và

ilit Bề dày thay đổi từ 30-60m Tập này bị các trầm tích Cần Thơ phủ bất chỉnh

hợp lên trên Bề dày chung của hệ tầng thay đổi trong khoảng 100-250m

Trang 23

Hệ Neogen, thống Pliocen, phụ thống hạ, hệ tầng Cần Thơ ( N 2 1ct )

Hầu hết các lỗ khoan trong vùng đều khống chế hết chiều dày các trầm

tích của hệ tầng này ở các độ sâu: 151,0 - 190,0m ( LKS60 ), 352,0 - 446,0m

(LK218), 195,0 - 266,0m ( LK027 ), 154,0 - 231,0m ( LK222 ), 294,7 - 396,5m

(LK31) và 231,6-334,0m ( LK325 )

Ơû phía Tây Bắc, tại LKS60 mặt cắt từ dưới lên gồm: dưới là cát bột màu

xám loang lổ gắn kết chặt trong chứa cacbonat, oxyt sắt, chuyển lên trên là bột

sét màu xám, nâu vàng loang lổ chứa sạn laterit màu nâu đen cứng chắc

Ơû phía Đông Nam, tại LK218, mặt cắt từ dưới lên gồm 2 tập:

Tập 1: (405,0 - 446,0m ): cát mịn lẫn ít bột màu xám, xám xanh bở rời,

chuyển lên trên là sét, cát bột và bột màu vàng nâu, nâu sẫm đến phớt tím nhạt

đôi chỗ kẹp lớp bột mỏng

Tập 2: ( 352,0 - 405,0m ): phần dưới là cát mịn-trung xám xanh dạng bở

rời, chuyển lên trên là cát bột xám xanh chứa kết hạch vôi màu xám trắng, trên

cùng là sét bột màu nâu đỏ loang lổ đốm trắng chưa kết hạch vôi

Qua các tuyến mặt cắt vùng cho thấy các trầm tích có cấu tạo dạng nhịp,

phần dưới mỗi nhịp là các trầm tích hạt thô, chuyển lên là các trầm tích hạt mịn

hơn Các trầm tích hạt thô chiếm khối lượng chính của hệ tầng Bề dày của hệ

tầng thay đổi từ 39,0 - 111,0m

Hệ tầng Cần Thơ phủ bất chỉnh hợp lên trên các trầm tích của hệ tầng

Phụng Hiệp, phía trên bị phủ bởi các trầm tích của hệ tầng Năm Căn

Hệ Neogen, thống Pliocen, phụ thống thượng, hệ tầng Năm Căn (N 2 2nc )

Trang 24

Hệ tầng Năm Căn được xác lập trên cơ sở nghiên cứu mặt cắt qua LK216

tại thị trấn Năm Căn - Cà Mau Khi liên hệ với các lỗ khoan trong vùng cho thấy

các trầm tích của hệ tầng Năm Căn phân bố ở các độ sâu: 193,0 - 272,0m

(LK301), 193,5-250,0m (LKS72), 121,0 - 195,0m (LK027), 63,5 - 154,5m

(LK222), 108,0 -151,0m (LKS60), 210,0 - 310,0m (LK219), 225,0 - 349,0m

(LK42), 230,5 - 352,0m (LK218), 220,0 - 330,0m (LK219), 185,5- 294,7m

(LK31)

Ơû khu vực phía tây, tại LKS72 mặt cắt cho thấy từ dưới lên gồm 4 tập:

Tập 1: (238,5 - 250,0m): phần dưới là cát mịn trung màu xám lục trong xen

kẹp bột sét, chuyển lên là bột sét xám vàng

Tập 2: (193,5 - 238,5m): phần dưới là cát mịn trung xám tro, bở rời,

chuyển lên là cát mịn xen kẹp bột cát, trên cùng là sét bột xám vàng, đốm trắng

Ơû khu vực phía Đông Nam, mặt cắt tại LK218 từ dưới lên gồm 3 tập:

Tập 1: ( 313,0 - 352,0m ): cát bột, bột cát xen kẹp màu xám xanh

Tập 2: (285,0 - 313,0m): phần dưới là cát mịn xen kẹp bột màu xám xanh,

chuyển lên là sét bột vàng đốm trắng, trên cùng là cát mịn lẫn bột màu xám

xanh

Ơû khu vực phía bắc, tại LK222 mắt cắt từ dưới lên gồm 3 tập:

Tập 1: ( 137,0 - 154,5m ): cát chứa sạn, sỏi, cuội xám xanh, xám tro,

chuyển dần lên là bột cát mịn xám xanh lẫn ít sạn dính kết yếu

Tập 2: ( 123,5 - 137,0m ): phần dưới là cát hạt trung lẫn ít cuội, sỏi, thạch

anh, cácbonat, chuyển lên trên là cát bột, bột cát xám xanh, phớt lục

Trang 25

Tập 3: ( 63,0 - 123,5m ): phần dưới là cát mịn-trung màu xám lục nhạt,

xám xanh, phần trên là cát trung thô chứa sạn, sỏi thạch anh, silic Trên cùng là

sét cát, cát pha sét loang lổ xám xanh, xám trắng chứa kết hạch sắt, kết hạch vôi,

cấu tạo khối rắn chắc

Qua tuyến mặt cắt từng lỗ khoan và các mặt cắt chung cho toàn vùng cho

thấy: phần dưới cùng của hệ tầng là các trầm tích hạt thô, ở khu vực phía Bắc

trong cát chứa nhiều sạn, sỏi, càng dần về phía Đông, Đông Nam, thành phần cát

tương đối đồng nhất có độ chọn lọc tốt trong xen kẹp ít lớp bột mỏng dạng thấu

kính

Các trầm tích hạt thô chiếm khối lượng chính của hệ tầng, các trầm tích

hạt mịn chiếm tỷ lệ ít hơn, trên cùng là các lớp bột, sét bột hoặc bột sét bị phong

hóa laterit trong chứa nhiều kết hạch sắt Các trầm tích của hệ tầng có chiều dầy

không ổn định, dày nhất ở phía Đông, Đông Nam Càng dần về phía trung tâm và

phía Bắc, Tây Bắc, chiều dày càng vát mỏng dần và hệ tầng có xu thế hạ thấp

dần theo hướng Tây Bắc xuống Đông Nam

Tại LK219 ở độ sâu 300,0 -316,0m, phát hiện được ít mảnh hóa thạch tảo

gồm các dạng ưa nước lợ, nước mặn như Streptotheca thamensis Rhizosolenia

sp…ở độ sâu 220,0m phát hiện được ít bào tử phấn hoa Theo Nguyễn Đức Tùng

tầng này có thể định tuổi Pliocen-Miocen (?) Bề dày trầm tích thay đổi từ 43,0 -

124,0m

Phía dưới hệ tầng Năm Căn phủ trên bề mặt bào mòn của hệ tầng Cần

Thơ, phía trên bị phủ bất chỉnh hợp bởi các trầm tích Đệ Tứ

Hệ Đệ Tứ, thống Pleistocen, phụ thống hạ, phần giữa, hệ tầng Bình Minh (Q 1 2bm)

Trang 26

Trong vùng, các trầm tích của hệ tầng này không lộ ra trên mặt, dưới sâu

chúng được bắt gặp trong các lỗ khoan dọc theo trục hệ thống sông Tiền ở các độ

sâu: 178,0 - 230,5m (LK21), 175,0 - 220,0m (LK219) và 201,0 - 280,0m (LK22)

Mặt cắt trong LK22 Mỏ Cày - Bến Tre, từ dưới lên gồm 2 tập:

Tập 1: (233,4 - 280,0m): đoạn từ 277,8 - 280,0m gồm cuội sỏi, sét màu

nâu vàng, gắn kết kém Cuội thành phần đa khoáng trong đó có nhiều mảnh

laterit, kết hạch vôi, phía trên là cát thạch anh màu xám xi măng phớt vàng, hạt

không đều (lẫn ít cuội sạn) Tập này phủ bất chỉnh hợp lên trên hệ tầng Năm

Căn

Tập 2: (201,0 - 233,4m): phía dưới là sét pha bột màu nâu, vàng loang lổ

trắng, trên là cát pha bột màu tím hồng phân lớp mỏng, trên cùng là lớp sét

(4,2m) Các khoáng vật sét trong phần trên gồm kaolinit, hydromica Bề dày

chung của mặt cắt khoảng 60-80m Căn cứ vào tướng thạch học và đặc điểm cổ

sinh, hệ tầng Bình Minh được xếp vào nguồn gốc sông, tướng lòng, cửa sông

Chiều dày của hệ tầng biến đổi từ 45 - 79,0m

Hệ Đệ Tứ, thống Pleistocen, phụ thống hạ, phần trên (Q 1 3 )

Trong phạm vi vùng nghiên cứu, các trầm tích ở khoảng này thuộc 2 kiểu

tướng trầm tích, do đó được xếp vào hai hệ tầng khác nhau

Hệ tầng Đất Cuốc, trầm tích sông ( aQ 1 3 đc )

-Long An ) Trong lỗ khoan này, mặt cắt hệ tầng được chia thành 2 tập:

Tập 1: ( 109,0 - 138,2m ): cát, sạn, sỏi, cuội màu nâu vàng với thành phần

thạch anh là chủ yếu, phía trên ít cát hạt trung màu vàng nghệ, rải rác có vảy

Trang 27

biotit, muscovit Tập này phủ bất chỉnh hợp trên bề mặt bào mòn của hệ tầng

Năm Căn Bề dày 29,2m

Tập 2: ( 87,0 - 109,0m ): sét bột màu đỏ hồng, loang lổ trắng, nâu vàng,

cấu tạo khối, phần trên chứa nhiều kết hạch oxyt sắt màu nâu đỏ, nâu đen ( đới

phong hóa cổ? ) Bề dày 22m

Chiều dày chung trong toàn vùng 51,2m

Hệ tầng Mỹ Tho, trầm tích sông, biển ( amQ 1 3 mt )

Hệ tầng Mỹ Tho được xác lập trên cơ sở tài liệu thu thập ở lỗ khoan 31 thị

xã Mỹ Tho Nó được mô tả là các trầm tích tương đương hệ tầng Cà Mau trong

công trình đo vẽ địa chất 1:200.000 nhóm tờ đồng bằng Nam Bộ ( Nguyễn Ngọc

Hoa và nnk, 1990 ) Mặt cắt phân làm 2 tập:

Tập 1: ( 113,0 - 153,6m ): từ 126,2 - 136,7m là cát hạt trung, từ 136,7 -

153,6m là cát hạt không đều chứa cuội sỏi màu xám nhạt, chuyển lên trên là bột

màu xám nhạt xen lớp mỏng cát mịn, bột cát, bột sét ở độ sâu 141,0m phát hiện

được hóa thạch Foramilifera gồm: Amphistegina cf lessoni A aff

mađagascarensis, Pseudorotalia sp., Operculina sp., Textularia sp., Siphonaperta

agglutilass Theo Ma Văn Lạc các giống loài trên thường gặp ở các khu vực biển

nông hoặc cửa sông So sáng tập hợp hóa thạch này với các tập hợp phát hiện

được ở các khu vực lân cận, nó được xếp vào Pliocen-Pleistocen sớm

Tập 2: ( 96,0 - 113,0m ): phần dưới là cát mịn-trung màu xám nhạt chứa

cuội đa khoáng, chuyển lên là bột sét màu xám phân lớp không rõ

Ngoài các Foraminifera phát hiện được trong tập 1, rải rác trong suốt mặt

cắt bắt gặp các tập hợp bào tử phấn hoa hết sức phong phú (tập trung nhiều nhất

ở đoạn 96,0 - 107,0m ) với ưu thế là các phấn hoa hạt kín và thân gỗ gồm:

Trang 28

Fagaceae sp., Fagus sp., Quercus sp., Q pubescens, Castanopsis sp., Sonneratia

sp Theo Nguyễn Đức Tùng thì tập hợp bào tử phấn hoa trên đại diện cho vùng

cận nhiệt đới ôn hòa và có thể xếp tuổi là Pleistocen sớm

Ngoài lỗ khoan 31, hệ tầng này còn phân bố trong các lỗ khoan ở rìa phía

Đông Bắc ở độ sâu từ 80m trở xuống

Hệ tầng Mỹ Tho phủ bất chỉnh hợp trên hệ tầng Bình Minh, có nơi phủ bất

chỉnh hợp lên trên hệ tầng Năm Căn, phía trên bị các trầm tích trẻ hơn phủ lên

trên

Chiều dày chung của hệ tầng trong toàn vùng 57,6m

Hệ Đệ Tứ, thống Pleistocen, phụ thống trung-thượng ( Q II-III )

Căn cứ vào đặc điểm thạch học, cổ sinh và quan hệ địa chất, trong vùng

(trong các lỗ khoan), các trầm tích của hệ tầng này được chia thành 3 hệ tầng:

Hệ tầng Long Toàn, trầm tích biển (m Q II-III lt )

Chúng chỉ bắt gặp trong các lỗ khoan ở các độ sâu: 80,0 - 96,0m ( LK31),

50,0 - 96,0m ( LK328 ) và 50,0 - 118,0m ( LK33 )

Thành phần trầm tích chủ yếu là hạt mịn cát bột sét màu nâu vàng, xám

sáng Trong phần thấp mặt cắt thường có lẫn ít cuội, sạn

Mặt cắt tại LK31, từ dưới lên gồm: phần dưới là cát hạt mịn đến thô màu

xám nhạt lẫn nhiều sỏi, cuội, chuyển lên trên là bột cát màu xám nhạt phân lớp

mỏng nằm ngang, trên cùng là cát mịn trung màu xanh nhạt chứa cuội sỏi và thực

vật hóa than

Trang 29

Hệ tầng Long Toàn phủ bất chỉnh hợp lên hệ tầng Mỹ Tho và phía trên bị

phủ bất chỉnh hợp bởi hệ tầng Mộc Hóa Chiều dày chung của hệ tầng biến đổi từ

16-68,0m

Hệ tầng Thủy Đông, trầm tích sông, biển (am Q 1I-III tđ )

Trong vùng các trầm tích của hệ tầng chỉ bắt gặp trong các lỗ khoan ở độ

sâu: 48,0 - 104,0m ( LK21 ), 74,5 - 128,5m ( LK218 ), 84,0 - 130,0m ( LK22 ) và

86,0 - 118,0m ( LK219 )

Mặt cắt tại LK218 cho thấy: phần dưới là cát trung thô màu xám, xám

xanh lẫn sạn, sỏi, đoạn 110,0-112,0m kẹp cát mịn, chuyển lên trên là cát

mịn-trung màu xám, xám vàng chứa cuội thạch anh và mùn thực vật, trên cùng là bột

cát màu xám, xám vàng cuối lớp chứa cuội thạch anh

Mặt cắt tại LK219 cho thấy: phần dưới là cát bột màu xám vàng, chuyển

lên trên là cát thạch anh mịn-trung màu xám, đôi chỗ xen kẹp bột, đoạn 94,0m

lẫn cuội sỏi dính kết tốt, trên cùng là bột cát màu xám phớt xanh, phớt tím, phân

lớp nằm ngang

Trong lỗ khoan Bến Lức, hệ tầng Thủy Đông chứa một tập hợp tảo khá

phong phú gồm: Palania sulcata, Cyclocella sp., C striata, C stylorum,

Coscinodiscus subtilis, C radiatus, Thalassiosira korlovi Campyloneis aff

notabilis Đây là các tảo ưa mặn

Các đặc điểm thạch học, cổ sinh cho thấy hệ tầng Thủy Đông được thành

tạo trong môi trường cửa sông, đồng bằng châu thổ, thường xuyên chịu ảnh hưởng

của biển

Các trầm tích của hệ tầng này phủ bất chỉnh hợp lên trên các trầm tích của

hệ tầng Long Toàn, phía trên bị phủ bởi các trầm tích của hệ tầng Long Mỹ

Trang 30

Chiều dày biến đổi từ 32,0 - 56,0m

Hệ Đệ Tứ, thống Pleistocen, phụ thống thượng, phần trên (Q III 3 )

Vào thời kỳ Pleistocen thượng, khu vực tồn tại 2 kiểu mặt cắt đại diện cho

2 kiểu nguồn gốc sinh thành khác nhau: biển và sông biển

Hệ tầng Long Mỹ, trầm tích biển ( m Q III 3 lm )

Mặt cắt được nghiên cứu chi tiết trong LK211 tại thị trấn Long Mỹ-Cần

Thơ ở độ sâu 23-52m Liên hệ địa tầng khu vực nghiên cứu với địa tầng trên cho

thấy các trầm tích được xếp vào hệ tầng này chỉ phân bố trong các lỗ khoan ở độ

sâu: 22,0 - 59,0m ( LK219 ), 18,0 - 96,0m ( LK31 ) Phần lớn các mặt cắt trong lỗ

khoan có cùng chung một đặc điểm là phần lót dưới đáy là cát vừa đến mịn màu

xám, xám tro, xám sẫm, sét màu xám vàng, loang lổ đỏ Trong một vài lỗ khoan

thấy ở giữa mặt cắt là cát, bột nằm xen kẹp nhau Bề dày thay đổi từ 20-60m

Các trầm tích của hệ tầng này phủ bất chỉnh hợp lên trên các trầm tích của

hệ tầng Long Toàn và bị phủ bởi các trầm tích Holocen

Hệ tầng Mộc Hóa, trầm tích sông, biển (am Q III 3 mh )

Trên mặt, chúng lộ ra chủ yếu ở phía Tây, Tây Bắc vùng, dưới sâu được

bắt gặp trong các lỗ khoan ở các độ sâu 21,0 - 63,0m ( lk027 ) Mặt cắt trong

LK22 ( Mỏ Cày - Bến Tre ) như sau: phần dưới là cát thạch anh hạt nhỏ, hạt vừa

màu vàng nhạt, vàng nâu, đoạn 71,9 - 77,5m lẫn ít cuội, sạn có độ mài tròn khá

tốt, phần trên chủ yếu là sét bột chứa ít kaolin dạng khối màu xám vàng nhạt tới

phớt gụ, ít ổ trắng, chứa nhiều kết hạch laterit sắt

Ơû độ sâu 44,0m phát hiện được tập hợp ít ỏi tảo nước ngọt, nước lợ:

Cyclotella sp., Penatophyceae, Hanztchia sp., Pinnularia sp

Trang 31

Hệ Đệ Tứ, thống Holocen, phụ thống trung, Hệ tầng Hậu Giang, trầm tích

biển (m Q IV 2hg )

Hệ tầng lộ ra trên mặt với diện tích khoảng 40-50 km2 ở phía Tây, Tây

Bắc vùng Dưới sâu chúng được bắt gặp trong các lỗ khoan ở các độ sâu: 0 -

18,0m (LKS72), 0 16,5m (LKS60), 0 12,0m (LKS219), 0 13,5m (LKS42), 0

-19,5m (LK218), 0 - 22,0m (LK219), 0 - 18,0m (LK31) và 0 - 14,0m ( LK325)

Thành phần trầm tích: phía dưới là cát hạt mịn lẫn bột sét, chuyển lên trên

là bột sét màu xám tro, xám xi măng, rải rác trong mặt cắt có chứa nhiều vỏ sò,

điệp và các hóa thạch Foraminifera có ý nghĩa định tuổi: Cibicides willerstorfi.,

C Lobatulus, Asterorotalia multispinosa, Uvigerina ampullacea Bề dày của hệ

tầng thay đổi 5-10m, có nơi đạt 20-40m

Hệ Đệ Tứ, thống Holocen, phụ thống trung-thượng ( Q IV 2-3 )

Dựa vào hoàn cảnh môi trường cổ địa lý, các trầm tích trong từng giai đoạn

tồn tại với nhiều kiểu nguồn gốc khác nhau

- Trầm tích biển (mQ IV 2-3 )

Lộ ra trên mặt dưới các dạng gò nổi cao 2-3m so với địa hình xung quanh,

kéo dài theo phương gần Tây Bắc-Đông Nam từ Cai Lậy qua Nhị Qúy-Tân Hiệp

tới Khánh Hậu Thực tế đây là đường bờ biển cổ với các vồng cát mà dân địa

phương gọi là giồng cát Các giồng này có bề ngang không ổn định, chỗ phình to

nhất đạt 1 - 2km, chỗ hẹp nhất đạt 200-300m Thành phần chủ yếu là cát hạt mịn

lẫn ít bột màu nâu vàng chứa kết hạch pisolit Bề dày thay đổi từ 5 - 10m

- Trầm tích sông, biển (amQ IV 2-3 )

Lộ rộng rãi trên mặt từ Cai Lậy qua Mỹ Tho, chợ Ông Văn tới Tân An,

Bến Lức Thành phần trầm tích gồm sét-bột, sét màu xám nâu, xám vàng có độ

Trang 32

dẻo, mịn cao Trong phần thấp của mặt cắt chứa hóa thạch Ozawaia…Các bào tử

phấn hoa: Rhirophora sp., Polypodiaceae gen sp Bề dày trầm tích thay đổi từ 5

- 10,0 m

Hệ Đệ Tứ, thống Holocen, phụ thống thượng ( Q IV 3 )

Bao gồm các trầm tích có nguồn gốc sau:

Trầm tích biển (m Q IV 3

1 ): lộ ra dưới dạng giồng cát phân bố ở khu Ba Tri,

Bình Đại, thành phần chủ yếu là cát hạt mịn đến vừa lẫn ít bột màu vàng, chứa

mảnh vỏ sò, điệp Bề dày 1-2m

Trầm tích sông, đầm lầy (abQ IV 3 1 ): Phân bố dọc theo hai bờ sông Ba Lai,

không nhiều ở Giồng Chôm, Cái Mơn, Cái Nhum Thành phần trầm tích bột, sét,

xác thực vật, than bùn Thường ở các vùng này địa hình thấp trũng, chịu ảnh

hưởng không thường xuyên của triều Bề dày thay đổi từ 3-5m

Trầm tích sông (aQ IV 3

2 ): Phân bố dọc theo hai bên bờ các con sông chính

ở dạng các dải hẹp hoặc bãi bồi cù lao giữa sông Thành phần trầm tích chủ yếu

là bột, sét, ít cát, mùn thực vật màu nâu đất Bề dày thay đổi từ 1-3m

Trầm tích biển (m Q IV 3

2 ): phân bố dọc các bờ biển hiện đại kéo dài từ khu

vực Cần Giờ tới Ba Tri, chúng lộ ra dưới dạng các doi cát, bãi triều có kích thước

khác nhau, vùng cửa sông chủ yếu có cát hạt mịn, ít bột sét và mùn hữu cơ Vùng

xa cửa sông, hạt mịn tăng dần, sét chiếm ưu thế Bề dày thay đổi từ 1-3m

Trầm tích biển, đầm lầy (m b Q IV 3 2 ): Phổ biến ở khu vực Bình Đại Thực tế

là phần đầm lầy ven biển, rất phát triển thực vật ưa mặn như bần, đước, sú, vẹt và

bị ảnh hưởng thường xuyên của triều Thành phần trầm tích chủ yếu là bột, sét

màu nâu gụ chứa các thân cây phân hủy kém Bề dày 2-3m

Trang 33

III.2 Kiến tạo

III.2.1 Vị trí kiến tạo

Vùng nghiên cứu phân bố ở phía Đông trũng Kainozoi Cửu Long, phát

sinh và phát triển trên móng của miền vỏ lục địa Tiền Cambri (phần phía Nam

của địa khối Inđosinia ) có lớp phủ móng Mesozoi sớm (rìa lục địa thụ động, với

bề dày không quá 200 - 300m) và các thành tạo xâm nhập, phun trào tuổi

Mesozoi muộn của rìa lục địa tích cực kiểu Anđes (đoạn Nam Việt Nam của đai

Đông Aù )

III.2.2 Kiến trúc sâu

Theo tài liệu trọng lực, bề mặt Moho ở vùng Mỹ Tho-Bến Tre nâng lên so

với vùng Long Xuyên và Biên Hòa tạo nên vòm nâng Bến Tre-Tây Ninh với độ

sâu 29-31km Bề mặt Conrađ cũng nâng lên tạo vòm nâng Gò Công-Dầu Tiếng

với độ sâu 11-13km Bề mặt nóc móng kết tinh ở vùng Bến Tre-Mỹ Tho nâng lên

rõ rệt với độ sâu 1,5 - 2,0km tạo nên vòm nâng Bến Tre với bề dày trầm tích

Mesozoi và Kainozoi không quá 2,5km

III.2.3 Các bối cảnh kiến tạo

Trong thành phần móng lớp phủ trước Kainozoi (trong lỗ khoan) gặp các

trầm tích lục nguyên Jura hạ hình thành trên thềm lục địa thụ động và đá phun

trào trung tính Jura thượng thuộc tập hợp đá phun trào xâm nhập kiềm vôi, hình

thành trên rìa lục địa tích cực kiểu Anđes

Lớp phủ Kainozoi bao gồm các trầm tích vụn tướng lục địa hoặc biển nông

ven bờ dày đến 800m, hình thành trong bồn tách giãn nội lực

Trang 34

III.2.4 Các khối địa chất

Dựa vào quy luật phân bố và bề dày trầm tích của các thành tạo Miocen,

khu vực Mỹ Tho - Bến Tre được chia làm 3 khối địa chất lớn:

- Khối Cai Lậy-Thủy Đông: nâng lên vào Miocen và là một phần của địa

lũy Ô Môn - Đức Hòa ( ở đây không có trầm tích Miocen )

- Khối sụt Phụng Hiệp-Bến Tre: nằm kẹp giữa hai đứt gãy Vĩnh Long-Tuy

Hòa và Cà Mau-Bảo Lộc Vùng sụt được lấp đầy trầm tích Neogen có bề dày

thay đổi theo hai phương Tây Bắc-Đông Nam Từ Cai Lậy đến Bến Tre có thể

phân ra các khối nâng và sụt như sau: khối sụt Cái Vồn-Thủ Thừa, khối nâng Bến

Lức, khối sụt Mỹ Tho, khối nâng Bến Tre-Cần Giuộc

- Khối sụt Trà Cú-Gò Công: ở Đông Nam đứt gãy Cà Mau-Bảo Lộc Khối

sụt này có bề dày thay đổi theo hai phương Tây Đông Nam và Đông

Bắc-Tây Nam Theo phương Đông Bắc-Bắc-Tây Nam bề dày tăng dần, còn theo phương

Tây Bắc - Đông Nam bề dày tăng giảm kiểu lượn sóng tạo khối nâng Gò Công

III.2.5 Đứt gãy

Trong phạm vi vùng có 3 hệ thống đứt gãy:

Nhóm đứt gãy theo phương Đông Bắc-Tây Nam

Bao gồm đứt gãy Vĩnh Long-Tuy Hòa, Rạch Giá-Buôn Mê Thuật và Cà

Mau-Bảo Lộc Các đứt gãy này đóng vai trò quyết định sự hình thành các bồn

trũng và khối nâng thời kỳ Miocen và chia vùng thành 3 khối địa chất chính như

đã mô tả ở trên

Các đứt gãy này phát sinh và phát triển vào thời kỳ hoạt động của rìa lục

địa tích cực Mesozoi muộn Các đứt gãy trên hoạt động vào Kainozoi đều có tính

Trang 35

chất thuận ngang phải với hướng cắm của mặt trượt về phía Đông Nam (Rạch

Giá - Buôn Mê Thuột và Cà Mau-Bảo Lộc), phía Tây Bắc ( đứt gãy Vĩnh Long -

Tuy Hòa)

Nhóm đứt gãy theo phương Tây Bắc-Đông Nam: bao gồm các đứt gãy

Hồng Ngự-Trà Vinh và đứt gãy sông Vàm Cỏ Đông Chúng thể hiện khá rõ khi

phân tích bề dày các trầm tích Pliocen-Đệ Tứ theo phương Cần Giuộc-Bến

Tre-Trà Vinh với sự sụt lún của cánh Tây Nam và nâng lên của cánh Đông Bắc

Nhóm đứt gãy theo nhóm á vĩ tuyến: là đứt gãy Cái Bè - Vũng Tàu, chúng

kéo dàt từ Cái Bè qua Mỹ Tho, thể hiện rõ nét trong trường địa vật lý, song tính

chất của đứt gãy chưa được sáng tỏ

III.2.6 Lịch sử phát triển kiến tạo

Lịch sử phát triển kiến tạo vùng nghiên cứu trải qua 2 vĩ kỳ lớn Vĩ kỳ tạo

vỏ lục địa tiền Cambri và vĩ kỳ tạo lớp phủ Mesozoi-Kainozoi Có 5 giai đoạn

chính

- Giai đoạn hoạt hóa lục địa cổ trong Trias trung với sự thành tạo các trầm

tích lục nguyên-phun trào

- Giai đoạn thềm lục địa bình ổn trong Jura sớm tạo nên các đá lục

nguyên thuộc hệ tầng Đray Linh

- Giai đoạn rìa lục địa tích cực kiểu Anđes trong Mesozoi muộn với sự

thành tạo các thành hệ trầm tích - phun trào - xâm nhập dãy kiềm - vôi Long

Bình và tầng xâm nhập Đèo Cả

Trang 36

- Giai đoạn dập vỡ tách giãn trong Miocen với sự thành tạo các địa hào,

địa lũy kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam Lấp đầy các địa hào là các

trầm tích gắn kết yếu của các hệ tầng Bến Tre, Phụng Hiệp

- Giai đoạn Pliocen - Đệ Tứ Vùng nghiên cứu là phần rìa phía Đông trũng

Cửu Long với sự sụt võng tăng dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam, từ Đông sang

Tây và từ Tây Bắc xuống Đông Nam Các sông Hàm Luông, Ba La, Cửa Đại có

lẽ chỉ phát sinh và phát triển trong giai đoạn Holocen

Trang 37

CHƯƠNG IV

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN ĐỊA CHẤT VÀ CỔ ĐỊA LÝ

ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG ĐỆ TỨ

Đồng bằng sông Cửu Long có lịch sử phát triển lâu dài và phức tạp, nằm

trong miền hạ lưu hệ thống sông Mê Kông nối với biển Trải qua nhiều thời kỳ

trong Kainozoi, đồng bằng được thành tạo chủ yếu bằng các trầm tích châu thổ

của hệ thống sông nói trên xen với trầm tích biển - sông, phụ thuộc vào mức độ

và cách thức biển tiến, thoái trong các thời kỳ phát triển địa chất, đường bờ biển

dịch chuyển, kéo theo sự biến đổi tương ứng về vị trí phân bố và quy mô các hợp

phần của châu thổ cũng như các trầm tích khác trên đồng bằng Những điều đó

được thể hiện bằng sự phân bố và phát triển các đới cảnh quan cổ trên các sơ đồ

tướng đá cổ địa lý

Theo kết quả nghiên cứu của nhiều nhà địa chất, lịch sử phát triển Đồng

bằng sông Cửu Long đã được thể hiện qua nhiều tài liệu, bài báo, đề tài, biệt là

trong đề tài NCKH cấp Bộ “Cơ chế hình thành các đới nhiễm mặn vùng Bắc

Sông Tiền” đã được nghiệm thu do TS Nguyễn Việt Kỳ và TS Đỗ Tiến Hùng

chủ trì màø tác giả cũng là một thành viên trong đề tài này thì lịch sử phát triển

Đồng bằng sông Cửu Long từ Đệ Tứ dựa trên cơ sở các tài liệu thu thập được có

thể chia ra 7 giai đoạn và thành lập 7 sơ đồ tướng đá – cổ địa lý, 7 sơ đồ tướng đá

– cổ địa lý bao gồm:

-Sơ đồ tướng đá - cổ địa lý thời kỳ Pliocen muộn N2 2

-Sơ đồ tướng đá - cổ địa lý thời kỳ Pleistocen sớm (phần sớm) QI 1

-Sơ đồ tướng đá - cổ địa lý thời kỳ Pleistocen (phần giữa- muộn) QI 2-3

-Sơ đồ tướng đá - cổ địa lý thời kỳ Pleistocen giữa muộn (phần sớm) QII-IIII 1

-Sơ đồ tướng đá - cổ địa lý thời kỳ Pleistocen giữa muộn (phần giữa) QII-III2

Trang 38

-Sơ đồ tướng đá - cổ địa lý thời kỳ Pleistocen giữa muộn (phần muộn) QII-III3

-Sơ đồ tướng đá - cổ địa lý thời kỳ Holocen (phần sớm - giữa) QIV 1-2

Thuộc phạm vi nghiên cứu ở mỗi thời kỳ, đều phát triển bốn đới cảnh quan,

chúng có quy mô rất khác nhau về diện tích và khối lượng trầm tích trong mỗi

thời kỳ, vì vậy chúng đã ảnh hưởng đến thành phần vật chất tại mỗi khu vực, kết

quả là chúng ảnh hưởng đến sự hình thành chất lượng nước của từng tầng, từng

khu vực nhỏ thuộc vùng nghiên cứu Bốn đới cảnh quan này bao gồm:

-Vùng bào mòn

- Đồng bằng aluvi

- Đồng bằng ven biển

- Biển thực thụ

* Đồng bằng aluvi (đồng bằng bồi tích), bao gồm các trầm tích nguồn gốc

sông suối được hình thành trên địa hình tương đối cao và tương đối xa biển,

không chịu tác động của biển

* Đồng bằng ven biển thường chiếm một diện tích lớn bám theo đường bờ

về phía lục địa, nằm giữa đồng bằng aluvi (đồng bằng bồi tích) và biển Nó được

lấp đầy bằng các trầm tích có nguồn gốc vừa sông vừa biển xen kẽ, trong đó phát

triển các đầm hồ ven biển, đôi khi tạo được than lớp mỏng hoặc mùn thực vật hóa

than

* Biển thực thụ, kể cả vũng vịnh, được tính từ đường bờ trở ra, xa dần hai

đồng bằng nêu trên, bao gồm một khối lượng lớn các trầm tích tương đối mịn,

chứa hoá thạch động thực vật biển đặc trưng

Dưới đây sẽ trình bày những nét chính về tướng đá - cổ địa lý các từ Pliocen

muộn (N22) đến Holocen sớm - giữa (QIV1-2)

Trang 39

1.Thời kỳ thành tạo trầm tích Pliocen muộn (N 2 2 )

Vào Thời kỳ này diện tích được lấp đầy bằng các trầm tích hệ tầng Năm

Căn nằm không chỉnh hợp trên các thành tạo cổ hơn với cát cuội sỏi gối lên bề

mặt bào mòn Phân tích đặc điểm tướng trầm tích các mặt cắt hai hệ tầng này cho

phép xác định đây là trầm tích nhiều tướng thuộc cả ba nhóm: nhóm trầm tích

biển, nhóm trầm tích sông và nhóm trầm tích đầm hồ Song, chúng được phân bố

theo 3 đới, mỗi đới được đặc trưng bằng các tổ hợp tướng gần gũi về nguồn gốc

và theo hướng từ bờ biển hiện nay lên phía bắc, chúng được sắp xếp lần lượt như

sau:

Đới thứ nhất chạy dọc phần đất duyên hải Gò Công, Bến Tre, Cà Mau, Năm

Căn.( lk219, 217, 211,215a, 216 ) thuộc trầm tích biển, bao gồm các tướng sét -

bột biển nông, cát bột đôi khi có sạn đới nước động ven biển chứa các hoá

thạch động thực vật biển

Đới thứ hai tiếp đó lên phía bắc, bao gồm các tướng cát - bột bãi bồi, cát sỏi

lòng sông, sét bột hồ đầm có chứa nhiều di tích thực vật, đôi nơi tạo được một số

vỉa than mỏng và thực vật hoá than, xen trong đó là các tướng cát- bột và sét bột

biển nông ven bờ.(LK804, 10, 25b, 21TT, 22, )

Đới thứ ba phân bố ở rìa bắc đồng đồng bằng giáp Campuchia có liên quan

đến vùng địa hình tương đối cao, phổ biến các trầm tích thô hơn hai đới nói trên,

gồm các tướng cát - cuội - sỏi lòng sông, cát bột bãi bồi chỉ do sông suối tạo

thành, không thấy có yếu tố biển

Sự phân bố có thứ tự, các đới trầm tích (tức các đới cảnh quan cổ) như đã mô

tả là do hoàn cảnh cổ địa lý lúc đó Thời ấy, vào đầu Pliocen muộn (N22), toàn bộ

diện tích nghiên cứu bị sụt, bắt đầu tích tụ trầm tích một thời kỳ mới có cát - cuội

- sỏi trên mặt bào mòn của các thành tạo già hơn Biển tiến từ bể Cửu Long vào

Trang 40

đồng bằng theo hai mũi hướng tây bắc ở hai phía của sông Hậu ngày nay, một

mũi tiến vào vùng Gò Công, Bến Tre một vào vùng Bạc Liêu, Cà Mau Đường

bờ biển thời này, vì thế mà có hình dạng cong queo, uốn lượn Biển chiếm

khoảng 30% diện tích đồng bằng, tạo nên đới cảnh quan biển, bao gồm các trầm

tích tương đối mịn, chủ yếu thuộc cụm tướng sét bột, cát - bột biển nông ven bờ

chứa các hoá thạch biển Foraminifera và tảo mặn Một dải khá rộng phía bắc

đường bờ biển là phần đất của lục địa có địa hình thấp, phẳng, thuộc đới cảnh

quan đồng bằng ven biển Đới này chịu tác động của cả hai quá trình biển và

sông, tạo thành các tổ hợp trầm tích hỗn hợp sông - biển và hồ - đầm xen nhau

Một số nơi gần mép nước đường bờ hình thành các hồ đầm, ở đây có đủ điều

kiện thuận lợi cho phát triển mạnh một thảm thực vật tập trung tạo nên các lớp

than mỏng (lk21, Tiểu Cần, Cửu Long) Nhiều nơi khác, thực vật cũng phát triển

và để lại khá phong phú di tích lá, thân, cành cây trong trầm tích

Khu vực ở phần bắc đồng bằng Nam Bộ có địa hình cao hơn, xa đường bờ ,

biển không ảnh hưởng tới, mà chỉ chịu tác động của một mạng sông suối, thuộc

vào đới cảnh quan đồng bằng aluvi (đồng bằng bồi tích) Mặc dù đới này có liên

quan và chịu ảnh hưởng đến mức độ nào đó của hai miền nổi cao ở Tây bắc và

Đông bắc, có đón nhận từ đó một số ít vật liệu, song khối lượng vật liệu trầm tích

có được của đồng bằng chủ yếu là do 3 dòng chảy lớn thuộc hệ thống sông Mê

Kông cổ mang đến, đó là: thứ nhất ở vị trí sông Hậu ngày nay (lk203), thứ hai ở

vị trí huyện Vĩnh Hưng (lk27, gần trùng hướng chảy của đoạn trên cùng sông

Vàm Cỏ Tây) và thứ ba ở Châu Thành, tây nam tỉnh lỵ Tây Ninh (lk222, gần

trùng hướng chảy của đoạn trên cùng sông Vàm Cỏ Đông) các tổ hợp tướng cuội

- cát - sỏi lòng sông với số lượng lớn còn giữ lại ở đó đủ để ghi nhận về sự có mặt

những dòng chảy lớn còn giữ lại ở đó đủ để ghi nhận về sự có mặt những dòng

Ngày đăng: 16/04/2021, 15:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w