1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu nguyên nhân và ảnh hưởng của các phát sinh trong dự án xây dựng đề xuất các giải pháp để hạn chế và kiểm soát

116 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu nguyên nhân và ảnh hưởng của các phát sinh trong dự án xây dựng - Đề xuất các giải pháp để hạn chế và kiểm soát
Tác giả Trương Văn Minh
Người hướng dẫn TS. Ngô Quang Tường
Trường học Đại Học Quốc Gia Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Công nghệ và quản lý xây dựng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2005
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 2,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện dự án thường có những phát sinh gây ra chậm trễ tiến độ, vượt chi phí và giảm chất lượng công trình là do các vấn đề sau: 1.2.1 Quản lý nhà nước về đ

Trang 1

Đại Học Quốc Gia Tp Hồ Chí Minh

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

-

TRƯƠNG VĂN MINH

NGHIÊN CỨU NGUYÊN NHÂN VÀ ẢNH HƯỞNG

CỦA CÁC PHÁT SINH TRONG DỰ ÁN XÂY DỰNG - ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP

ĐỂ HẠN CHẾ VÀ KIỂM SOÁT

Chuyên ngành : CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG Mã ngành : 60.58.90

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Trang 3

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Ngô Quang Tường

Cán bộ chấm nhận xét 1:

Cán bộ chấm nhận xét 2:

Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại HỘI ĐỒNG CHẤM BẢO VỆ LUẬN VĂN THẠC SĨ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA, ngày tháng năm 2005

Trang 4

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM PHÒNG ĐÀO TẠO SĐH ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC

Tp HCM, ngày tháng năm 2005

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Công nghệ và Quản lý Xây dựng MSHV: 00803202

I TÊN ĐỀ TÀI: Nghiên cứu nguyên nhân và ảnh hưởng của các phát sinh

trong dự án xây dựng – Đề xuất các giải pháp để hạn chế và kiểm soát

II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:

- Tìm hiểu các nguyên lý về quản lý dự án xây dựng hiện hành ở trong và ngoài nước

- Khảo lược các vấn đề liên quan đến các phát sinh trong dự án xây dựng ở trong và ngoài nước Từ đó lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp, để xác định những nguyên nhân và ảnh hưởng chính của các phát sinh trong dự án xây dựng tại Việt Nam Đồng thời đề xuất các giải pháp để hạn chế và kiểm soát phát sinh từ góc độ chủ đầu tư, nhà tư vấn và nhà thầu xây dựng

III NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 28-02-2005

IV NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 28-06-2005

V HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS NGÔ QUANG TƯỜNG

CHUYÊN NGÀNH

Nội dung và đề cương luận văn đã được Hội Đồng Chuyên Ngành thông qua

Ngày tháng năm 2005

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được khóa học và luận văn này, tôi đã nhận được sự động viên, hỗ trợ và giúp đỡ tận tình từ thầy cô, nhà trường, gia đình và bạn bè

Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy TS Ngô Quang Tường đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn trong suốt khóa học và trong quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô thuộc trường Đại học Bách Khoa đã luôn tận tâm, nhiệt tình trong việc truyền đạt những kiến thức mới và niềm say mê nghiên cứu, học hỏi trong mỗi học viên chúng tôi trong suốt khóa học

Tôi xin chân thành cảm ơn các nhân viên và nhà quản lý thuộc Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn, Tổng Công ty Địa ốc Sài Gòn, Công ty Xây dựng COFICO, Công ty Xây dựng và Lắp máy 45-1, Công ty Xây dựng Thuận Việt, Công ty Liên doanh Phú Mỹ Hưng, Công ty Xây dựng Miền Đông, Công ty Xây dựng Công trình Giao thông Sài Gòn, Công ty Tư vấn Thiết kế và Dịch vụ Đầu tư INFISCO và các đồng nghiệp đã tận tình giúp đỡ tôi trong việc thu thập số liệu để hoàn thành luận văn của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bằng hữu đã hỗ trợ, động viên tôi trong suốt khóa học và trong quá trình thực hiện luận văn này

TP Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 06 năm 2005

Người thực hiện luận văn Trương Văn Minh

Trang 6

TÓM TẮT NỘI DUNG

Trong những năm qua cùng với sự phát của nền kinh tế, nhu cầu về xây dựng cơ sở hạ tầng ngày càng cao đã đặt ra cho ngành xây dựng một nhiệm vụ vô cùng quan trọng Để hoàn thành nhiệm vụ này, bên cạnh việc tiếp cận và làm chủ các công nghệ, kỹ thuật xây dựng hiện đại của thế giới, đòi hỏi ngành xây dựng cần phải có các phương pháp quản lý dự án tiên tiến Một dự án xây dựng được gọi là thành công phải đạt được các mục tiêu về chất lượng, tiến độ và tài chính Nhưng thực tế hiện nay tình trạng phát sinh chi phí trong các dự án xây dựng ở nước ta là khá phổ biến Các phát sinh có thể làm vượt chi phí dự toán, gây chậm trễ tiến độ, giảm chất lượng công trình và đôi khi là nguyên nhân gây ra sự tranh chấp giữa các bên tham gia vào dự án

Từ những vướng mắc nêu trên, tác giả đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu

nguyên nhân và ảnh hưởng của các phát sinh trong dự án xây dựng – Đề xuất các giải pháp để hạn chế và kiểm soát” Trên cơ sở lý thuyết về quản

lý dự án, tham khảo các nghiên cứu trước đây có liên quan đến phát sinh của dự án xây dựng, tình hình phát sinh của các dự án xây dựng mà tác giả đã được tiếp cận trong thực tế làm việc, cùng với việc thu thập ý kiến của một số chuyên gia, nghiên cứu đã lập ra danh sách các nguyên nhân gây ra phát sinh và ảnh hưởng của nó trong dự án xây dựng; sau đó thực hiện khảo sát bằng bảng câu hỏi gửi đến các đối tượng có kinh nghiệm trong ngành xây dựng trực tiếp tham gia các dự án; đánh giá mức độ trọng yếu của các nguyên nhân bằng phương pháp phân tích thống kê Nghiên cứu đã chỉ ra những nguyên nhân chính, có tác động đáng kể đến các phát sinh trong dự án xây dựng Theo kết quả nghiên cứu đạt được, các nguyên nhân gây ra phát sinh chủ yếu tập trung ở giai đoạn thiết kế và đấu thầu, liên quan đến trách nhiệm của chủ đầu tư, các đơn vị tư vấn và cả nhà thầu xây dựng Ngoài ra, nghiên cứu cũng đề xuất một số giải pháp để hạn chế và kiểm soát các phát sinh trong các giai đoạn thực hiện dự án từ góc độ chủ đầu tư, các đơn vị tư vấn và nhà thầu xây dựng

Với mục tiêu và phạm vi nghiên cứu khá tổng quát, trong điều kiện nguồn lực và thời gian giới hạn, nghiên cứu không tránh khỏi những hạn chế nhất định Tuy nhiên, tác giả hy vọng rằng kết quả nghiên cứu này có thể hữu ích trong công tác quản lý các phát sinh, thay đổi của dự án nói riêng và quản lý dự án xây dựng nói chung

Trang 7

ABSTRACT

In recent years, beside the economic development, demand to improve the infrastructure is the important duty for the construction industry To carry out well this work, beside to contact and apply modern construction technique

of the world, demand the construction industry has effective project management methods A construction project considered to be successful must achieve objects in quality, time and finance But in reality, the additional work

in the construction project in our country is a frequent problem This problem can make cost overun, delay, influence on quality of the project and sometimes that is the cause of the dispute between the parties take part in the project

Realizing the important of the problems above, the author has studied

the subject named: “Studying the causes and effects of the additional work in

construction project – Suggest solutions to limit and control” Rely on the

theory about the project management, to consult the previous researchs about additional work in construction project, the additional work situation of the construction project that author has contacted in working process, to collect the opinion of the specialists The research has make out a list of causes that engender additional work and their effects on construction project Then examining by questionnaires, evaluating the effective level of the causes by statistics analysis method The result of the reseach has showed main causes that effect on the additional work in construction project According to the result of the reseach, the main causes of additional work concentrate in designing and bidding period, involve to responsibility of the owner, the consultant and the contractor Beside, the research suggest solutions to limit and control the additional work in the period of carrying out project from the viewpiont of the owner, the consultant and the contractor

With quite general study objectives and scopes, in context of limit resouces and time, this research surely have some limitations However, author hopes that the result of the research may be useful for additonal work management in particular, and project management in general

Trang 8

LÝ LỊCH TRÍCH NGANG Họ và tên: TRƯƠNG VĂN MINH

Sinh ngày: 07-03-1974

Nơi sinh: Bình Định

Địa chỉ liên lạc: 114B Chung cư Hiệp Bình Chánh, đường Kha Vạn Cân, phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh

Điện thoại nhà: 08.7267750 DĐ: 0918.118411

Nơi công tác: Phòng Kiểm toán Xây dựng Cơ bản thuộc Công ty Kiểm toán AASC Chi nhánh TP Hồ Chí Minh

Điện thoại cơ quan: 08.8205944-15

I QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO

Từ năm 1992-1997: Đại học chính quy khoa Địa chất và Dầu khí, trường Đại học Bách khoa TP Hồ Chí Minh

Từ năm 1997-1999: Đại học Văn bằng 2 ngành Xây dựng Dân dụng và Công nghiệp, trường Đại học Xây dựng Hà Nội

Từ năm 2003-2005: Cao học ngành Công nghệ và Quản lý Xây dựng, trường Đại học Bách khoa TP Hồ Chí Minh

II QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC

Từ năm 2000-2003: công tác tại Công ty Tư vấn Thiết kế và Dịch vụ Đầu tư INFISCO Chi nhánh phía Nam

Từ năm 2003-2005: công tác tại Công ty Kiểm toán AASC Chi nhánh

TP Hồ Chí Minh

Trang 9

MỤC LỤC

CÁC DỰ ÁN XÂY DỰNG TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

PHÁT SINH TRONG DỰ ÁN XÂY DỰNG

Trang 10

3.3 THU THẬP SỐ LIỆU 42

3.5.3 Phân tích ảnh hưởng của các phát sinh đến dự án xây dựng 55

CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ HẠN CHẾ VÀ KIỂM 59

SOÁT CÁC PHÁT SINH TRONG DỰ ÁN XÂY DỰNG

KIỂM SOÁT PHÁT SINH TRONG DỰ ÁN XÂY DỰNG

Việt Nam về quản lý đầu tư xây dựng

4.2.3 Căn cứ vào tình hình ngành xây dựng Việt Nam hiện nay 60

4.3.2 Đối với chủ đầu tư (đại diện là ban quản lý dự án) 62

4.4.1 Đối với chủ đầu tư (đại diện là ban quản lý dự án) 81

Trang 11

DANH SÁCH CÁC HÌNH VẼ VÀ BẢNG BIỂU

A DANH SÁCH CÁC HÌNH VẼ

Hình 2.1: Biểu đồ hình xương cá thể hiện rủi ro chi phí trong dự án xây dựng 11 Hình 2.2: Minh họa tiến độ các giai đoạn trong vòng đời dự án xây dựng 15 Hình 2.3: Các giai đoạn của một dự án xây dựng 17 Hình 2.4: Các yếu tố của quản lý dự án 19 Hình 2.5: Các bước thực hiện quản lý dự án 19 Hình 4.1: Hồ sơ các hợp đồng giao nhận thầu trong xây dựng 66 Hình 4.2: Quy trình thực hiện các yêu cầu thay đổi thiết kế trong quá trình thi công 83 Hình 4.3: Quy trình thực hiện các yêu cầu phát sinh 84

B DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.2: Nội dung khiếm khuyết của hồ sơ phát sinh 12 Bảng 2.3: Các yếu tố liên quan đến vấn đề chậm trễ tiến độ và vượt chi phí 13

trong các dự án xây dựng tại Nigeria

Trang 12

Bảng 3.1: Kết quả thống kê về lĩnh vực của dự án 46 Bảng 3.2: Kết quả thống kê về chức năng tổ chức của người được phỏng vấn 47 Bảng 3.3: Kết quả thống kê về hình thức pháp lý tổ chức của người được phỏng vấn 47 Bảng 3.4: Kết quả thống kê về vị trí, chức danh của người được phỏng vấn 48 Bảng 3.5: Kết quả thống kê về kinh nghiệm làm việc của người được phỏng vấn 48 Bảng 3.6: Kết quả thống kê về hình thức pháp lý của chủ đầu tư 49 Bảng 3.7: Kết quả thống kê về thời điểm khởi công xây dựng công trình 49 Bảng 3.8: Kết quả thống kê về chi phí xây dựng công trình 50 Bảng 3.9: Kết quả thống kê về mức độ phát sinh chi phí xây dựng công trình 50 Bảng 3.10: Kết quả thống kê về mức độ cập nhật tiến độ trong quá trình thi công 51 Bảng 3.11: Kết quả thống kê về các nguyên nhân 52 Bảng 3.12: Kết quả thống kê về các hậu quả do phát sinh gây ra 55 Bảng 4.1: Mẫu biểu M-01 – Bảng khối lượng mời thầu 67

Bảng 4.3: Mẫu biểu M-02 – Phiếu kiểm tra thiết kế sơ bộ 72 Bảng 4.4: Mẫu biểu M-03 – Phiếu kiểm tra thiết kế kỹ thuật – thi công 73 Bảng 4.5: Mẫu biểu M-04 – Phiếu kiểm tra bảng dự toán 74 Bảng 4.6: Mẫu biểu M-05 – Đánh giá sơ bộ chung về hồ sơ mời thầu (trang 1/2) 76 Bảng 4.7: Mẫu biểu M-05 – Đánh giá sơ bộ chung về hồ sơ mời thầu (trang 2/2) 77 Bảng 4.8: Mẫu biểu M-06 – Báo cáo khảo sát địa điểm công trình 78 dự thầu (trang 1/2)

Bảng 4.9: Mẫu biểu M-06 – Báo cáo khảo sát địa điểm công trình 79 dự thầu (trang 2/2)

Bảng 4.10: Mẫu biểu M-07 – Ước toán sơ bộ về giá thành và lãi 80 Bảng 4.11: Mẫu biểu M-08 – Đề xuất điều chỉnh thiết kế 86 Bảng 4.12: Mẫu biểu M-09 – Quy trình kiểm soát những phát sinh, 88 thay đổi của dự án

Bảng 4.13: Mẫu biểu M-10 – Phiếu thỏa thuận thay đổi, phát sinh công việc 89 Bảng 4.14: Mẫu biểu M-11 – Sổ theo dõi các công việc thay đổi, phát sinh 90

Trang 13

CHƯƠNG 1

GIỚI THIỆU 1.1 GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ

Ngành xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất rất lớn, liên quan đến nhiều lĩnh vực trong xã hội, là một bộ phận hợp thành của nền kinh tế quốc dân, phát triển theo quy luật kinh tế khách quan Cùng với sự phát triển của đất nước, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được nâng cao thì nhu cầu về nhà ở và công trình công cộng cũng tăng lên đòi hỏi ngành xây dựng phải đi trước một bước Do đó để phát triển các ngành kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật thì trước tiên phải đẩy mạnh phát triển ngành xây dựng

Xây dựng cơ bản là một hoạt động kinh tế kỹ thuật phức tạp và lâu dài Sản phẩm của ngành xây dựng là những công trình cố định và đồ sộ, đòi hỏi nhiều ngành nghề, nhiều đơn vị chuyên môn khác nhau cùng phối hợp thực hiện trong thời gian dài Chất lượng công trình xây dựng có tầm quan trọng rất lớn là mối quan tâm không chỉ của ngành xây dựng mà của toàn xã hội Các công trình xây dựng phải đạt yêu cầu chất lượng nhằm đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản của nhân dân và đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước

Quá trình thực hiện một dự án xây dựng cần có sự hợp sức của các bên tham gia: chủ đầu tư, đơn vị tư vấn đầu tư (nếu có), đơn vị tư vấn thiết kế và nhà thầu thi công Mỗi bên tham gia dự án có nhiệm vụ thực hiện những phần việc trong từng giai đoạn khác nhau từ thiết kế đến thi công Các thành viên đại diện của chủ đầu tư, đơn vị thiết kế và nhà thầu thi công phải xây dựng mối quan hệ hợp tác với nhau để thực hiện dự án một cách có hiệu quả nhất

Chủ đầu tư có trách nhiệm xác định đặc điểm và tính năng hoạt động của công trình sau khi hoàn thành Phải xác định đặc tính thiết bị, chủng loại vật liệu, tiêu chuẩn, quy chuẩn và quy định áp dụng cho công trình Chủ đầu tư phải xác định mức độ liên quan của chủ đầu tư với dự án thông qua quy trình xét duyệt, các dạng mẫu biểu và báo cáo, ấn định tổng mức đầu tư của dự án, phương thức thanh toán, những mốc thời gian quan trọng và thời gian hoàn thành công trình

Trang 14

Đơn vị tư vấn thiết kế chịu trách nhiệm đưa ra các phương án thiết kế, tính toán, lập bản vẽ và xác định những chỉ tiêu kỹ thuật đáp ứng yêu cầu của chủ đầu tư Thiết kế phải tuân theo quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn kỹ thuật do nhà nước ban hành Đơn vị thiết kế cũng có trách nhiệm giám sát tác giả trong suốt quá trình thi công xây lắp, hoàn thiện, nghiệm thu và lập tổng dự toán thiết kế kỹ thuật Quyết định của bên chủ đầu tư là có tiến hành thực hiện dự án theo đúng thiết kế hay không chủ yếu dựa vào bảng tổng dự toán này Trường hợp tổng dự toán lớn hơn tổng mức đầu tư được duyệt thì đơn vị thiết kế phải tính toán lại cho phù hợp Ngoài ra đơn vị thiết kế cần phải xác định chi phí thiết kế, lập tiến độ thiết kế phù hợp với tiến độ của dự án Giá thành và đặc điểm của công trình dễ dàng bị ảnh hưởng và thay đổi trong giai đoạn thiết kế Do vậy đơn vị thiết kế đóng vai trò rất quan trọng trong giai đoạn đầu của dự án

Nhà thầu thi công chịu trách nhiệm thi công công trình theo hồ sơ thiết kế đã được phê duyệt Công việc bao gồm cung cấp vật tư, thiết bị, nhân công và đưa ra biện pháp thi công Vì phần lớn chi phí của dự án được sử dụng trong giai đoạn này, trong thực tế cho thấy chi phí xây lắp thường chiếm khoảng 90% tổng số vốn đầu tư xây dựng công trình, cho nên đây là giai đoạn rất quan trọng Việc vận hành dự án và bảo hành công trình phụ thuộc nhiều vào chất lượng thi công Đơn vị thi công phải chuẩn bị một bảng dự toán công trình chính xác, lập một tiến độ thi công khả thi và thiết lập một hệ thống kiểm soát theo dõi được chi phí, tiến độ và chất lượng của dự án

Tuy nhiên, từ trước đến nay, ngành xây dựng ở nước ta thường mắc phải một “căn bệnh cố hữu” đó là phát sinh Các phát sinh trong dự án xây dựng thường làm vượt chi phí thực hiện dự án so với dự trù, gây chậm trễ tiến độ và đôi khi ảnh hưởng đến chất lượng công trình Nghiêm trọng hơn, phát sinh có thể gây ra sự tranh chấp giữa các bên tham gia vào dự án Do đó, hơn ai hết, về phía chủ đầu tư cần phải có biện pháp hạn chế và kiểm soát phát sinh Nhằm mục đích hoàn thành dự án đảm bảo chất lượng, đúng tiến độ và không vượt chi phí dự trù, đồng thời làm thỏa mãn các bên tham gia vào dự án

1.2 CƠ SỞ NGHIÊN CỨU

Mục tiêu cơ bản cần đạt được của một dự án xây dựng là tạo dựng được một công trình theo đúng thiết kế được duyệt; đảm bảo tiến độ xây dựng và đưa dự án vào vận hành, khai thác; tiết kiệm chi phí đầu tư và xây

Trang 15

dựng Để thực hiện mục tiêu của dự án thì công tác quản lý dự án có vai trò đặc biệt quan trọng Có thể nói mục tiêu tổng thể của dự án là dẫn dắt dự án, biến ý tưởng đầu tư thành hiện thực, đảm bảo các mục tiêu cần đạt được Để hoàn thành mục tiêu tổng thể của dự án đòi hỏi phải có sự phối hợp của các bên tham gia dự án mà đặc biệt là vai trò của chủ đầu tư Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện dự án thường có những phát sinh gây ra chậm trễ tiến độ, vượt chi phí và giảm chất lượng công trình là do các vấn đề sau:

1.2.1 Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng

• Luật xây dựng vừa mới được ban hành; các quy chế và văn bản về quản lý đầu tư xây dựng của nhà nước thường xuyên thay đổi, bổ sung, còn nhiều bất cập, gây khó khăn cho các bên tham gia vào dự án trong việc cập nhật và áp dụng;

• Các công tác thẩm định, phê duyệt dự án, thiết kế, dự toán còn chậm Đặc biệt công tác thẩm định thiết kế, dự toán lại mang nặng tính hình thức, nhiều sai sót trong quá trình thiết kế, lập dự toán không được phát hiện và điều chỉnh

1.2.2 Chủ đầu tư đại diện là ban quản lý dự án

• Phần lớn các cán bộ trong ban quản lý dự án là thiếu kinh nghiệm trong quản lý dự án, chưa qua đào tạo về quản lý dự án Nhiều giám đốc dự án không có chuyên môn về xây dựng Đặc biệt là những ban quản lý dự án không chuyên nghiệp, mang tính chất kiêm nhiệm;

• Chưa chú trọng đúng mức trong việc chọn thầu tư vấn thiết kế, đặt hàng lập thiết kế không rõ ràng, thiếu năng lực và kinh nghiệm trong

việc kiểm tra và nghiệm thu hồ sơ thiết kế;

• Điều kiện sách trong hồ sơ mời thầu, các điều khoản hợp đồng đôi khi còn sơ sài, không rõ ràng; khối lượng mời thầu có nhiều sai sót so với hồ sơ thiết kế, thường gây phát sinh, tranh chấp trong quá trình thi

công;

• Đối với những dự án có sự tham gia của nhiều nhà thầu, chủ đầu tư còn thiếu kinh nghiệm trong việc phân chia gói thầu, lập kế hoạch và điều phối các nhà thầu, làm cho các nhà thầu bị động, công việc chồng chéo và gây ra phát sinh, tranh chấp

Trang 16

1.2.3 Đơn vị tư vấn thiết kế

Công tác khảo sát thiết kế còn sơ sài, kém chính xác;

Hồ sơ thiết kế còn nhiều sai sót, thiếu chi tiết;

Thiếu các thuyết minh kỹ thuật kèm theo bản vẽ thiết kế;

Dự toán chi phí kém chính xác, kể cả khối lượng lẫn đơn giá;

• Công tác giám sát tác giả trong quá trình thi công còn chưa được chú trọng

1.2.4 Đơn vị thi công

• Việc chuẩn bị hồ sơ dự thầu của một số nhà thầu xây dựng chưa được chú trọng, công tác dự báo phát sinh kém Trong quá trình thi công phát sinh nhiều công việc hoặc chi phí khác mà nhà thầu chưa lường trước được, dẫn đến nhà thầu thua lỗ hoặc xảy ra tranh chấp một khi những điều khoản quy định về phát sinh không rõ ràng;

• Một số nhà thầu dự thầu với giá thấp, trong quá trình thi công họ thường đề xuất các thay đổi, phát sinh với chủ đầu tư Những phát sinh này thường không có trong đơn giá dự thầu và được tính theo đơn giá địa phương tại thời điểm hiện hành Trong những trường hợp có sự thay đổi, phát sinh nhiều thì chi phí của dự án sẽ bị vượt

1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Đây là dạng đề tài nghiên cứu ứng dụng, với đề tài này mục tiêu nghiên cứu cần đạt được là:

- Giúp cho các bên tham gia vào dự án như: chủ đầu tư, đơn vị tư vấn thiết kế, đơn vị thi công, các cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng thấy rõ những nguyên nhân gây ra phát sinh trong các dự án xây dựng và ảnh hưởng của các phát sinh đối với chất lượng, tiến độ và chi phí của dự án Từ đó, mỗi bên với trách nhiệm và quyền hạn của mình mà có biện pháp, chính sách cụ thể để hạn chế ảnh hưởng của các phát sinh đến sự thành công của dự án, cũng như trách nhiệm và quyền lợi của các bên tham gia dự án;

- Giúp cho chủ đầu tư thấy được các sai sót thường gặp trong quá trình quản lý dự án dễ dẫn đến phát sinh, để có biện pháp khắc phục, đồng thời xây dựng hệ thống quản lý có hiệu quả Nhằm hạn chế đến mức

Trang 17

tối đa những sai sót, góp phần làm cho dự án hoàn thành đúng tiến độ, đảm bảo đạt yêu cầu chất lượng và không vượt chi phí dự trù;

- Giúp cho chủ đầu tư có hướng giải quyết những phát sinh trong quá trình quản lý dự án, xác định trách nhiệm của các bên tham gia vào dự án đối với vấn đề phát sinh, phát sinh nào phải thanh toán cho nhà thầu, phát sinh nào không phải thanh toán cho nhà thầu

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Khảo sát một số dự án xây dựng đã thực hiện, nhằm thu thập các số liệu về nguyên nhân và ảnh hưởng của các phát sinh đến chất lượng, tiến độ, chi phí của dự án và quyền lợi của các bên tham gia trong dự án Để khách quan chúng tôi thu thập số liệu từ các cơ quan, đơn vị sau: + Cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng;

+ Chủ đầu tư đại diện là ban quản lý dự án;

+ Đơn vị tư vấn thiết kế;

+ Đơn vị tư vấn giám sát;

+ Đơn vị thi công xây lắp

- Tìm hiểu và phân loại các nguyên nhân gây ra phát sinh trong dự án xây dựng:

+ Nguyên nhân do công tác khảo sát không chính xác;

+ Nguyên nhân do sai sót trong thiết kế;

+ Nguyên nhân do ý kiến chủ quan của chủ đầu tư;

+ Nguyên nhân do điều kiện sách trong hồ sơ mời thầu sơ sài, không rõ ràng;

+ Nguyên nhân do hình thức và điều khoản trong hợp đồng thi công; + Nguyên nhân do cơ chế, chính sách của nhà nước;

+ Nguyên nhân do các điều kiện khách quan khác

- Phân tích ảnh hưởng của các phát sinh đến dự án và các bên tham gia dự án:

+ Ảnh hưởng đến chất lượng;

+ Ảnh hưởng đến tiến độ;

+ Ảnh hưởng đến chi phí;

+ Ảnh hưởng đến trách nhiệm và quyền lợi của các bên tham gia dự án

- Đề xuất các biện pháp để nâng cao hiệu quả quản lý dự án từ góc độ chủ đầu tư, nhằm phòng ngừa những phát sinh trong quá trình thực hiện dự án Đối với những trường hợp phát sinh cần phải có biện pháp hạn chế những ảnh hưởng của nó đến sự thành công của dự án

Trang 18

1.5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Do thời gian nghiên cứu có hạn và khả năng thu thập số liệu cũng hạn chế, đồng thời để tránh dàn trải, chúng tôi đề xuất giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:

- Theo quy mô: nghiên cứu các dự án xây dựng nhóm B, C;

- Theo lĩnh vực: chủ yếu nghiên cứu các dự án xây dựng dân dụng và công nghiệp;

- Theo khu vực địa lý: các dự án xây dựng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận

1.6 NGUỒN DỮ LIỆU

Thông tin và dữ liệu có thể lấy từ các nguồn sau:

- Dữ liệu sơ cấp: thu thập thông tin qua các cuộc phỏng vấn những người có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý nhà nước về xây dựng, quản lý dự án, tư vấn thiết kế, thi công thông qua bảng câu hỏi; hồ sơ của các dự án đã và đang thực hiện

- Dữ liệu thứ cấp: Tin tức, tài liệu của các cơ quan chuyên ngành có liên quan; từ các báo cáo hàng tháng, hàng năm của các ban quản lý dự án; từ các báo cáo nghiên cứu đã có trước, các tạp chí…

1.7 LỢI ÍCH MONG MUỐN

Trước nhu cầu về công nghiệp hóa và đô thị hóa, quy mô các dự án xây dựng ngày càng lớn và mức độ phức tạp ngày càng tăng Đòi hỏi năng lực của các bên tham gia vào dự án phải không ngừng nâng cao Đặc biệt là chủ đầu tư mà đại diện là ban quản lý dự án có vai trò hết sức quan trọng trong việc điều hành thực hiện dự án, là đơn vị chịu trách nhiệm về sử dụng nguồn vốn và chất lượng của dự án

Vì vậy tác giả kỳ vọng kết quả nghiên cứu này sẽ là tài liệu bổ ích cho các ban quản lý dự án nghiên cứu áp dụng cho đơn vị mình nhằm hạn chế và kiểm soát những phát sinh trong quá trình thực hiện dự án, góp phần vào sự thành công của dự án

Trang 19

tư xây dựng hiện hành của Việt Nam Nội dung chương cũng bao gồm thông tin ngắn gọn về các nghiên cứu trước đây đối với vấn đề vượt chi phí, phát sinh, thay đổi trong dự án xây dựng, nhằm giúp chúng ta có định hướng nghiên cứu tránh trùng lặp đồng thời có sự thừa kế để phát triển sâu hơn những vấn đề đã được nghiên cứu

2.2 TÌNH TRẠNG VƯỢT CHI PHÍ VÀ PHÁT SINH TRONG CÁC DỰ ÁN XÂY DỰNG TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

Trong thời gian qua, với quá trình mở cửa và hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam đã có điều kiện hợp tác, học hỏi được nhiều từ đối tác, nhà tư vấn, nhà thầu nước ngoài trong công tác quản lý và thực hiện dự án xây dựng, qua đó doanh nghiệp từng bước nâng cao trình độ sản xuất và chất lượng sản phẩm xây dựng của mình Trong một thời gian ngắn, ngành xây dựng Việt Nam đã đạt được sự tăng tốc khá hoàn hảo, có khả năng tiếp cận và làm chủ các công nghệ, kỹ thuật xây dựng hiện đại của thế giới, đồng thời tạo sự thay đổi quan trọng trong nhận thức về quản lý, trong đó công nghệ quản lý chất lượng công trình xây dựng nói riêng, quản lý dự án nói chung (Trần Chủng, 2004) Trong phạm vi quản lý nhà nước, Chính phủ và Bộ Xây dựng đã ban hành các quy chế, hướng dẫn nhằm nâng cao hiệu quả trong quản lý chất lượng và chi phí xây dựng công trình

Tuy nhiên, tình trạng vượt chi phí và phát sinh, thay đổi trong các dự án xây dựng hiện nay là khá phổ biến Do chất lượng công tác quy hoạch, khảo sát, thiết kế thấp, sai sót về khối lượng công trình lớn, nên trong quá trình thi công phải sửa đổi, bổ sung nhiều lần làm ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng công trình Dự án cải tạo và nâng cấp quốc lộ 51 (đoạn Km0 – Km5 và đoạn Km5 – Km73+600) trong quá trình thi công phải bổ sung, điều chỉnh nhiều lần các hạng mục công trình, do không tính toán, đánh

Trang 20

giá đầy đủ các yêu cầu, khả năng phát triển của khu vực, tăng chi phí 41,7 tỷ đồng Dự án khôi phục và hoàn thiện cơ sở hạ tầng nghề cá, khối lượng phát sinh ở 6 cảng cá được kiểm toán lên đến 11,8 tỷ đồng (bằng 10,3% giá trị quyết toán) Tình hình phê duyệt lại nhiều lần dự án đầu tư, tổng mức đầu tư, tổng dự toán là khá phổ biến hiện nay Thậm chí một số dự án được phê duyệt, điều chỉnh sau khi đã hoàn thành quá trình xây lắp, thực chất là hợp thức hóa thủ tục thanh quyết toán khối lượng phát sinh, điều chỉnh Dự án mở rộng nhà máy đường Quảng Ngãi không thực hiện khảo sát, thiết kế, lập dự toán trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, mà sau khi bàn giao đưa vào sử dụng mới xin phê duyệt, vi phạm nghiêm trọng quy chế quản lý đầu tư và xây dựng Tổng mức đầu tư của dự án cầu Sông Gianh phải điều chỉnh 3 lần (năm 1995: 186 tỷ đồng, năm 1998: 239 tỷ đồng, năm 2000: 257 tỷ đồng) Dự án tòa nhà 11 tầng Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh phải phê duyệt lại; dự án Ký túc xá 5 tầng Đại học Tây Nguyên phê duyệt 2 lần… Chất lượng công tác thẩm định thiết kế, dự toán có nhiều sai sót, có nơi bị xem nhẹ, dẫn đến ở một vài dự án giá trị trúng thầu cao hơn giá trị thực tế do tính sai khối lượng như dự án ở Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Hành chính Quốc gia (Phạm Văn Nhạ, 2004, Từ kiểm toán xây dựng cơ bản, đặt ra một số vấn đề)

Hầu hết tình trạng phát sinh chi phí trong các dự án xây dựng là do công tác quản lý dự án xây dựng còn nhiều bất cập Nhiều công trình phải thay đổi quy mô, chức năng, thay đổi địa điểm xây dựng; thiết kế, dự toán còn nhiều sai sót; thi công sai thiết kế, gian lận trong thi công; dẫn đến chất lượng công trình kém phải đập phá để làm lại, làm chậm trễ tiến độ, giảm chất lượng, gây thất thoát và lãng phí Chung cư đô thị mới Đại Kim – Hà Nội (15 tầng, 136 căn hộ) khi thi công mới phát hiện tính thiếu 219 tấn thép Cảng Thị Vải (Bà Rịa – Vũng Tàu) vừa thiết, vừa thi công, chậm tiến độ 24 tháng, phải chi thêm 50,2 tỷ đồng; chất lượng kém, phải khắc phục lún, nứt tăng thêm 60 tỷ đồng, chi sai, thông đồng mua bán vật tư kém chất lượng,… vượt dự toán 134 tỷ đồng Nhà máy chế biến sắn Lương Trà An (An Giang) đầu tư 48,3 tỷ đồng phải tháo dỡ chuyển đi nơi khác vì không phù hợp với vùng ngập úng Quá trình xây dựng cầu Hoàng Long (Thanh Hóa) đã thất thoát gần 3 tỷ đồng, chất lượng công trình kém, phải đầu tư thêm 10 tỷ đồng để sửa chữa Cảng thương mại Năm Căn (Cà Mau) xây dựng sai thiết kế, sai quy trình kỹ thuật nên vừa xây dựng, vừa phải chỉnh sửa, chi thêm 117 tỷ đồng Nhà văn hóa huyện Phú Quốc vốn đầu tư 1,5 tỷ đồng, đã chi 660 triệu đồng mới phát hiện sai thiết kế, không sử dụng được Tỉnh lộ 883 Bến Tre do thiếu trách nhiệm của đơn vị tư vấn nên đã làm tăng 192,2 triệu đồng so với giá trị trúng thầu; đơn vị thi công làm sai

Trang 21

thiết kế, gian lận khối lượng đến 1,55 tỷ đồng (Công bố 59 công trình thất thoát năm 2004, Báo Sài Gòn Giải Phóng, các số tháng 4-2005) Các nguyên nhân gây vượt chi phí và thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản ở nước ta hiện nay bao gồm cả yếu tố kỹ thuật và phi kỹ thuật; trong đó, chủ đầu tư, đơn vị tư vấn thiết kế và nhà thầu xây dựng đều có phần trách nhiệm Do đó, việc nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý dự án xây dựng hiện nay là vô cùng cần thiết

2.3 KHẢO LƯỢC CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ PHÁT SINH TRONG DỰ ÁN XÂY DỰNG

Hiện nay, chưa có nghiên cứu nào về nguyên nhân và ảnh hưởng của các phát sinh trong dự án xây dựng Tuy nhiên, có nhiều nghiên cứu trong nước cũng như ngoài nước về vấn đề vượt chi phí, chậm tiến độ của dự án, trong đó có đề cập đến các phát sinh

2.3.1 Các nghiên cứu trong nước

2.3.1.1 Nghiên cứu của ThS Nguyễn Duy Long và ThS Lưu Trường Văn (2003)

Nghiên cứu của nhóm tác giả ThS Nguyễn Duy Long và ThS Lưu Trường Văn về Các vấn đề vướng mắc của các dự án ở thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), nghiên cứu xem xét mức độ xuất hiện của những tình huống không mong đợi liên quan đến các mục tiêu cơ bản của dự án Theo đó, sự chậm trễ và chi phí vượt được ghi nhận là thường hay xuất hiện Sự xuất hiện của tai nạn lao động, công trình kém chất lượng và tranh chấp cũng được thừa nhận đáng kể Điều này nói lên rằng việc quản lý dự án xây dựng ở TP.HCM vẫn còn nhiều bất cập Trong các yếu tố dẫn đến mục tiêu của dự án không đạt được thì vấn đề vượt chi phí được xếp thứ hai chỉ sau vấn đề chậm tiến độ

Bảng 2.1: Mục tiêu dự án không đạt theo ThS Nguyễn Duy Long và

ThS Lưu Trường Văn (2003)

Xếp

hạng

Nguyên nhân do Số trung bình Độ lệch chuẩn

Trang 22

Theo kết quả nghiên cứu, vấn đề vượt chi phí do các nguyên nhân chính sau:

• Dự toán chi phí và dự báo thời gian kém chính xác do các thiết kế thường không rõ ràng và thiếu chi tiết để đảm bảo các bên dự toán được chính xác;

• Quá nhiều thay đổi khi thực hiện có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau như mục tiêu và quy mô dự án không rõ ràng từ phía chủ đầu tư, các vấn đề thuộc về tính khả thi xây dựng, thay đổi công năng Hậu quả là có thể gây ra những gián đoạn khi thực hiện, gây ra những thay đổi trong tiến độ, chi phí phát sinh do nhiều công việc phải làm lại cũng như giảm hiệu suất lao động;

• Những khó khăn trong công tác đền bù, di dời, giải tỏa để giải phóng bằng giao đất cho thi công xây dựng

Công tác hoạch định không đúng quy cách là do thiếu cán bộ được đào tạo bài bản về quản lý dự án, các kỹ năng quản lý hiệu quả hiện đại trên thế giới chưa được vận dụng trong quản lý dự án ở nước ta Công tác hoạch định là trọng tâm của quản lý dự án mà mục đích là để đạt được mục tiêu đặt ra trong giới hạn về tài chính và các vấn đề khác Vì thế, hiệu quả của dự án có nguy cơ thấp nếu công tác hoạch định và lên tiến độ không được thực hiện tốt

2.3.1.2 Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Hải (2004)

Tác giả Nguyễn Xuân Hải đã đưa ra mô hình xác định và thể hiện rủi

ro chi phí của dự án xây dựng bằng biểu đồ hình xương cá Trong đó, các nguyên nhân chính làm cho mục tiêu về chi phí của dự án không đạt được là do các vấn đề thuộc về nhân công, điều kiện làm việc, vật liệu, máy móc, xáo trộn thiết kế

Trang 23

Hình 2.1: Biểu đồ hình xương cá thể hiện rủi ro chi phí trong dự án xây dựng

theo Nguyễn Xuân Hải (2004)

2.3.1.3 Nghiên cứu của Phạm Văn Nhạ (2004)

Theo tổng kết của tác giả Phạm Văn Nhạ, các nguyên nhân dẫn đến phát sinh trong trong xây dựng cơ bản bao gồm:

• Chất lượng công tác quy hoạch, khảo sát, thiết kế thấp, sai sót về khối lượng công trình lớn;

• Chất lượng công tác thẩm định thiết kế, dự toán có nhiều sai sót, có nơi bị xem nhẹ;

Hậu quả của các phát sinh đã ảnh hưởng đến sự thành công của dự án:

• Trong quá trình thi công phải sửa đổi, bổ sung nhiều lần làm ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng công trình;

• Phải phê duyệt lại dự án đầu tư, tổng mức đầu tư, tổng dự toán nhiều lần

Do sức ép về tiến độ, phải thi công phần phát sinh trước khi được phê duyệt, thậm chí một số dự án được phê duyệt, điều chỉnh sau khi đã hoàn thành quá trình xây lắp, thực chất là hợp thức hóa các thủ tục phát sinh, điều chỉnh, đã vi phạm nghiêm trọng quy chế quản lý đầu tư xây dựng

Trang 24

2.3.1.4 Nghiên cứu của Sở Xây dựng TP.HCM (2004)

Theo báo cáo kết quả kiểm tra công tác thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật – dự toán trên địa bàn TP.HCM năm 2003, Sở Xây dựng đã kiểm tra 499 hồ sơ thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán do các chủ đầu tư của các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước nộp tại Sở, trong đó hồ

sơ dự toán phát sinh do các nguyên nhân sau:

• Thay đổi phương án móng (từ móng cừ tràm sang móng cọc bê tông cốt thép);

• Giá vật tư thực tế đã tăng liên tục (sắt, thép, gỗ, cát, gạch,…);

• Chính sách, chế độ của nhà nước về xây dựng cơ bản thay đổi;

• Điều chỉnh chi tiết thiết kế trong quá trình thi công theo yêu cầu của chủ đầu tư và yêu cầu sử dụng

Cũng theo báo cáo trên, công tác quản lý các phát sinh còn nhiều thiếu sót, chưa tuân thủ một cách nghiêm ngặt quy chế quản lý đầu tư xây dựng của nhà nước

Bảng 2.2: Nội dung khiếm khuyết của hồ sơ phát sinh theo Sở Xây dựng

TP.HCM (2004)

STT Nội dung thể hiện bị khiếm khuyết Số lần/hồ sơ Tỷ lệ (%)

1 Thiếu biên bản phát sinh khi trình duyệt

thiết kế – dự toán phát sinh

3/16 19%

2 Không có văn bản chấp thuận của cấp

quyết định đầu tư khi trình duyệt phát sinh hạng mục

2/56 13%

3 Biên bản phát sinh thiếu khối lượng phát

sinh chi tiết đính kèm, thiếu diễn giải phát sinh tăng và giảm để đảm bảo không vượt tổng mức đầu tư

72/180 40%

2.3.2 Các nghiên cứu ngoài nước

Tại Nigeria, nghiên cứu của nhóm tác giả Mansfield, Ugwu và Doran về

Các nguyên nhân của sự chậm trễ tiến độ và vượt chi phí trong các dự án xây dựng ở Nigeria; nghiên cứu đã chỉ ra rằng hầu hết các nguyên nhân

gây ra chậm trễ tiến độ và vượt chi phí trong các dự án xây dựng tại

Trang 25

Nigeria vào đầu thập niên 1990 đều liên quan đến vấn đề con người và quản lý, đó cũng là tình hình chung của các nước đang phát triển

Bảng 2.3: Các yếu tố liên quan đến vấn đề chậm trễ tiến độ và vượt chi

phí trong các dự án xây dựng tại Nigeria theo Mansfield, Ugwu và Doran (1992)

Chỉ số trọng yếu (%)

Xếp

thầu tư vấn Nhà Quan chức nhà nước

2 Vấn đề về tài chính và thanh toán

7 Việc lựa chọn thầu phụ và nhà cung

Các yếu tố chỉ liên quan đến vấn đề

vượt chi phí

Theo nghiên cứu trên, công việc phát sinh được xếp thứ tư trong các nguyên nhân chính gây ra tình trạng vượt chi phí trong các dự án xây dựng Các yếu tố liên quan đến phát sinh bao gồm: sự thay đổi thiết kế và điều kiện sách kỹ thuật thiếu chi tiết

Theo nhóm tác giả, giai đoạn đầu của dự án là rất quan trọng, bao gồm các công việc: chọn đơn vị tư vấn thiết kế, hoạch định tài chính dự án, hệ thống hợp đồng và phương pháp xây dựng Việc giải quyết các vấn đề phi kỹ thuật có thể giảm thiểu tình trạng chậm trễ tiến độ và vượt chi phí, đây cũng là khuynh hướng quản lý xây dựng ở các nước đang phát triển trong những năm tới

Trang 26

2.4 SƠ LƯỢC VỀ LÝ THUYẾT QUẢN LÝ DỰ ÁN XÂY DỰNG

2.4.1 Dự án xây dựng

Theo định nghĩa của Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO trong tiêu chuẩn ISO 9000: 2000 và theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN ISO 9000: 2000) thì dự án được định nghĩa: “Dự án là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và được kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được một mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực”

Gần đây, dựa vào các đặc tính riêng có của dự án, tài liệu hướng dẫn kiến thức quản lý dự án (PMBOK 2000) của Viện Quản lý Dự án (Project Management Institute – Hoa Kỳ) định nghĩa dự án như sau: “Dự án là một nổ lực nhất thời được đảm nhận để tạo nên một sản phẩm hay một dịch vụ duy nhất Nhất thời có nghĩa là mỗi dự án đều có một khởi đầu xác định và một kết thúc xác định Duy nhất có nghĩa là qua một số cách phân biệt, sản phẩm dịch vụ này đều có sự khác biệt so với những sản phẩm hay dịch vụ khác”

Theo Luật Xây dựng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 26-12-2003, Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm phần thuyết minh và phần kiến thiết cơ sở

Căn cứ vào các định nghĩa trên, ta có thể hiểu rằng: Dự án xây dựng là dự án đầu tư trong đó có hoạt động xây dựng

2.4.2 Các giai đoạn của dự án xây dựng

Theo Donald S Barrie và Boyd C Paulson (1992), vòng đời một dự án xây dựng bao gồm sáu giai đoạn cơ bản: khái niệm và nghiên cứu khả thi, thiết kế, mua sắm, xây dựng, khởi động – chạy thử, vận hành – sử dụng Tùy theo từng dự án, mức độ xen kẽ gối đầu giữa các giai đoạn cũng như thời gian và sự phân bổ trách nhiệm thực hiện khác nhau

Trang 27

Hình 2.2: Minh họa tiến độ các giai đoạn trong vòng đời dự án xây dựng

theo Donald S Barrie và Boyd C Paulson (1992)

• Giai đoạn khái niệm và nghiên cứu khả thi: các phần công việc trong giai đoạn này bao gồm những phân tích khái niệm, các nghiên cứu khả thi về kỹ thuật và kinh tế, các báo cáo về tác động môi trường Theo thông lệ, giai đoạn đầu tiên này thường chỉ do chủ đầu tư tự tổ chức thực hiện hoặc cùng cộng tác với các nhà tư vấn có hiểu biết sâu sắc về những nhân tố quan trọng nhất có thể ảnh hưởng tới tình trạng dự án

• Giai đoạn thiết kế: thiết kế có hai bước chính là thiết kế sơ bộ và thiết kế kỹ thuật chi tiết Giai đoạn này nói chung thuộc phạm vi của các kiến trúc sư, kỹ sư thiết kế Tuy nhiên, theo xu hướng hiện nay, giai đoạn này cần có sự tham gia tích cực của chủ đầu tư về kiến thức vận hành và sử dụng công trình, cũng như sự đóng góp kinh nghiệm của các chuyên gia thi công xây dựng thông qua sự tham gia trực tiếp của họ hoặc bằng các thủ tục soát xét nghiêm ngặt

• Giai đoạn mua sắm (hay cung ứng): giai đoạn này gồm hai hoạt động chính Một là ký kết hợp đồng chính và các hợp đồng phụ về thi công xây dựng của nhà thầu (tổng thầu hoặc từng gói thầu chuyên ngành) Hai là mua sắm các vật liệu và thiết bị cần thiết trong quá trình xây dựng Sự phân bổ trách nhiệm cho hai chức năng này khác biệt rất lớn và đặc biệt phụ thuộc vào cách thức ký hợp đồng cho từng dự án cụ thể Theo hình thức truyền thống là đấu thầu cạnh tranh để chọn một tổng thầu duy nhất Nhà thầu này cung ứng dịch vụ thi công xây dựng cũng

Trang 28

như phần lớn vật liệu, thiết bị yêu cầu cho dự án Công tác này được thực hiện ngay sau khi phần thiết kế chi tiết và các quy định kỹ thuật được hoàn tất

• Giai đoạn xây dựng: xây dựng là một quá trình trong đó những đồ án và quy định kỹ thuật của nhà thiết kế được chuyển đổi thành những kết cấu và tiện nghi vật chất Giai đoạn này bao gồm công tác tổ chức và phối hợp mọi nguồn tài nguyên cho dự án như lao động, vật liệu, máy thi công, công nghệ, tiền bạc, thời gian, các phương tiện phục vụ,… để hoàn thành dự án đúng tiến độ, trong phạm vi ngân sách cho phép và tuân thủ theo những yêu cầu về chất lượng và hiệu suất được quy định bởi người thiết kế Trong giai đoạn này, các nhà thầu chính, thầu phụ cùng với đội ngũ nhân viên xây dựng của họ sẽ đóng vai trò chủ lực Đồng thời, các nhà thiết kế cũng đóng góp, tham gia công tác kiểm tra, giải thích về kỹ thuật Đóng vai trò phụ trợ là các nhà cung cấp vật liệu, thiết bị, các cố vấn chuyên ngành, các đơn vị dịch vụ vận tải,… Chi phí cho giai đoạn này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngân sách của dự án

• Giai đoạn khởi động – chạy thử: hầu hết các công trình chính hay phụ, với những quy mô lớn nhỏ khác nhau, đều trải qua giai đoạn này Trong quá trình xây dựng công trình, nhiều việc kiểm tra, thử nghiệm đối với các thành phần, hạng mục công trình cũng đã được tiến hành Tuy nhiên, khi gần hoàn tất, điều quan trọng là phải đảm bảo chắc chắn rằng tất cả các thành phần của công trình đều hoạt động tốt và nhịp nhàng với nhau như một hệ thống thống nhất Đối với một số công trình, việc này chủ yếu liên quan đến các công tác thử nghiệm, hiệu chỉnh các hệ thống điện – cơ để cho chúng hoạt động với hiệu quả tối ưu Đối với những dự án công nghiệp nặng như nhà máy điện, dầu khí, xưởng sản xuất, khởi động là một quá trình hết sức phức tạp để đưa thiết bị công nghệ đạt tới những giới hạn kỹ thuật của nó cũng như để quan sát sự hoạt động của thiết bị dưới các điều kiện bình thường hiệu quả hay không

• Giai đoạn vận hành – sử dụng: giá trị chức năng của dự án sẽ phụ thuộc vào các quyết định và sự thực hiện các mục tiêu được thiết lập trong các giai đoạn trước Các đối tượng tham gia giai đoạn vận hành và sử dụng công trình bao gồm từ những người bảo vệ, nhân viên vệ sinh, công nhân vận hành đến các kỹ thuật viên, kỹ sư, chuyên gia về thiết

bị, nhà quản lý,… Trong những trường hợp có sự mở rộng hoặc thay đổi lớn trong công trình, giai đoạn vận hành có thể bao gồm và lặp lại năm

Trang 29

giai đoạn trước, dù rằng công việc có thể được tự thực hiện trong nội bộ hay thuê ngoài thông qua các hợp đồng

Tại Việt Nam, quy chế Quản lý Đầu tư và Xây dựng được Chính phủ ban hành kèm theo nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 8-7-1999, phân chia trình tự đầu tư và xây dựng thành ba giai đoạn chính:

• Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: thực hiện báo cáo nhiên cứu tiền khả thi, khả thi, báo cáo tác động môi trường; kết thúc giai đoạn là quyết định phê duyệt đầu tư

• Giai đoạn thực hiện đầu tư: là giai đoạn quan trọng nhất bao gồm các công tác thiết kế, đấu thầu, thi công xây dựng công trình

• Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng: nghiệm thu công trình, bàn giao cho chủ đầu tư đưa vào khai thác sử dụng

Các công việc trong giai đoạn thực hiện đầu tư và kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác sử dụng có thể thực hiện tuần tự hoặc gối đầu, xen kẽ tùy theo điều kiện cụ thể của từng dự án do người có thẩm quyền quyết định đầu tư quyết định

Hình 2.3: Các giai đoạn của một dự án xây dựng theo Nguyễn Văn

Đáng (2003)

2.4.3 Quản lý dự án xây dựng

Theo PMBOK 2000, quản lý dự án là sự áp dụng kiến thức, các kỹ năng, công cụ và công nghệ vào các hoạt động của dự án để đạt được các yêu cầu của dự án Công tác quản lý dự án được hoàn tất trọn vẹn thông qua việc áp dụng các quá trình như: khởi đầu, hoạch định, thực hiện, kiểm soát và kết thúc Các công việc trong dự án vốn có những đặc điểm sau:

• Những đòi hỏi cạnh tranh về phạm vi công việc, thời gian, chi phí, rủi

ro và chất lượng;

Trang 30

• Các bên liên quan với những nhu cầu và kỳ vọng khác nhau;

• Yêu cầu xác định rõ của dự án

Theo TS Nguyễn Minh Nghi (2003), quản lý dự án hiện đại được thực hiện thông qua việc sử dụng một tiến trình bao gồm: nêu sáng kiến, lập kế hoạch, triển khai thực hiện, kiểm tra thực hiện và hoàn thành Tiến trình này được tổ chức thành chín lĩnh vực kiến thức:

• Quản lý hợp nhất: để đảm bảo các thành phần khác nhau của dự án được phối hợp chặt chẽ với nhau Đây chính là tạo cân đối giữa mục tiêu và các giải pháp chọn lựa nhằm đáp ứng hoặc đáp ứng vượt mức nhu cầu và sự mong đợi của các cổ đông

• Quản lý phạm vi dự án: để đảm bảo dự án bao gồm toàn bộ công việc cần có, và chỉ có các công việc ấy để thực hiện thành công dự án Ngay từ đầu cần xác định và kiểm tra xem cái gì bao gồm hoặc không bao gồm trong dự án

• Quản lý thời gian: để đảm bảo dự án hoàn thành đúng thời gian

• Quản lý chi phí: để đảm bảo dự án hoàn tất với ngân sách đã được phê duyệt

• Quản lý chất lượng: để đảm bảo dự án đáp ứng các yêu cầu khi đưa ra dự án

• Quản lý rủi ro: để đảm bảo việc xác định, phân tích và giải quyết những rủi ro nảy sinh khi thực hiện dự án Phương châm chung là tối đa hóa khả năng và kết quả của các sự việc tích cực, tối thiểu hóa khả năng và hệ quả các sự việc tiêu cực đối với các mục tiêu của dự án

• Quản lý nguồn nhân lực: để đảm bảo việc sử dụng nguồn nhân lực được hiệu quả nhất trong thực hiện dự án

• Quản lý thông tin: để đảm bảo việc thu thập thông tin, truyền đạt thông tin kịp thời, thích hợp và cuối cùng là lưu trữ thông tin Điều này tạo nên mối liên hệ cần thiết giữa người, ý tưởng và truyền tin, vốn rất cần thiết cho sự thành công của dự án

• Quản lý cung cấp dịch vụ cho dự án: để đảm bảo việc mua sắm vật tư và dịch vụ đáp ứng được mục tiêu của dự án

Theo Nguyễn Văn Đáng (2003), quản lý dự án xây dựng rất khác với quản lý một tổ chức có trạng thái ổn định Một dự án có thời điểm bắt đầu

Trang 31

và kết thúc rất rõ ràng trong khi một tổ chức ổn định vận hành liên tục Khoa học quản lý dự án trong xây dựng không thể cho chúng ta những lời giải lý tưởng có sẵn bởi lẽ những lời giải đó ít khi tồn tại trong thế giới hiện thực Nhưng khoa học quản lý dự án sẽ cung cấp cho chúng ta phương pháp tiếp cận hợp lý và lô-gic để quản lý dự án xây dựng

Hình 2.4: Các yếu tố của quản lý dự án theo Nguyễn Văn Đáng (2003)

Hình 2.5: Các bước thực hiện quản lý dự án theo Nguyễn Văn Đáng

(2003)

Trang 32

Các nội dung của quản lý dự án có tác động qua lại lẫn nhau và không có cái nào tồn tại độc lập Nguồn lực phân bổ cho các khâu quản lý phụ thuộc vào các ưu tiên cơ bản, ưu tiên vào các hình thức lựa chọn để quản lý

2.4.4 Các hình thức quản lý thực hiện dự án

2.4.4.1 Các hình thức quản lý dự án xây dựng phổ biến trên thế giới

• Hình thức truyền thống (chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án): hình thức này phổ biến nhất, chủ đầu tư thuê một đơn vị tư vấn chịu trách nhiệm lập dự án, thiết kế và soạn thảo các văn bản đấu thầu, giúp cho chủ đầu tư tổ chức việc đấu thầu và giám sát công trình thi công xây lắp của nhà thầu

• Hình thức quản lý theo dự án (chủ nhiệm điều hành dự án): chủ đầu tư thuê một đơn vị tư vấn thay mình đứng ra giao dịch với các đơn vị thiết kế, cung ứng vật tư và đơn vị nhận thầu thi công Đơn vị tư vấn chịu trách nhiệm mọi mặt, nhưng không phải là người tổng thầu xây dựng

• Hình thức chìa khóa trao tay: chủ đầu tư chỉ quan hệ với một đơn vị tổng thầu chịu trách nhiệm toàn bộ quá trình lập dự án, thiết kế đến thi công xây lắp hoàn chỉnh để giao cho chủ đầu tư vận hành và sử

dụng

• Hình thức tự quản (tự làm): sử dụng lực lượng nội bộ trong đơn vị của chủ đầu tư tiến hành mọi việc liên quan đến xây dựng công trình, từ

việc lập dự án, thiết kế đến thi công rồi đưa vào sử dụng

2.4.4.2 Các hình thức quản lý dự án xây dựng tại Việt Nam

Theo nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07-02-2005 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, căn cứ vào điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân, yêu cầu của dự án, người quyết định đầu tư xây dựng công trình quyết định lựa chọn một trong các hình thức quản lý dự án đầu

tư xây dựng công trình sau đây:

• Thuê tổ chức tư vấn quản lý dự án khi chủ đầu tư xây dựng công trình không đủ điều kiện năng lực, hình thức này có bốn phương án:

- Phương án 1: Thuê một ban quản lý dự án chuyên nghiệp làm quản

lý tổng hợp cho mình (cũng có thể gọi là Chủ nhiệm điều hành dự án);

Trang 33

- Phương án 2: Thuê một công ty tư vấn có đăng ký kinh doanh quản

lý dự án (có chức năng) làm quản lý cho mình;

- Phương án 3: Thuê một công ty tư vấn lập dự án (nghiên cứu tiền

khả thi, nghiên cứu khả thi), rồi ký hợp đồng EPC với một tổ chức có đủ khả năng Sau đó lại thuê một công ty tư vấn khác (hoặc chính công ty tư vấn lập dự án) làm giám sát cho hợp đồng EPC;

- Phương án 4: Thuê một công ty tư vấn hoặc một nhóm chuyên gia

giỏi ra đầu bài cho dự án (phác họa ý tưởng ban đầu), rồi ký hợp đồng chìa khóa trao tay (lập dự án + EPC) Sau đó lại thuê một công ty tư vấn hoặc một nhóm chuyên gia làm giám sát cho hợp đồng

Trang 34

• Trực tiếp quản lý dự án khi chủ đầu tư xây dựng công trình có đủ điều kiện năng lực về quản lý dự án, hình thức này cũng có bốn phương án:

- Phương án 1: Tự quản lý hoàn toàn và chỉ đạo thực hiện hoàn toàn

bằng lực lượng khảo sát, thiết kế, thi công của chính mình;

- Phương án 2: Tự quản lý hoàn toàn, chỉ đạo thực hiện bằng chính

lực lượng của mình một phần và thuê các tổ chức khác thực hiện một phần;

- Phương án 3: Tự quản lý một phần, thuê tổ chức khác quản lý một phần và thực hiện hoàn toàn bằng chính lực lượng của mình;

Trang 35

- Phương án 4: Tự quản lý một phần, thuê tổ chức khác quản lý một

phần và thực hiện bằng chính lực lượng của mình một phần, thuê tổ

chức khác thực hiện một phần

2.4.5 Các loại hợp đồng trong xây dựng

2.4.5.1 Các loại hợp đồng xây dựng phổ biến trên thế giới

• Hợp đồng trọn gói không có tiên lượng: đây là loại hợp đồng thi công đơn giản nhất Hồ sơ hợp đồng bao gồm các bản vẽ, thông số kỹ thuật và các điều khoản hợp đồng Nhà thầu có thể sử dụng bất kỳ phương pháp nào để xác định giá dự thầu của mình sao cho có lãi và có thể cạnh tranh để trúng thầu Đối với các dự án nhỏ, hợp đồng trọn gói không có bảng tiên lượng sẽ cho một ưu điểm là tiết kiệm được thời gian và chi phí cho việc lập dự toán Tuy nhiên, trong quá trình thi công nếu có những thay đổi thì rất khó khăn để tính toán phát sinh cho những thay đổi đó Do đó, đòi hỏi chủ đầu tư cần chuẩn bị bộ tài liệu

Trang 36

thiết kế bao gồm các thông số kỹ thuật chính xác và các bản vẽ đúng, rõ ràng

• Hợp đồng trọn gói có tiên lượng: loại hợp đồng này cũng tương tự như hợp đồng trọn gói không tiên lượng, chỉ khác một điều là có bao gồm bảng tiên lượng dự toán Nhà thầu dựa vào bảng tiên lượng dự toán để tính giá dự thầu Nhiều nhà thầu coi hình thức này là khả dĩ nhất vì nó tránh được sự chênh lệch quá lớn giữa các giá dự thầu vì tất cả các nhà thầu cạnh tranh đều dựa trên một bảng tiên lượng Mặc dù kết quả cuối cùng là xác định được giá trúng thầu, nhưng trong đại đa số các hợp đồng, thì tổng số tiền thanh toán cho nhà thầu sẽ căn cứ vào khối lượng thực tế xây dựng Trong những trường hợp này, thì yêu cầu đối với nhà tư vấn và nhà thầu là các điều khoản hợp đồng thỏa thuận về khối lượng công việc mà họ phải thực hiện bắt đầu từ khi triển khai dự án Mẫu hợp đồng này có thể bao gồm cả bảng liệt kê các đơn giá và được dùng để tính toán chi phí cho những thay đổi dẫn tới khối lượng công việc phát sinh Nhà thầu có thể sử dụng những đơn giá đó để tính chi phí cho khối lượng phát sinh

• Hợp đồng theo đơn giá: loại hợp đồng này được dùng khi chủ đầu tư không có đủ thời gian để lập một bảng tiên lượng đầy đủ hoặc không thể xác định được khối lượng công việc dự toán, chẳng hạn như công trình sửa chữa đường bộ, sữa chữa hệ thống cấp nước Theo quan điểm của các nhà tư vấn thì loại hợp đồng này có thể mang lại một số lợi điểm cho phía chủ đầu tư, nhưng đồng thời lại là cách đẩy gánh nặng khá quan trọng về phía nhà thầu Đối với loại hợp đồng này nhà thầu sẽ gặp rất nhiều rủi ro vì những chi phí tiềm ẩn phát sinh rất lớn Cùng một đơn giá dự thầu với khối lượng thi công lớn nhà thầu sẽ có lãi, nhưng khi khối lượng thi công nhỏ nhà thầu có thể lỗ do chi phí bất biến trong hai trường hợp trên có thể là như nhau

• Hợp đồng tổng thầu: theo loại hợp đồng này thì các nhà thầu được mời thầu cả phần thiết kế và xây lắp cho toàn bộ công trình Phương pháp này có nhiều ưu điểm là chủ đầu tư chỉ cần làm việc với một nhà thầu duy nhất, đơn vị thiết kế và thi công phối hợp được với nhau ngay từ đầu để tìm ra giải pháp thiết kế và thi công tốt nhất Những điểm bất lợi chính là các chi phí có liên quan đến phương pháp này Trong thực tế các tổng thầu phải nghiên cứu thiết kế cả công trình, do vậy các chi phí có thể khá lớn Các tổng thầu phải cân nhắc giữa cơ hội trúng thầu với các chi phí dự thầu là một công việc phức tạp, điều này có thể làm cho nhiều nhà thầu do dự, đặc biệt là các nhà thầu đang phát triển, sẽ dẫn đến tình trạng không đủ số lượng nhà thầu tham dự cho chủ đầu tư

Trang 37

lựa chọn hoặc sẽ trở thành độc quyền đối với một số nhà thầu Để khắc phục tiêu cực có thể xảy ra và giảm bớt các chi phí dự thầu, tạo điều kiện cho các nhà thầu tham gia đấu thầu rộng rãi, người ta đưa ra thủ tục đấu thầu hai giai đoạn:

- Giai đoạn 1: các nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu sơ bộ gồm đề xuất về

kỹ thuật và phương án tài chính (chưa có giá) để bên mời thầu xem xét và thảo luận cụ thể với từng nhà thầu, nhằm thống nhất về yêu cầu và tiêu chuẩn kỹ thuật để nhà thầu chuẩn bị và nộp hồ sơ dự thầu chính thức của mình

- Giai đoạn 2: bên mời thầu mời các nhà thầu đạt yêu cầu ở giai

đoạn 1 nộp hồ sơ dự thầu chính thức với đề xuất kỹ thuật đã được bổ sung hoàn chỉnh trên cùng một mặt bằng kỹ thuật và đề xuất chi tiết về tài chính với đầy đủ nội dung về tiến độ thực hiện, điều kiện hợp đồng và giá dự toán

Đối với hợp đồng tổng thầu, chủ đầu tư phải lập dự án đầu tư hoặc ra đầu bài cho các nhà thầu đầy đủ, chính xác, các yêu cầu kỹ thuật và điều khoản hợp đồng phải chặt chẽ, đồng thời phải có bộ phận giám sát thực hiện hợp đồng chuyên nghiệp

• Hợp đồng chi phí cộng thêm: phương pháp này có thể sử dụng cho công trình khi khó xác định phạm vi công việc Chi phí trực tiếp bao gồm: vật liệu, tiền lương nhân công, máy thi công, giám sát kỹ thuật cùng với các khoản chi phí bảo hiểm và thầu phụ Chi phí quản lý và lợi nhuận của nhà thầu chính được tính theo tỷ lệ phần trăm của chi phí trực tiếp Một số nhà thầu có thể được mời tham gia đấu thầu cạnh tranh, và hợp đồng sẽ ký kết với nhà thầu có tỷ lệ chi phí quản lý và lợi nhuận thấp nhất Nhược điểm của loại hợp đồng này là nhà thầu không có động cơ kiểm soát chi phí của mình, chủ đầu tư rất khó kiểm soát được chi phí thực tế của nhà thầu Để khắc phục vấn đề này người ta đưa ra loại hợp đồng chi phí cộng thêm cố định, tức là chi phí quản lý và lợi nhuận của nhà thầu là một con số cố định chứ không tính theo tỷ lệ của chi phí trực tiếp Như vậy, nhà thầu muốn có lợi nhuận cao phải rút ngắn thời gian thi công

2.4.5.2 Các loại hợp đồng xây dựng tại Việt Nam

Theo thông tư số 02/2005/TT-BXD ngày 25-02-2005 của Bộ Xây dựng hướng dẫn hợp đồng trong hoạt động xây dựng, tùy theo quy mô, tính

Trang 38

chất của công trình, loại công việc, các mối quan hệ giữa các bên, hợp đồng xây dựng có thể có nhiều loại với nội dung khác nhau:

• Hợp đồng tư vấn: được ký kết giữa bên giao thầu và bên nhận thầu để thực hiện các công việc tư vấn như: lập quy hoạch xây dựng; lập dự án đầu tư xây dựng công trình; khảo sát xây dựng; thiết kế xây dựng công trình; lựa chọn nhà thầu giám sát thi công xây dựng công trình; quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình; thẩm tra thiết kế, tổng dự toán, dự toán và các hoạt động tư vấn khác có liên quan đến xây dựng công trình

• Hợp đồng thi công xây dựng: được ký kết giữa bên giao thầu và bên nhận thầu để thực hiện việc thi công xây dựng công trình, hạng mục công trình hoặc phần việc theo thiết kế, dự toán xây dựng công trình

• Hợp đồng tổng thầu xây dựng: được ký kết giữa chủ đầu tư với một nhà thầu hoặc một liên danh nhà thầu (gọi chung là tổng thầu) để thực hiện một loại công việc, một số loại công việc hoặc toàn bộ các công việc của dự án đầu tư xây dựng công trình, như: thiết kế; thi công; thiết kế và thi công xây dựng công trình; thiết kế, cung ứng vật tư thiết bị, thi công xây dựng công trình (Hợp đồng tổng thầu EPC); lập dự án, thiết kế, cung ứng vật tư thiết bị, thi công xây dựng công trình (hợp đồng tổng thầu chìa khóa trao tay)

Đối với từng loại hợp đồng, bên giao thầu và bên nhận thầu có thể thỏa thuận về giá hợp đồng và phương thức thanh toán theo một trong các phương thức sau:

• Hợp đồng theo giá trọn gói: giá trị của hợp đồng được xác định ngay khi các bên ký hợp đồng xây dựng để thực hiện một phần hoặc toàn bộ công trình, hạng mục công trình xây dựng ghi trong hợp đồng và không thay đổi trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng, trừ các trường hợp thay đổi, phát sinh theo quy định Phương thức hợp đồng này thường được áp dụng trong các trường hợp:

- Công trình hoặc gói thầu có thể xác định rõ về khối lượng, chất lượng và thời gian thực hiện;

- Bên nhận thầu phải có đủ năng lực, kinh nghiệm, có đủ tài liệu thiết kế để tính toán, xác định giá trọn gói và các rủi ro liên quan đến giá trọn gói;

- Hợp đồng có thời hạn thực hiện dưới 12 tháng hoặc dài hơn nhưng tình hình thị trường có khả năng ổn định về giá

Trang 39

Phương thức hợp đồng theo giá trọn gói sẽ hạn chế các phát sinh, chủ đầu tư dễ kiểm soát chi phí của dự án, nhưng nhà thầu sẽ chịu mọi rủi

ro khi khối lượng thực tế thi công lớn hơn khối lượng dự thầu hay giá cả thị trường biến động Nhà thầu chỉ được thanh toán chi phí phát sinh khi có sự thay đổi thiết kế hoặc các thay đổi khác theo yêu cầu của chủ đầu

tư Khâu nghiệm thu, thanh quyết toán cũng tương đối đơn giản

• Hợp đồng theo đơn giá cố định: đơn giá cố định là đơn giá được xác định cho một đơn vị công việc hoặc đơn vị khối lượng cần thực hiện trong hợp đồng xây dựng và không thay đổi trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng, Trừ các trường hợp thay đổi, phát sinh theo quy định Đơn giá cố định được xác định ngay khi ký hợp đồng xây dựng và là một trong những căn cứ để thanh toán công việc hoặc khối lượng xây dựng hoàn thành Giá trị thanh toán được tính bằng cách nhân khối lượng công việc hoàn thành được xác định với đơn giá cố định ghi trong hợp đồng Phương thức hợp đồng này thường được áp dụng trong trường hợp:

- Công trình hoặc gói thầu có các công việc mang tính chất lặp lại, có đủ điều kiện để xác định được đơn giá cho từng loại công việc cần thực hiện nhưng không lường hết khối lượng công việc;

- Bên nhận thầu phải có đủ năng lực, kinh nghiệm, có đủ tài liệu thiết kế để xác định các đơn giá và các rủi ro liên quan đến việc xác định mức đơn giá cố định;

- Hợp đồng có thời hạn thực hiện dưới 12 tháng hoặc dài hơn nhưng tình hình thị trường có khả năng ổn định về giá

Chi phí xây lắp của công trình không thể dự trù được chính xác khi sử dụng hợp đồng theo đơn giá cố định, vì không biết chính xác khối lượng công việc sắp thực hiện là bao nhiêu, trong quá trình thi công đòi hỏi chủ đầu tư phải có một quy trình giám sát khối lượng một cách nghiêm ngặt để làm cơ sở thanh toán cho nhà thầu Do không dự tính được khối lượng công việc nên về phía nhà thầu cũng có một số rủi ro nhất định như những công việc phát sinh tiềm ẩn, giá cả thị thường biến động

• Hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh: giá điều chỉnh là giá tạm tính cho khối lượng công việc thực hiện trong hợp đồng xây dựng mà tại thời điểm ký hợp đồng xây dựng không đủ điều kiện xác định chính xác về khối lượng công việc cần thực hiện, về các yếu tố chi phí để xác định

Trang 40

đơn giá hoặc cả hai trường hợp trên Phương thức hợp đồng này thường được áp dụng trong trường hợp:

- Công trình hoặc gói thầu không thể xác định chính xác về khối lượng, chất lượng và thời gian thực hiện;

- Hợp đồng có thời gian thực hiện trên 12 tháng;

- Các công việc trong hợp đồng chưa có đơn giá

Chi phí xây lắp của công trình không thể dự trù được chính xác khi sử dụng hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh, vì không biết chính xác khối lượng và đơn giá của các công việc, trong quá trình thi công chủ đầu tư cần phải giám sát khối lượng thật nghiêm ngặt để làm cơ sở thanh toán cho nhà thầu Khi thương thảo hợp đồng hai bên phải thỏa thuận về các điều kiện và công thức điều chỉnh giá, thống nhất các hạng mục và loại vật tư được điều chỉnh giá Với phương thức hợp đồng này, về phía nhà thầu ít bị rủi ro, nhưng khâu nghiệm thu, thanh quyết toán rất phức tạp và mất nhiều thời gian

• Hợp đồng kết hợp các loại giá trên: căn cứ vào các loại công việc theo hợp đồng để thỏa thuận, trong đó có những công việc xác định theo giá trọn gói, có những loại công việc xác định theo đơn giá cố định và có loại công việc xác định theo đơn giá điều chỉnh Phương thức hợp đồng này thường được áp dụng đối với các công trình hoặc gói thầu quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp, thời gian thực hiện dài

2.4.6 Quản lý chi phí của dự án

Theo Nguyễn Xuân Hải (2004), kiểm soát chi phí là sự duy trì chi tiêu trong phạm vi ngân sách cho phép bằng cách sử dụng các biện pháp hợp lý khi cần thiết như đã được nêu ra qua những phân tích về chi phí dự tính ứng với ngân sách

Kiểm soát chi phí bao gồm việc phân tích, dự tính, báo cáo về tình hình chi phí, cùng các hoạt động quản lý để điều chỉnh lại những sai sót và tính toán các chi phí

Người quản lý dự án phải quản lý về tài chính, lập kế hoạch và giám sát dự án của mình với mục tiêu giảm thiểu chi phí tổng thể tùy theo thời gian thích hợp và những hạn chế trong quá trình hoạt động

Ngày đăng: 16/04/2021, 15:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Arditi RD, Akan GT, Gurdamar S, 1985, Reason of delays in public project in Turkey, Construction Management and Economics Khác
2. Anton De Wit, 1988, Measurement of Project success, Deminex wergelandsveien 7, PO Box 1767 Vika, N-0122 Oslol, Norway Khác
3. Bộ Xây dựng, 1999, Bộ tiêu chuẩn Việt Nam TCVN ISO 9000 và hệ chất lượng trong xây dựng, NXB Xây dựng Khác
4. Công bố 59 công trình thất thoát năm 2004, Báo Sài Gòn Giải Phóng, các số tháng 04-2005 Khác
5. David I. Cleland, Lewis R. Ireland, 2002, Project management, McGraw-Hill, Inc Khác
7. Đinh Sỹ Chương, 1999, ISO 9000 giải thích và hướng dẫn áp dụng trong xây dựng, NXB Xây dựng Khác
8. Đỗ Thị Xuân Lan, 2003, Quản lý dự án xây dựng, NXB Đại học Quốc gia TP. Hoà Chí Minh Khác
9. Hồ Thanh Phong, 2003, Xác suất thống kê trong kỹ thuật hệ thống công nghiệp, NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh Khác
10. Lê Văn Kiểm, Ngô Quang Tường, 1998, Quản lý dự án bằng sơ đồ mạng, Trường Đại học Bách Khoa TP. Hồ Chí Minh Khác
11. Luật Xây dựng được Quốc hội nước Công hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 26-12-2003 Khác
12. Luck David J., Rubin R.S, Marketing reseach, Phan Vaên Thaêng – Nguyễn Văn Hiến lược dịch và biên soạn, 2002, NXB Thống kê Khác
13. Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 08-07-1999, nghị định số 12/2000/NĐ-CP ngày 05-05-2000, nghị định số 07/2003/NĐ-CP ngày 30- 01-2003 của Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý đầu tư và xây dựng Khác
14. Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07-02-2005 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình Khác
15. Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16-12-2004 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng Khác
16. Nguyễn Duy Long và Lưu Trường Văn, 2003, Các vấn đề vướng mắc của các dự án ở thành phố Hồ Chí Minh, Hội nghị Khoa học trẻ Bách Khoa laàn 4 naêm 2003 Khác
17. Nguyễn Minh Nghi, 2003, Đào tạo quản lý dự án, Báo Tuổi Trẻ số ra ngày 16-11-2003 Khác
18. Nguyễn Văn Đáng, 2003, Quản lý dự án xây dựng, NXB Thống kê Khác
19. Nguyễn Văn Đồng, 2004, Nghiên cứu mức độ sai sót trong hồ sơ thiết kế của các dự án và đề xuất hệ thống quản lý chất lượng thiết kế hiệu quả trong các doanh nghiệp tư vấn thiết kế xây dựng, Luận văn thạc sĩ Khác
20. Nguyễn Xuân Hải, 2004, Quản lý dự án xây dựng nhìn từ góc độ nhà nước, nhà đầu tư, nhà tư vấn, nhà thầu, NXB Xây dựng Khác
21. Nguyễn Thanh Bình, 2004, Ảnh hưởng của tài nguyên đến việc chậm tiến độ các dự án xây dựng ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w