1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ngập lụt vùng ven sông sài gòn, đồng nai, tp hồ chí minh do chế độ xả lũ các hồ dầu tiếng, trị an, thác mơ, kết hợp với mưa triều cường và lũ sông vàm cỏ

101 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 2,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

II/ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: Dựa trên đặc điểm tự nhiên thành phố Hồ Chí Minh và quy trình vận hành các hồ chứa, đề tài này sẽ nghiên cứu ngập lụt vùng ven sông Sài Gòn - Đồng Nai thành phố

Trang 1

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Tính toán thuỷ lực cho thành phố Hồ Chí Minh với nhiều bài toán tổ hợp lũ đã và đang được nghiên cứu nhằm tìm ra giải pháp tối ưu giải quyết triệt để vấn đề ngập lụt, thoát nước đô thị và cao trình san nền Nghiên cứu các tổ hợp bất lợi, đặc biệt khi xả lũ thiết kế các hồ chứa thượng nguồn để dự báo được mức độ ảnh hưởng và kiến nghị một số phương án cho các vấn đề nêu trên của thành phố

-

ABSTRACT

Hydraulic calculating for Ho Chi Minh city with a lot of flood combination problems are investigated to find out the best solution which solve absolutly the flood problem, city drainage and finished elevation Investigating the critical combination, specially let the flood design the water reservoir at upper reaches out to forcast the influential standard and petition some project the city raised problem

Trang 2

- 1 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

I/ CƠ SỞ HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI:

Thành phố Hồ Chí Minh có vị trí địa lý và đặc điểm địa hình rất đặc biệt,

là một khu vực điển hình về vấn đề ngập lụt do chịu ảnh hưởng nhiều tác nhân đặc trưng gây ngập lụt: lũ sông lớn, hồ chứa thượng nguồn, mưa, thủy triều, ảnh hưởng nước dâng vùng cửa sông do tác động của sóng gió, bão

Nằm ở hạ lưu hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai, chịu ảnh hưởng lũ từ lưu vực Đông Nam Bộ, thượng lưu có các hồ chứa lớn trong đó ảnh hưởng lớn quan trọng với thành phố là các hồ Dầu Tiếng, Trị An, Thác Mơ Vùng ngập lụt ven sông Sài Gòn, Đồng Nai kéo dài qua các vùng ven sông Sài Gòn từ huyện Củ Chi qua huyện Hóc Môn, quận 12, Bình Thạnh, qua bán đảo Thanh Đa đến khu vực kẹp giữa hai sông Sài Gòn và Đồng Nai gồm vùng bưng thuộc Thủ Đức, Quận 2, Quận 9, bao gồm diện tích khoảng trên 20.000 ha là vùng rất nhạy cảm về ngập lụt do thủy triều và lũ Đông Nam Bộ Tập trung vào các xã ven sông Sài Gòn thuộc huyện Củ Chi: Phú Mỹ Hưng, An Phú, An Nhơn Tây, Phú Hoà Đông, Trung An, Hòa Phú, Bình Mỹ, Tân An Hội, Tân Thông Hội là khu vực ngập lụt nặng nếu xảy ra lũ Đông Nam Bộ (năm 1952 độ ngập Phú Mỹ Hưng là trên 3m) khu vực bán đảo Thanh Đa là khu khó ứng cứu di dời và khu Thủ Đức cũ có dân

cư và hạ tầng quan trọng khu vực có khả năng thiệt hại lớn nếu xả lũ từ hai phía sông Sài Gòn (hồ Dầu Tiếng) và từ sông Bé, sông Đồng Nai (hồ Trị An, Thác

Mơ, )

Phía Tây thành phố là vùng ảnh hưởng “lũ chậm, kéo dài” từ đồng bằng sông Cửu Long, Đồng Tháp, Long An tràn về với diện tích ảnh hưởng 40.000 ha Trước đây là khu vực hoang hoá nay là khu vực phát triển với tốc độ khá nhanh gồm các khu vực các nông trường Phạm Văn Hai, Lê Minh Xuân các xã thuộc huyện Hóc Môn và Bình Chánh

Phía Nam thành phố hầu hết là vùng đất thấp: Nam Bình Chánh, Quận 8, Nhà Bè, Cần Giờ là khu vực bị tác động của chế độ bán nhật triều biển Đông đặc trưng của của khu vực biên độ triều lớn trong nước

Hệ thống cống thoát nước của thành phố được bắt đầu xây dựng cách đây cách đây hơn 100 năm, rồi từ đó phát triển lên trong quá trình đô thị hóa của thành phố cho đến ngày nay Mật độ cống không đồng đều lớn nhất ở Quận 3 (202m/ha), nhỏ nhất là các Quận Gò Vấp, Bình Thạnh, Quận 10 (96-10 m/ha) Các kênh trục tiêu chính hầu hết bị bồi lắng không đủ khả năng thoát nước (rạch Cầu Sa, rạch Cầu Suối, kênh Nhiêu Lộc, Tân Hóa, Tham Lương, Suối Nhum) Hệ thống cống được sửa chữa duy tu hàng năm tuy có cải thiện ít nhiều tình hình ngập úng nhưng nói chung số lượng, điểm ngập không thay đổi nhiều Mặt bằng

Trang 3

- 2 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

thành phố tuơng đối phức tạp về mặt hình thái Bên cạnh vùng cao là những vùng thấp trũng với kênh rạch chằng chịt với cao trình mặt đất thấp hơn 1m Vì vậy việc xây dựng đô thị đặt ra các vấn đề phức tạp trong xây dựng: cao trình mặt đất chuẩn để xây dựng cơ sở hạ tầng, quy mô mặt bằng và hệ thống tiêu thoát nước thích hợp, cấu trúc và kích thước hệ thống

Từ các đặc điểm đó nghiên cứu và đánh giá mức độ ngập lụt vùng ven sông Sài Gòn – Đồng Nai thành phố Hồ Chí Minh do ảnh hưởng của tổ hợp xả lũ + lũ sông Vàm Cỏ + triều cường + mưa tại chỗ Từ đó khoanh vùng cảnh báo ngâp lụt và kiến nghị chế độ xả lũ thích hợp từ các hồ nhằm giảm thiệt hại cho thành phố Hồ Chí Minh và vùng lân cận hay kiến nghị cốt san nền cho các vùng đất thấp

II/ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:

Dựa trên đặc điểm tự nhiên thành phố Hồ Chí Minh và quy trình vận hành các hồ chứa, đề tài này sẽ nghiên cứu ngập lụt vùng ven sông Sài Gòn - Đồng Nai thành phố, từ đó kiến nghị các chế độ xả lũ phù hợp nhằm làm giảm thiệt hại cho thành phố, đồng thời đề nghị cao trình san nền và cao trình đê bao thích hợp cho các vùng đất thấp

III/ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:

- Nghiên cứu hiện trạng ngập lụt vùng ven sông Sài Gòn – Đồng Nai thành phố

- Nghiên cứu ngập lụt vùng ven sông Sài Gòn – Đồng Nai thành phố khi hồ Dầu Tiếng xả lũ thiết kế

- Nghiên cứu ngập lụt vùng ven sông Sài Gòn – Đồng Nai thành phố khi hồ Trị An xả lũ thiết kế

- Nghiên cứu ngập lụt vùng ven sông Sài Gòn – Đồng Nai thành phố khi hồ Phước Hoà xả lũ thiết kế

- Nghiên cứu ngập lụt vùng ven sông Sài Gòn – Đồng Nai thành phố khi đồng thời các hồ xả lũ thiết kế

- Nghiên cứu cao trình san nền (hay cao trình đê bao) vùng ven sông Sài Gòn – Đồng Nai thành phố khi hồ Dầu tiếng xả lũ thiết kế

- Nghiên cứu cao trình san nền (hay cao trình đê bao) vùng ven sông Sài Gòn – Đồng Nai thành phố khi hồ Trị An xả lũ thiết kế

- Nghiên cứu cao trình san nền (hay cao trình đê bao) vùng ven sông Sài Gòn – Đồng Nai thành phố khi hồ Phước Hoà xả lũ thiết kế

- Nghiên cứu cao trình san nền (hay cao trình đê bao) vùng ven sông Sài Gòn – Đồng Nai thành phố khi hồ đồng thời các hồ xả lũ thiết kế

- Kết luận và kiến nghị giải pháp phòng chống lũ lụt cho thành phố

Trang 4

- 3 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

IV/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

- Tổng hợp tài liệu địa hình khu vực, địa hình sông, khí tượng thủy văn, hiện trạng đê bao và quy trình vận hành các hồ chứa

- Thu thập tài liệu, báo cáo nghiên cứu và các giải pháp chống ngập lụt thành phố

- Tiến hành tổ hợp các trường hợp bất lợi khi xả lũ kết hợp mưa và triều cường

- Sử dụng mô hình SAL do PGS – Ts Nguyễn Tất Đắc xây dựng Bộ số liệu địa hình trong mô hình lấy theo tài liệu quy hoạch thủy lợi đến năm 2010 của Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn và số liệu đo đạc của thầy Nguyễn Văn Nghiệp Các biên mực nước và trạm đo sử dụng theo số liệu đo của phân viện khí tượng Nam Bộ Chạy thủy lực cho hệ mạng thành phố và chạy thủy lực cho vấn đề nghiên cứu

- Sử dụng phần mềm Arcview 3.3 và bản đồ nền của Chi cục thủy lợi và phòng chống lụt bão thành phố Hồ Chí Minh để lập bản đồ ngập lụt vùng ven sông thành phố theo các tổ hợp bất lợi

V/ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC NAY:

Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn nhất nước, từ thập niên

1990 thành phố đã bắt đầu chuyển mình phát triển mạnh với tốc độ đô thị hoá nhanh Từ đó một số vấn đề về xã hội và môi trường phát sinh, trong đó có lẽ vấn đề úng ngập thành phố là nghiêm trọng nhất

Để góp ý, tư vấn cho lãnh đạo thành phố, nhiều đề tài khoa học nghiên cứu các giải pháp chống ngập và thoát nước đô thị hình thành, trong đó có thể kể:

- Tháng 3 năm 1990, Ts Phan Văn Hoặc, Phân viện khí tượng thủy văn thành phố Hồ Chí Minh báo cáo tổng kết đề tài khoa học “Nghiên cứu khả năng và biện pháp tiêu thoát nước phục vụ chống ngập lụt và ô nhiễm môi trường trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” báo cáo đã đề ra một số biện pháp tiêu thoát nước cho thành phố, chống ngập lụt khi mua lớn và triều cường

Minh City In The Socialist Repuplic of Viet Nam” Progress Report, Janpan Internationnal Cooperation Agency (JICA), Pacific Consultant International, December 1998

- Năm 1999, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn đề xuất “Chương trình kiểm soát lũ”

- Tháng 8 năm 2000, Phân viện khảo sát quy hoạch thủy lợi Nam Bộ

“Quy hoạch tiêu thoát nước thành phố Hồ Chí Minh” quy hoạch chung về tiêu thoát nước cho các vùng trong nội thành, quy hoạch chỉ nghiên cứu đến mưa và

Trang 5

- 4 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

triều cường không nghiên cứu sâu đến tác động của lũ Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ

- Chi cục Quản lý nước và phòng chống lụt bão thành phố Hồ Chí Minh

“Báo cáo tổng kết phương pháp phòng chống lũ lụt và phòng chống thiên tai thành phố Hồ Chí Minh các năm 1995 đến năm 2000” báo cáo tổng kết các giải pháp phòng chống lũ lụt và phòng chống thiên tai cho thành phố và các bài học kinh nghiệm

- Tháng 3 năm 2003, Ts Lê Thành Bảo Đức, Chi cục Quản lý nước và phòng chống bão lụt thành phố Hồ Chí Minh, có báo cáo đề tài khoa học

“Nghiên cứu các biện pháp tăng cường năng lực ứng phó lũ, lụt thành phố Hồ Chí Minh” Đề tài nêu ra tổng hợp các thiệt hại do các trận lũ lịch sử gây ra, các hiện tượng bất thường xảy ra trong những năm gần đây Trên cơ cở ứng dụng mô hình HEC -1 trên nền bản đồ 3 chiều cảnh báo lũ cho thành phố Hồ Chí Minh Ngoài

ra báo cáo cũng nêu lên các quy luật và thời gian truyền lũ từ các trạm về thành phố Đề tài đưa ra hiện trạng một số đê bao và giải pháp với từng vùng Một số tổ hợp bất lợi khi các hồ xả lũ, xây dựng hành lang tháo lũ và hệ thống mốc chỉ giới phòng lũ cho một số trường hợp xả lũ đến các địa phương

- Tháng 3 năm 2004, Phân viện khảo sát, quy hoạch thủy lợi Nam Bộ thực hiện “Báo cáo tóm tắt quy hoạch sử dụng tổng hợp nguồn nước lưu vực sông Sài Gòn” Báo cáo đánh giá hiện trạng các công trình thủy lợi trong lưu vực định hướng phát triển kinh tế xã hội, nghiên cứu đề ra giải pháp công trình thủy lợi thích hợp, khai thác bảo vệ nguồn nước cũng như góp phần giảm thiểu các tác hại của nước gây ra đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế bền vững của toàn lưu vực sông Sài Gòn và lưu vực phụ cận Báo cáo cũng đưa ra những giải pháp công trình thủy lợi đối với thượng nguồn sông Sài Gòn và sông Thị Tính là biện pháp xây dựng đập, hồ để tạo nguồn nước tưới tự chảy, đối với vùng hạ lưu xây dựng các kênh, cống để lợi dụng thủy triều đáp ứng nhu cầu tưới tiêu kết hợp Báo cáo giải bài toán cân bằng nước, phục vụ tưới cho toàn lưu vực sông Sài Gòn và cho cả lưu vực sông Vàm Cỏ Đông, để đáp ứng được mục tiêu này phải cần nguồn nước hỗ trợ từ sông Bé và hồ Phước Hoà trong tương lai Giải bài toán thủy lực xác định ranh giới mặn trên cơ sở cân bằng nước như đã nêu của hồ Dầu Tiếng để dự báo cho công tác tưới phục vụ nông nghiệp Tính toán bài toán xả lũ hồ Dầu Tiếng với lưu lượng xả 1000 m3/s, kết quả cho mực nước cao nhất từ 1.69-1.92m từ đó đề xuất cao trình đê thiết kế +2.5m Hạn chế của báo cáo: giải bài toán trên diện rộng, phức tạp, chưa tính đến dao động mực nước ngầm, chỉ tính cho bài toán tưới tiêu, cân bằng nước mà chưa kể đến các yếu tố khác như ô nhiễm, đẩy mặn

Trang 6

- 5 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

- Tháng 8 năm 2004, công ty Quản lý khai thác dịch vụ thủy lợi trên địa bàn thành phố thực hiện “Báo cáo các công trình thủy lợi trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” Báo cáo đã thống kê, tóm tắt các thông số, quy mô công trình thủy lợi trên địa bàn thành phố Đánh giá những thành quả đạt được qua quá trình vận hành, khai thác, đáp ứng được mục tiêu dự án Phân tích những hạn chế và tồn tại của các công trình nhưng chủ yếu về công tác quản lý vận hành khai thác, chính sách, cơ chế hiện hành của nhà nước Báo cáo thể hiện trách nhiệm của các cấp các ngành, địa phương qua đó đề xuất tăng cường hiệu quả đầu tư cũng như trong quản lý khai thác

- Tháng 8 năm 2004, PGS.TS Ngô Kế Sương thuộc liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật thành phố thực hiện đề cương chi tiết đề tài “Nghiên cứu các

cơ sở khoa học và thực tiễn đề xuất các giải pháp xóa ngập đô thị và góp phần điều chỉnh quy hoạch tổng thể tiêu thoát nước đến năm 2020, đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững của thành phố Hồ Chí Minh” Đề cương đánh giá thực trạng hệ thống tiêu thoát nước của thành phố và các dự án hiện đang triển khai Trên

cơ sở khoa học và thực tiễn tác giả đề xuất các giải pháp chống ngập cho thành phố, từ đó đề xuất các nội dung chủ yếu điều chỉnh quy hoạch tổng thể tiêu thoát nước cho thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, mặc dù đây mới chỉ là đề cương nhưng bài toán đề xuất chưa tính đến tổ hợp những trường hợp bất lợi như mưa

lớn và triều cường kết hợp

Trang 7

- 6 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU KHU VỰC NGHIÊN CỨU

I/ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN:

1) Vị trí địa lý:

Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở vị trí 10020’ – 11008’ vĩ độ Bắc và 105020’ –

107002’ kinh độ Đông, chiều dài từ Tây Bắc xuống Đông Nam là 102km, từ Đông sang Tây là 75km, giới hạn bởi:

- Phía Tây Bắc: giáp tỉnh Tây Ninh

- Phía Đông và Đông Bắc: giáp tỉnh Bình Dương – Đồng Nai

- Phía Tây và Tây Nam: giáp tỉnh Long An, Tiền Giang

- Phía Nam: giáp biển Đông với đường dài bờ biển 15km

- Phía Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở trung tâm Nam Bộ giữ một vị trí hết sức quan trọng là trung tâm công nghiệp và văn hoá khoa học kỹ thuật của các tỉnh phía Nam, có ảnh hưởng đối với kinh tế của cả nước và có tác động lớn với nền kinh tế Nam Bộ Với diện tích tự nhiên 2095.01 km2 và dân số khoảng 5.449.217 phân thành 24 quận huyện gồm:

- 19 quận nội thành:

• Tổng diện tích: 442,13 km2

• Dân số: 4.454.695 người

- 5 huyện ngoại thành:

• Tổng diện tích: 1.652,88 km2

• Dân số: 994.522 người trong đó có 8 quận nội thành (Quận 1, 3, 4, 5, 6, 10, 11, Phú Nhuận) có 4.396,98

ha chiếm 2,1%; 4 quận ven (Bình Thạnh, Gò Vấp, Tân Bình, Quận 8): 9.737,59

ha, chiếm 4,65%, 7 quận mới (Quận 2, 9, 12, Thủ Đức, Bình Tân, Tân Phú): 29.889,5 ha, chiếm 14,28% và 5 huyện (Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ): 165.336,9ha, chiếm 78,97% diện tích tự nhiên Thành phố Hồ Chí Minh đã từ lâu có sự phát triển nền sản xuất hàng hoá và nền kinh tế thị trường năng động, giàu tiềm năng phát triển và là động lực phát triển của toàn vùng kinh tế trọng điểm Nam Bộ và Việt Nam

Trang 8

- 7 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

phẳng, bưng trũng thấp Địa hình khá phức tạp, có dạng đồi gò ở phía Bắc và Đông Bắc, với độ cao giảm dần theo hướng Đông Nam Cao trình mặt đất thay đổi từ 0.5÷34m xu thế thấp dần từ phía Bắc và Tây Bắc xuống Nam và Tây Nam, khu trung tâm nội thành cũng có dạng gò cao, phía Nam và cực Nam thành phố là vùng có địa hình thấp tiếp giáp biển Nhìn chung có thể phân chia địa hình thành bốn dạng chính:

- Vùng triền gò tập trung phía Bắc Củ Chi, Bắc Thủ Đức, Hóc Môn, Bắc Bình Chánh, Tân Bình, Gò Vấp và trung tâm thành phố Địa hình vùng này phức tạp, lồi lõm dạng dợn sóng, độ cao thay đổi từ 4 đến 34m Vùng có cao trình từ 4-10m chiếm 19% tổng diện tích, phần cao trên 10m chiếm 11%, phân bố ở các huyện Củ Chi, Hóc Môn một phần ở Thủ Đức, Bình Chánh Khu vực địa hình cao nhất ở các đồi Long Bình và Long Thạnh Mỹ-Thủ Đức đến 34m, riêng tại Hóc Môn, Bắc Bình Chánh có dạng triền thoải và ít lồi lõm hơn với cao độ mặt đất từ 3÷7m

- Vùng đất bằng thấp, độ cao xấp xỉ 2 đến 4m, điều kiện tiêu thoát nước tương đối thuận lợi, phân bố ở Thủ Đức, Hóc Môn, quận 12 nằm dọc theo sông Sài Gòn và Nam Bình Chánh chiếm khoảng 15% diện tích

- Vùng có địa hình thấp phân bổ từ cả phía Bắc thành phố đến vùng duyên hải phía Nam Về phía Tây và Tây Nam thành phố có vùng trũng thấp, đầm lầy độ cao phổ biến từ 0.3 đến 1m, thuôïc khu vực Tam Tân, Thái Mỹ huyện Củ Chi qua khu vực phía Tây huyện Hóc Môn đến các khu vực Phạm Văn Hai, Lê Minh Xuân, Tân Nhựt huyện Bình Chánh chịu ảnh hưởng lũ ở Đồng Tháp và Long An đổ về Phía Nam và Đông Nam gồm các khu: Nam Củ Chi, Đông Hóc Môn, Nam Thủ Đức, Nhà Bè, Nam Bình Chánh, quận 8, nhiều sông rạch chằng chịt, cao độ mặt đất từ 0.3÷1m, trung bình 0.5÷0.8m, bị chi phối bởi chế độ bán nhật triều các khu vực quận 7, huyện Nhà Bè, vùng bưng Quận 2, Quận 9 và Bắc Cần Giờ, ước tính chiếm khoảng 34% diện tích

- Vùng trũng thấp cực Nam thành phố và tiếp giáp biển, độ cao phổ biến khoảng 0 đến 1m, địa hình khá bằng phẳng cao độ mặt đất trung bình 0.7-0.8m, riêng dãy cồn cát dọc biển tương đối cao hơn 1.5÷2.5m, bị chia cắt bởi hệ thống sông rạch chằng chịt và đất đai chưa ổn định, chia thành nhiều cù lao lớn nhỏ và thường xuyên bị ngập mặn, chịu ảnh hưởng của thuỷ triều hàng ngày, chiếm khoảng 21% diện tích

Riêng khu vực ven sông Sài Gòn -Đồng Nai có thề phân chia làm hai vùng chính là vùng phía Đông và vùng phía Tây sông Sài Gòn

- Khu vực phía Đông (sông Sài Gòn): bao gồm các quận Thủ Đức, Quận 2, Quận 9 có những gò đồi phía Bắc kéo dài từ Thuận An (Bình Dương) về hướng Nam (gò đồi theo hướng Tây Bắc đến Đông Nam) có cao trình đỉnh từ +30.0m

Trang 9

- 8 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

đến 34.0m, những đồi này không lớn, độ rộng từ 4÷7km và hạ thấp nhanh chóng

ở cao trình +1.4m Vùng trũng thấp kéo dài đến bờ sông Đồng Nai và bờ sông Sài Gòn, trong vùng trũng này có những gò cục bộ gọi là gò giồng (như giồng Ông Tố có cao trình cao nhất là +5m, giồng Ích Thạnh với mức cao +3.5m, giồng Ông Nhiêu với mức cao +2.5m,…) Do địa hình trũng chịu nhiều tác động gây ngập do triều nên hình thành mạng lưới sông rạch khá dày Phần còn lại có cao trình phổ biến từ +0.4m đến 1.0m

- Khu vực phía Tây (sông Sài Gòn): là rìa đồi của phía Bắc kéo dài từ Hóc Môn –Bà Điểm qua Tân Sơn Nhất, Gò Vấp đến quận 1, thường có cao trình đỉnh +10.0m và cũng có gò thấp hơn có cao trình từ +5m đến +7m nằm xen kẽ Các vùng gò đồi ngăn cách nhau bởi những trũng hẹp thông ra sông rạch lớn như rạch Tham Lương –Bến Cát và Thị Nhgè –Nhiêu Lộc

- Ven sông Sài Gòn ở phía rạch Tham Lương –Bến Cát là những cánh đồng trũng thấp Bình quân thường từ 0.6m đến 1.0m, có một số khu vực thực sự trũng thấp có cao trình nhỏ hơn 0.2m ở quận 12, Hóc Môn

Bảng 1: Phân bổ diện tích theo cao trình:

3) Địa chất:

Cấu tạo địa chất khu vực Tp Hồ Chí Minh gồm 3 nhóm chính:

- Móng đá: tạo một địa hình lồi lõm bên dưới các trầm tích bở rời Lộ ra ở đồi Long Bình (Thủ Đức), mặt trên của móng đá chìm sâu bên dưới trầm tích bở

Trang 10

- 9 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

rời theo hai hướng Đông sang Tây và Bắc xuống Nam móng đá tạo một nền cứng nhắc bên dưới trầm tích bở rời, nhưng không phải là một đơn vị chứa nước tốt

- Trầm tích bở rời trước Holoxen: đắp phủ lên móng đá là lớp trầm tích bở rời, chủ yếu chiếm lĩnh vùng Bắc thành phố Chiều dài của cấu tạo này biến đổi theo địa hình ngầm của móng đá, móng ở phía Bắc và phía Đông, dày dần khi đi xuống phía Nam và về phía Tây, có thể đạt chiều dày hơn 400m Trầm tích bở rời trước Holoxen là một đơn vị chứa nước phong phú có một phảâm chất khá tốt, tuy nhiên chịu sự ô nhiễm từ lớp Holoxen hoặc từ nước trên mặt ở vài nơi Hơn nữa ở những nơi lộ thiên lớp đá gốc tạo nền móng khá vững chắc cho việc xây dựng công trình

- Trầm tích bở rời Holoxen: trầm tích này phủ lên các vùng trũng do xâm thực đã vào sâu trong cấu tạo phù sa cổ Chiếm các chỗ trũng lớn ở Lê Minh Xuân, An Hạ, Nhà Bè, duyên hải, vùng bưng Quận 9 và những thung lũng hẹp được chia cắt bởi đồi gò phù sa cổ (sông Sài Gòn, các sông suối nhỏ, kênh Cầu Bông) Đặc điểm của nó là chứa nước không nhiều và thường là nước mặn phèn Sự hiện diện của chất hữu cơ và xác thực vật cũng không hiếm, nhất là ở lớp trên cùng Cấu tạo Holoxen chứa nhiều sét nhão, nên là đất nền kém thuận lợi đối với việc xây dựng công trình

4) Hệ thống sông rạch:

Xét cả về hai mặt lượng và chất của nguồn nước hệ thống sông rạch thành phố Hồ Chí Minh một cách đầy đủ cần phải xét trên điều kiện toàn lưu vực kể cả đối với mặt nước và nước ngầm Quan trọng nhất là lưu vực Đông Nam Bộ thuộc hệ thống sông Đồng Nai gồm các sông Sài Gòn, Sông Bé là các sông nhánh lớn của nó, các vùng chịu ảnh hưởng sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây có liên hệ mật thiết với hệ thống sông rạch hạ nguồn sông Mê Kông

Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng núi Tây Bắc Lộc Ninh chảy theo biên giới Việt Nam-Campuchia, sau đó theo ranh giới tự nhiên của hai tỉnh Tây Ninh và Bình Dương, có chiều dài 221km tính đến vị trí hợp lưu với sông Đồng Nai Đoạn sông qua khu vực thành phố Hồ Chí Minh dài 40.4km, có mặt rộng từ 225 đến 370m, độ sâu từ 15m đến 20m và với nhiều chi lưu lớn như:

- Hệ rạch Vàm Thuật- Bến Cát- Tham Lương- rạch Nước Lên các quận 12, quận Gò Vấp, quận Tân Bình đến huyện Bình Chánh

- Hệ Thị Nghè - Nhiêu Lộc: qua quận 1, quận 3, quận Phú Nhuận, quận Bình Thạnh, quận Tân Bình thuộc trung tâm thành phố

- Hệ Bến Nghé - Tàu Hủ, Kênh Đôi- Kênh Tẻ: đây là hệ thống hai kênh song song vào nội thị có mối quan hệ chung bởi nhiều kênh nối thông nhau như: sông Bến Lức phía Tây, sông Cần Giuộc đoạn cuối nơi hai kênh giao nhau, rạch

Trang 11

- 10 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

Ông Lớn đoạn cầu chữ Y tạo nên chế độ dòng chảy khá phức tạp trên hệ kênh này

- Hệ Tân Hoá- Lò Gốm là chi lưu quan trọng của hệ Bến Nghé - Tàu Hủ, Kênh Đôi- Kênh Tẻ

- Ngoài ra, trên sông Sài Gòn còn có một số kênh rạch có ý nghĩa cấp thoát nước như rạch Bà Hồng, Cầu Võøng (Hóc Môn), Ông Đụng, Trùm Bích (Quận 12), hệ rạch Dĩa, rạch Gò Dưa (Quận Thủ Đức), rạch Chiếc (Quận Thủ Đức, Quận 2) v.v…

Sông Đồng Nai là hệ thống sông có nhiều nhánh và 2 có nhiều hồ chứa trên thượng nguồn, trong đó có các nhánh chính là nhánh sông Đa Nhum- Đa Nhim từ cao nguyên Lâm Viên và Di Linh và nhánh La Ngà hợp lưu ở hồ Trị An, nhánh Sông Bé: từ Bình Phước, Bình Dương đổ về qua Thác Mơ, Cần Đơn, hợp lưu với sông Đồng Nai và đi qua thành phố Biên Hoà Đối với các khu vực thành phố Hồ Chí Minh, đoạn sông Đồng Nai chảy qua các quận: Quận 9, Quận 2 trước khi chảy vào sông Nhà Bè có chiều dài khoảng 25km, chiều rộng 500m-800m, sâu 15÷20m Một số kênh rạch nội đồng khu vực chịu ảnh hưởng của sông Đồng Nai như: sông Tắc là sông khá lớn có quan hệ với phần lớn hệ thống kênh rạch trong vùng thuộc Quận 2, Quận 9, đồng thời nhận nước từ một số sông suối vùng cao quận Thủ Đức như suối Xuân Trường- suối Nhum ra suối Cái, sau đó cùng với rạch Gò Cát ra rạch Cau Rạch Cau cùng với suối Tiên chảy xuống rạch Gò Công

ra sông Tắc Một số kênh rạch thuộc vùng trũng Quận 2, Quận 9 là rạch Giồng Ông Tố, rạch Kỳ Hà, rạch Bà Cua, rạch Ông Nhiêu, rạch Trao Trảo, rạch Cây Cam… Các sông rạch trên cùng với hệ rạch nội đồng nhỏ hơn có mối quan hệ lẫn nhau, tạo nên một mạng lưới nội đồng chằng chịt tạo điều kiện thuận lợi lưu thông nước

Hợp lưu từ sông Sài Gòn vào sông Đồng Nai là sông Nhà Bè chảy qua quận 7 với chiều dài khoảng 5km (chiều rộng từ 1000-1450m) Rạch Phú Xuân nối với rạch Ông (hệ Kênh Đôi- Kênh Tẻ và Bến Nghé- Tàu Hũ) Hệ thống sông rạch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đóng vai trò rất quan trọng trong việc tiêu thoát nước Trên khu vực nghiên cứu các hệ sông rạch chịu ảnh hưởng triều rất mạnh mẽ Chính chế độ triều đã tạo ra hai khả năng vừa thuận lợi đồng thời là khó khăn trong việc tiêu thoát nước, chống ngạâp úng ô nhiễm môi trường Tổng chiều dài của các hệ kênh chính qua thành phố là 178,28km, phần lớn các kênh rạch đều có độ dốc thấp, đáy kênh tại các vùng qua khu vực đô thị thường bị ảnh hưởng bởi rác và chất thải

Thượng nguồn các sông Sài Gòn và Đồng Nai hiện có hồ Dầu Tiếng, Trị An, Thác Mơ, Cần Đơn và trong tương lai có thêm 2 hồ Srok Fumiêng và Phước Hoà Tình hình điều tiết nước xả lũ và sự an toàn ổn định của các hồ chứa có khả năng

Trang 12

- 11 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

gây hậu quả, thiệt hại nghiêm trọng cho hạ du trong đó có thành phố Hồ Chí Minh

- Hồ Trị An có dung tích hữu ích là 2.547 triệu m3 và dung tích đến mực nước gia cường là 3.400 triệu m3 Theo thiết kế có thể xả từ 6.700-13.800 m3 ở mức báo động 3 và từ 13.800- 21.000 m3 ở mức báo động 4 trong trường hợp có lũ đặc biệt lớn với tần suất 0.1% (theo qui trình xả lũ của hồ chứa thuỷ điện Trị An)

- Hồ Dầu Tiếng ở thượng nguồn sông Sài Gòn có mực nước lũ thiết kế 25.1m tương ứng với dung tích hồ 1.726,8 triệu m3 và mực nước dâng bình thường 24,4 tương ứng với dung tích 1.450 triệu m3; theo qui trình vận hành tạm thời của hồ do bộ thuỷ lợi ban hành năm 1987 thì khi gặp lũ đột xuất lớn hồ có thể xả lưu lượng 2.800m3/s (cao hơn lũ năm 1952; là 500m3/s) Từ trước đến nay hồ mới xả lũ đến 600m3/s, nếu xả theo mức thiết kế nêu trên có thể gây ngập úng trên diện rộng ở hạ du

- Trong thực tế vận hành 3 hồ chứa trên có khả năng điều tiết hạn chế lũ vào mùa mưa và đẩy mặn vào mùa khô, tuy nhiên trong thiết kế kỹ thuật công trình những vấn đề nêu trên không được xem là vấn đề chính Cụ thể nhiệm vụ chính của hồ Dầu Tiếng là phục vụ tưới, Trị An là phục vụ phát điện, do đó cần có sự phối hợp với các hồ để có qui trình điều tiết có lợi nhất cho hạ du về mặt phòng, chống lũ, lụt và đẩy mặn cho hạ du

Thành phố Hồ Chí Minh có mạng lưới sông rạch chằng chịt bao gồm khoảng trên 7.880km kênh rạch chính, khoảng 33.500ha mặt nước, thuộc hạ lưu hệ sông Đồng Nai, Sài Gòn và tiếp nối với hệ sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây đổ theo hướng Tây Bắc - Đông Nam

Chế độ dòng chảy trên các sông thay đổi theo tháng và theo mùa trong năm Ven biển có huyện Cần Giờ với 7 xã tiếp giáp biển Đông: Bình Khánh, An Thới Đông, Lý Nhơn, Tam Thôn Hiệp, Cần Thạnh, Thạnh An và Long Hoà, chiều dài bờ biển ước khoảng 75-80 km trong đó có 13 km trực tiếp biển, phần còn lại tiếp giáp với vịnh Đồng Tranh, Gành Rái (cửa sông Soài Rạp và Đồng Tranh)…

Hệ thống sông rạch thành phố Hồ Chí Minh hoàn toàn chịu ảnh hưởng chế độ bán nhật triều không đều biển Đông biên độ lớn: 3 ÷4m, rất thuận lợi cho việc cung cấp nước tưới, điều hoà dòng chảy trong mùa mưa, nuôi trồng và khai thác thuỷ sản, thuận lợi cho việc tiêu thoát nước và có khả năng tự làm sạch cải tạo ô nhiễm Do ảnh hưởng của dạng địa hình lòng sông và lưu lượng thượng nguồn nên dạng triều cũng bị biến dạng khi truyền sâu vào nội địa Với cao độ mặt đất trung bình từ 0.7÷1m trong khi đỉnh triều khoảng 1.2÷1.3m, chân triều thấp nhất có nơi thấp hơn mặt đất tự nhiên 3÷4m Thuỷ triều là nguồn mang phù sa, phiêu sinh vật mang màu mỡ cho đất nhưng ngược lại cũng có tác động gây xâm nhập mặn và do thế năng chênh lệch giữa nước trên mặt đất và mực nước trong các

Trang 13

- 12 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

kênh rạch khi triều rút cũng là tác nhân gây xói lở nghiêm trọng cả về dòng chảy mặt lẫn xói ngầm trong đất Hàng tháng, triều cường gây úng ngập nhiều vùng trũng thấp ven sông nhất là ở các huyện Cần Giờ, Nhà Bè, bưng Thủ Đức, Nam Bình Chánh Hệ thống sông rạch chằng chịt chịu ảnh hưởng thuỷ triều từ nhiều phía nên xuất hiện những khu vực giáp nước bất lợi cho việc tiêu thoát nước và tập trung ô nhiễm như khu vực ven sông Thầy Cai vùng Tam Tân Thái Mỹ, kênh Xáng ngang khu vực Lê Minh Xuân, Bình Lợi, khu vực Kênh Đôi, Kênh Tẻ thuộc Quận 8, Quận 7…

5) Đất đai thổ nhưỡng:

Điều kiện về đất đai và thổ nhưỡng vùng nông thôn ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh có nhiều hạn chế về diện tích và phẩm chất:

- Nhóm đất phèn trung bình và phèn nhiều: chiếm 27,5% diện tích, phân bố

ở các vùng trũng, tiêu thoát nước kém như Nam Bình Chánh, Nhà Bè, Bắc Cần Giờ, ven sông Đồng Nai (Quận 2, Quận 9), ven sông Sài Gòn (Quận Thủ Đức, huyện Hóc Môn, quận 12, huyện Củ Chi), cao độ dưới +1m

- Nhóm đất phù sa ít hoặc không bị nhiễm phèn chiếm 12,6% phân bố ở Bình Chánh, một số nơi ở Củ Chi, Hóc Môn, có cao độ từ +1m ÷ +2m; thích hợp trồng lúa năng suất cao, các vườn cây ăn trái

- Nhóm đất xám trên nền phù sa cổ, khoảng 19,3% diện tích, phân bổ chủ yếu ở vùng cao, đồi gò ở Củ Chi, Hóc Môn, Bắc Bình Chánh, Thủ Đức, Quận 9; thuận lợi để phát triển cây công nghiệp, rau đậu thực phẩm, chăn nuôi gia xúc, gia cầm

- Nhóm đất mặn: chiếm 12,2% phân bố ở Cần Giờ, chủ yếu phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, nhất là cây đước

- Ngoài ra còn có các nhóm đất khác nhưng diện tích không nhiều như đất vàng đỏ (1,5%), đất cồn cát, cát biển ở Cần Giờ (3,2%)

Nhìn chung đất đai khu vực ngoại thành thuộc loại trung bình và xấu so với đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ nhưng vẫn là một tài nguyên quý, quan trọng cho phát triển của thành phố

6) Khí tượng thủy văn:

Khu vực thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang tính chất cận xích đạo Lượng bức xạ dồi dào, trung bình khoảng 140Kcal/cm2/năm, nắng trung bình 6,8 giờ/ngày Nhiệt độ trung bình toàn năm khoảng 27,40C Nóng nhất trong tháng 4 và lạnh nhất trong tháng 12 Độ ẩm trung bình cả năm khoảng 77,5% Biên độ nhiệt trung bình giữa các tháng trong năm thấp Nhìn chung, đặc điểm khí hậu thành phố Hồ Chí Minh là khá thuận lợi

Trang 14

- 13 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là các loại cây trồng nhiệt đới có năng suất cao

- Lương mưa thay đổi theo từng khu vực Mưa nhiều ở khu vực nội thành (trung bình 1800÷2.000mm) và vùng đất cao Thủ Đức, kéo dài đến Long Sơn, trung bình từ 1.800÷1.900mm Vùng Củ Chi, Bình Chánh, Nhà Bè, Bắc Cần Giờ có lượng mưa trung bình 1.500÷1.700mm Vùng Phú Mỹ Hưng (Củ Chi) và Cần Giờ, Long Hoà có lượng mưa trung bình 1.300÷1.500mm Lượng mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 11, lớn nhất thường xảy ra vào tháng 9 hoặc tháng

10 Lượng mưa phân bố không đều gây một số khó khăn cho sản xuất nông nghiệp và phân phối viêc bố trí thời vụ cây trồng

- Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của hai hướng gió mùa; chủ yếu theo hướng Đông Nam - Tây Bắc (đây là hướng gió thịnh hành trong khoảng từ tháng 2 đến tháng 4) và theo hướng Tây Nam - Đông Bắc (hướng gió thịnh hành trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 10) Ngoài ra, còn có hướng gió từ phương Bắc thổi về, đây là hướng gió thịnh hành trong các tháng 11,

12, 1 Hướng gió thịnh hành trong năm có ý nghĩa quan trọng trong việc bố trí các khu công nghiệp và dân cư, nhất là các ngành công nghiệp có khả năng gây ô nhiễm không khí

7) Hiện trạng sử dụng đất:

Theo số liệu điều tra thống kê năm 2000, diện tích đất nông- lâm nghiệp thành phố có 128.760,8ha, trong đó đất nông nghiệp 95.288,6ha; đất lâm nghiệp có rừng 33.472,2ha Tình hình mảng xanh và rừng thành phố Hồ Chí Minh trong những năm qua có nhiều chuyển biến tích cực Từ năm 1995 đến năm 2000 đất nông nghiệp giảm 3.875,5ha (giảm 2,83%) trong đó đất trồng cây hàng năm giảm 6.576,8ha; đất vườn tạp giảm 774ha; cây lâu năm tăng 3.034ha; đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản tăng 439.6ha, nhưng đất rừng trồng tăng 1.628ha (rừng phòng hộ tăng 1.112ha) Với chương trình mới, chăm sóc, bảo vệ rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, cây phân tán trong 5 năm 1996÷2000 đã trồng mới thêm 884ha rừng phòng hộ tập trung; chăm sóc 2.673ha rừng trồng Đến nay tổng diện tích rừng và đất rừng thành phố Hồ Chí Minh có 43.825ha, trong đó rừng và đất rừng phòng hộ có 39.409ha, rừng đặc dụng 31,5ha, rừng kinh tế 4.384ha và gần 50 triệu cây phân tán các loại góp phần đưa độ che phủ cây xanh chiếm 29% tổng diện tích tự nhiên của thành phố Hệ động vật, thực vật rừng tiếp tục phát triển ngày càng phong phú về số lượng và chủng loại Rừng phòng hộ Cần Giờ đã được tổ chức UNESCO công nhận là một trong những khu dự trữ sinh quyển thế giới và đang được nghiên cứu xây dựng thành khu bảo tồn thiên nhiên rừng ngập mặn; phối

Trang 15

- 14 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

hợp với các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa- Vũng Tàu trong công tác bảo vệ rừng phòng hộ, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản ở Cần Giờ và vùng phụ cận

Về tỷ lệ che phủ giữa diện tích mảng xanh trên tổng diện tích tự nhiên có sự khác nhau giữa các khu vực: khu vực nội thành (8%), khu vực các quận mở rộng (19%), ngoại thành (31%) thể hiện sự phân chia vùng sinh thái Khu vực nội thành và nội thành mở rộng có 280ha diện tích mảng xanh khá phong phú về chủng loại trong đó chủ yếu là mảng xanh khuôn viên (71,4%), kế đến là diện tích cây ăn trái (19,9%), cây xanh công viên (5%) và còn lại là cây xanh đường phố và rừng phòng hộ tập trung Diện tích rừng tâp trung chiếm tỷ lệ khá cao đặc biệt ở các huyện ngoại thành có ý nghĩa tích cực đối với môi trường Phía cực Nam thành phố, rừng ngập mặn Cần Giờ đã được phục hồi và phát triển từ sau giải phóng đến nay với diện tích trên 71.400ha, trong đó có 30.735ha rừng tự nhiên và rừng trồng, trên 18.000ha rừng đước với chất lượng rừng tốt và phân bố

ở nhiều cỡ tuổi khác nhau Rừng Cần Giờ với 35 loại cây của hệ sinh thái rừng cửa sông ven biển thuộc 17 họ đã góp phần điều hoà khí hậu, bảo vệ bờ biển, bờ sông lớn, ngăn chặn gió bão Phía Bắc thành phố vốn là rừng mưa nhiệt đới ẩm Đông Nam Bộ trên vùng đất xám đồi gò Củ Chi, hiện nay với rừng Bến Dược, Bến Đình có diện tích 191ha trong đó có khoảng 10ha rừng thứ sinh còn lại đang được rồng chủ yếu cây lá tràm và cải tạo chuyển dần về hệ thực vật phong phú vốn có trước chiến tranh Rừng ngập mặn phía Tây Nam thành phố có diện tích 130ha cũng có hệ sinh thái đặc trưng và đa dạng Vùng đệm giữa nông thôn và đô thị thuộc các huyện Hóc Môn, Nhà Bè, Bình Chánh có diện tích khoảng xanh ít và phân bố không đều, chủ yếu các cây mọc nhanh chưa ổn định, phân tán

II/ ẢNH HƯỞNG CỦA LŨ, HỒ CHỨA THƯỢNG NGUỒN VÙNG ĐÔNG NAM BỘ ĐẾN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH:

Thành phố Hồ Chí Minh có vị trí đặc biệt tạo nên đặc trưng của một khu vực điển hình của những yếu tố tổng hợp bất lợi về vấn đề ngập lụt, nằm ở vị trí chuyển tiếp của hai miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, một phần tiếp giáp ven biển nghĩa là nằm ở khu vực hạ lưu giao bởi hệ thống sông Đồng Nai bao gồm cả hệ Đồng Nai – sông Bé – Sài Gòn, hệ Vàm Cỏ Đông – Vàm Cỏ Tây và một phần hạ lưu sông Mê Kông trước khi ra biển Thượng lưu sông Sài Gòn, sông Bé, sông Đồng Nai đã và sẽ có thêm những hồ chứa lớn với những mục tiêu kho nước phục vụ tưới, cấp nước hoặc phát điện Do đó bài toán ngập lụt và cảnh báo lũ cho thành phố Hồ Chí Minh không thể chỉ xem xét cục bộ trong phạm vi thành phố mà phải được nghiên cứu trong phạm vi toàn vùng mà trong đó có thể nói quan trọng nhất là lưu vực Đông Nam Bộ với tình hình diễn biến lũ lụt hết sức nguy

Trang 16

- 15 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

hiểm, kinh nghiệm để lại trong lịch sử và có những chuyển biến phức tạp theo xu hướng bất lợi liên tục trong những năm gần đây

Xét đến sự hoạt động tích cực của hệ thống hồ chứa thượng nguồn điều tiết lũ làm giảm thiệt hại cho thành phố Hệ thống hồ chứa thượng nguồn ngoài chức năng phát điện, cung cấp nước, điều tiết lũ còn đẩy mặn cho lưu vực sông Sài Gòn- Đồng Nai Đặc điểm của lũ Đông Nam Bộ rất phức tạp, chủ yếu là do mưa trên khu vực gây ra Lưu lượng lũ đổ về các hồ chứa rất lớn, vì vậy để điều tiết lũ Đông Nam Bộ phụ thuộc rất lớn vào quy trình vận hành các hồ chứa thượng nguồn

1) Hồ chứa Dầu Tiếng:

Hồ Dầu Tiếng ở thượng nguồn sông Sài Gòn là một trong những công trình thuỷ lợi lớn nhất ở nước ta được khởi công xây dựng từ năm 1983, bắt đầu đưa vào khai thác từng phần từ năm 1984 Hồ Dầu Tiếng có nhiệm vụ chủ yếu của kho nước dự trữ nước theo chế độ điều tiết nhiều năm, phục vụ tưới cho thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh tần suất đảm bảo cho sản xuất nông nghiệp: P=75%, và xả nước xuống hạ lưu đẩy mặn vào mùa khô Hồ Dầu Tiếng có vị trí hết sức quan trọng và xung yếu đối với thành phố Hồ Chí Minh do ngoài nhiệm vụ tưới tiêu, đẩy mặn, cung cấp nước sạch cho thành phố nêu trên mặc dù nhiệm vụ cắt lũ không được nêu như nhiệm vụ chính song hết sức quan trọng đối với hạ

du trong đó có thành phố Hồ Chí Minh

1.1) Những đặc trưng cơ bản của hồ Dầu Tiếng:

Những đặc trưng cơ bản của công trình gồm có:

Hồ chứa:

- Mực nước dâng bình thường (MNDBT): 24.4 m

- Mực nước lũ thiết kế (MNLTK): 25.1 m

- Mực nước chết (MNC): 17.0 m

- Tổng dung tích: 1.58 tỷ m3

- Dung tích hữu ích: 1.11 tỷ m3

- Dung tích ứng với mực nước chết: 0.47 tỷ m3

- Diện tích lưu vực: 2.700 km2

- Diện tích mặt hồ ứng với mực nước dâng bình thường: 270 km2

- Diện tích mặt nước hồ ứng với mực nước chết: 110 km2

Hệ thống kênh tưới gồm có:

- Hệ thống kênh Đông gồm một kênh chính và 44 kênh cấp 1 Ngoài ra còn có các kênh cấp 2, 3, 4 và các trạm bơm lấy nước từ kênh để tưới cho các vùng cục bộ Hệ thống kênh Đông có nhiệm vụ tưới cho 41.000 ha và cung cấp nước sinh hoạt trong vùng Kênh chính dài 45.416 km, cao trình mực nước đầu kênh

Trang 17

- 16 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

+16,5m, cao trình mực nước cuối kênh +8.8m; lưu lượng đầu kênh Qtk=64.54m3/s; chiều rộng đáy kênh đoạn đầu: Bk=25m; chiều sâu cột thiết kế Htk=3.79m; độ dốc kênh thay đồi từ 0.4×10-4 đến 0.9×10-9; chiều rông bờ kênh chính 6.0m Tổng chiều dài kênh cấp 1 là 210km, tổng chiều dài kênh cấp 2 là 675km

- Hệ thống kênh Tây: gồm 1 kênh chính và 22 kênh cấp 1 Ngoài ra còn có các kênh cấp 2, 3, 4 và các trạm bơm lấy nước từ kênh để tưới cho các vùng cao cục bộ Hệ thống kênh Tây có nhiệm vụ tưới cho 41.689 ha và cung cấp nước sinh hoạt trong vùng Kênh Tây dài 38,750 km, cao trình mực nước đầu kênh +16,5m, cao trình mực nước cuối kênh +13.47m; lưu lượng đầu kênh chính

Qtk=71,9m3/s; chiều rộng đáy kênh đoạn đầu: Bk=25m; chiều sâu cột thiết kế

Htk=3.0m; độ dốc kênh thay đồi từ 0.5×10-4 đến 0.9×10-9; chiều rộng bờ kênh chính 6.0m Tổng chiều dài kênh cấp 1 là 145km, tổng chiều dài kênh cấp 2 là 466km

- Hệ thống kênh Tân Hưng: dài 29km, cấp nước cho 10.701ha

1.2) Quy trình vận hành và hoạt động điều tiết của hồ Dầu Tiếng:

Theo quy trình vận hành tạm thời của hồ do Bộ thuỷ lợi ban hành năm 1987 và được Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn điều chỉnh năm 2000, lưu lượng xả lũ thiết kế của hồ: 2.800m3/s (cao hơn lũ năm 1952 là 500m3/s) ứng với tần suất bảo đảm chống lũ P=0.1%; mực nước lũ thiết kế 25,1m tương ứng với dung tích hồ 1.726,8 triệu m3 và mực nước dâng bình thường 24.4m tương ứng với dung tích 1.450 triệu m3 Từ trước đến nay hồ chưa xả lũ trên 700m3/s, nếu xả theo mức thiết kế nêu trên có thể gây ngập úng trên diện rộng ở hạ du

Theo tài liệu thiết kế các thông số khí tượng thuỷ văn:

- Lượng mưa bình quân năm lưu vực Xtb=1916mm

Bảng 2: Bảng tần suất mưa thiết kế

Tần suất P = 0.1% Tần suất P = 1%

- Bốc hơi E=4.15mm; nhiệt đôï bình quân năm T0C=26,70C, độ ẩm bình quân năm RH= 78,4%; tốc độ gió bình quân năm Vg= 1,5m/s; số giờ nắng bình quân năm S= 7,4h; bức xạ Rs= 19,7mj/m2

- Dòng chảy lũ: QP= 1%=3.540m3/s; QP =0.1%=4909m3/s

- Cv=0.18; Cs=0.45Cv

* Điều tiết lũ thiết kế (P = 0.01%)

Trang 18

- 17 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

- Trường hợp thiết kế: MNTL = 25.1m; Qmax

xả = 2800 m3/s

- Tổng lượng lũ: 1299.583 triệu m3

- Lưu lượng đỉnh lũ Qmax = 7200 m3/s

- Lưu lượng xả lũ lớn nhất qmxa = 2800 m3/s

- Mực nước hồ lớn nhất Zmax = 25.144 m3/s

QUÁ TRÌNH ĐIỀU TIẾT LŨ HỒ DẦU TIẾNG TRƯỜNG HỢP LŨ THIẾT KẾ P=0.01%

Trang 19

- 18 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

MỰC NƯỚC HỒ DẦU TIẾNG KHI P=0.01%

Bảng 3: Dòng chảy lũ thiết kế hồ Dầu Tiếng

Trang 20

- 19 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

Hmax: mực nước thượng lưu; Vt: dung tích hồ

Khi mực nước hồ đã đạt đến mức nước dâng bình thường, hồ phải được điều

tiết xả lũ qua đập tràn để giữ sự an toàn cho hồ Dầu Tiếng Theo quy trình vận

hành tạm thời năm 2000, quy trình điều tiết vận hành của hồ Dầu Tiếng được xây

dựng đảm bảo các nguyên tắc sau đây:

- Trong quá trình vận hành xả nước, cao trình mực nước phải cao hơn “tung

độ đường phòng phá hoại” cao hơn hoặc bằng “ tung độ đường hạn chế cấp

nước” trên biểu đồ điều phối theo bảng sau:

Bảng 4: Đường phòng phá hoại

Đường phòng phá hoại Ngày tháng

- Những năm thời tiết bình thường lượng dòng chảy đến hồ và phân phối

dòng chảy trong các tháng bằng hoặc xấp xỉ dòng chảy năm tương ứng với tần

suất thiết kế đảm bảo tưới Q (P=75%) =50.1m3/s và mực nước trong hồ sau ngày

Trang 21

- 20 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

20 tháng 11 đạt cao trình +24,40m thì hồ được vận hành cấp nước từ tháng 12 đến trước tháng 12 năm sau với cao trình mực nước hồ luôn luôn cao hơn hoăc bằng tung độ đường “hạn chế cấp nước “ trên biểu đồ điều phối

Bảng 5: Đường hạn chế cấp nước

Tung độ điểm đường hạn chế cấp nước và dunh tích hồ tương ứng Ngày tháng

- Trong điều kiện lũ bình thường lưu lượng xả tối đa không vượt quá: Q(xả)

≤ 200m3/s, trong trường hợp công trình có sự cố hoặc lũ có cường suất lớn tập trung nhanh và các trường hợp khẩn cấp khác Qmaxxả =2800m3/s

- Trong quá trình vận hành tích nước, sau ngày 01/07 hàng năm không để cao trình mực nước hồ lớn hơn tung độ đường “phòng phá hoại trên biểu đồ phân phối”

Bảng 6: Đường hạn chế cấp nước

Ngày tháng Tung độ điểm đường hạn chế cấp nước và dunh tích hồ tương ứng

Đặc trưng 1/7 1/8 16/8 1/9 1/10 1/11 20/11 1/12

Z hồ (m) 19.08 19.90 20.57 21.08 22.89 24.16 24.40 24.40 Whồ (10 6 m 3 ) 679.95 786.10 877.80 939.30 1261.76 1261.76 1580.80 1580.80

Ngày tháng Tung độ điểm đường hạn chế cấp nước và dunh tích hồ tương ứng

Đặc trưng 1/1 11/1 1/2 1/3 1/4 1/5 1/6 1/7

Z hồ (m) 24.40 24.40 23.97 22.94 21.55 20.52 20.17 19.08 Whồ (10 6 m 3 ) 1580.8 1580.8 1481.8 1270.96 1027.7 870.8 821.8 679.95

- Khi mực nước trong hồ đạt cao trình (Zhồ) +23.3m trước ngày 10/10 phải theo dõi chặt chẽ diễn biến khí tượng thuỷ văn trong lưu vực Nếu xuất hiện lũ phải xác định khả năng dòng chảy lũ, có phương án kịp thời không để mực nước hồ vượt tung độ đường phòng phá hoại trước khi lũ đến, đề phòng lũ lớn

- Hàng năm khi cao trình mực nước hồ (Zhồ) xuất hiện lũ chính vụ (tháng 10), tiến hành xả từ cao trình +23.30m Nếu lũ đến nhỏ hơn lũ tần suất 1% (Plũ> P=1%), điều tiết nước cao nhất trong hồ không vượt quá cao trình mực nước dâng

Trang 22

- 21 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

bình thường (+24.4m), sau lũ đưa về cao trình mực nước tương ứng với thời gian trên tung độ đường phá hoại của biểu đồ điều phối

- Nếu xuất hiện lũ lớn với tần suất P=1%, lưu lượng xả lớn nhất từ 750÷1000m3/s Sau lũ đưa về cao trình mực nước tương ứng trên tung độ đường phòng phá hoại của biểu đồ điều phối

- Trường hợp lũ đặc biệt lớn ứng với tần suất lũ thiết kế P=0.1%, lưu lượng xả lớn nhất 1.600m3/s Sau lũ đưa về cao trình mực nước tương ứng trên tung độ đường phòng phá hoại của biểu đồ điều phối

- Trường hợp lũ bất bình thường: xuất hiện lũ cực hạn, vượt quá tần suất lũ thiết kế (P<0.1%-0.01%), lưu lượng xả lớn nhất 2800m3/s, bằng lưu lượng xả cực đại thiết kế Sau lũ đưa về cao trình mực nước tương ứng trên tung độ đường phòng phá hoại của biểu đồ điều phối

- Trường hợp mực nước hồ đã đạt cao trình mực nước dâng bình thường Zhồ

= +24.40m hoặc sau ngày 20/10 xuất hiện lũ muộn, quá trình xả lũ theo các bước như sau:

+ Lũ tần suất P=1%; Qxả max P=1%=1.800m3/s

+ Lũ tần suất P=0.5%; Qxả max P=0.5%=2.100m3/s

+ Lũ tần suất P= 0.1%; Qxả max P=0.1%=2.800m3/s

Sau lũ mực nước hồ đưa về cao trình mực nước dâng bình thường Zhồ = 24.40m

Trong những năm 1984 đến 1995 không xảy ra lũ lớn ngoại trừ năm 1993 xuất hiện cơn lũ 504 m3 tớiù hồ từ 19/10/1993 đến 31/10/1993

Chính vì trong thời gian này chỉ xảy ra nhũng trận lũ nhỏ về tổng lượng lẫn lưu lượng như trên nên đã xuất hiện một số nhận định chủ quan Song từ năm

1996 trở đi đã xuất hiện nhiều hiện tượng thời tiết bất thường trong đó có những trận lũ lớn

Năm 1996 là năm mưa lũ lớn ở lưu vực hồ Dầu Tiếng, có những trận mưa khá lớn như trận mưa ngày 03/07/1996 có lượng mưa 135mm, lượng mưa bình quân toàn lưu vực là 1.953mm bằng 105,8% lượng mưa thiết kế và hồ Dầu Tiếng đã tích đến mực nước thiết kế 24.4m vào ngày 14/11/1996 nghĩa là hồ đã thực sự phải sử dụng dung tích phòng lũ để điều tiết cắt lũ cho hạ du

Năm 1997 lượng nước về hồ ít, tích không đủ mực nước dâng bình thường (chỉ đạt 23,58m /24,40m) hồ Dầu Tiếng đã không xả lũ xuống sông Sài Gòn Đầu mùa mưa năm 1998 là năm khô hạn tình hình thiếu nước tưới và phát điện gay gắt (hồ Dầu Tiếng phải xả nước tưới xuống dưới mực nước chết), từ cuối tháng 05/1998, mực nước hồ thấp hơn mực nước chết (17m) và đến tháng 07 bắt đầu lên chậm, đến ngày 11/07 mực nước hồ đạt đến 17,13m, tuy nhiên tháng 12/1998 trong lúc có sự xuất hiện của cơn bão số 8 là một cơn bão rất mạnh, có các lỗ sủi

Trang 23

- 22 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

tại hạ lưu đập chímh, sau đó vào giữa tháng 12 hồ Dầu Tiếng phải xả tràn từ 400m3/s

100-Năm 1999, cuối tháng 07, đầu tháng 8 xảy ra một trận lũ lớn trên Sông Bé và Đồng Nai nhưng lũ về hồ Dầu Tiếng không lớn Giữa 1999 hồ Dầu Tiếng xả bớt nước xuống sông Sài Gòn: từ 50 ÷150m3/s (06÷29/05); 150m3/s (2 khoang tràn) (30/05÷21/06); 100m3/s (01÷17/09) Trong 3 tháng 10, 11, 12/1999, hồ Dầu Tiếng đều có xả bớt nước xuống sông Sài Gòn song lưu lượng chỉ bằng hoặc nhỏ hơn 150m3/s

Năm 2000, diễn biến thời tiết phức tạp, riêng khu vực Tây Ninh có điểm dị thường, các tháng mùa khô đều có mưa, riêng tháng 6 có tổng lượng mưa 588,9mm vượt 350mm so với trung bình nhiều năm và lớn nhất trong vòng 30 năm, đối với lưu vực hồ Dầu Tiếng tổng lượng mưa là 2173, 3mm vượt 328mm so với lượng mưa thiết kế Hồ Dầu Tiếng từ 20/03 đến cuối 05/2000 đã xả xuống sông Sài Gòn để thực hiện kế hoạch sửa chữa đập tràn Do ảnh hưởng của hai đợt áp thập nhiệt đới liên tiếp xảy ra vào thượng tuần tháng 10 nên từ ngày 07÷12/10 có một đợt mưa lớn ở hầu hết Nam Bộ, có nơi mưa to đến rất to; đặc biệt ngày 09/10 ở miền Đông Nam Bộ có mưa rất to trên diện rộng, với lưu lượng hầu hết từ 100÷200mm làm cho lưu lượng nước về các hồ chứa ở mức rất cao Hồ Dầu Tiếng đã phải xả tràn từ 07/10 với lưu lượng ban đầu là 200m3/s, riêng thượng nguồn sông Sài Gòn ngày 10÷11/10 có mưa rất lớn 284mm khiến mực nước hồ lên nhanh đến ngày 1/10 đạt 23,93m đỉnh lũ đạt đến 1.600m3/s, nên từ 12h ngày 12/10÷8h ngày 15/10 hồ phải xả với lưu lượng 600m3/s xuống hạ lưu, trong khi hạ

du gặp triều cường và lũ miền Tây Nam Bộ tràn về, đồng thời hai hồ Trị An, Thác Mơ đồng phải xả lũ ở mức cao Đây là đợt xả lũ bắt buộc lớn nhất chỉ nhỏ hơn đợt xả do sự cố cửa van tháng 01/1986 và cùng với kì triều cường nên đã gây những thiệt hại đáng kể cho khu vực ven sông Sài Gòn thành phố Hồ Chí Minh Năm 2001 chỉ có 09 cơn bão và 04 cơn áp thấp nhiệt đới hoạt động trên Biển Đông và chỉ 03 cơn bão có ảnh hưởng trực tiếp đến nước ta, lượng mưa trung bình lưu vực hồ là 2069.1mm lớn hơn lượng mưa thiết kế (X75% = 1845mm) là 224.1mm tập trung lớn vào các tháng 8, 9, 10, xuất hiện một cơn lũ vào cuối tháng 10 ở mức trung bình Hồ Dầu Tiếng năm 2001 xả tràn thời gian từ 7 đến 10/11 với lưu lượng 150m3/s

Trang 24

- 23 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

Bảng 7: Tổng hợp chi tiết tình hình xả lũ hồ Dầu Tiếng từ 1990÷2005 như sau:

Năm Thời gian Số ngày Tổng lượng lũ

(106m3) Lưu lượng lũ (m3/s) Lưu lượng xả (m3/s)

Trang 25

- 24 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

2) Hồ chứa và nhà máy thủy điện Trị An:

Công trình thuỷ điện Trị An trên sông Đồng Nai được khởi công xây dựng từ tháng 3 năm 1984, cuối năm 1987 khởi động tổ máy số 1 và hoàn thành đưa vào sử dụng từ năm 1989 Nhiệm vụ công trình bao gồm phát điện với 4 tổ máy với công suất lắp đặt 400mw, sản lượng điện bình quân hàng năm 1,7 tỉ KWh, cấp và điều tiết nước đẩy mặn đảm bảo chất lượng nước cho sinh hoạt và công nghiệp cho thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hoà, góp phần cải tạo môi trường và các mục tiêu khác…

2.1) Những đặc trưng cơ bản của công trình thuỷ điện Trị An:

Thành phần chính của thuỷ điện Trị An gồm:

- Khu đầu mối chính bao gồm đập đất đá ngăn sông Đồng Nai, đập tràn và đập tiếp giáp bờ trái tạo thành hồ chính

- Đập đất ngăn Suối Rộp và các đập phụ bờ phải tạo thành hồ phụ

- Kênh nối bờ chính với bờ phụ

- Khu đầu nối năng lượng bao gồm: kênh dẫn vào bể áp lực, cửa lấy nước, đường ống áp lực, nhà máy thuỷ điện và kênh dẫn ra

Những đặc trưng cơ bản của công trình gồm có:

Hồ chứa:

- Mực nước dâng bình thường (MNDBT): 62.00m

- Mục nước chết (MNC): 50.0m

- Mực nước gia cường (MNGC): 63.9m

- Dung tích toàn bộ: 2765 triệu m3

- Dung tích hữu ích: 2547 triệu m3

- Dung tích chết: 218 triệu m3

- Dung tích đến mực nước gia cường: 3400 triệu m3

- Lưu lượng lũ: 635 triệu m3

- Diện tích mặt thoáng ở cao độ MNDBT: 323 km2

- Diện tích mặt thoáng ở cao độ MNC: 63 km2

- Khả năng xả lớn nhất: 18700m3/s

Đập chính dòng sông:

- Chiều dài đập: 4200m

- Cao trình đỉnh đập: 65m

- Chiều cao lớn nhất: 40m

Đập Suối Rộp:

- Chiều dài đập: 2.750m

- Cao trình đỉnh đập: 64,6m

- Chiều cao lớn nhất: 54m

Trang 26

- 25 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

2.2) Quy trình vận hành và hoạt động điều tiết của hồ Trị An:

Theo thiết kế hồ Trị An có thể xả từ 6.700-13.800 m3 ở mức báo động 3 và

từ 13.800- 21.000 m3 ở mức báo động 4 trong trường hợp có lũ đặc biệt với tần

suất 0,1%

Bảng 8: Đặc trưng dòng chảy năm, dòng chảy mùa lũ và mùa kiệt trung bình

nhiều năm ở tuyến công trình

Q (m 3 /s) theo các tần suất P%

Đặc trưng mQo 3/s 10W 9

m 3 Cv Cs

10 50 75 90 95 Dòng chảy năm 477 15.1 0.22 2Cv 615 469 402 349 320

Dòng chảy mùa lũ (VII–

XI) 949 12.6 0.21 3Cv 1210 929 807 712 660

Dòng chảy mùa kiệt

(XII-VI) 136 2.5 0.38 4Cv 202 126 100 82 73

a) Đặc trưng lũ thiết kế:

Bảng 9: Quá trình lũ thiết kế hồ Trị An

Trị số tương ứng với tần suất P%

Thông số Đơn vị

Lưu lượng đỉnh lũ m 3 /s 2100 13800 6700 Tổng lượng lũ (7 ngày) 10 9 m 3 8.97 509 306

Trang 27

- 26 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

QUÁ TRÌNH LŨ THIẾT KẾ TRỊ AN P= 0.1%, 1%, 10%

0 1000 2000 3000 4000 5000 6000 7000 8000 9000 10000 11000 12000 13000 14000 15000 16000 17000 18000 19000 20000 21000 22000

Mực nước hạ lưu đập tràn m 42.8 45.4 47.4

Mực nước hạ lưu nhà máy m 15 19.7 22.5

Các cấp lũ:

- Cấp 1: khi lưu lượng lũ 2000 - 3600m3/s

- Cấp 2: khi lưu lượng lũ 3600 -6700m3

- Cấp 3: khi lưu lượng lũ 6700 -13800m3/s

- Cấp 4: khi lưu lượng lũ 13800 -21000m3/s

Khi mực nước hồ đã đạt đến mực nước dâng bình thường, hồ phải được điều

tiết xả lũ qua đập tràn để giữ sự an toàn cho công trình thuỷ điện Trị An theo quy

trình xả lũ của tổng công ty điện lực Việt Nam Theo đó nguyên tắc vận hành của

hồ Trị An được xây dựng đảm bảo các nguyên tắc theo thứ tự ưu tiên sau đây:

Trang 28

- 27 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

- Đảm bảo an toàn tuyệt đối cho công trình, khi xuất hiện lũ bất kì với tần suất không nhỏ hơn tần suất thiết kế 0.1% (lưu lượng lũ đến không vượt quá 21.000 m3/s)

- Đảm bảo điều kiện tối ưu cho các tổ máy phát công suất và sản lượng điện cao nhất, tích nước đến cao trình 62m vào cuối mùa lũ

- Điều tiết lưu lượng xả hợp lý để hạn chế thiệt hại vùng hạ lưu công trình Trong thời kỳ lũ, hàng ngày tính toán xác định chế độ tích xả nước hồ dựa vào các dự báo khí tượng thuỷ văn ở lưu vực trong 5 ngày và 10 ngày tới, dự báo khí tượng thuỷ văn lưu lượng nước đến hồ trong 24 và 48 giờ trong thời gian có lũ Hiện nay trên lưu vực sông Đồng Nai đang có trạm đo khí tượng thuỷ văn phục vụ dự báo chống lũ công trình gồm trạm khí tượng thuỷ văn Trị An là đầu mối thu nhận số liệu, sáu trạm đo mưa: Đà Lạt, Di Linh, Bảo Lộc, Đắc Nông, Tân Phú, Phước Long hai trạm đo mưa và mực nước đầu nguồn hồ Trị An là trạm Tà Lài trên sông Đồng Nai và trạm Phú Hiệp trên sông La Ngà

Hồ Trị An kể từ khi xây dựng hoàn thành năm 1989 đến 1993 cũng không có lũ lớn ngoại trừ năm 1990 xuất hiện đỉnh lũ 2.964m3/s song đến năm 1994 xuất hiện liên tiếp ba lần lũ trên 2000m3/s Cơn lũ đầu tiên vào đầu tháng 8 với lưu lượng đỉnh 2040m3/s, hai cơn lũ liên tiếp đầu và giữa tháng 9 với lưu lượng đỉnh trên 2.500m3/s gây bất lợi cho việc điều tiết lũ, là năm nhiều nước với lưu lượng về tháng 7, tháng 9 thuộc loại rất cao trong vòng 30 năm Tổng lượng nước xả thừa năm 1994 là 3,6 tỷ m3 gấp 1,5 dung tích hữu ích của hồ

Năm 1996 lũ ở mức trung bình, đầu tháng 19 năm 1996 các ngày 2 và 3/10 có lũ với hồ Trị An với lưu lượng về khá lớn 1.873m3/s và ngày 6/11 lũ về với đỉnh 2.049m3/s Tình hình này khá may mắn vì năm 1996 thành phố Hồ Chí Minh không chịu ảnh hưởng của lũ từ đồng bằng sông Cửu Long tràn về gây thiệt hại đáng kể

Năm 1997 lũ tràn về ngay trong tháng 7 với lưu lượng đỉnh 2.361 m3/s nhưng không có lũ lớn vào các tháng 8, 9, 10 Hồ Trị An năm 1997 xả nước qua đập tràn từ khá sớm (01/08/1997) tuy nhiên, trong thời gian đang có bão số 5, nhà máy thuỷ điện Trị An đã giảm và không xả nước qua đập tràn để đảm bảo an toàn cho hạ lưu

Năm 1998 xuất hiện cơn bão muộn số 4 gây ảnh hưởng mưa lớn đến khu vực miền Đông Nam Bộ từ các ngày 13, 14, 15/11 trong lúc hồ Trị An đang đầy, mực nước hồ ở cao trình 62m Mưa lớn ở khu vực Trị An khiến lưu lượng tập trung về hồ trung bình trong 3 giờ đạt đến 3000m3/s và nhà máy phải xả cấp tốc lưu lượng tổng cộng 2.400m3/s Ngoài ra sự xuất hiện của cơn bão số 8 là một cơn bão rất mạnh trong thời điểm các hồ đều đầy nước cũng là một hiện tượng rất nguy hiểm

Trang 29

- 28 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

Liên tục hai năm 1999, 2000 đều xuất hiện lũ lớn Đông Nam Bộ mặc dù thời điểm trong năm không giống nhau nhưng cũng đều hết sức nguy hiểm do sự xuất hiện mưa lịch sử ở một số khu vực năm 1999 và mưa đều diện rộng năm 2000 Đợt lũ đến miền Đông Nam Bộ cuối tháng 07 đến đầu tháng 08/1999 do mưa vừa, mưa to diện rộng kéo dài nhiều ngày và đặc biệt có nơi mưa rất to với cường suất lớn tập trung trong các ngày 28÷29/07, xuất hiện mưa lịch sử thượng nguồn Sông Bé, sông Đồng Nai, đã gây ra đợt lũ lớn và lũ quét ác liệt ở nhiều nơi, nhất là ở lưu vực sông Đồng Nai và các sông thuộc tỉnh Bình Thuận Đỉnh lũ tức thời tại Trị An là 6.952m3/s (lúc 20h ngày 29/07); tại Thác Mơ là 1.262m3/s (lúc 23h ngày 29/07) Tổng lưu lượng về 2 hồ chứa cao nhất là 4.600m3/s (ngày 30/07); tổng lưu lượng phát điện và xả xuống hạ lưu gần 4.100m3/s (ngày 31/07) Trong năm 2000 xuất hiện hai lũ cấp 1 trong đó cơn lũ xuất hiện từ 10 đến 23/10/2000 với lưu lượng cao trên 2000m3/s liên tục trong 14 ngày, đỉnh lũ cao nhất trung bình ngày 2.572m3/s gây thiệt hại lớn cho hạ du Từ ngày 07÷12/10 có một đợt mưa đều trên lưu vực Đông Nam Bộ, có nơi mưa to đến rất to; đặc biệt ngày 09/10 ở miền Đông Nam Bộ có mưa rất to trên diện rộng, với lưu lượng hầu hết từ 100÷200mm làm cho lưu lượng nước về các hồ chứa ở mức rất cao Hồ Trị

An ban hành báo động cấp 2 và xả lưu lượng khá lớn 2.550m3/s ngày 11/10/2000 ngang với mức lũ về Đây là tình hình tổ hợp nhiều yếu tố bất lợi cho hạ du do xả lũ đồng loạt cả ba hồ Dầu Tiếng, Trị An, Thác Mơ, ảnh hưởng lũ đồng bằng Sông Cửu Long tràn về Tại 2 hồ Trị An, Thác Mơ, lưu lượng về đạt lớn nhất ngày 10/10 là 3.643,5m3/s; lưu lượng xả tràn và phát điện lớn nhất ngày 11/10 là 3.831m3/s Tuy nhiên, lưu lượng về và xả còn thấp hơn đợt lũ cuối tháng 07/1999 và thuỷ triều biển Đông không cao như năm 1996

Năm 2001 cũng là một năm nhiều nước với lưu lượng nước về hồ bình quân trong năm là 627m3/s đạt tần suất 13%, tổng lượng nước về trong năm 19,86 tỷ

m3 đạt 132% so với trung bình nhiều năm Do xuất hiện một cơn lũ với lưu lượng cao trên 2000m3/s trong thời gian liên tục từ giữa tháng 8 đến cuối tháng 8 với đỉnh lũ cao nhất trung bình ngày 2973,7 m3/s, hồ Trị An bắt đầu xả tràn từ 14/08/2001 và 28/08/2001, lưu lượng xả tràn và phát điện lớn nhất trong năm là 2.368m3/s

Trang 30

- 29 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

Bảng 12: Tổng hợp chi tiết tình hình xả lũ hồ Trị An từ 1994- 2004:

Năm Mực

nước hồ Đợt lũ Nhày lũ lớn nhất Lưu lượng về max

trong ngày (m3/s)

Lưu lượng xả max trong ngày (m3/s)

Lưu lượng xả+ phát điện max trong ngày (m3/s)

3) Hồ chứa và nhà máy thủy điện Thác Mơ:

Hồ Thác Mơ và nhà máy thuỷ điện Thác Mơ nằm ở thượng lưu sông Bé là một nhánh sông quan trọng của sông Đồng Nai Sông Bé có chiều dài 120km, độ rộng bình quân lưu vực 8.3km, độ dốc bình quân đáy sông i=6%, lòng sông hẹp chảy qua nhiều vùng đồi dễ tạo nên ngập lụt cục bộ khi lưu lựơng lớn hơn bình thường Đất đai hai bên sông phì nhiêu, nhân dân thích trồng trọt nhiều loại cây lâu năm làm vườn và sinh sống ven sông

Nhà máy thuỷ điện Thác Mơ thuộc tổng công ty điện lực Việt Nam được xây dựng cuối năm 1991 với công suất 150MW và đi vào hoạt động sản suất từ năm

1995, đã phát huy hiệu quả kinh tế cao, sản lượng trung bình hàng năm; là 800 triệu Kwh (thiết kế 610 Kwh) Ngoài nhiện vụ phát điện ở bậc thang thứ nhất từ nguồn năng lượng sông Bé thuỷ điện Thác Mơ còn có nhiệm vụ điều hoà lưu lựơng nước trên sông Bé quanh năm, nhất là vào mùa khô luôn giữ được lưu lượng nước xấp xỉ 200m3/s để phục vụ tưới tiêu và sinh hoạt khu vực thuộc các

Trang 31

- 30 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

tỉnh Bình Phước, Bình Dương; giảm thiểu thiệt hại của vùng hạ du do việc xả lũ; cung cấp điện liên tục với chất lượng tốt cho các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước và một phần tỉnh Đắc Lắc; tham gia chống quá tải hệ thống các trạm biến thế của thành phố Hồ Chí Minh như Hóc Môn, Phú Lâm,… và là tiền đề cho việc xây dựng nhà máy thuỷ điện Cần Đơn ở bậc thang thứ II của sông Bé với công suất 2×36=72MW với sản lượng thiết kế khoảng 290 triệu Kwh/năm Hạ lưu các hồ Thác Mơ và Cần Đơn đang có dự án hồ Phước Hoà là hồ chứa trữ nước phục vụ tưới tiêu, cấp nước cho sản xuất, sinh hoạt, chuyển nước bổ xung cho hồ Dầu Tiếng

Nhà máy thuỷ điện Thác Mơ xả nước vào đoạn sông Bé ở hạ lưu nhà máy và sau đó vào sông Đồng Nai, trong giai đoạn hiện nay hoạt động xả nước của hồ có ảnh hưởng trực tiếp đối với khu vực hạ lưu sông Đồng Nai trong đó có thành phố Hồ Chí Minh, sau khi có hồ Phước Hoà, hồ Thác Mơ sẽ đóng vai trò bậc thang trên

3.1) Những đặc trưng cơ bản của công trình thuỷ điện Thác Mơ:

- Đập chính ngăn sông Bé các đập phụ và đập tràn tạo thành hồ chính

- Đập Đức Hạnh và các đập phụ tạo thành hồ phụ

- Kênh nối giữa hồ chính và hồ phụ

- Mực nước dâng bình thường (MNDBT): 218m

- Mực nước chết (MNC) : 198m

- Mực nước gia cường (MNGC): 220,8m

- Dung tích hồ (ở cao trình 218m): 1360×106m3

- Dung tích chết (ở cao trình 218m): 110×106m3

- Dung tích hữu ích: 125×106m3

- Dung tích hồ ở mực nước gia cường (220,8m): 1652×106m3

- Diện tích mặt hồ ở cao trình 218m (BT): 109km2

- Diện tích mặt hồ ở cao trình 220,8(GC): 124km2

- Công suất nhà máy 2×75 Mw: 150 Mw

- Điện lượng trung bình theo thiết kế: 610×106 Kwh

- Lưu lượng thiết kế hai tổ máy: 186m3/s

- Khoang tràn xả lũ: 4

- Chiều rông mỗi khoang: 11 m

- Cao độ ngưỡng tràn: 207m

- Khả năng xả lũ lớn nhất: 3539m3/s

- Cao độ đỉnh cửa tràn: 218,3m

- Cao trình đỉnh đập chính ngăn sông và đập Đức Hạnh: 223,5m

- Chiều dài đập chính: 440 m

Trang 32

- 31 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

- Chiều cao đập chính: 46,5 m

- Chiều dài theo đỉnh đâp Đức Hạnh: 905 m

- Chiều cao đập Đức Hạnh: 46,5 m

- Diện tích lưu vực: 2200 Km2

3.2) Quy trình vận hành và hoạt động điều tiết của hồ Thác Mơ:

Hoạt động điều tiết của hồ trong thời gian qua khá tốt, nói chung về mùa khô trong lúc lưu lượng nước về hồ và sông Bé ở mức thấp; nhà máy thuỷ điện Thác Mơ cố gắng vận hành với công suất định mức xả ra hạ lưu một lượng nước đều đặn 186m3/s đủ tạo điều kiện cho sinh hoạt và thuỷ lợi của nhân dân Về mùa mưa vào khoảng từ tháng 5 đến tháng 11, hàng năm thường những cơn lũ hồ Thác Mơ chứa nước cố giữ lưu lượng bình quân khoảng 200m3/s; tránh thiệt hại

do lũ gây ra cho nhân dân vùng hạ du Tuy nhiên do nguyên nhân rừng phòng hộ

bị chặt phá nghiêm trọng nên thực tế lưu lượng lũ về sông Bé và hồ Thác Mơ không theo qui luật bình thường và thường xuyên là đột biến với đỉnh lũ cao, nhọn, ngắn Đã xuất hiện những trận lũ lớn trong những năm gần đây, lũ xuất hiện nhanh chóng gây thiệt hại đáng kể về người và tài sản

Cao trình mực nước Mực nước dâng bình thường của hồ Thác Mơ là 218m được thiết kế theo mục tiêu điều tiết dòng chảy năm do phát điện Mực nước cao nhất của hồ chứa MNGC =220,8m được tính toán tương ứng với lũ thiết kế có P=0.5%

Trang 33

- 32 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

Bảng 13: Lưu lượng lũ thiết kế của hồ Thác Mơ:

Các cấp lũ:

- Lũ cấp 1: Qmax từ 400m3/s <2100m3/s (10 năm xảy ra một lần)

- Lũ cấp 2: Qmax từ 2100m3/s < 3700m3/s (50 năm xảy ra một lần)

- Lũ cấp 3: Qmax từ 3700m3/s <4360m3/s (100 năm xảy ra một lần)

- Lũ cấp 4: Qmax từ 4360m3/s <4900m3/s (200 năm xảy ra một lần)

Khi nước hồ đã đạt đến mực nước dâng bình thường (218m), hồ phải được điều tiết xả lũ qua đập tràn để giữ sự an toàn cho công trình thuỷ điện Thác Mơ theo quy trình xả lũ của tổng công ty điện lực Việt Nam Nguyên tắc điều tiết vận hành của hồ Thác Mơ phải đảm bảo an toàn tuyệt đối cho công trình khi lũ đến nhỏ hơn hoặc bằng lũ thiết kế 4.900m3/s, khả năng xả lũ lớn nhất 3.539m3/s

Mục tiêu của quy trình điều tiết xả lũ là phải đảm bảo tháo lũ an toàn đối với quá trình lũ đến hồ nhở hơn hoặc bằng lũ thiết kế P =0.5% có Qmax =4.900m3/s khi mực nước hồ vượt quá mước nước dâng bình thường =218m mà Q đến hồ > Q phát điện tối đa của các tổ máy và dự báo sẽ có mưa tiếp tục xảy ra thì mở đập tràn đển xả lũ với quá trình lũ dự kiến thấp nhất: 10% Lưu lượng xả theo các thời đoạn được duy trì theo lũ đơn 10% tương ứng với từng giờ một Nếu mực nước hồ vượt qua trị số mực nước cao nhất theo lũ 10% mà lưu lượng đến hồ tiếp tục tăng, mực nước hồ tiếp tục dâng cao thì chuyển sang xả lũ theo lưu lượng tương ứng với quá trình lũ ở cấp cao hơn (theo quá trình lũ P =5% tính theo lũ đơn)

Tương tự khi mực nước hồ vượt quá z max theo P=5% thì chuyển sang xả lũ theo cấp lưu lượng tiếp theo P =2% rồi 1% và cuối cùng là lũ thiết kế P =0.5% Khi đã nhận biết lũ đến hồ là quá trình lũ thiết kế P =5% thì mở toàn bộ các cửa đập tràn để xả lũ theo khả năng thiết kế của nó nhằm mục đích xả hết lũ đến hồ và nhanh chóng đưa mực nước trở về MNDBT =218m Khi mực nước hồ chưa đạt đến 218m nhưng đã vượt qua giới hạ trên của khu vực chống xả thừa mà Q đến > Qphát điện tối đa thì giám đốc nhà máy xem xét quyết định lưu lượng xả và báo cáo cấp trên Khi mực nước hồ gần trở lại mức dâng bình thường thì phải hết sức chú ý trong việc điều khiển các cửa của đập tràn trong quá trình đóng cửa để đảm bảo rằng khi hết lũ giữ được mực hồ ở 218m Trong thời kì lũ khi mà mực nước hồ vượt quá giới hạn trên của khu vực chống xả thừa hoặc mực nước hồ ở cao trình mực nước dâng bình thường thì phải tiến hành tính toán và dự kiến chế độ tích nước và xả nước qua đập tràn dựa trên dự báo ngắn hạn tình hình khí tượng

Trang 34

- 33 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

thuỷ văn của khu vực trong vòng 24 giờ, 48 giờ, 72 giờ, dự báo tình hình khí tượng thuỷ văn trong vòng 10 ngày tới

Bảng 14: Điều tiết theo lũ đơn (từng trận lũ riêng biệt)

Bảng 15: Điều tiết theo lũ liên tiếp từ p=10% đến p=0.5%

219.66

T

T Trường hợp tính Qmax (m3/s) (10Wđến 6 m3) (10Wlũ trữ 6 m3) Qxả max (m3/s) Z hồ max (m)

1 Theo lũ xuất hiện 10%,

Lưu lượng xả max trong ngày (m3/s)

Trang 35

- 34 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

4) Hồ chứa và nhà máy thủy điện Cần Đơn:

Công trình Cần Đơn là bậc thang thứ 2 sau Thác Mơ trên sông Bé, với diện tích lưu vực 3.396 km2, công suất lắp máy 60MW và tổng điện lượng hàng năm 270.106 KWh Công trình được xây dựng theo phương thức BOT từ vốn của tổng công ty điện sông Đà hoàn thành vào năm 2003 Các chỉ tiêu kỹ thuật của hồ chứa như sau:

- Diện tích lưu vực: 3.225 km2

- Lưu lượng trung bình: 134 m3/s

- Lưu lượng lũ thiết kế (0.5%): 6.160 m3/s

- Lưu lượng lũ kiểm tra (0.1%): 6.950 m3/s

- Mực nước dâng bình thường (MNDBT): 110 m

- Mực nước chết (MNC): 104 m

- Dung tích toàn bộ (Vtb): 150x106 m3

- Dung tích chết (Vc): 74x 106 m3

- Dung tích hiệu dụng (Vhd): 76 x 106 m3

- Diện tích mặt hồ tại MNDBT: 21,5 km2

- Lưu lượng lớn nhất qua nhà máy: 235 m3/s

- Lưu lượng đảm bảo: 71,3 m3/s

- Lưu lựơng xả tràn lớn nhất 0.1%: 5.287 m3/s

- Lưu lựơng xả tràn lớn nhất 0.1%: 5.287 m3/s

Hồ chứa Cần Đơn hoàn thành vào năm 2003 và bắt đầu tích nước Lưu lượng nước về hồ không lớn lắm cho đến tháng 8 năm 2004 hồ mới bắt đầu xả tràn Hồ Cần Đơn sẽ điều tiết một phần lũ do hồ Thác Mơ xả xuống và lưu lượng lũ trong lưu vực của hồ

Trang 36

- 35 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

Bảng 18: Tổng hợp chi tiết về tình hình xả lũ hồ Cần Đơn từ khi bắt đầu tích nước đến năm 2004 như sau:

Năm Mực

nước

hồ

Đợt lũ Ngày lũ

lớn nhất Lưu lượng về max trong

ngày (m3/s)

Lưu lượng xả max trong ngày (m3/s)

Lưu lượng xả+ phát điện max trong ngày (m3/s)

5) Hồ chứa và nhà máy thủy điện Srok Fumiêng:

Công trình Srok Fumiêng là bậc thang thứ 3 sau Cần Đơn trên sông Bé, với diện tích lưu vực 3.822 km2 Srok Fumiêng đã được công ty Khảo sát thiết kế điện 2 lập nghiên cứu khả thi vào tháng 12 năm 2001 với các chỉ tiêu kỹ thuật của hồ chứa như sau:

- Diện tích lưu vực: 3.822 km2

- Lưu lượng trung bình: 153,1 m3/s

- Lưu lượng lũ thiết kế (0.5%): 6.500 m3/s

- Lưu lượng lũ kiểm tra (0.1%): 7.180 m3/s

- Mực nước dâng bình thường (MNDBT): 72 m

- Mực nước gia cường (MNGC): 73,6 m

- Mực nước chết (MNC): 70 m

- Dung tích toàn bộ (Vtb): 99,4x106 m3

- Dung tích chết (Vc): 70,9x 106 m3

- Dung tích hiệu dụng (Vhd): 28,6 x 106 m3

- Diện tích mặt hồ tại MNDBT: 16,4 km2

- Lưu lượng lớn nhất qua nhà máy: 301 m3/s

- Lưu lượng đảm bảo: 69,9 m3/s

- Lưu lựơng xả tràn lớn nhất 0.1%: 6.598 m3/s

- Lưu lựơng xả tràn lớn nhất 0.1%: 6.017 m3/s

Hồ Srok Fumiêng đang ở giai đoạn chuẩn bị, hồ sẽ được xây dựng trong thời gian tới, khi hoàn thành hồ sẽ điều tiết một phần lũ do hồ Cần Đơn xả xuống và lưu lượng lũ trong lưu vực của hồ

6) Hồ chứa Phước Hoà:

Hồ chứa Phước Hoà là bậc thang thứ 4 sau Srok Fumiêng trên sông Bé, với diện tích lưu vực 3.396 km2 Trong quy hoạch khai thác bậc thang trên sông Bé đã xác định 4 bậc thang, trong đó 3 bậc thang kể từ thượng lưu xuống bao gồm Thác Mơ, Cần đơn, Srok Fumiêng là các bậc thang thủy điện kết hợp cấp nước và phòng lũ, bậc thang cuối ở hạ lưu là Phước Hoà là bậc thang sử dụng tổng hợp nhưng không phát điện Nguồn nước của Phước Hòa chủ yếu sử dụng tưới (bơm

Trang 37

- 36 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

và tự chảy) cho khoảng 18.000 ha thuộc Bình Dương, Bình Phước, chuyển bằng kênh nối sang hồ Dầu Tiếng khoảng 50 m3/s để đưa sang tưới cho ven sông Vàm Cỏ Đông khoảng 30.000 ÷40.000 ha, một phần xả xuống hạ lưu sông Sài Gòn để đẩy mặn, cấp nước sinh hoạt, cấp nước cho các nhà máy nước dọc sông (trong đó có nhà máy nước Bến Than công suất 300.000 ÷ 600.000 m3/ngày đêm) và tham gia bảo vệ môi trường khu vực thành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra, hồ Phước Hoà cũng sẽ xem xét xả xuống hạ lưu ít nhất 8÷10 m3/s đảm bảo dòng chảy sinh thái dòng sông

6.1) Những đặc trưng cơ bản của hồ Phước Hòa:

Những đặc trưng cơ bản của công trình gồm có:

Hồ chứa:

- Mực nước dâng bình thường (MNDBT): 42.9 m

- Mực nước gia cường (MNGC): 45.8 m

- Mực nước chết (MNC): 22.5 m

- Cao trình ngưỡng tràn: 32.5 m

- Khẩu diện xả sâu b: 10 m

- Số khoang tràn xả sâu n: 4

- Tổng dung tích: 1.58 tỷ m3

- Dung tích hữu ích: 1.11 tỷ m3

- Dung tích ứng với mực nước chết: 0.47 tỷ m3

- Diện tích lưu vực S: 2.700km2

- Diện tích mặt hồ ứng với mực nước dâng bình thường: 270 km2

- Diện tích mặt nước hồ ứng với mực nước chết S: 110 km2

- Lưu lượng lũ thiết kế: QTK

0.5%= 3670 m3/s

- Lưu lượng xả lũ max: Q0.1%= 5800 m3/s

QUÁ TRÌNH LŨ THIẾT KẾ PHƯỚC HOÀ

Trang 38

- 37 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

Bảng 19: Tổng lượng lũ thiết kế của hồ Phước Hoà:

Wmax(106m3) 3738 2783 2491 2102 1774 1486 1193 940 722

Nhận định chung: nhìn chung diễn biến và hoạt động xả lũ của các hồ chứa trong

những năm qua, cho thấy thực sự khi xảy ra các trận lũ lớn và rất lớn các hồ đều có khả năng cắt lũ hạn chế, hầu như đều xả tương đương với lưu lượng lũ về Nguyên nhân do dung tích phòng lũ hạn chế và các hồ đều tích đầy nước trong các thời điểm lũ về Có thể nhận thấy trong các lần xuất hiện lũ lớn Đông Nam Bộ gần đây đều liên quan đến sự xuất hiện của bão và áp thấp nhiệt đới xuất hiện ở biển Đông trên khu vực Nam Bộ, như trận lũ năm 2000 có quan hệ với áp thấp nhiệt đới xuất hiện khá kéo dài và các hồ có thể ứng phó tích cực hơn bằng cách xả nước trước tạo dung tích phòng lũ cho hồ đến khi lũ về có thể hạn chế bớt lưu lượng xả xuống hạ lưu

III/ ẢNH HƯỞNG CỦA LŨ TÂY NAM BỘ VỚI TP HỒ CHÍ MINH:

Khu vực Tây thành phố Hồ Chí Minh thuộc vùng chịu ảnh hưởng ngập lụt hạ lưu sông Mê Kông thông qua sông Vàm Cỏ tràn về từ phía Tây Ninh và Long

An trong lịch sử đã gây thiệt hại cho thành phố và trong những năm gần đây cùng với tình hình chuyển biến bất lợi với lũ lụt xảy ra thường xuyên hơn gây thiệt hại lớn cho Đồng bằng sông Cửu Long, khu vực phía Tây, Tây Nam, Tây Bắc thành phố cũng thiệt hại đáng kể trong những năm 1996, 2000 Lũ từ đồng bằng sông Cửu Long tràn về tuy diễn biến chậm nhưng kéo dài trong điều kiện khu vực phía Tây thành phố đang phát triển mạnh khu dân cư, cơ sở hạ tầng với sự phát triển các thành phố vệ tinh đồng thời có những đăïc điểm gây bất lợi cho việc tiêu thoát nước: địa hình trũng thấp, giáp nước nếu kết hợp mưa to và triều cường (năm 1996) hoặc trùng với lũ Đông Nam Bộ (năm 2000) cho thấy nguy cơ xảy ra tổ hợp rất bất lợi không phải không thể xảy ra Cùng với vấn đề về lũ Đông Nam Bộ, vấn đề lũ đồng bằng sông Cửu Long tràn về cũng cần được nghiên cứu cảnh báo

Lũ đồng bằng sông Cửu Long là do sông Mê Kông chảy về Sông Mê Kông bắt nguồn từ Tây Tạng trên độ cao 4975m chảy qua Trung Quốc, Mianma, Lào, Thái Lan, Campuchia rồi đổ vào Việt Nam

Sông Mê Kông có chiều dài khoảng 4200km với diện tích lưu vực khoảng 795000km2 trong đó phần lưu vực thuộc Việt Nam rộng 72000km2 Lưu vực hạ lưu là vùng thấp tiếp giáp biển là vùng chịu ảnh hưởng mạnh nhất của dòng chảy

Trang 39

- 38 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

lũ và chuyển nước lũ ra biển Đông và biển Tây Ở Việt Nam phân bố dòng chảy lũ qua sông Tiền và sông Hậu thay đổi mạnh, chủ yếu bởi sự chuyển nước từ sông Tiền qua sông Hậu theo ngã Vàm Nao vào dòng chảy sông Hậu thấp hơn sông Tiền chỉ khoảng 25% Khoảng 4% dòng chảy tăng lên trên sông Hậu và một phần đáng kể lượng nước từ Campuchia tràn sang được chuyển sang vịnh Thái Lan Một phần dòng chảy lũ phía Bắc sông Tiền được bổ sung bởi sông Vàm Cỏ Tây và sông Vàm Cỏ Đông

Sông Vàm Cỏ Đông được cấp nước bởi lưu vực gần biên giới Việt Nam chảy về phía Nam với kích thước rộng và sâu hơn chịu ảnh hưởng thủy triều lên đến tận Tây Ninh, từ hạ lưu của Gò Dầu sông Vàm Cỏ Đông, tiếp nhận một phần lũ sông Cửu Long mà nó không thể tiêu thoát được, nhất là khi trùng kỳ cao của thuỷ triều biển Đông thường vào khoảng tháng 9 đến tháng 11 và lượng nước lũ này tràn về thành phố Hồ Chí Minh gây ngập lụt vùng thấp phía Tây thành phố với thời gian ngập lụt có thể kéo dài trên 1 tháng như lũ năm 1996,

Campuchia-2000

Sông Vàm Cỏ Tây bắt nguồn từ Campuchia, 15km về phía Đông của Kompong Sne Phần thượng lưu biên giới Campuchia-Việt Nam sông chỉ tiếp nhận lượng nước nhỏ và trong những trận lũ lớn có thể nhận nước tràn trên bề mặt lưu vực Kompong Sne Sông mở rộng hơn sau khi tiếp nhận rạch Cái Rưng, 15km phía trên Mộc Hoá Khả năng tiệu thoát của sông Vàm Cỏ Tây kém do độ dốc thấp Lưu lượng max năm lũ trung bình tại Tân An khoảng 650m3/s chiếm khoảng 3,7% so với trên sông Mê Kông (sông Tiền) tại Mỹ Thuận, riêng năm

1961 lưu lượng max tại Tân An đạt đến 1.200m3/s chiếm 5,5% so với trên sông Mê Kông tại Mỹ Thuận

Hai sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây hợp nhau tại vị trí khoảng 22km và kết thúc tại cửa Soài Rạp cửa sông Sài Gòn cách biển 15km

Tình hình lũ lụt vùng hạ lưu sông Mê Kông cũng chịu ảnh hưởng thuỷ triều với chế độ bán nhật triều thống trị phiá biển Đông và chế độ nhật triều thống trị ở phía biển Tây Cả hai chế độ triều đều tạo nên những vận động phức tạp Thường chế độ bán nhật triều có hai đỉnh cao hai đỉnh thấp mỗi ngày nhưng hai chân triều nhiều khi có chênh lệch lớn, cụ thể như tại Vũng Tàu phía Đông cửa ra sông Sài Gòn sự chênh lệch đỉnh triều cao hàng ngày khoảng 0 đến 0,3m trong khi chân triều hàng ngày chênh lệch nhau khoảng 0 đến 2,1m Biên độ triều hàng ngày của bán nhật triều biển Đông khoảng 3m trong khi biên độ triều của chế độ triều biển Tây là khoảng 0,7m, những giá trị mực nước đỉnh và chân triều thay đổi theo tháng trong năm và bên cạnh đó còn có ảnh hưởng nước dâng do gió và bão

Đồng bằng sông Cửu Long thuộc vùng đồng bằng châu thổ hạ lưu sông Mê Kông, phía Bắc giáp Campuchia và sông Vàm Cỏ, phía Đông và phía Nam giáp

Trang 40

- 39 - Luận văn tốt nghiệp cao học xây dựng công trình thủy khóa 14

biển Đông, phía Tây giáp biển Tây Về địa hình có độ cao hầu hết thấp hơn cao độ +2m so với mực nước biển Khu vực Tứ Giác Long Xuyên rộng khoảng 63.000ha là vùng thấp tiếp giáp biên giới Campuchia và vùng Đồng Tháp Mười có diện tích khoảng 1 triệu ha là các vùng trọng điểm ngập lụt do có cao trình thấp 1 2m Giữa sông Tiền và sông Hậu địa hình hơi cao hơn, trũng thấp ở ven biên giới và cao dần về hạ lưu

÷

Tình hình ngập lụt đồng bằng Sông Cửu Long rất đặc biệt, trước hết lụt kéo dài có thể đến nhiều tháng, ở khu vực miền Tây Nam Bộ mực nước gia tăng chậm thường chỉ khoảng dưới 10cm mỗi ngày trong những năm lũ trung bình, riêng những năm lũ lớn như 1991, 1996 cường suất lũ lên đạt đến 30cm/ngày, lưu lượng trên sông chính giảm nhanh từ Kratie ra biển Đông và thuỷ triều có ảnh hưởng quan trọng Nước lũ tràn qua sông Vàm Cỏ làm ngập vùng Mộc Hoá và nước lũ tràn qua Đồng Tháp Mười có khả năng ngây ngập lụt Tây Nam thành phố Hồ Chí Minh Khu vực Tây Nam thành phố Hồ Chí Minh như vậy cũng thuộc vùng ảnh hưởng ngập lụt do lũ sông Mê Kong Hầu như hàng năm nước sông Tiền, sông Hậu tràn bờ đều tràn về từ biên giới Campuchia đều gây ngập tạo nên vùng nước nổi mà đặc trưng là khu vực Tứ Giác Long Xuyên Tình hình ngập lụt phụ thuộc vào lượng nước lũ phát sinh chủ yếu từ lưu vực trung lưu sông Mê Kông, và ảnh hưởng thuỷ triều tác động hầu hết diện tích đồng bằng sông Cửu Long qua hệ thống kênh rạch chằng chịt từ ba mặt giáp biển trong đó ảnh hưởng chế độ bán nhật triều của thuỷ triều biển Đông quan trọng cho vùng duyên hải thuộc Việt Nam, đặc biệt là khu vực thành phố Hồ Chí Minh Chế độ nhật triều biển Tây ít ảnh hưởng hơn Các công trình thuỷ lợi và cơ sở hạ tầng ở các vùng trung và hạ lưu sông Mê Kông cũng có ảnh hưởng lớn đến tình hình ngập lụt hạ lưu sông Mê Kông, đồng bằng sông Cửu Long và cả thành phố Hồ Chí Minh Hiện nay công trình thoát lũ ra biển Tây, hệ thống thuỷ lợi Đồng Tháp Mười cũng có ảnh hưởng đến tình hình ngập lụt thành phố Hồ Chí Minh

Lũ đồng bằng Sông Cửu Long xuất hiện khá đều đặn hàng năm, nước sông dâng cao dần sau khi kết thúc mùa khô và đạt đến đỉnh cao nhất vào khoảng tháng 8, tháng 9, sau đó giảm dần đến tháng 5 năm sau, theo đặc điểm mưa điển hình của khu vực chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam Ngoài đỉnh lũ chính, cũng thường có những đỉnh lũ thứ hai chồng lên đỉnh lũ chính do sự xuất hiện lũ ở thượng nguồn hay lũ ở các sông nhánh

Vùng Đồng Tháp Mười hàng năm thường vào cuối tháng 7, đầu tháng 8 khi mực nước Tân Châu khoảng trên 2,7m, lũ tràn vào Đồng Tháp Mười từ phía Campuchia và từ sông Tiền qua hệ thống sông rạch và kênh dẫn nước và chảy về phía Nam, nhưng một phần nước lũ thoát trở lại ra sông Tiền và một phần nước lũ lại thoát ra biển Đông qua sông Vàm Cỏ Có thể nói vùng Đồng Tháp Mười là

Ngày đăng: 16/04/2021, 15:01

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w