1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận BẢO TỒN CÁC KỸ THUẬT VÀ BÍ QUYẾT ĐÀN HÁT TRONG NGHỆ THUẬT CA TRÙ

36 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 55,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ TÀI: BẢO TỒN CÁC KỸ THUẬT VÀ BÍ QUYẾT ĐÀN HÁT TRONG NGHỆ THUẬT CA TRÙ Phần mở đầu I. Lý do chọn đề tài II. Tình hình nghiên cứu của đề tài III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu IV. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu V. Cơ sở lí luận và phương pháp luận VI. Ý nghĩa đề tài VII. Kết cấu bố cục đề tài Phần nội dung Chương I: Loại hình nghệ thuật Ca Trù trong đời sống văn hoá Việt Nam I. Nguồn gốc Ca Trù 1. Cội nguồn và khởi điểm 1.1. Thư tịch và truyền thuyết về Tổ Ca Trù 1.2 . Các ý kiến của các nhà nghiên cứu về cội nguồn và khởi điểm Ca Trù a. Ca Trù có từ thời Lý b. Ca Trù ra đời về sau này c. Chưa khẳng định thời điểm xuất hiện vì cho rằng chưa tìm được chứng cứ xác thực 2. Sự hình thành tên gọi và ý nghĩa II. Nghệ thuật Ca Trù 1. Biên chế, cấu tạo các nhạc khí và khuôn khổ trong nghệ thuật Ca Trù a. Đàn Đáy b. Phách c. Trống chầu 2. Những làn điệu Ca Trù phổ biến 3. Đặc điểm của nghệ thuật Ca Trù 3.1. Lối hát thơ trong Ca Trù 3.2. Tại sao nói: “Ca Trù là một loại hình nghệ thuật bác học?” 4. Hình thức sinh hoạt Ca Trù 4.1. Không gian Hát Cung Đình 4.2. Không gian Hát Cửa Quyền a. Sinh hoạt ở Kinh thành và các đô thị b. Yếu tố Thơ được đặt ra bên cạnh yếu tố Nhạc. Nhu cầu giải trí, thưởng thức của cá nhân được coi trọng 4.3. Ca Trù trong dân gian a. Ngôi đình – Lễ hội và sinh hoạt dân gian b. Yếu tố Nhạc và Tâm linh được coi trọng để thoả mãn nhu cầu cộng cảm, hướng tới cái chung, cái cộng đồng c. Những làn điệu được dùng trong Hát Cửa Đình 4.4. Không gian Hát Thi Chương II: Bảo tồn các kỹ thuật và bí quyết đàn, hát trong nghệ thuật Ca Trù I. Kĩ thuật và bí quyết chơi Đàn Đáy II. Kĩ thuật và bí quyết hát Ca Trù III. Bảo tồn và gìn giữ các bí quyết đàn, hát trong nghệ thuật Ca Trù Phần kết luận

Trang 1

II Tình hình nghiên cứu của đề tài

III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

IV Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

V Cơ sở lí luận và phương pháp luận

VI Ý nghĩa đề tài

VII Kết cấu bố cục đề tài

Phần nội dung

Chương I: Loại hình nghệ thuật Ca Trù trong đời sống văn hoá Việt Nam

I Nguồn gốc Ca Trù

1 Cội nguồn và khởi điểm

1.1 Thư tịch và truyền thuyết về Tổ Ca Trù

1.2 Các ý kiến của các nhà nghiên cứu về cội nguồn và khởi điểm CaTrù

a Ca Trù có từ thời Lý

b Ca Trù ra đời về sau này

c Chưa khẳng định thời điểm xuất hiện vì cho rằng chưa tìm đượcchứng cứ xác thực

2 Sự hình thành tên gọi và ý nghĩa

II Nghệ thuật Ca Trù

1 Biên chế, cấu tạo các nhạc khí và khuôn khổ trong nghệ thuật Ca Trù

a Đàn Đáy

Trang 2

b Phách

c Trống chầu

2 Những làn điệu Ca Trù phổ biến

3 Đặc điểm của nghệ thuật Ca Trù

3.1 Lối hát thơ trong Ca Trù

3.2 Tại sao nói: “Ca Trù là một loại hình nghệ thuật bác học?”

4 Hình thức sinh hoạt Ca Trù

4.1 Không gian Hát Cung Đình

4.2 Không gian Hát Cửa Quyền

a Sinh hoạt ở Kinh thành và các đô thị

b Yếu tố Thơ được đặt ra bên cạnh yếu tố Nhạc Nhu cầu giải trí, thưởngthức của cá nhân được coi trọng

4.3 Ca Trù trong dân gian

a Ngôi đình – Lễ hội và sinh hoạt dân gian

b Yếu tố Nhạc và Tâm linh được coi trọng để thoả mãn nhu cầu cộng cảm,hướng tới cái chung, cái cộng đồng

c Những làn điệu được dùng trong Hát Cửa Đình

4.4 Không gian Hát Thi

Chương II: Bảo tồn các kỹ thuật và bí quyết đàn, hát trong nghệ thuật Ca Trù

I Kĩ thuật và bí quyết chơi Đàn Đáy

II Kĩ thuật và bí quyết hát Ca Trù

III Bảo tồn và gìn giữ các bí quyết đàn, hát trong nghệ thuật Ca Trù

Phần kết luận

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Có thể nói, nghệ thuật Ca Trù là một nét văn hoá riêng biệt độc đáo củaViệt Nam, nó là bộ môn nghệ thuật lâu đời, độc đáo và có vị trí đặc biệt trongkho tàng âm nhạc của người Việt Ca Trù gắn liền với Văn chương, Âm nhạc, Lễhội, Phong tục, Tín ngưỡng, Tư tưởng triết lý sống của người Việt Vì vậy, nó làmôn nghệ thuật mang trong mình diện mạo bản sắc của Văn Hoá Việt Nam

1 Về cơ bản, dân nhạc bác học Việt Nam cũng nằm trong mạch nguồnchung của Văn Hoá dân gian Ngay trong tên gọi, mã gốc của nó vẫn là âmnhạc của quần chúng nhân dân lao động nhưng lại đậm đà màu sắc bác học.Điều này tưởng như mâu thuẫn nhưng nếu phân tích hai yếu tố ấy trong nhữngloại hình nghệ thuật cụ thể thì chúng ta lại nhận thấy mottj sự hài hoà thống nhất

mà Ca Trù là một ví dụ tiêu biểu nhất Dù đã trải qua bao thăng trầm của Lịch sửnhưng sức sống bề bỉ của Ca Trù ít nhất là trong 500 năm qua vẫn chứng tỏ sựhấp dẫn đặc biệt của bộ môn nghệ thuật độc đáo này

2 Sau một thời gian được ít chú ý đến, trong những năm gần đây, Ca Trùđược quan tâm nhiều hơn: từ công tác học tập, biểu diễn, truyền nghề và đặc biệt

là nghiên cứu và giới thiệu Ca Trù như một nét văn hoá đặc sắc của Việt Nam tớingười yêu nghệ thuật trong và ngoài nước Tuy nhiên, con đường đi tìm một môitrường công chúng lí tưởng cho mình, tìm lại thời

3 Nghiên cứu Ca Trù cũng là góp phần vào việc tìm hiểu các giá trị nghệthuật truyền thống của Văn học Việt Nam Trong nhiều thập kỉ qua đã từng cónhiều công trình, bài báo tìm hiểu về các khía cạnh của Ca Trù Có công trìnhkhảo về văn chương Ca Trù, về sinh hoạt Ca Trù, có những công trình khảo vềtiếng hát, tiếng phách của Đào nương Có những công trình tuyển chọn nhữngbài thơ Ca Trù tiêu biểu nhất và cũng có nhiều các tổ chức Hội thảo Khoa học về

Trang 4

nghệ thuật Ca Trù Với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu khoa học trongnước và quốc tế, nhằm đánh giá một cách khoa học về nghệ thuật này.

4 Giáo phường ca Trù Thái Hà là gia đình có truyền thống 7 đời truyềnnghề và giữ gìn bộ môn nghệ thuật Ca Trù Đời thứ nhất Cụ Nguyễn Đức Ý(1830) đến năm 1852 ( Nhâm Tý) đỗ khoa Thủ khoa làm quan tại huyện GiaLộc tỉnh Hải Dương ( đời vua Tự Đức) tên tuổi của cụ được ghi trong sách( Những triều đại quan lại Việt Nam) Đời thứ hai Cụ Nguyễn Đức Bồi giữ chứcQuản giáp là người chuyên về đàn đáy và các làn điệu Ca Trù và Ca vũ trongCung Đình Đời thứ ba Cụ bà Nguyễn Thị Tuyết và cụ ông Trưởng Bẩy là mộttrong những tay đàn giọng hát hay nhất thời bấy giờ Đời thứ tư Ông NguyễnVăn Xuân – vô địch Đàn Đáy Bắc Hà cùng bà Phán Huy (bà Phẩm) nổi danh bởitiếng phách khuôn mẫu mực Đời thứ năm là Nghệ nhân dân gian Nguyễn VănMùi Ông là người thừa hưởng những bí quyết về Đàn Đáy, Trống Chầu, Pháchtrong nghệ thuật Ca Trù dòng họ Đời thứ sáu Nghệ nhân dân gian Nguyễn VănKhuê, Nguyễn Mạnh Tiến chơi đàn và Nghệ nhân dân gian Nguyễn Thuý Hoà.Đời thứ bẩy hai Đào nương trẻ Nguyễn Thu Thảo và Nguyễn Kiều Anh

5 Với một vốn kiến thức còn khiêm tốn, người viết chỉ xin hướng đề tàicủa mình vào một phần nhỏ bé trong việc bảo tồn các kĩ thuật và bí quyết đànhát trong nghệ thuật Ca Trù Để đóng góp vào những bí quyết và các kĩ thuậttrong nghệ thuật Ca Trù người viết đưa ra những quan điểm về các kĩ thuật và bíquyết mà đã được học của các Nghệ nhân trong Dòng họ đã hướng dẫn và chỉbảo cho tôi trong những năm qua nhằm đóng góp một phần nhỏ bé của mìnhtrong kho tàng âm nhạc, thi ca trong nghệ thuật Ca Trù của Việt Nam mà đãđược UNESCO công nhận là Di sản Văn Hoá phi vật thể của nhân loại (2010).Bên cạnh đó, những thống kê cụ thể về bí quyết và kĩ thuật của một Dòng họ đó

là đóng góp lớn nhất của khoá luận mà người viết muốn truyền tới

II TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Trong tình hình hiện nay, nghệ thuật Ca Trù còn rất ít các nghệ nhân, CaTrù có nguy cơ bị mai một, cần được bảo vệ khẩn cấp trong thời điểm hiện nay

Trang 5

Hầu như các làn điệu Ca Trù bị thất truyền rất nhiều, hiện nay chỉ còn giữ được

20 lần điệu trong 70 làn điệu Ca Trù Bản thân người nghiên cứu phải thu thập

và tìm kiếm nhiều tư liệu về Ca Trù và dựa vào 1 số làn điệu Ca Trù trong cácbằng đĩa của các nghệ nhân Quách Thị Hồ, Nguyễn Thị Phúc, những tiếng Đàncủa các nghệ nhân chu Văn Du, Nguyễn Đình Kì, Đinh Khắc Ban, trống chầuNghệ nhân Nguyễn Văn Mùi Tôi là người viết đề tài này cần phải thu lượm tất

cả các mảnh vỡ của nghệ thuật Ca Trù để ghép lại thành một hệ thống nhất làcác kĩ năng, kĩ thuật và những bí quyết truyền dạy của các cụ nghệ nhân đã đểlại qua nhiều thế hệ, nhất là giáo phường Ca Trù Thái Hà đã giữ nghề và truyềnnghề 7 đời trong một dòng tộc

III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: Nghệ thuật Ca Trù

Phạm vi nghiên cứu: Bảo tồn các kỹ thuật và bí quyết đàn hát

IV MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Mục đích nhằm gìn giữ và bảo tồn nghệ thuật ca Trù một loại hình nghệthuật Phi vật thể của nhân loại Nhằm giới thiệu về những bí quyết đàn hát trongnghệ thuật Ca Trù

Nhiệm vụ để học hỏi bí quyết của những nghệ nhân Ca Trù để truyền dạycho thế hệ trẻ, giúp các bạn hiểu được những tinh hoa mà ông cha ta để lại

V CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN

VI Ý NGHĨA ĐỀ TÀI

Ca Trù đã từng hấp dẫn các tao nhân mặc khách , những trí thức cao cấp,

tự do phóng khoáng của nhiều thời đại Ca Trù cũng hấp dẫn các nhà nghiên cứu

âm nhạc, nghiên cứu văn học, văn hoá Ý nghĩa của người viết nhằm hướng đếnbảo tồn, gìn giữ những bí quyết đàn hát trong nghệ thuật Ca Trù với góc độ làngười làm trong nghề

KẾT CẤU BỐ CỤC ĐỀ TÀI

Phần mở đầu

Phần nội dung

Trang 6

Chương I: Loại hình nghệ thuật Ca Trù trong đời sống văn hoá Việt Nam Chương II: Bảo tồn các kỹ thuật và bí quyết đàn, hát trong nghệ thuật

Trang 7

CHƯƠNG I: LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT CA TRÙ TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ VIỆT NAM

I Nguồn gốc của nghệ thuật Ca Trù

1 Cội nguồn và khởi điểm

1.1 Thư tịch và truyền thuyết về Tổ Ca Trù

 Thần tích Tổ Ca Trù ở Lỗ Khê

Xưa, vào đời Lê Thái Tổ trong nước ta, có người họ Đinh tên Lễ ở độngHoa Lư, huyện An Khang, Phủ Trường Yên, đạo Thanh Hoá, đời trước từngđược thụ phong, nối đời hưởng ấm, theo vua dấy nghĩa ở Lam Sơn sống lạiVương Thông đã được 10 năm Ông lấy người con gái họ Trần, tên hiệu là MinhChâu, là nhà truyền gia thi lễ, kế thế tram anh, đúng thực cuộc hôn phối mônđăng hộ đối Một hôm Đinh công đi đến huyện Nga Sơn, Phủ Hà Trung, đạoThanh Hoá thấy có một động ở bên bờ biển gọi là động Bích Đào, người thời đógọi là động Thần Tiên Ông bèn xem xét Lúc ấy mặt trời chưa đứng bong, bènnằm nghỉ Bỗng nhiên, ông mộng thấy có hai cụ già ngồi đánh cờ vui vẻ dướigốc đào Có một cụ tự xưng: “ Ta vốn ở trên điễn Thừa Hoa, tên là ĐôngPhương Sóc, ngày ngày thường giáng hạ đến các tiên cung trên biển” Nhân đó,ông nói: “Nhà ngươi đức dày, đắc địa sinh con ắt được quý tử Trời đã định rồivậy! Sẽ gặp và lấy vợ Tiên đó” Nói xong, theo đám mây bay lên không trung đimất

Ngày hôm đó, ông cùng binh sĩ trở về đồn sở Bấy giờ Thái Tổ sai ôngđem quân đi tuần phương Bắc để ứng phó với quân Minh Ông tiến đến trang LỗKhê, huyện Đông Ngàn, Phủ Từ Sơn, thấy có một cuộc đất sơn thuỷ hửu tình, cóthế núi hình con phượng, hình cái đàn, là một thắng cảnh

Ngày hôm đó, ông truyền cho nhân dân, binh sĩ thiết lập đồn sở và trú lại

đó Được vài tháng, bà Trần thị, vợ ông, một đêm nằm mọng thấy có một conrắn xanh từ dưới đất vọt lên, trườn vào trong lòng bà Bà hoảng sợ tỉnh dậy Từ

Trang 8

đó bà Minh Châu có thai đến ngày mùng 6ến năm Quý Tỵ, tháng 4 sinh hạ một

bé trai Đứa bé thiên tư cao lớn, dáng vẻ tuấn tú kì lạ Ông biết là “ đắc địa sinhnhân”, đặt tên là Dự và nuôi dưỡng đứa bé rất thành tâm

Bấy giờ đang thượng tuần tháng Giêng, mùa xuân, Thái Tổ sai sứ giả đemthư tới, lệnh cho ông đi đánh giặc Minh ở Lạng Sơn Ông liền hội họp binh sĩ,quyết đánh lớn một trận; nhưng đánh mãi mà chưa phân thắng bại Ông đành trở

về trang Lỗ Khê, đạo Kinh Bắc Tháng lại ngày qua, Dự đã 12 tuổi, thiên tư dĩnhngộ, học vấn tinh thông, cầm, kỳ, thi, hoạ, ca xướng thảy đều tinh luyện, chưa

có bậc anh tài nào vượt được Dự ngày ngày tìm học học thể cách dạo đàn ở cácgiáo phường, nghe nói ở huyện Gia Định, Thuận An, có trang Đông Cứu núidựng chất chồng, dưới có bến sông, trên có chùa Thiên Thai, chàng bè đến đó.Tại đây, chàng gặp một người con gái có nhan sắc “chim sa cá lặn, nguyệt thẹnhoa nhường”, thật là thanh sắc vẹn toàn Đinh Dự bèn hỏi: “Nàng từ nơi nào lại,

mà hai ta gặp nhau ở đây vậy?” Người con gái ấy đáp: “ Thiếp là Đường HoaHải Tiên người ở động Nga Sơn, Thanh Hoá Nhân lúc nhàn rỗi ấy, lấy việc đọcgiáo phường, thể cách 9 lối ca làm nghề” Đinh Dự nghe vậy, bè cười nói rằng:

“Đông thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” Nay người lấy cái hoà đức ở trên

để dạy tôi hoà hợp ở dưới, cho nên lễ nghĩa của đạo với thể cách đàn của giáophường là đồng hành vậy”

Thế rồi, chàng bèn cùng Đường Hoa kết duyên chồng vợ, trở về nơi đồntrú là tra Lỗ Khê lập Giáo phường, Cha mẹ đều rất vừa ý Khoảng một năm sau,dạy xong nghề đàn, cũng lúc ấy, Thái Tổ sai sứ mang thư tới, nói rằng giặc Minhrất đông chia làm các đạo tiến vào nước ta Vua kế cùng lực kiệt đành thúc thủ.Thái Tổ lo lắng lắm, sinh bệnh, bèn gọi sai Đinh Lễ trở về Thanh Hoá, bàn định

kế sách tiến quân Ngày hôm đó, vợ chồng ông cùng con trai và nhân dân đembinh sĩ trở về Thanh Hoá Bất đồ Đinh Lễ và Minh Châu đi được nửa đường đềumất cả Đinh Dự và binh sĩ rước về quê cũ, chọn đất tốt để an tang Sau đó vợchồng Đinh Dự mới tới nơi đồn sở của Thái Tổ tâu rằng: “ Việc cha mẹ tôi do sốtrời, đều đã mất cả Chúng tôi xin nguyện đàn hát để giải bệnh cho nhà vua”

Trang 9

Thái Tổ liền quyết chiến một trận, giặc Minh bị đánh tan Ngài lên ngôi Hoàng

đế Nhà vua tưởng nhớ các công thần, nghĩa sĩ bèn gọi vợ chồng Đinh Dự vềkinh đo mở yến tiệc, thưởng công, ban tước Bấy giờ, Đường Hoa phu nhân mớitâu với vua rằng : “ Thiếp vốn do vượng khí của trời đất chung đúc mà sinh ra,biến hoá vô thường, tinh linh sáng suốt, bầu bạn cùng tiên, cai quản tam giới,biến hoá thiện duyên, chu du thiên hạ, dạy dỗ cho các phường để truyền lưuthiên cổ tiếng thơm Nay ngày tháng năm ở trần gian đã mãn, nguyện xin trở vềthượng giới” Nói xong, khẩu chiếm một bài thơ rằng:

Gián phong triều tấu cửu trùng thiên

Tịch hệ thanh môn tuyệt khả lien

Nghĩa chủ báo sinh thần trượng tiết

Thời nhân hốt vị giáo phường hiền

Nghĩa là:

Can ngăn dâng tấu chín tầng trời

Chiều níu cửa thành xót mấy mươi

Nghĩa chúa báo đề tròn khi tiết

Người đời kể mãi chuyện không thôi

Ngâm xong, bay lên không trung đi mất, tức là hoá vậy Bấy giờ Đinh

Dự tưởng nhớ đến tình chồng vợ bị ý trời đoạt đi, bèn bái tạ nhà vua và khẩuchiến một bài thơ rằng:

Luỹ thế quân ân hốt khế nhiên

Hiếu trung nhất tiết lưỡng kiêm toàn

Hạc quy hoa biểu thiên niên tại

Vạn sự tri tâm thác lão thiên

Nghĩa là:

Mấy kiếp ơn vua trọn tấm tình

Trang 10

Hiếu trung một tiết vẹn thanh danh

Hạc về, hoa biểu nghìn năm đó

Muôn việc yên lòng gửi cõi xanh

Ngâm xong, bèn ngửa lên trời than rằng: “Không thể làm gì được nữa,cũng cùng một lý ấy”, tức khắc biến thanh một con rắn xanh thật dài, trườn quatrườn lại chỗ cột trụ rồi đi mất Vua cho đôi vợ chòng này là bề tôi trung nghĩa.Bấy giờ là tháng 11 ngày 13 Đinh Công và Hải Tiên cùng hoá vậy

Ngày hôm đó, vua bèn truyền hịch cho thần tử các giáo phường trongkhắp nước Nam, đến Kinh đô rước mỹ tự về giáo phường của mình thiết lập từđường để thờ phụng Vua chuẩn cho các cửa đình trong khắp nước Nam đều cólệ: tiết Khai Hạ ngày xuân cầu phúc với số tiền là 3 mạch Giáo phường dùng đểcung đón trong việc thờ cúng ở giáo đường Lê Thánh Tông hoàng đế ghi nhớcông tích của các bề tôi, có làm thơ, phổ vào lời ca để ghi lại điềm lành ấy, gồmcác bài Quân đạo, Thần tiết, Quân minh thần tiết, Dao tưởng anh hiền, Kỳ khí.Lại gia phong cho Đinh Công là Thanh Xà Đại vương, gia phong Mãn ĐườngHoa làm Công Chúa

Chuẩn cho Sinh từ giáo phường ở trang Lỗ Khê, đạo Kinh bắc thờ cúng,ban sắc để thờ Thật vẻ vang thay!

Phụng khai các các ngày sinh, hoá, các lệ và chữ huý cấm dùng như sau:

 Thần sinh: ngày 6 tháng 4

 Lễ dùng trên cỗ chay, dưới trâu, bò, xôi, rượu, xướng ca 10 ngày

 Thần hoá: 13 tháng 11

 Lễ dùng trên cỗ chay, dưới đen, xôi, rượu

 Chữ huý: Các chữ Lễ, Châu, Dự, Hoa đều cấm

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Ca Trù có thể có từ thời Lý, Ở đây, ngườiviết đưa ra bài viết của Dương Đình Minh Sơn viết về “ Lý Thái Tổ ban thưởngcho con hát Đào Thị”trong báo Người Hà Nội số 13 - ra ngày 1/4/2005

Trang 11

Ở nước ta từ thời Nhà Đinh và Tiền Lê về trước, không có sử sách nào ghichép về âm nhạc cung đình, nhưng từ thời Nhà Lý trở xuống vấn đề đó đượcsách chính sử và dã sử ghi chép khá đầy đủ: với những quy định trong việctuyển chọn, luyện tập và tổ chức biên chế rất nghiêm ngặt về ca công trongCung Đình nhất là thời Hậu Lê.

Thời Hồng Đức (1470 – 1497) Nhạc Cung Đình được lập thành hai bộ:Đồng văn và Nhã nhạc Bộ Đồng văn thì chuyên tập âm luật để hoà nhạc BộNhã nhạc thì chuyên chuộng nhân thanh, trọng tiếng hát Bộ Nhã nhạc còn gọi là

Nữ nhạc (Hát Ả Đào)

Dùng Đông văn vào việc tế tự Giao Miếu tỏ ra nghiêm trang, trọng đại.Dùng Nhã nhạc vào việc khánh tiết, tiếp đã sứ thần ngoại quốc, hay yến tiệc tỏ

ra thiên hạ thái bình ấm no

Đời vua Lý Thái Tổ (1010 – 1028) sau khi xây xong kinh thành ThăngLong, Vua cho lấy Lối Hát Thờ trong các đền, miếu ở những làng quê, đưa vàolàm Lối Hát Thờ ở Thái Miếu mà thành Lối hát của Nữ nhạc Cung đình

Từ lối hát của ban Nữ nhạc Cung Đình, mà thành lối Hát Ả Đào Thínhphòng: Mượt mà, thanh cao,tao nhã hoà hợp theo tiếng “tom” “chát” của lối hátthù tạc, thưởng ngoạn của các bậc Quan vương thong tuệ, những nhà khoa bảngtài danh về âm luật, trong Cùng đình nhà Lý

Sách Đại Việt Sử kí toàn thư cho biết: Khi đó trong ban Nữ nhạc Cungđình có con hát Đào Thị, giỏi nghề cầm ca, được vua Lý Thái Tổ ban thưởng.Người thời bấy giờ, hâm mộ danh tiếng của Đào Thị, phàm các con hát đề gọi làĐào Nương,hoặc Ả Đào ( Ả là chị - tiếng cổ ) Đó là nguồn gốc ra đời của têngọi Ả đào của Thể loại âm nhạc cùng tên trong Cung đình nhà Lý Ở đây, LýThái Tổ là người định hình cho tên gọi biệt danh “Đào Thị” của con hát, chứkhông phải tên thật hoặc đặt tên mới cho nó Bởi lẽ, ngay ở đó, trong Hát thờ ởcác Đền Miếu, ngoài vị nữ Hát thờ chính, còn có 4 đứa bé Hát hầu ngài tóc đểchỏm, là “Cam”, “Quýt”, “Mận”, “Đào” gọi tên theo tên 4 loại quả, trong đó cóhai đứa con trai là Cam, Quýt, hai đứa con gái là Mận, Đào

Trang 12

Đền Miếu xuất hiện rất sớm,từ khi chỉ mới là một Mô đất cạnh Vực sâu –nơi đặt cỗ cúng thần Hà Bá, hoặc Mô đất kề chân dãy núi, nơi đặt cỗ cúng thầnNúi…của vị tộc trưởng Do đó chữ “Miếu” ở Mô đất này là cơ sở cho tên gọiThái Miếu trong Cung Đình nhà Lý và sau đó là Văn Miếu Quốc Tử Giám.Đồng thời tâm linh từ ngôi Miếu của Mô đất này là điều kiện cho ngôi đình thờthần Hoàng Làng dựng lên ở thế kỉ XV, còn điệu Hát Thờ Cửa Đình ở đây bắtnguồn từ điệu Hát Thờ ở ngôi Miếu – Mô đất kia.

Do sự mờ ảo, xã xôi, huyền diệu ấy, cho nên người ta đã nhầm lẫn, màcho rằng: Ca Trù mới có ở thế kỷ XV – tức là khi có ngôi đình làng mọc lên và

có tên gọi là Hát Cửa Đình được ghi trong các thư tịch Khi nhà Lý đưa “thầytrò” của một nhóm Hát Thờ ở Cửa Đền ấy vào làm lối Hát Thờ ở Thái Miếu, đếnkhi cô “Đào’ này lớn lên, thì nghiễm nhiên gọi luôn là “Ả Đào” hay là “ĐàoThị”, người bề trên, gọi là “Con hát” Đó là cái tên biệt danh dài dòng của ĐàoThị, tác giả phải lần tìm mãi ở các đền Miếu và các ban lễ tang Trong ban nhạc

lễ tang cũng cố bốn đứa bé hát đưa đò, chở hồn người qua Sông Ngao, sau nàycòn còn hai đứa Tác giả đã thấy hai đứa bé này, hát đưa đò trong lễ tang củamột nhà giáo trường Đại Học Văn Hoá Hà Nội trên đường đi Sơn Tây ( cáchCầu Diễn 7km) (1983)

Đồng thời xuất hiện tên gọi “ Quản giáp” Quản Giáp là người đứng đầu,quản lý một đơn vị ca công của Cung Đình và có chuyên môn cao hơn

Sách Đại Việt Sử ký toàn thư ghi: Ất Sửu ( Thuận Thiên) năm thứ 16(1025) đời vua Lý Thái Tổ tháng 8 Mùa thu Định binh làm giáp, mỗi giáp 15người, dùng một người Quản giáp Con hát cũng gọi là Quản giáp

Như vậy, tên gọi “ Ả đào” và “Quản giáp” đã được ra đời từ giai đoạn đầutrong Cung đình nhà Lý Ở đây “Ả đào” là lực lượng ca nhi, còn “Quản giáp” làlực lượng phụ trách Từ đây thuật ngữ “Ả đào” và “Quản giáp” luôn luôn songsong đi bên nhau, thúc đẩy cho sự hình thành và phát triển của dòng nhạc này

Trang 13

Về sau, danh từ Ả đào, Quản giáp đã chuyển dịch ngữ nghĩa thành thuậtngữ “Đào kép” để gọi chung cho giới nghệ sĩ sân khấu, kể cả : Đào kép” Điệnảnh,…

Việc nhà Vua có lấy lối hát cửa đền vào làm nhạc Hát ở Thái Miếu vàtuyển chọn, dung nạp những cai công tài giỏi làm nghề hát cúng cửa đền khắp cảnước vào Triều đình để lập ban Nữ nhạc và đặt chức Quản giáp để trong coi,hoặc việc ban thưởng cho con hát Đào Thị

Điều đó, nói lên Lý Thái Tổ là vị vua đầu tiên của nước ta, đã đặt nênmóng cho sự phát triển rực rỡ của dòng nhạc Hát Ả Đào Nói cách khác dòngnhạc Hát Cúng Cửa Đền của dân tộc, đến thời nhà Lý đã được khẳng định, đưavào danh mục trong sách sử của nước Đại Việt bằng thuật ngữ “Hát Ả Đào”.Điều đó đã kích thích cho sự phát triển chiều sâu của dong nhạc này, khôngnhững trong Cung Đình mà còn ngoài Giáo Phường của cả nước Ở đây, sự nổitiếng của Ca nhi Đào Thị là đồng nghĩa với tính chất của dòng nhạc Hát Ả đào,

để giới Hát Cúng Cửa Đền của cả địa phương và giới Đào nương trong GiáoPhường ở Kinh Kỳ làm tiêu chí mẫu mực mà noi theo

Ngày nay dòng nhạc Hát Ả Đào của cả nước có được sự tương đồng vềcác yếu tố như; Tên gọi, giọng điệu, tiết tấu của bộ gõ, nhạc cụ đệm, lời thơ (catừ) và phong cách diễn xướng… Thành quả đó là nhờ công lao thống nhất từthời nhà Lý và được diễn ra theo hai lẽ: Một là, Nhà nước tuyển chọn vào CungĐình những ca công giỏi trong giới Hát Cúng Cửa Đền ở địa phương, chỉ tínhriêng năm 1035 đời Vua Lý Thái Tông ( 1029 – 1054) đã dung nạp 100 ca nữ -

có nghĩa là họ đã mang theo tinh hoa, cốt cách và tâm hồn của các vùng trong cảnước về tụ hội Hai là ở Cung Đình có những bậc Quân vương thong tuệ, nhữngnhà Khoa bảng tài danh giỏi âm luật , họ là những người có công trong việcthống nhất những dị biệt của các vùng lại, tức là: Tổng hoà hun đúc, nâng caothành giá trị tổng hợp mới, hàm chứa tâm hồn, bản sắc Đại Việt Đó là dòngnhạc Hát Ả Đào của ban Nữ nhạc trong Cung đình nhà Lý và các triều đại kếsau: dùng khi tế tự Giao miếu và Khánh Tiết hay yến tiệc…

Trang 14

Kinh thi nói: “Âm nhạc của nước loạn nghe ai oán, giận hờn”, cho nênthời nào cũng vậy, các nhà trị quốc luôn quan tâm đến vấn đề âm nhạc Khi ấydòng nhạc Hát Ả Đào trong Cung Đình Thăng Long có thể ví von như ngọnđuốc chuyền tay trong cuộc chạy tiếp sức, mà người dẫn đầu cho mỗi chặngđường ấy là từng bậc Quân Vương thông tuệ và những nhà Khoa bảng tài danh

về âm luật như: Vua Lý Thánh Tông ( 1054 – 1072) thông kinh truyện Tinh âmluật, phiên chế ra nhạc khúc, sai ca nhi hát, Vua còn làm ra cái Tiết cổ âm nhưhình bàn cờ, ở giữa khoét một lỗ tròn, khi tấu nhạc thì đặt cái trống vào đó màđánh, nghe tiếng rất nhịp nhàng và ấm Hoặc Vua Lý Nhân Tông (1073 – 1127)trán rộng, mặt rồng, tay dài quá gối, sở trường về âm luật, những ca khúc do canhi luyên tập đều do nhà Vua chế tác

Chỉ cần dẫn ra vài điều đủ thấy, không những Vua Lý Thái Tổ, mà cả cácđời vua kế nghiệp của triều đại nhà Lý và những bậc Quân Vương, những nhàKhoa bảng của những triều đại kế tiếp sau này, cũng hết sức quan tâm đến dòngnhạc “Hát Ả Đào” Đó là cơ duyên cho dòng nhạc này phát triển

Sự phát triển của dòng nhạc Hát Ả Đào, còn là nhờ ở một lẽ khác Đó làviệc các ca công đã hết hạn phục vụ trong Ban ca nhạc của triều đình về nghỉhưu, lập ra Giáo Phường ngoài các phố - tức là “Câu Lạc bộ” dành riêng cho cácquan chức về hưu Họ gồm những nhà Nho lỗi lạc, tính tình tự do, phóngkhoáng, sau khi đã nỗ lực về “tu tề trị bình” mới thả hồn vào nghệ thuật thi ca,cầu tìm lạc thú “ngoài vòng cương toả chân cao thấp” theo tinh thần “lạc thiêntri mệnh”, trong lòng không còn đau đáu về sống chết, về phú quý công danh( Nguyễn Đăng Thục) Đó là cơ hội cho dòng nhạc Hát Ả Đào phát triển thànhdòng nhạc Thính phòng, một thú thưởng thức cao sang, tao nhã dành riếng chonhững “Tao nhân mặc khách” ; là nhà Nho, cho nên họ có nhiều tên gọi chodòng nhạc này như: Hát Nhà Tơ, Hát Ca Trù,… chính ở Ca Trù, chúng ta khôngthấy được cái chân tướng sống động của giới tri thức Nho nhã xưa, mà còn thấycái tài dung hợp – Việt hoá các thể loại: Đường Luật, Từ, Phú, Lực Bát, Song

Trang 15

thất và ngắn được, dài được, thoả mãn cho những cung bậc rung cảm tâm hồncủa những danh Nho thông tuệ, giỏi âm luật.

Người làm thơ cho hát, sẽ cầm chầu – tiếng trống chầu “tom chát” ở đây

là lời khen, chê tức thì, điều khiển Ả Đào khi hát Sự kết hợp giữa tâm hồn củanhững bậc Quân vương tài danh với những danh Nho thông tuệ với giọng hátngọt ngào của Ả Đào nòi, tạo cho dòng nhạc này đạt tính chất “bác học” uyênthâm tinh tế, khúc chiết về âm nhạc, xúc tích trong lời thơ – Đạt tầm Triết họccủa Nhã Nhạc Cung đình

Qua những yếu tố cấu thành vừa nên cho thấy, dòng nhạc Hát Ả Đào làmột tài sản quý hiếm mang bản sắc tâm hồn dân tộc, một thành tố có giá trị củanên Văn Hiến Thăng Long, mà người đặt nên móng là Lý Thái Tổ Việc nhà vuaban thưởng cho con hát Đào Thị, phải chăng đó là lời mong muốn và xa hơn làlời “Di huấn” cho sự quan tâm dòng nhạc này mãi về sau của vị vua khai sang rakinh đô Rồng bay

1.2 Các ý kiến của các nhà nghiên cứu về cội nguồn và khởi điểm Ca Trù Cội nguồn và khởi điểm của Ca Trù là vấn đề lý thú và phức tạp Hiệnchúng ta còn thiếu tư liệu, thiếu chứng cứ Vì thế mà vấn đề này chưa từng đượcđặt ra trong một chuyên khảo

Tuy nhiên, đó đây, trong những công trình nghiên cứu, các nhf nghiêncứu đã phát biểu về thời điểm ra đời của Ca Trù Tựu trung, có ba nhóm ý kiếnsau:

 Ca Trù có từ thời Lý

 Ca Trù ra đời về sau này

 Chưa khẳng định thời điểm xuất hiện vì cho rằng chưa tìm đượcchứng cứ xác thực

a Ca Trù có từ thời Lý

Trang 16

Trong bài viết Giới thiệu lối hát Ca Trù đăng trên tạp chí Văn hoá dângian số 4 – 1984, nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát cũng cho rằng: “Lối hát này đã có

từ thời Lý tức là khoảng cách đây hơn 800 năm – như trong cuốn Lịch sử ViệtNam do Nhà xuất vản Khoa học xã hội xuất bản năm 1971 đã cho biết” Thế là

đã rõ, nhạc sĩ chỉ trích lại ý kiến của sách Lịch Sử Việt Nam để viết về lịch sửxuất hiện Ca Trù Trong sách có đoạn viết “Hát Ả Đào đã xuất hiện Nhữngnghệ sĩ ca hát lúc bấy giờ thường được gọi chung là Đào và Kép Trên nhữngphù điêu thời Lý, còn thấy cảnh vũ nữ múa dâng hoa hay cảnh nhạc công vừamúa vừa sử dụng các nhạc cụ như đánh trống, thổi sáo, gảy đàn…(bệ đá chùaPhật Tích, Tiên Sơn, Hà Bắc)”

Các tác giả Ngô Linh Ngọc và Ngô Văn Phú trong Lời giới thiệu sáchTuyển tập thơ Ca Trù cũng cho biết Ca Trù ra đời và phổ biến rất sớm, từ thời

Lý Cũng như soạn giả của sách Lịch sử Việt Nam, các ông đã căn cứ vào “cácbức cham thời Lý có các cảnh vũ nữ dâng hoa, nhạc công vừa múa vừa hát vừa

sử dụng các nhạc cụ như đàn, sáo, trống, Riêng về hát múa Ca Trù, các bứcchạm ở các chùa Phật Tích (Hà Bắc), Thái Lạc (Hải Hưng), Hoàng Xá (Hà NamNinh)… và ở nhiều nơi khác nữa đã nói lên tính phổ biến rất sớm của môn nghệthuật tổng hợp này”

Mới đây, trong bài viết Cần khẳng định Ca Trù là nhạc dân gian của HàNôi, Dương Đình Minh sơn cũng cho rằng Ca Trù có từ Thời Lý và khẳng đinh

“dòng nhạc ấy (chỉ dòng nhạc Cung đình Thăng Long), ngay từ thời đó đã pháttriển rực rỡ, từng có một ca sĩ tên là Đào thị: Hát hay, múa giỏi được Vua LýThái Tổ (1010 – 1028) ban thưởng nên dòng nhạc ấy về sau còn có tên là hát ẢĐào”

b Ca Trù ra đời về sau này:

Đại diện cho loại ý kiến này là các tác giả phạm Duy và Nguyễn ThuỵLoan

Trang 17

Ý kiến của nhạc sĩ Phạm Duy được trình bày trong Đặc khảo về dân nhạcViệt Nam; “Hát Ả Đào là một loại hát đặc biệt của miền Bắc, ra đời cách nay ítnhất là hơn 500 năm”

PGS TS Nguyễn Thuỵ Loan, trong Thông báo Khảo cổ học năm 1997,

“Mỹ thuật cổ nói gì về thời điểm tồn tại sớm nhất của hát Ả Đào” đã rất thậntrọng khi sử dụng các tư liệu chứng cứ mỹ thuật để nghiên cứu về Ca Trù

Tác giả bài viết nhận xét rằng “Từ trên ba mươi năm nay, nhiều tài liệu,với tư cách cá nhân cũng như với tư cách cơ quan nghiên cứu cả Nhà nước, từngđưa ra một ý kiến cho tới nay vẫn được phổ biến khá rộng rãi: Lối hát Ả Đào có

từ thời Lý”

PGS TS Nguyễn Thuỵ Loan cho rằng Đàn Đáy là “một nhân tố đặctrưng, khu biệt Hát Ả Đào với các thể loại ca nhạc khác” Trên cơ sở đó, tác giả

đã bác bỏ ý kiến của các nhà nghiên cứu khác, cho rằng Ca Trù có từ thời Lý và

“Tuy nhiên, nếu tìm hiểu về sự hiện diện của cây đàn Đáy trong lịch sử thì vớinhững tư liệu đã được giới Mỹ thuật công bố, ở thời Lý, thậm chí ca thời Trần,chưa thấy có đàn này

Về thời điểm xuất hiện của đàn Đáy dựa trên các tư liệu Mỹ thuật, tác giảviết “Số tư liệu ít ỏi chúng tôi có được nhờ Viện Mỹ thuật và PGS Nguyễn Duchỉ cung cấp lại mách bảo rằng; phải tới thế kỉ XVI, XVII, XVIII, đàn Đáy mớixuất hiện trong Mỹ thuật cổ Và chúng chỉ xuất hiện ở Cửa đình chưa thấy ởChùa

c Ngoài hai ý kiến đã trình bày ở trên, còn có một loại ý kiến nữa, chưakhẳng định thời điểm xuất hiện vì cho rằng chưa tìm thấy chứng cứ xác thực Sớm nhất về loại ý kiến này là Nguyễn Đôn Phục Trong bài Khảo luận

về cuộc hát Ả Đào đăng trên tờ Nam Phong, số 70 năm 1923, ông viết: “Cuộchát Ả Đào, thuỷ tự đời nào, khởi tự đất nào, nay thực chửa tìm được chứng gìđích xác mà đã dám nói, chỉ tương truyền rằng khi xưa có bà Mãn Đào Hoa

Trang 18

Công chúa, là con ông Bạch Đinh Xà Đại Vương, chế ra âm luật và cách bộ ẢĐào để dạy đời, mà cuộc hát Ả đào thì khởi tổ ra tự tỉnh Thanh Hoá”.

2 Sự hình thành tên gọi và ý nghĩa

Trong nên âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam, không một thể loại âmnhạc nào lại có tính đa diện như nghệ thuật Ca Trù Trải theo dòng chảy của thờigian, tuỳ theo từng không gian văn hoá hay chức năng xã hội phối thuộc mà loạihình nghệ thuật này mang những tên gọi với nhiều ý nghĩa khác nhau

 Hát Ả Đào

Theo Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, đời vua Lý Thái Tổ (1010 –1028) có người Ca Nương tên là Đào Thị giỏi nghề ca hát, thường được nhà vuaban thưởng Người thời bấy giờ ngưỡng mộ danh tiếng của Đào Thị nên phàm làcon hát đều gọi là Đào Nương

Sách Công dư tiệp ký viết rằng đời cuối thời nhà Hồ (1400 – 1407) cóngười ca nương họ Đào, quê ở làng Đào Đặng, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yênlập mưu giết được nhiều binh sĩ nhà Minh, cứu cho khắp vùng yên ổn Khi nàngchết dân làng nhớ thương lập đền thờ, gọi thôn nàng ở là thôn Ả Đào Về saunhững người làm nghề ca hát như nàng gọi là Ả Đào

Trên sử liệu, có sự kiện về một ca nương nổi tiếng chứng tỏ nghề nghiệpcủa bà vào thời điểm lịch sử đó đã được phổ biến như thế nào trong xã hội Theo

đó hát Ả Đào được gọi là tên gọi cổ xưa nhất của thể loại âm nhạc Ca Trù

 Hát Ca Trù

Theo sách Ca Trù biên khảo, ở cửa đền ngày xưa có lệ hát thẻ Thẻ đượcgọi là Trù, làm bằng mảnh tre ghi mức tiền ứng với giá trị mỗi thẻ, dùng đểthưởng Ả đào thay cho tiền mặt Khi hát, quan viên và thị lễ chia ngồi hai bên,một bên đánh chiêng và một bên đánh trống Chỗ nào Ả đào hát hay, bên trôngthưởng một tiếng “Cắc”, bên chiêng đánh một tiếng chiêng rồi thưởng cho mộtcái Trù Đến sang đào kép cứ theo trù thưởng mà tính tiền Vì thế hát Ả Đào còngọi là hát Ca Trù gọi là Hát Thẻ

Ngày đăng: 16/04/2021, 14:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w