1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chế tạo tim giả chuẩn và mạch chuyển đổi AD của máy điện tim

101 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 2,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các cấu trúc này được gắn vào mô cơ trong tâm thất và giữa van ba lá đóng khi áp lực bên tâm nhĩ phải đạt đến áp lực tống máu ra khỏi tim đi vào động mạch phổi.. Tim người lớn lúc nghỉ n

Trang 1

MAI HỮU XUÂN

CHẾ TẠO TIM GIẢ CHUẨN VÀ MẠCH CHUYỂN ĐỔI AD CỦA MÁY ĐIỆN TIM

CHUYÊN NGÀNH: KỸ THUẬT LASER MÃ SỐ NGÀNH : 2.07.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ

TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 10 NĂM 2004

Trang 2

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS HUỲNH QUANG LINH

Cán bộ chấm nhận xét 1 :

Cán bộ chấm nhận xét 2 :

Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại HỘI ĐỒNG CHẤM BẢO VỆ LUẬN VĂN THẠC SĨ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA, ngày tháng năm 2004

Có thể tham khảo luận văn này tại Thư viện trường Đại học Bách Khoa – Đại học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh

Trang 3

Tp HCM, ngày tháng năm 2004

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ tên học viên : MAI HỮU XUÂN Phái : Nam

Ngày, tháng, năm sinh : 29 – 03 – 1966

Nơi sinh : Hòa Thành – Tây Ninh

Chuyên ngành : KỸ THUẬT LASER MSHV :KTLS13 - 009

I-TÊN ĐỀ TÀI

CHẾ TẠO TIM GIẢ CHUẨN VÀ MẠCH CHUYỂN ĐỔI AD CỦA MÁY ĐIỆN TIM

II- NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG

a) Thiết kế tim nhân tạo với các chuyển đạo chuẩn,

- Dùng điện sinh lý học thực hành để có các thông số chuẩn về điện thế của

cơ tim và thời gian biểu thiện các điện thế đó

- Thiết lập mạch giả lập các thông số cơ bản của cơ tim chuẩn

- Thi công chế tạo chạy thử trên máy chuẩn của nhà sản xuất có sẵn và so sánh với các thông số chuẩn đã được thực nghiệm trước đó

- Đánh giá kết quả đạt được nhiều cái sai số

b) Thiết kế bộ phận chuyển đổi AD

Bộ phận chuyển đổi được tạo ra chính từ IC chuyển đổi AD, ở đây ta sẽ làm các nhiệm vụ sau

- Tính các số hiệu analog từ máy điện tim chuẩn

- Thiết kế mạch chuyển đổi AD

Thi công chế tạo chuyển đổi, chạy thử đánh giá để so sánh kết quả

Trang 4

V- HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

Cán bộ hướng dẫn: TS HUỲNH QUANG LINH

CHỦ NHIỆM NGÀNH

PGS.TS TRẦN MINH THÁI

BỘ MÔN QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH

TS HUỲNH QUANG LINH Nội dung và đề cương luận văn thạc sĩ đã được Hội Đồng Chuyên Ngành thông qua

PHÒNG ĐÀO TẠO SĐH Ngày tháng năm 2004

KHOA QUẢN LÝ NGÀNH

Trang 5

Để hoàn thành khoá cao học và thực hiện luận văn tốt nghiệp này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ hướng dẫn về chuyên môn cũng như sự hỗ trợ về mọi mặt của nhiều giáo sư, đồng nghiệp và gia đình Tự đáy lòng mình, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với :

PGS Trần Minh thái, Trưởng phòng thí nghiệm “Công nghệ laser” – Trường Đại Học Bách Khoa Tp Hồ Chí Minh, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và cố vấn về chuyên môn

TS Huỳnh Quang Linh, đã nhiệt tình hướng dẫn về chuyên môn cũng như hoàn thiện nội dung, hình thức của luận văn này Tập thể cán bộ bộ môn vật lý, đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong thời gian vừa qua

Tập thể các anh chị học viên cao học Kỹ thuật Laser khóa 13, đã cùng chia sẻ những khó khăn và giúp đỡ nhiệt tình trong thời gian qua

Tập thể Ban Giám Đốc, các anh chị em đồng nghiệp Công ty MTS đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập

Và cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình đã hỗ trợ động viên về mọi mặt tinh thần cũng như về vật chất để tôi yên tâm trong suốt

Trang 6

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, chính xác và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả luận văn

Mai Hữu Xuân

Trang 7

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

CHƯƠNG 1: MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ 3

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU – PHÁT TRIỂN VỀ KỸ THUẬT ĐIỆN TÂM ĐỒ 4

1.2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ ĐỀ TÀI 7

1.2.1 Mục tiêu 7

1.2.2 Nhiệm vụ 7

1.3 YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI 7

1.3.1 Thiết kế tim nhân tạo với các chuyển đạo chuẩn 7

1.3.2 Thiết kế bộ phận chuyển đổi AD 8

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ MÁY ĐIỆN TIM 9

2.1 HỆ THỐNG TUẦN HOÀN VÀ CẤU TẠO TIM 10

2.1.1 Máu 12

2.1.2 Tim 14

2.1.3 Điện sinh học 17

2.1.4 Hệ thống dẫn điện trong tim 21

2.1.5 Các vấn đề về tim 27

2.2 ĐIỆN TRƯỜNG TIM 29

2.3 CÁC QUÁ TRÌNH ĐIỆN HỌC CỦA TIM 29

2.4 KHẢ NĂNG CHỊU KÍCH THÍCH 30

2.5 TÍNH DẪN TRUYỀN CỦA TẾ BÀO 32

2.6 TÍNH TRƠ VÀ CÁC THỜI KỲ TRƠ 33

2.7 TÍNH TỰ ĐỘNG 34

CHƯƠNG 3: PHẦN THỰC HÀNH THIẾT KẾ VÀ CHẾ TẠO TIM CHUẨN GIẢ 35

3.1 CHỌN LỰA CÁC CHUYỂN ĐẠO 36

3.2 CÁC TÍNH CHẤT CỦA ĐIỆN THẾ TIM 43

3.3 THIẾT KẾ TIM GIẢ CHUẨN 43

CHƯƠNG 4:MẠCH CHUYỂN ĐỔI AD 55

4.1 THIẾT KẾ LẮP ĐẶT MẠCH CHUYỂN ĐỔI AD THU NHẬN TÍN HIỆU ĐIỆN TIM 56

4.1.1 Lấy tín hiệu 59

Trang 8

4.2 CHỨC NĂNG MẠCH 74

CHƯƠNG 5:NHẬN XÉT KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 86

5.1 ĐỐI VỚI THIẾT BỊ TIM GIẢ CHUẨN 87

5.2 ĐỐI VỚI THIẾT BỊ CHUYỂN ĐỔI AD 89

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 9

CHƯƠNG 1 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ

Trang 10

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU – PHÁT TRIỂN VỀ KỸ THUẬT ĐIỆN TÂM ĐỒ

Tình hình phát triển trên thế giới: Kỹ thuật kỹ thuật điện tâm đồ đã phát triển rất lâu, vào những thập niên 60, kỹ thuật này đã được ứng dụng trong việc chẩn đoán bệnh Ban đầu, kỹ thuật còn đơn giản, chỉ có những chuyển đạo chi và chuyển đạo đơn cực tăng thêm, càng về sau cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật đã ứng dụng nhiều vào trong quá trình chẩn đoán như: tăng thêm nhiều chuyển đạo và nhiều vị trí đo trên

cơ thể con người để xác định bệnh lý bằng phương pháp chẩn đoán điện tâm đồ

Ứng dụng tại Việt Nam: cùng với sự hội nhập vào nền y học thế giới, nền y học Việt Nam cũng đã ứng dụng nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật tiến tiến, trong đó lĩnh vực chẩn đoán là hết sức quan trọng, mà đặc biệt là lĩnh vực điện tâm đồ đã được áp dụng rộng rãi trong chẩn đoán và điều trị, góp phần châm sóc sức khỏe cho nhân dân

Hiện nay, đội ngũ kỹ sư Việt Nam chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu cách vận hành, bảo trì và sửa chữa chứ chưa thể nghiên cứu để chế tạo ra những thiết bị y khoa Trên cơ sở những thiết bị có sẵn của nước ngoài, Phân viện vật lý y sinh đã nghiên cứu những mô hình thiết bị phục vụ cho việc đào tạo đội ngũ kế thừa

Trong thời đại hiện đại ngày nay, khoa học và kinh tế phát triển đưa đến đời sống nâng cao, nhu cầu của con người cũng được tăng lên, nhưng điều đó cũng làm cho môi trường và đời sống có nhiều vấn đề ảnh hưởng, các bệnh lý cũng tăng lên theo nhu cầu đời sống tăng

Trang 11

Để nâng cao sức khoẻ của con người đội ngũ y bác sĩ rất cần sự chẩn đoán chính xác và phát hiện sớm các bệnh lý, điều đó đặt cho các nhà nghiên cứu phải tìm ra các phương pháp mới để chẩn đoán nhanh hơn và chế tạo các thiết bị để phục vụ cho sự chẩn đoán và điều trị Trong đó phần chẩn đoán về các chức năng của tim và các thông số của cơ tim sẽ giúp xác định được một số bệnh lý phổ biến:

- Hở van tim

- Thiếu máu cơ tim

- Suy tim

- Bướu cổ dạng cường giáp

- Hỗ trợ trong chẩn đoán ung thư phổi

- Nhồi máu cơ tim…

Thiết bị để do các xung động điện của cơ tim được gọi là máy đo điện tim (ECG, EKG)

Máy đo ECG là một thiết bị đo hiệu điện thế của tế bào tim do cơ tim có khả năng bị kích thích tính tự động hoàn toàn điều khiển được bởi thần kinh giao cảm và phó giao cảm

Điện tâm đồ (ECG) sau khi máy đo được sẽ ghi trên giấy biểu thị bằng các dạng sóng Quy ước giấy ghi sóng là những đường kẻ in sẵn dọc ngang 1mm x 1mm chiều rộng (mm) biểu thị thời gian 1mm = 0,045s, chiều cao (mm) là biểu thị điện thế của tim 1mm = 0,1mV, vận tốc dịch chuyển của giấy ghi : 25mm/s

Thông thường tần số trong khoảng (0,05 ÷ 100)Hz

Trang 12

10mm = 1mV ký hiệu N Trong trường hợp điện thế cao thì

2mm = 1mV ký hiệu 2N và khi điện thế thấp thì chia đôi:

5mm = 1mV ký hiệu N/2 Một điện tâm đồ chuẩn gồm 12 chuyển đạo : 6 chuyển đạo ngoại vi và 6 chuyển đạo trước ngực Các chuyển đạo ngoại vi bao gồm 3 chuyển đạo chuẩn D1 D2, D3 tạo thành tam giác Einthoven và 3 chuyển đạo đơn cực chi

VL, VR, VF ; các chuyển đạo trước tim là những chuyển đạo đơn cực V1, V2, V3, V4, V5 và V6 với điện cực đặt ở 6 vị trí xác định trên vùng ngực trước tim

Các máy đo điện tim sử dụng sau một thời gian dài sẽ có những sai lệch về kết quả đo do sự suy hao của linh kiện điện tử hoặc bị hư hỏng do nhiều nguyên nhân khác nhau, do vậy cần thiết phải có quá trình bảo trì để sửa chữa hoặc hiệu chỉnh cho đúng với chuẩn ban đầu Mặt khác với sự phát triển của máy tính, người ta có khuynh hướng xử lý và khảo sát các tín hiệu điện tim – vốn là những tín hiệu tương tự – bằng kỹ thuật số để nâng cao chất lượng tín hiệu và khai thác tối đa các thông tin từ điện tim trong quá trình chẩn đoán bệnh Những quy trình đó đã được khai thác triệt để và tích hợp trong các máy điện tim thế hệ mới thành những “hộp đen” mà ở một mặt nào đó được xem như bí mật của nhà sản xuất và người sử dụng chỉ có biết thao tác theo hướng dẫn của nhà sản xuất kèm theo thiết bị

Trong nhu cầu phục vụ đào tạo của ngành Vật lý Kỹ thuật trong lĩnh vực thiết bị y sinh, cần thiết phải có một hệ thống mẫu mô phỏng các tín hiệu điện tim với các chuyển đạo khác nhau cũng như thiết kế mạch chuyển đổi

Trang 13

AD để chuyển tín hiệu điện tim thành tín hiệu số xử lý được trên máy tính Điều đó không thể thực hiện được với các thiết bị điện tim thương mại, vừa có giá thành cao, vừa có thiết kế quá phức tạp vì những mục đích khác Cho nên đề tài luận văn này được đặt ra nhằm thiết kế một hệ thống mô phỏng điện tim cơ bản và bộ chuyển đổi AD nhằm phục vụ đào tạo kỹ thuật trong lĩnh vực thiết bị điện tim

1.2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ ĐỀ TÀI

1.2.1 Mục tiêu

Mục tiêu của đề tài là thiết kế một thiết bị mô phỏng các tín hiệu điện tim gọi là “tim nhân tạo” và chế tạo mạch chuyển đổi AD phù hợp với tính chất tín hiệu điện tim thực hiện giao tiếp với máy tính nhằm khảo sát và xử lý các thông tin thu được qua tín hiệu điện tim Bộ thiết kế trên được xây dựng nhằm phục vụ cho việc đào tạo và huấn luyện trong lĩnh vực thiết bị điện tim, cho các nghiên cứu mô phỏng và mở rộng liên quan đến các hoạt động và chức năng tim

1.2.2 Nhiệm vụ

Từ mục tiêu trên, các nhiệm vụ thực hiện của đề tài được xác định như sau :

1.3 YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI

Chế tạo thiết bị tim giả chuẩn và mạch chuyển đổi AD trên cơ sở nghiên cứu về điện sinh học của cơ tim

1.3.1 Thiết kế tim nhân tạo với các chuyển đạo chuẩn

- Dùng điện sinh lý học thực hành để khảo sát và lập các thông số

Trang 14

- Thiết lập mạch giả lập các thông số cơ bản của cơ tim chuẩn, tạo ra tần số, biên độ, dạng sóng điện tim cho tim giả chuẩn

- Các phức hợp QRS chuẩn, và các sóng P, T phù hợp

- Thi công chế tạo chạy thử trên máy chuẩn của nhà sản xuất có sẵn và so sánh với các thông số chuẩn đã được thực nghiệm trước đó

1.3.2 Thiết kế bộ phận chuyển đổi AD

- Khảo sát tín hiệu analog từ máy điện tim chuẩn

- Thiết kế mạch chuyển đổi với IC đặc thu, giao tiếp với máy vi tính

- Thi công chế tạo bộ chuyển đổi, chạy thử đánh giá để so sánh kết quả

Trang 15

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ MÁY ĐIỆN TIM

Trang 16

2.1 HỆ THỐNG TUẦN HOÀN VÀ CẤU TẠO TIM

Hình 1 chỉ cho ta thấy hệ thống tuần hoàn trong cơ thể người dưới dạng đơn giản hóa Tim phục vụ như một cái bơm để luân chuyển máu qua các

mạch được gọi là động mạch và tĩnh mạch Máu được bơm ra khỏi tim đi vào

động mạch và đưa trở về lại tim qua các tĩnh mạch

Trong thực tế là một cái bơm đôi, bao gồm hai buồng bơm ở cả hai bên phải và bên trái Các ngăn phía trên là các ngăn vào cho các bơm và được gọi là tâm nhĩ, các ngăn phía dưới của tim được gọi là tâm thất và là bơm đưa máu ra

Khi máu được tuần hoàn trong cơ thể, nó vận chuyển Oxy (O2) và chất dinh dưỡng đến cơ quan và các mô rồi vận chuyển về lại oxid carbon (CO2) và các sản phẩm thải khác, cuối cùng là các chất thải này được bài tiết ra ngoài thận Máu được khử oxy được tuần hoàn trở về lại bên phải của tim qua hệ thống các tĩnh mạch Máu từ tim và các cánh tay, cũng như ở các phần cơ quan còn lại ở phía trên cơ thể, trở về lại tim thông qua các tĩnh mạch trên, trong khi máu ở các cơ quan thuộc phần thấp nhất của cơ thể vận chuyển về tim qua các tĩnh mạch dưới, nên nhớ rằng các thuật ngữ dưới và trên không hề đề cập đến một số đánh giá về định lượng, nhưng chúng liên quan đến các

vị trí của hai tĩnh mạch, phần dưới nói chung nằm ở phần thấp của cơ thể thấp hơn phần trên cơ thể

Máu ra khỏi tâm nhĩ phải qua van ba lá để đi vào tâm thất phải Từ tâm thất phải máu đi qua van bán nguyệt phổi đến động mạch phổi Động mạch này mang máu đến phổi, ở đó CO2 bị thải ra và O2 cung cấp vào

Trang 17

Máu từ phổi đi về lại qua tĩnh mạch phổi để đi vào lại tim qua tâm nhĩ trái Sau đó máu được bơm qua van hai lá đến tâm thất trái, rồi quay trở lại con đường chính của vòng tuần hoàn qua van động mạch chủ

Sau đó máu luân chuyển tuần hoàn trên khắp cơ thể để một lần nữa quay trở về bên phải tim qua các tĩnh mạch trên và tĩnh mạch dưới

Máu chảy trong các mạch máu của cơ thể có thể được quan sát dưới các hình thức một mạch điện Ở đây chúng ta sử dụng phép suy nghịch đảo, trong đó dòng máu và huyết áp được so sánh với một mạch điện, với sự tương đương được biểu diễn thông qua biểu thức (2-1)

Trang 18

2.1.1 Máu

Máu gồm có hai thành phần chính : Tế bào máu và huyết tương Tế bào máu chiếm khoảng 40% tổng dung lượng máu, và 60% còn lại là huyết tương Vì máu có khoảng 99% tế bào máu là tế bào màu đỏ, nên có thể nói rằng, 40 phần trăm dung lượng máu là các tế bào hồng cầu Các tế bào trắng (bạch cầu) chỉ đóng một vai trò nhỏ trong việc xác định về những đặc tính và thành phần vật lý của máu

Tốc độ luân chuyển của máu đo bằng thể tích trên đơn vị thời gian trong một mạch máu được mô tả qua hai yếu tố : chênh lệch áp lực dọc theo mạch và sức trở kháng xảy ra trong mạch máu (một chức năng của các vùng khu vực chảy xuyên qua của nó) Tương tự biểu thức định luật Ohm trong mạch điện, mối quan hệ giữa sự chênh lệch áp suất và tốc độ được biểu diễn như sau :

P là chênh lệch áp suất tính bằng mmHg

F là tốc độ lưu lượng, tính bằng ml/s hay cm3/s

R là trở kháng của mạch tính bằng đơn vị PR hay còn gọi là đơn vị điện trở ngoại vi (1 PR là là trở kháng của mạch cho phép một lưu lượng 1 ml/s dưới áp suất 1mmHg)

Lưu ý rằng biểu thức (2-1) cho thấy một mạch có sức trở kháng cao hơn thì đòi hỏi áp lực máu cao hơn để tạo được cùng lưu lượng chảy qua

Thực tế xảy ra trong hầu hết các trường hợp là phức tạp hơn trong phương trình (2-1) vì độ trở không phải là hằng số do kích thước và độ căng

Trang 19

các thành mạch máu không như nhau, và máu cũng tự thay đổi về độ nhớt ở các đoạn mạch khác nhau Vì thế lưu lượng máu dao động thay đổi theo một số thông số và biểu diễn chính xác hơn theo định luật Poiseuille như sau:

L

r PX R

P F

µ

η8

4

=

Trong đó :

µ là hệ số nhớt của máu tính bằng dyn-s/cm2

P là chênh lệch áp suất bằng dyn/cm2

r là bán kính mạch tính bằng cm

L là chiều dài mạch tính bằng cm

Máu được chuyên chở trên toàn cơ thể theo một số kiểu khác nhau Các kiểu này bắt đầu đi ra từ tim đến mô và cơ quan được gọi là động mạch, động mạch có xu hướng co giãn, cho phép thay đổi đường kính để điều chỉnh lưu lượng máy chảy đến các nơi khác trong cơ thể Đường kính co thắt phản ánh những thay đổi bình thường theo yêu cầu hay dưới các trường hợp khẩn cấp những động mạch rất nhỏ thường được gọi là tiểu động mạch

Những tĩnh mạch chuyển chở máu trở về tim và phổi (ở đó máu dưới oxy hóa nạp ôxy trở lại) Oxy được chuyển vào các tế bào của mô trong mạng lưới những mao dẫn ngấm sâu vào bên trong cơ thể Các mao dẫn là những mạch rất nhỏ nối với tĩnh mạch và động mạch trong một cấu trúc như mạng lưới khắp cơ thể và có đường kính chỉ một vài µm

Tốc độ lưu lượng dòng chảy của máu là rất lớn trong động mạch chủ và nhỏ nhất trong các mao mạch (phương trình 2-2) Đường kính của các mao

Trang 20

mạch khá nhỏ đến nổi các tế bào máu phải chạy xuyên qua chúng theo thứ tự từng tế bào này đến tế bào khác

2.1.2 Tim

Tim con người nằm ở phía trên nơi gần giữa ngực Mặc dù có nhiều người tin rằng tim hoàn toàn nằm ở bên trái cơ thể, nhưng thực tế nó nằm lệch về phía giữa một ít Với đỉnh hướng về phía hông trái, khoảng một phần ba tim nằm ở bên phải của đường phân chia giữa ngực cơ thể; phần còn lại của tim nghiêng hết về phía bên trái

Kích thước và trọng lượng của tim thay đổi tuỳ theo từng cá nhân Ở nhiều người tim có kích thước xấp xỉ bằng nắm tay chặt lại, và trọng lượng trung bình của tim là khoảng 300g

Tim là một chùm cơ được bọc trong một cái túi được gọi là màng bao tim Màng này có hai lớp mô giúp cho tìm nằm đúng vị trí và bảo vệ tim tránh

bị thương tổn Màng bao tim tạo ra một dịch nhờn ở mặt của nó nhằm làm giảm bớt sự ma sát giữa mang bao và thành tim, cho phép tim đập tự do giữa thành tim và màng bao

Xem cấu trúc của tim người được mô tả trong hình 2

Trang 21

Hình 2

Ngoài hai lớp màng bao tim (như đã mô tả ở trên), có một màng ngoài và cơ tim, mô cơ chính của tim Lớp cơ tim dày chiếm khoảng 75% độ dày của thành tim

Trang 22

Tim có bốn ngăn, chúng được sử dụng dưới dạng hai bơm riêng biệt nhau, mỗi bơm bao gồm một ngăn trên (tâm nhĩ) và một ngăn dưới (tâm thất) Aùp suất tống ra cao nằm ở phía bên mỗi bên là tâm thất, vì độ dày của cơ tim

ở vùng tâm thất dày hơn đáng kể so với vùng tâm nhĩ

Tim cơ thể người có bốn van Van nằm giữa tâm nhĩ trái và tâm thất phải gọi là van ba lá Nó có tên này từ thực tế nó được tạo bằng ba cánh nhọn của mô được sắp xếp sao cho chúng sẽ đóng lại và ngăn cản sự di chuyển của máu theo hướng ngược lại (từ tâm thất chảy về tâm nhĩ)

Những van này được gắn trên các bệ đỡ của chúng tới một bó sợi mô, đóng và mở giữa các ngăn trên và ngăn dưới, và tại phần cuối của chúng đến các mục tiêu được gọi là sợi mềm Các cấu trúc này được gắn vào mô cơ trong tâm thất và giữa van ba lá đóng khi áp lực bên tâm nhĩ phải đạt đến áp lực tống máu ra khỏi tim đi vào động mạch phổi

Van nằm giữa tâm thất phải và động mạch chủ cũng có một cái tên gợi nhớ đến hình dạng của nó: van bán nguyệt Nó cũng bao gồm ba lá, nhưng nó không có độ mềm mại như van ba lá Nó ngăn cản lưu lượng máu chảy ngược từ động mạch phổi về tại tâm thất phải

Máu từ phổi trở về lại tim phải chảy ngang qua tâm nhĩ trái và van hai lá (cũng được biết như van hai lá vì hình dạng của nó) Để đến tâm thất trái Van này đựơc hình thành nhờ vào hai lá có hình nhọn

Van cuối cùng là van động mạch chủ Nó có hình dáng tương tự như van phổi và có chức năng là ngăn cản việc tuần hoàn ngược của dòng máu từ động mạch chủ giãn về tâm thất trái

Tim hoạt động được nhờ vào một xung động truyền qua hệ thống thần kinh tự động được mô phỏng dưới dạng một kích thích điện Khi nhận được

Trang 23

một tín hiệu điện (mục 2.1.4), tim hoạt động bắt đầu trong tâm nhĩ giống như hoạt động của sóng Không lâu sau, tâm thất cũng bắt đầu hoạt động, từ dưới lên, theo một chuyển động co bóp dây chuyền Chu kỳ hoạt động của tâm thất được gọi là tâm thu Chu kỳ nghỉ của tâm thất được gọi là tâm trương

Tim người lớn lúc nghỉ ngơi không hoạt động thì bơm một lưu lượng máu khoảng 3 đến 5 lít máu trong một phút (3-51/phút), con số này được gọi là lưu lượng ra của tim (CO) và nó được định nghĩa bằng tích tốc độ tim đập (nhịp tim) trong một phút (BPM) và lưu lượng tống ra khỏi tâm thất trong suốt thời gian tâm thu, còn gọi là lưu lượng nhịp (CB) Ta có biểu thức sau:

CO = BPM * CB (2-3) Nên nhớ rằng các giá trị của lưu lượng tim với các thông số đã cho là vấn đề lý thuyết, trong thực tế còn phụ thuộc nhiều yếu tố khác

2.1.3 Điện sinh học

Thế năng của ion được hình thành trong một số tế bào nào đó của cơ thể bởi sự chênh lệch về nồng độ của một số ion hoá học nào đó, đặc biệt nhất là các ion Natri (NA+), Clo (CL-), Kali (K+)

Thành tế bào là loại màng bán thấm Mức thấm là số đo cho khả năng màng tế bào cho một số ion đi qua Trong trường hợp màng bán thấm, một quá trình có chọn lọc cho phép một số ion đi qua trong khi ngăn cản hay từ chối một số ion khác Một màng như thế sẽ không cho phép vịêc truyền qua một cách tự do của tất cả các ion nhưng chỉ cho một số ion giới hạn Người ta cho rằng hiện tượng có thể chọn lọc này là do bởi kích thước khác nhau của các ion, tương ứng với sự tích điện của chúng và do bởi một số yếu tố khác Tuy nhiên, kết quả cuối cùng là các màng tế bào đó lúc nghỉ ngơi lại cho một

Trang 24

Natri) Kết quả là nồng độ ion dương trong tế bào thì ít hơn nồng độ của ion Natri trong dịch nội bào nằm bên ngoài tế bào Một hiện tượng được gọi là bơm Natri – Kali giữa một lượng khá lớn ion Natri ngoài tế bào và ion kali trong tế bào

Kali đó được bơm vào trong tế bào trong khi natri được bơm ra ngoài tế bào, nhưng tốc độ của bơm natri thì lớn đến gấp 2 lần đến 5 lần Kali Các tốc độ này là do kết quả chênh lệch nồng độ ion, tạo ra bởi một thế năng, và điều này dẫn đến tế bào bị phân cực, bên trong tế bào thì ít dương tính hơn bên ngoài tế bào, vì thế tế bào này là tế bào là tế bào âm so với bên ngoài của Sự khác nhau nay đưa đến các giá trị khác nhau trong thế năng tĩnh, nhưng tất cả đều nằm trong phạm vi 70 đến 90 milivolts (mV) Guyton sử dụng 85mV, Grouch và McClintic đề xuất 70 mV, và Strong sử dụng 90mV [1] Tuy nhiên, tất cả đều đồng ý rằng tế bào phân cực là âm tính, vì thế trong nội dung phần này chúng tôi sẽ sử dụng 70mV như giá trị chỉ định của thế năng tĩnh Thế năng thực sự xuất phát tư phương trình Nernst, dược cho dưới dạng như :

[ ]

i

C

C mV

E = ± 60 ln 0

Trong đó :

E là thế năng tĩnh, tính bằng milivolt

Ci là nồng độ bên trong tế bào tính bằng mol/cm3

C0 là nồng độ bên ngoài tế bào tính bằng mol/cm3

Qua phương trình cho thấy rằng log (cơ số e) của tỷ lệ nồng độ được sử dụng

Trang 25

Chúng ta thử làm một bài toán với các thông số sau : Nồng độ ion K+

nội bào của một nhóm tế bào có mức trung bình 20 x 10-6 mol/cm3 Nồng độ ion K- có mức trung bình 5 x 10-6 mol/cm3 Ta có tỷ lệ nồng độ và thế năng truyền đối với K- như sau:

mV2,834

/1ln60C/Cln60E

b

4/120

5cm

/mo10x20

cm/mol10x

5Ci

C a

i 0 K

3 6

3 6

Trang 26

Hình 3

Tế bào thể hiện mức thế năng tĩnh là tế bào phân cực , và đó là khử cực Có một giai đoạn dài kế tiếp theo suốt thời gian khử cực mà tế vào trở

Trang 27

nên phân cực lại Trong giai đoạn này tế bào chống lại bất kỳ sự khử cực nào Trong quan điểm về điện tử thì hoạt động này phải là xung ổn định dây chuyền: động năng, khởi phát một lần, không thể được phát lại cho đến khi tế bào được phân cực lại lần nữa

Mặc dù tính dẫn điện của ion xảy ra như thông lệ, động năng hướng tới điều đó là hiện tượng cục bộ Nhưng việc dẫn không xảy ra bởi vì các tế bào khử cực kích hoạt các tế bào kế cận gây cho chúng sản sản sinh ra một động năng Quay trở lại với tương tự như đa xung của điện tử, chúng tôi xem tình trạng này như một dây chuyền xung đa ổn định trong đợt sao cho mức ra khởi động một tế bào kế tiếp

2.1.4 Hệ thống dẫn điện trong tim

Hệ thống dẫn điện của tim (hình 4) bao gồm các cấu trúc được gọi là cấu trúc bổ sung được gọi là sợi Purkinje

Nút SA đóng vai trò như một người dẫn cho tim, và nó cung cấp tín hiệu kích thích đã được đề cập ở trên Nó là một chùm nhỏ tế bào (khoảng 3 x 10mm) nằm ở cuối thành của tâm nhĩ, chỉ ngay dưới điểm gắn vào của tĩnh mạch trên Nút SA kích thích các xung điện qua cơ chế điện sinh học được bàn ở phần trước Nó có khả năng tự kích thích nhưng dưới sự điều khiển và kiểm soát của hệ thống thần kinh trung ương sao cho tốc độ có thể được điều chỉnh một cách tự động nhằm đáp ứng một số yêu cầu đặc biệt riêng

Khi nút SA phóng ra một xung, thì dòng điện làm truyền qua tâm, tâm nhĩ gây nên hoạt động của nó Máu trong tâm nhĩ ép tống qua các van sang tâm thất Vận tốc truyền đối với thế năng động của nút SA là khoảng 30cm/s trong mô tâm nhĩ

Trang 28

Hình 4

Tuy nhiên, có bộ dãy mô chuyên biệt nằm giữa nút SA và AV, trong đó vận tốc truyền nhanh hơn vận tốc trong mô tâm nhĩ, khoảng 45 cm/s (hình 4) Con đường truyền dẫn bên trong này mang tín hiệu đến các tâm thất

Có lẽ không đạt được mong muốn cho tâm thất hoạt động đáp ứng lại một động năng trước khi tâm nhĩ rỗng Do đo, đòi hỏi có một khoảng cách chậm trễ, nhằm ngăn ngừa tình trạng này xảy ra; đây là chức năng của nút

AV Ở mức động năng 45cm/s sẽ đạt đến nút AV trong 30 đến 50 mili giây (ms) sau khi phóng ra từ nút SA, nhưng một mức 110ms khác sẽ chuyển qua trước khi xung được truyền từ nốt AV Sau đó nốt AV hoạt động giống như một giới hạn hoãn nhằm làm chậm lại phần đến trước của thế năng động cùng với hệ thống dẫn điện bên trong hướng đến các tâm thất

Trang 29

Các tế bào cơ bản của tâm thất thực sự bị kích thích bởi các sợi Purkinje (hình 4) Thế năng di chuyển dọc theo các sợi với mức nhanh hơn, khoảng 2 đến 4m/s (chẳng hạn 200 đến 400cm/s) Các sợi được sắp xếp thành hai bó, một nhánh hướng sang trái và nhánh kia hướng sang phải

Tính dẫn trong các sợi Purkinje rất nhanh, thời gian đã được nêu trong hình 4 Thế năng động chạy qua khoảng cách giữa các nút SA và AV là khoảng 40ms và bị làm chậm lại bởi nút AV trong khoảng 100ms sao cho kích hoạt các ngăn dưới có thể đồng bộ với phần trống của các ngăn trên Việc dẫn vào các chùm nhánh thì khá nhanh, giả định cho 60ms khác vươn đến các sợi Purkinje xa nhất

Động năng sinh ra trong nút SA kích thích các sợi cơ tim, khiến cho chúng hoạt động Khi cơ trong trạng thái hoạt động, nó ngắn hơn, và dung lượng của ngăn tâm thất nhỏ hơn, vì thế máu bị bóp lại, sự hoạt động của nhiều tế bào cơ cùng lúc gây ra một tính hiệu điện đồng loạt mà có thể được phát hiện bởi các điện cực đặt trên bề mặt của ngực bệnh nhân hay mũi bệnh nhân Vịêc phóng điện này có thể biểu thị như là chức năng của thời gian Và hợp lực các dạng sóng được gọi là điện tâm đồ (ECG : một số sử dụng EKG sau khi diễn dịch theo tiếng Đức) Một ví dụ của sóng điện âm đồ tiêu biểu được mô tả trong một phần hình 4

Việc xác định các đặc trưng khác nhau trên sóng điện tâm đồ qua một hệ thống các ký tự Sóng P chỉ ra hoạt động của tâm nhĩ, tâm thu xảy ra ngay sau khi phức hợp QRS, và một giai đoạn khá dài (nghỉ để phân cực lại) được chỉ ra bằng sóng T

Theo các nghiên cứu thời hạn của các đặc trưng điện tâm đồ là tương

Trang 30

hình 4), chẳng hạn, đòi hỏi xấp xỉ 90ms, sóng P-4 đạt thể chừng 150 đến 200ms, và đoạn S-T khoảng 50 đến 150ms Aùp lực tâm nhĩ phải thay đổi từ một giá trị tâm trương xấp xỉ 3mm HG đến một giá trị tâm thu xấp xỉ 8mm

Hg

Lúc này chúng ta tổng hợp tương quan các đặc trưng điện tâm đồ lại, hoạt động của tim và lưu lượng máu từ tim qua phổi, hình 4 cho thấy điện tâm đồ và mối quan hệ của nó đến các mức áp lực khác nhau xuất hiện trong các bên phải hoặc trái của tim Lúc này áp lực tâm thất bắt đầu tăng nhanh vì tim bắt đầu hoạt động Nó đạt đến đỉnh và giới hạn xuống biên quay trở lại giá trị nghỉ của nó Aùp lực đỉnh được coi là áp lực tâm thu vì nó xuất hiện trong suốt giai đoạn tâm thu Giai đoạn tâm thu xảy ra nhanh khoảng 350ms, trong khi tâm trương thì lâu hơn một chút, khoảng chừng 550ms

Như đã biểu thị trong hình 5 một số âm thanh đập của tim được đánh số 1,2,3 và 4 Các âm này tượng trưng cho cơ chế hoạt động của bốn van

Hoạt động của tâm nhĩ bị kích thích bởi nút SA và bắt đầu ngay sau sóng P trên điện tâm đồ Aùp lực trong bên phải và bên trái tâm nhĩ tăng lên ngay khi nó bắt đầu hoạt động Aùp lực tâm nhĩ phải thay đổi từ 2 đến 3 mmHg giá trị tâm trương đến một giá trị tâm thu 7 đến 8mmHg Aùp lực ở tâm nhĩ trái tăng lên từ khoảng 3 mmHg lúc tâm trương đến khoảng 10 mmHg lúc tâm thu

Aùp lực trong tâm nhĩ không phải thực sự được gây bởi việc máu đi chuyển từ tâm nhĩ sang tâm thất Van mở ra, cho phép máu truyền qua chủ yếu là do bởi thay đổi về chênh lệch áp lực Trong suốt thời gian tâm tương, áp lực trong tâm thất hạ xuống thấp hơn trong tâm nhĩ Điều này khiến cho

Trang 31

van (van ba lá ở bên phải và van hai lá ở bên trái) mở ra, cho phép máu chảy vào tâm thất dưới ảnh hưởng của sự chênh lệch áp lực

Tâm thất bắt đầu hoạt động ngay sau khi sóng R trên điện tâm đồ Aùp lực tâm thất tăng đến một mức lớn hơn áp lực của tâm nhĩ Các van này đóng lại gây ra tiếng nhịp thứ nhất Aùp lực trong tâm nhất phải sẽ tăng lên một áp lực hơi thấp hơn áp lực tâm nhĩ trái trong thời gian tâm trương lên đến 28 đến 30mm Hg trong suốt thời gian tâm thu Một áp lực từ 18 đến 20 mm Hg là đủ để vượt qua áp lực trả ngược máu về động mạch phổi và làm mở van phổi Mặc khác, tâm thất trái đương đầu với một tình trạng áp lực cao hơn và vì thế đạt đến một áp lực 75 đến 80mm Hg để mở van động mạch chủ và đạt đến áp lực đỉnh khoảng 120 đến 130mm Hg

Trang 32

Hình 5

Trang 33

Các tâm thất sẽ bắt đầu nghỉ tiếp tục theo lúc đạt đến cực đỉnh của tâm thụ và áp lực tâm thất sẽ bắt đầu hạ xuống, khi áp lực tâm thấp thấp hơn áp lực tâm nhĩ, các van tương ứng sẽ đóng lại Trong suốt thời gian hoán vị áp lực này, nên nhớ rằng máu đi vào các tâm thất Các van đóng lại và lưu lượng máu vào thời điểm này tăng lên để nghe đựơc nhịp tim thứ hai Cũng ghi nhớ rằng một mức đập đôi, chỉ xảy ra khoảng 0,4s trong hình 5, trong dạng sóng của áp lực động mạch chủ Tiếp theo sau sự đóng van là một giai đoạn nghỉ trong suốt giai đoạn này các tâm thất sẽ được nhận đầy máu lại lần nữa

Ghi nhớ trong mọi pha của chu kỳ tim, áp lực thay đổi làm van thực sự mở ra và đóng lại, không hề có hệ thống kiểm soát điều khiển tưởng tượng nào hoạt động ở đây, chỉ là những kết quả của sự chênh lệch áp lực bình thường như chúng ta đã biết ở phần mở đầu

2.1.5 Các vấn đề về tim

Người thầy thuốc sẽ được sử dụng điện tâm đồ và các yếu tố khác để xác định tổng thể của tim, chúng ta có thể bàn về một số trong các vấn đề phổ biến chung nhất dưới dạng tổng quát

Tim là một cơ và vì thế phải chứa đầy máu nhằm giúp nó được mạnh khỏe, máu được cung cấp cho tim thông qua các động mạch vành hình thành chùm từ động mạch gần với tim

Nếu một động mạch ngang máu đến tim bị bít nghẽn một phần hay toàn bộ (chẳng hạn bị tắc nghẽn), thì vùng tim do động mạch phục vụ sẽ bị tổn hại do bởi thiếu máu chuyển tới Vùng tim đã nói này bị thương tổn và mất chức năng Kiểu thương tổn này được xem như là thương tổn cơ tim, hay thuật ngữ y khoa gọi là M1

Trang 34

Một kiểu vấn đề bệnh tim khác là loại nhịp tim Đó là những nhịp đập ngoài nhịp bình thường của tim và có thể thấy được như là những thay đổi trong điện tâm đồ Các điều kiện qua phân loại này bao gồm độ tim cực đoan, hoạt động sớm, tim bị nghẽn, và kết sợi

Tốc độ đập của tim người thay đổi trong phạm vi từ 60 đến 110 BPM Tốc độ đập nhanh hơn được gọi là tim đập nhanh Một danh mục các căn cứ về những con số thay đổi khác nhau như một ngưỡng để xác định bệnh tim đập nhanh, nhưng hầu hết phải là 120BPM, với mức nằm trong phạm vi từ

Nghẽn tim xảy ra khi hệ thống dẫn điện bên trong tim bị cắt đứt hay bị cản trở đáng kể Trong số các dạng chung phổ biến là nghẽn nhĩ thất tim xảy

ra ở vị trí nối liền giữa tâm thất và tâm nhĩ

Việc kết sợi là một điều kiện trong đó các tế bào cơ tiết ra không đồng bộ theo một cách ngẫu nhiên Trong chứng kết sợi tâm thất các đặc trưng chủ yếu của điện tâm đồ biến mất và dạng sóng tạo nên biên độ thấp, diện mạo

Trang 35

“bồn chồn”, cho thấy rằng các tâm thất không hoạt động nhưng chỉ rung Chứng kết sợi tâm thất là chứng loạn nhịp tim tai hoạ mà có thể gây tử vong cho bệnh nhân trong vài phút nếu không được cứu chữa kịp thời Chứng kết sợi tâm nhĩ thì ít nghiêm trong hơn bởi vì các tâm nhĩ vẫn còn có thể hoạt động, như đã thể hiện bởi sự có mặt của một liên hợp QRS trong dạng sóng điện tâm đồ, vì thế máy cung cấp cho cơ thể không bị ngưng hay bớt đi nghiêm trọng

2.2 ĐIỆN TRƯỜNG TIM

Cơ thể người là một môi trường dẫn điện, vì thế dòng điện do tim phát

ra sẽ được dẫn truyền đi khắp cơ thể qua các mô và đi tới bề mặt da, lúc đó biến cơ thể thành một điện trường tim Khi ta đặt 2 điện cực lên bất cứ hai điểm nào đó có điện thế khác nhau của điện trường đó thì sẽ thu được 1 dòng điện thế, hiệu điện thế giữa hai điểm đó và hiệu điện thế đó sẽ được hiển thị bằng đường cong, sóng được gọi là điện tâm đồ, một sóng được gọi là 1 chuyển đạo hay tạo trình, đường thẳng nối 2 điểm đặt cực trên cơ được gọi là trục chuyển đạo

2.3 CÁC QUÁ TRÌNH ĐIỆN HỌC CỦA TIM

Trong mỗi lần co bóp của tim, các điện thế xuất hiện đầu tiên và khởi động một loạt các cơ chế hoạt động của tim nắm dược sự điều khiển của hệ thần kinh giao cảm và phế vị, các cơ chế đó bao gồm: tính chịu kích thích, tính dẫn truyền, tính trơ và tính tự động

Trong thực nghiệm, người ta thường dùng một mảnh tim động vật được đặt trong môi trường đẳng trường cùng các điện cực mà trong đó có một vi

Trang 36

được giữa hai điện cực được giữ hai điện cực đó gọi là điện thế qua màng, đồng thời ghi điện thế đó lên trục ghi của máy dao động ký (kymograph), với một tốc độ cố định (0,1 ÷ 2) V/f, đường chuẩn trên giấy ghi là đường điện thế

0 (đường ngang đồng điệu ở mức 0mV)

Khi chưa có điện kích thích (1mV ÷ 100mV) Giống như trạng thái tim nghỉ, các điện cực trong và ngoài tế bào cho thấy ở mức – 90mV và mặt ngoài mang điện dương và mặt trong tế bào mang điện âm, điện thế này gọi là điện thế qua màng hay điện thế nghỉ, tế bào này được gọi là có cực, hiệu quả trên là do sự chênh lệch nồng độ các Na+, K+, Ca+, Cl- bên trong và ngoài mang tế bào

2.4 KHẢ NĂNG CHỊU KÍCH THÍCH

Khi phóng một xung điện kích thích màng tế bào đưa tim vào trạng thái hoạt động, lúc đó ta có hiệu điện thế hoạt động được biểu thị bằng đường cong điện thế (hình 6)

Hiện tượng xảy ra đầu tiên là màng ngoài tế bào bị khử, mất điện dương chuyển sang điện âm và ngược lại, lúc này điện thế đo được là + 20mV, đường điện thế nghỉ từ – 90mV cũng lên + 20mV theo đường thẳng đứng Đây chính là nhánh sóng đầu tiên của đường cong điện thế hoạt động được gọi là giai đoạn trong, tức là giai đoạn khử cực, nhánh sóng này tổng hợp với các sóng khởi cực khác, toàn bộ tế bào tim tạo thành bộ phức hợp QRS ở điện tâm đồ ngoại biên Đường hiệu điện thế tăng vọt từ – 90mV lên + 20mV hạ xuống nhanh về mức 0mV tạo thành nhánh nhỏ ta gọi là giai đoạn

1 Sau đó màng tế bào sẽ tái lập lại cực dương, mặt trong điện âm theo 2 giai đoạn chậm và nhanh được gọi là tái cực chậm và tái cực nhanh

Trang 37

Ở giai đoạn tái cực chậm đường cong điện thế hoạt động đi gần như ngang ở mức 0 và hơi mức xuống được gọi là giai đoạn 2, nó sẽ thể hiện thành đoạn ST ở điện đồ ngoại biên, tiếp đến thời gian tái cực nhanh, đường cong điện thế hoạt động dốc nhanh xuống mức điện thế ban đầu – 90mV gọi là giai đoạn 3 nó sẽ thể hiện bằng sóng T ở điện tâm đồ ngoại biên

Hình 6

Trang 38

Sự chuyển các ion qua mang tế bào, tạo thành đường cong điện thế hoạt độn, nguồn gốc của dòng điện tim thời gian từ lúc điện thế động vọt lên và trở về điện thế mức theo các giai đoạn 0,1,2,3 gồm 2 quá trình khử cực và tái cực được gọi là thời gian điện thế hoạt động, nó thể hiện ra điện tâm đồ ngoại biên thời gian QT là thời kỳ tâm thu điện học Đường điện mức – 90mV là đường ngang thể hiện ra điện tâm đồ ngoại biên là thời kỳ tâm thương điện học, đồng thời cũng là thời kỳ nghỉ tim

2.5 TÍNH DẪN TRUYỀN CỦA TẾ BÀO

Tế bào chịu kích thích sẽ chuyển kích thích đó sang tế bào bên cạnh làm diễn ra ở đó toàn bộ quá trình khử và tái cực, từ đó nối tiếp nhau truyền sang tế bào khác như một phản ứng dây chuyền rất nhanh và lan truyền toàn bộ các tế bào tức tim làm tim co bóp, đó là tính dẫn truyền của tế bào

Tính dẫn truyền của phụ thuộc vào dòng Na+ nhanh tức giai đoạn trong có tốc độ lớn hơn nên dẫn truyền thường rất nhanh và các tế bào như vậy vừa chịu kích thích nhanh vừa dẫn truyền nhanh gọi là tế bào đáp ứng nhanh Đó là tế bào cơ nhỏ, bó His, mạng Purkyie và cơ thất

Các tế bào ở xung quanh nút xoang và nút nhỏ thất dược cấu tạo không có dòng Na+ Do đó quá trình nghĩa là không có giai đoạn O Do đó quá trình khử được tính chịu kích thích nhanh với tính dẫn truyền phải phụ thuộc vào dòng Na+ và Ca++ chậm, tương ứng với giai đoạn 2 của đường cong điện thế hoạt động, tế bào đáp ứng chậm do đó dẫn truyền chậm nên có thể giúp tim hoàn thành một vài chức năng sinh lý, khi xung động từ cơ nhĩ truyền tới nút nhĩ thất, nó bị tế bào ở nút này dẫn truyền chậm trước khi xuống tới thất làm cho thời gian dẫn truyền từ nhĩ xuống đất (khoảng PR của điện tâm đồ), có đủ

Trang 39

độ lớn để cho máu đổ từ nhĩ xuống làm đầy tâm thất và làm cho lần bóp thất có hiệu quả đưa đủ máu đi ra

2.6 TÍNH TRƠ VÀ CÁC THỜI KỲ TRƠ

Tính trơ là tính chất ngược với tính chịu kích thích, khi tế bào đang trơ nó sẽ không chịu kích thích muốn làm cho tế bào tim bước vào hoạt phải có hai điều kiện

- Phải có đủ mức cường độ điện thế lúc nghĩ vượt quá mức điện thế ngưỡng – 70mV

- Phải kích thích vào một thời điểm nào đó của chu kỳ tim mà tim không trơ

Trang 40

PRA : Thời kỳ trơ tuyệt đối : Kích thích vô tác dụng

PRE : Thời kỳ trơ có hiệu quả : tim làm việc tâm thu

PRT : Thời kỳ trơ tương đối

2.7 TÍNH TỰ ĐỘNG

Tính tự động là hiện tượng tế bào tự đi vào hoạt động và thường có ở hầu hết các tế bào biệt hoá mô tín tức nút xoang AV, phần trên và phần dưới nút nhĩ thất, tính tự động của tế bào không đồng thời phát huy tác dụng mà có tế bào phát xung nhanh và có cái chậm hơn Tất cả được điều khiển bởi hệ thần kinh giao cảm

Ngày đăng: 16/04/2021, 14:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w