Các bức xạ trên có thể là bức xạ điện từ X quang, CT, bức xạ hạt nhân y học hạt nhân – SPECT, PET, bức xạ radio cộng hưởng từ hạt nhân MRI, sóng siêu âm ảnh siêu âm…, trên cơ sở các bức
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
-o0o -
VÕ NHƯ NHƯ
THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI THÍ NGHIỆM
MÔ PHỎNG SỰ TẠO ẢNH CỦA CÁC THIẾT BỊ
CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH Y HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KỸ THUẬT LASER
MÃ SỐ: 2.07.07
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS HUỲNH QUANG LINH
Cán bộ chấm nhận xét 1 :
Cán bộ chấm nhận xét 2 :
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại HỘI ĐỒNG CHẤM BẢO VỆ LUẬN VĂN THẠC SĨ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA, ngày tháng năm 2005
Có thể tham khảo luận văn này tại thư viện trường Đại học Bách Khoa – Đại học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
PHÒNG ĐÀO TẠO SĐH
-
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc -
Tp HCM, ngày tháng năm 2005
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ Họ tên học viên : VÕ NHƯ NHƯ Phái : Nam
Ngày, tháng, năm sinh : 24 – 11 – 1976
Nơi sinh : Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành : KỸ THUẬT LASER MSHV :KTLS13 - 006
I-TÊN ĐỀ TÀI
THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI THÍ NGHIỆM MÔ PHỎNG SỰ TẠO ẢNH CỦA CÁC THIẾT BỊ CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH Y HỌCII- NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG
2.1 Nhiệm vụ của đề tài
Xây dựng các chương trình mô phỏng bao gồm:
2.2.1 Chương trình mô phỏng sự tạo ảnh X quang bằng phương pháp Monte Carlo
2.2.2 Chương trình mô phỏng sự tạo ảnh cắt lớp và tái tạo ảnh cắt lớp bằng thuật toán Back Projection Tomography
2.2.3 Chương trình mô phỏng sự tạo ảnh MRI và khảo sát ảnh hưởng các thông số đặc trưng lên chất lượng ảnh
2.2.4 Chương trình mô phỏng sự tạo ảnh siêu âm
2.2 Nội dung
Tìm hiểu về nguyên tắc tạo ảnh của các phương pháp: X – quang, siêu âm, CT, MRI Trên cơ sở lý thuyết tạo ảnh đó và các chương trình mô phỏng để xây dựng các bài thí nghiệm phục vụ cho công tác đào tạo của chuyên ngành vật lý kỹ thuật y sinh
III- NGÀY GIAO NHIỆM VỤ
IV- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ
V- HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN : TS HUỲNH QUANG LINH
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS HUỲNH QUANG LINH
CHỦ NHIỆM NGÀNH
PGS.TS TRẦN MINH THÁI
BỘ MÔN QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH
TS HUỲNH QUANG LINH
Nội dung và đề cương luận văn thạc sĩ đã được Hội Đồng Chuyên Ngành thông qua
PHÒNG ĐÀO TẠO SĐH Ngày tháng năm 2005 KHOA QUẢN LÝ NGÀNH
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, chính xác và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận văn
Võ Như Như
Trang 5Để hoàn thành khóa cao học và thực hiện luận văn tốt nghiệp này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ hướng dẫn về
chuyên môn cũng như sự hỗ trợ về mọi mặt của nhiều
giáo sư, đồng nghiệp và gia đình Tự đáy lòng mình, tôi
xin bày tỏ lòng biết ơn đối với:
TS Huỳnh Quang Linh, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và cố
vấn về chuyên môn cũng như hoàn thiện nội dung, hình
thức của luận văn này
Tập thể các anh chị học viên cao học Kỹ thuật laser khóa 13, đã cùng chia sẻ những khó khăn và giúp
đỡ nhiệt tình trong thời gian qua
Cảm ơn em, người vợ đảm đang đã dành hết thời gian chăm sóc gia đình và các con trong suốt quá trình
học tập và thực hiện luận văn
VÕ NHƯ NHƯ LỜI CẢM ƠN
Trang 6PHẦN 1: LỜI NÓI ĐẦU 1
3.1 TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP TẠO ẢNH X-QUANG 3
3.1.2 Sự suy giảm khi tia X đi qua môi trường vật chất 13
3.2 TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP TẠO ẢNH SIÊU ÂM 25
3.2.1 Ưùng dụng sóng siêu âm trong y tế 25
3.2.2 Cơ sở vật lý và kỹ thuật của phương pháp tạo ảnh bằng siêu âm 25
3.3 TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP TẠO ẢNH X-QUANG CẮT LỚP 40
3.3.2 Chi tiết của hình chiếu và Khai triển Radon 42
3.4 TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP TẠO ẢNH MRI 54
3.4.2 Cơ sở vật lý của cộng hưởng từ hạt nhân 54
3.4.3 Nguyên lý tạo ảnh cộng hưởng từ 63
3.4.4 Phương pháp tạo ảnh cắt lớp cộng hưởng từ 64
PHẦN 4: CÁC CHƯƠNG TRÌNH MÔ PHỎNG VÀ CÁC BÀI THÍ NGHIỆM 73
Bài thí nghiệm 1:
Mô phỏng sự tạo ảnh X quang bằng phương pháp Monte Carlo 73
IV Mô tả chương trình mô phỏng sự tạo ảnh X quang bằng ngôn ngữ ANSI C 83
Trang 7Mô phỏng sự tạo ảnh của thiết bị chẩn đoán siêu âm 96
III Cơ sở lý thuyết tính toán đáp ứng tín hiệu siêu âm truyền trong vật chất 96
IV Mô tả chương trình mô phỏng sự tạo ảnh siêu âm 98
Bài thí nghiệm 3:
Mô phỏng sự tạo ảnh cắt lớp điện toán truyền qua 103
IV Mô tả chương trình mô phỏng sự tạo ảnh cắt lớp CT 106
Bài thí nghiệm 4:
Mô phỏng sự tạo ảnh của thiết bị chẩn đoán hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) 114
Trang 8PHẦN 1: LỜI NÓI ĐẦU
Thiết bị chẩn đoán hình ảnh y học là một trong những lĩnh vực then chốt của ngành
kỹ thuật y sinh hàm chứa những thành tựu hiện đại nhất trong nhiều lĩnh vực liên
ngành, đặc biệt về vật lý ứng dụng, y sinh học hiện đại và công nghệ thông tin
Những thiết bị chẩn đoán hình ảnh ngày nay đã trở thành phổ biến, từ những máy
siêu âm phổ cập có mặt tại mỗi phòng khám cho đến các thiết bị CT, MRI tối tân ở
những bệnh viện lớn; tất cả đều có một đặc điểm chung: đó là những sản phẩm hộp
đen được hoàn thiện đến mức người sử dụng chỉ cần thao tác qua những nút bấm và
chương trình hoàn chỉnh mà không cần phải biết đến nguyên lý hoạt động hoặc cấu
tạo chức năng của chúng, cũng chính vì tính hiện đại và phức hợp của nhiều lĩnh
vực như vậy nên nếu người sử dụng muốn hiểu rõ về thiết bị, cũng không phải dễ
dàng có thể lĩnh thụ làm chủ được nó
Mặt khác, các thiết bị chẩn đoán hình ảnh thương mại thường là những thiết bị hộp
đen theo nghĩa các mạch cấu tạo, các bộ phận chức năng (đầu dò, khuếch đại và xử
lý tín hiệu ) thường được chế tạo thành các module đóng kín, một mặt vì chúng là
sản phẩm công nghệ cao với tính chính xác lớn, một mặt vì chúng là các giải pháp
sản phẩm độc quyền của hãng sản xuất, các phần mềm xử lý chức năng kèm theo
là những sản phẩm công nghệ thông tin mà không có bất cứ một tài liệu nào mô tả
đầy đủ Cho nên trong quá trình đào tạo những kỹ sư kỹ thuật y sinh, là những
người được đào tạo để có thể nắm vững cách vận hành, bảo dưỡng và khai thác
một cách có hiệu quả các thiết bị trên, thường không có đủ điều kiện để thực hành
trên các dạng thiết bị thành phẩm, nên dù có hiểu được lý thuyết nhưng khó nắm
được nguyên lý kỹ thuật cũng như khó có thể hiểu được tường tận sự vận hành
trong thực tế Với lý do đó, việc xây dựng những bài thí nghiệm môn kỹ thuật thiết
bị chẩn đoán hình ảnh y học nói riêng và cho môn kỹ thuật thiết bị y sinh nói
chung, đặc biệt trong điều kiện Việt Nam là một yêu cầu bức thiết cho chương trình
đào tạo ngành kỹ thuật y sinh
Môn thiết bị chẩn đoán hình ảnh y học về cơ bản quan tâm đến 4 dạng thiết bị
chính: thiết bị X quang, thiết bị cắt lớp CT, thiết bị MRI và thiết bị siêu âm Bên
cạnh phần kiến tập mà sinh viên có thể thực hành thao tác, sinh viên cũng cần thiết
nắm vững hơn về bản chất vật lý hiện tượng mà thiết bị sử dụng cũng như các
nguyên tắc xử lý ảnh
Trang 9PHẦN 2: MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ
2.1 MỤC TIÊU
Xây dựng các bài thí nghiệm cho môn kỹ thuật thiết bị hình ảnh y học tận dụng
máy tính để mô phỏng quá trình vật lý tạo ảnh cũng như cách xử lý ảnh đối với 4
dạng thiết bị sau: thiết bị X quang, thiết bị cắt lớp CT, thiết bị MRI và thiết bị siêu
âm
2.2 NHIỆM VỤ
Xây dựng các chương trình mô phỏng bao gồm:
2.2.1 Chương trình mô phỏng sự tạo ảnh X quang bằng phương pháp Monte Carlo
2.2.2 Chương trình mô phỏng sự tạo ảnh cắt lớp và tái tạo ảnh cắt lớp bằng thuật
toán Back Projection Tomography
2.2.3 Chương trình mô phỏng sự tạo ảnh MRI và khảo sát ảnh hưởng các thông số
đặc trưng lên chất lượng ảnh
2.2.4 Chương trình mô phỏng tạo ảnh siêu âm bằng lý thuyết truyền sóng âm
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Các quá trình mô phỏng được lập trình dựa trên cơ sở các quá trình vật lý và kỹ
thuật của từng thiết bị trên ngôn ngữ lập trình C, Matlab hoặc Java Tận dụng các
nguồn mở và thư viện thu thập được trên Internet và sửa đổi sao cho phù hợp với
mục tiêu đào tạo ở trường
2.4 DỰ KIẾN KẾT QUẢ
Kết quả các bài thí nghiệm trên là những phần mềm với giao diện trực quan hướng
dẫn sinh viên sử dụng đúng theo yêu cầu nắm bắt bản chất của vấn đề Với những
yêu cầu trên các bài thí nghiệm của đề tài sẽ góp phần hoàn chỉnh thực hành của
môn học
Trang 10PHẦN 3: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ
Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh y khoa
Các nguyên lý cơ bản của các phương pháp chẩn đoán hình ảnh là thu nhận, đáp
ứng khác nhau của các bức xạ có khả năng đâm xuyên mô sống Các bức xạ trên
có thể là bức xạ điện từ (X quang, CT), bức xạ hạt nhân (y học hạt nhân – SPECT,
PET), bức xạ radio cộng hưởng từ hạt nhân (MRI), sóng siêu âm (ảnh siêu âm)…,
trên cơ sở các bức xạ tương tác với các môi trường khác nhau tạo ra những đáp ứng
phản hồi khác nhau, tổng hợp cho biết những thông tin về hình dạng cấu trúc, chức
năng phục vụ quá trình chẩn đoán
Chất lượng thông tin của hình ảnh có liên quan đến mức độ gây tổn thương bởi bức
xạ Aûnh X quang có chất lượng tốt hơn nếu liều lượng bức xạ trong bệnh nhân cao,
ảnh cộng hưởng từ có thể có chất lượng cao hơn nếu thời gian thu nhận ảnh dài,
nghĩa là bệnh nhân chịu tác dụng của từ trường lớn trong thời gian dài, ảnh siêu âm
tốt hơn khi năng lượng siêu âm sử dụng cao hơn Liều lượng quá mức để thu được
một ảnh y khoa hoàn chỉnh sẽ không được chấp nhận Do đó việc tạo ảnh y khoa
phải có giải pháp thoả hiệp giữa an toàn bệnh nhân và chất lượng ảnh
3.1 TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP TẠO ẢNH X-QUANG [1, 2, 3, 4]
3.1.1 Tương tác của tia X với vật chất
Tia X nói chung là một phần của bức xạ gamma, bức xạ điện từ năng lượng cao với
bước sóng λ tương ứng với năng lượng trong khoảng từ 10keV – 300keV Khi xem
xét tương tác của tia gamma đối với vật chất, ta vận dụng thuyết photon của
Einstein xem tia gamma là tập hợp của các photon có năng lượng E = hν và động
lượng
c
h
p= ν
Khi đi qua môi trường vật chất, các photon tia gamma có thể truyền qua, tán xạ
hoặc bị hấp thụ Có bốn loại tương tác chính của photon tia gamma với vật chất: (a)
Tán xạ Rayleigh, (b) Tán xạ Compton, (c) Hiệu ứng quang điện, (d) Phản ứng tạo
cặp Trong đó ba loại tương tác đầu tiên đóng vai trò quan trọng đối với tương tác
tia X trong ngành X quang chẩn đoán và y học hạt nhân
Sau đây là các tương tác của tia X khi đi qua môi trường vật chất:
3.1.1.1 Tán xạ Rayleigh
Hình 3.1.1 Tán xạ Rayleigh
Trang 11Các photon tới trong tán xạ Rayleigh, còn gọi là tán xạ kết hợp (coherent) tương
tác và kích thích với toàn bộ nguyên tử, còn trong tán xạ Compton và hiệu ứng
quang điện, photon tương tác và kích thích với từng electron riêng lẻ Sự tương tác
này xảy ra chủ yếu ở các tia X dùng trong chẩn đoán có năng lượng thấp chẳng hạn
như trong lĩnh vực chụp vú (mammography) 15-30 keV Trong tán xạ Rayleigh,
năng lượng của photon tới được truyền toàn bộ cho các electron trong nguyên tử bia
dao động đồng bộ và bức xạ năng lượng phát ra một photon có cùng năng lượng với
photon tới nhưng lại theo hướng khác Do đó trong tương tác này, các electron
không bị bứt ra ngoài cho nên không xảy ra sự ion hoá
Tóm lại, góc tán xạ lớn thì năng lượng của tia X giảm Trong chụp ảnh y khoa, sự
tán xạ của tia X sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của ảnh Tuy nhiên tương tác này có
xác suất thấp trong khoảng năng lượng chẩn đoán Trong các mô mềm tương tác
này chiếm ít hơn 5% tương tác của tia X có năng lượng trên 70 keV và chỉ chiếm
khoảng 12% tương tác của photon ở mức năng lượng 30 keV
Tiết diện vi phân của tán xạ Rayleigh:
2 2
2
0 ( 1 cos ) ( , ) 2
d
r0 là bán kính cổ điển của electron, r0=2.8.10-13 cm
F(X,Z) là thừa số hình thức (form factor), F(X.Z) hay F(hν,θ,Z) phụ thuộc vào môi
trường (Z) và năng lượng của photon tới qua thông số X
rs r
r Z
X F
λπλ
ππ
Với: ρ(r) là mật độ electron
r là khoảng cách từ electron đến hạt nhân
s = 2sin(θ/2)
Ta có: dΩ = sinθ.dθ.dϕ (3.1.4) Từ (3.1.1) suy ra:
θπθ
θ
σ
sin 2 ) , ( ) cos 1 ( 2
r d
Công thức (3.1.5) có thể có được như sau:
) , ( ) ( )
, ,
Z X F d
d d
Z h
θ
θσθ
θν
trong đó
θ
θσ
d
d Th( ) là hàm phân bố Thompson theo góc θ và có giá trị:
θπθθ
θσ
sin 2 ) cos 1 ( 2
1 )
Trang 12Tỷ số
θ
σ
d
d đóng vai trò là hàm phân bố f(θ) Ta dùng công thức này để mô phỏng
tìm góc tán xạ θ của photon ứng với từng giá trị của năng lượng photon tới hν (hay
ứng với thông số X)
Tích phân (3.1.1) theo toàn bộ góc khối ta được biết tiết diện toàn phần của tán xạ
2
0 ( 1 cos ) ( , ) sin 2
1
d d Z
X F
Tán xạ Rayleigh mặc dù có xác suất thấp nhưng góp phần đáng kể đến sự nhoè
của ảnh X quang
3.1.1.2 Tán xạ Compton
Hình 3.1.2: Tán xạ Compton
Tán xạ Compton, còn gọi là tán xạ không kết hợp (incoherent), là tương tác chủ
yếu của các photon tia X và tia gamma với mô mềm trong khoảng năng lượng chẩn
đoán Tuy nhiên, trong thực tế tán xạ Compton không những chiếm ưu thế trong
khoảng năng lượng chẩn đoán trên 26 keV trong các mô mềm mà còn chiếm ưu thế
ở mức năng lượng chẩn đoán xấp xỉ 30 MeV Sự tương tác này hầu như xảy ra giữa
các photon và các electron lớp ngoài cùng làm cho các electron thoát ra khỏi
nguyên tử và các photon tới bị tán xạ do đó năng lượng và xung lượng sẽ bị biến
đổi Vì vậy năng lượng của photon tới được tính bằng công thức sau:
E = E’ – E
e-Do năng lượng liên kết của electron bứt ra tương đối nhỏ nên có thể bỏ qua
E’ = hν’ là năng lượng của photon tán xạ
Ee- = hν là năng lượng của photon tới
E’ được tính theo E và góc tán xạ θ:
Trang 13) cos 1 ( 1
1
'
θα
νν
− +
= h
) cos 1 ( 1
) cos 1 (
θα
θα
ν
− +
Khi năng lượng của photon tới giảm, photon tán xạ và electron tán xạ hướng gần
nhau hơn Trong chụp ảnh X quang, các photon được phát hiện bởi một máy thu do
đó giảm được sự tương phản của ảnh
Với góc tán xạ cố định, khi tăng năng lượng photon tới thì năng lượng photon tán
xạ giảm Do đó đối với những photon tới có năng lượng cao, phần lớn năng lượng
được truyền cho photon tán xạ Ví dụ, với một góc tán xạ 600, nếu năng lượng của
photon tới là 100 keV thì năng lượng của photon tán xạ chiếm 90%, nhưng nếu
năng lượng của photon tới là 5 MeV thì phần năng lượng truyền cho photon tán xạ
chỉ là 17%
Khi tán xạ Compton xảy ra với tia X năng lượng thấp, ứng dụng trong chụp ảnh
chẩn đoán (từ 18 đến 150 keV), phần lớn năng lượng của photon tới được truyền
cho photon tán xạ Ví dụ, tương tác Compton của một photon có năng lượng 80
keV, năng lượng nhỏ nhất của photon tán xạ là 61 keV Vì vậy, với sự mất mát
năng lượng lớn nhất, photon tán xạ vẫn có năng lượng tương đối cao và có khả
năng xuyên qua mô
Tiết diện vi phân của tán xạ Compton trên một electron được tính theo công thức
νν
'
2 ' 2
h h
h r d
13 2
e
r
e
ε
π cm là bán kính cổ điển của electron
Thay hν’ từ phương trình (3.1.10) vào phương trình (3.1.12) ta được:
− + +
− +
=
) cos 1 ( cos
1 ) cos 1 ( 1
1 2
2 2
2
θα
θθ
α
σ
r d
Tỷ số
Ω
d
d eσ đóng vai trò như hàm phân phối g(θ) hay hàm mật độ xác suất theo góc
tán xạ θ Ưùng với mỗi giá trị năng lượng xác định, từ hàm phân phối xác suất g(θ)
ta mô phỏng để tìm giá trị góc tán xạ θ
Đối với photon có năng lượng thấp, α << 1, phương trình trở thành:
) cos 1 ( 2
Tích phân phương trình (3.1.13) theo toàn bộ góc khối Ω ta được tiết diện tán xạ
Compton toàn phần:
0
) 2 1 (
3 1 ) 2 1 ln(
2
1 ) 2 1 ln(
1 2 1
) 1 ( 2 1 2
α
αα
α
αα
α
αα
απ
Trang 14Phương trình này chỉ là tiết diện tán xạ toàn phần trên một electron Để có tiết diện
tán xạ toàn phần trên một nguyên tử ta phải nhân tiết diện toàn phần của electron
với số Z của nguyên tử
Hình 3.1.3 Đồ thị minh hoạ xác suất tương đối của tán xạ Compton theo góc tán xạ
của photon có năng lượng 20, 80, 140 keV trong mô
Để hiệu ứng Compton có thể xảy ra, thì năng lượng photon tới phải cao hơn năng
lượng liên kết của electron Khi năng lượng của photon tới tăng, xác suất tán xạ
Compton tăng so với tán xạ Rayleigh và hấp thụ quang điện
Xác suất tán xạ phụ thuộc vào mật độ electron (số electron/g * mật độ) Vì vậy xác
suất của tán xạ Compton chỉ phụ thuộc vào Z và xác suất của tán xạ Compton trên
đơn vị thể tích thì tỷ lệ thuận với mật độ của vật liệu
Nguyên tử Hidro do không có nơtron do đó dẫn đến việc mật độ electron gần như
tăng gấp đôi so với các nguyên tố khác Vì thế, những vật liệu có Hidro có xác suất
tán xạ Compton cao hơn so với vật liệu không có Hidro cùng khối lượng
Tóm lại tiết diện tán xạ Compton, động năng của electron thay đổi theo năng lượng
của photon tia X tới và số Z của nguyên tử vật chất
Tán xạ Compton chính là tác nhân chủ yếu làm nhoè ảnh X-quang
3.1.1.3 Hiệu ứng quang điện
Hình 3.1.4 Hiệu ứng quang điện
Trang 15Trong hiệu ứng quang điện, toàn bộ năng lượng của photon tới được truyền cho
electron và electron này bứt ra khỏi nguyên tử Electron bị bứt ra được gọi là
electron quang điện, động năng của electron quang điện (Ee) bằng năng lượng của
photon tới trừ năng lượng liên kết của electron trên quỹ đạo (Eb)
Ee = E – Eb (3.1.16) Để hiệu ứng quang điện xảy ra, năng lượng của photon tới phải lớn hơn hoặc bằng
năng lượng liên kết của electron bứt ra Năng lượng liên kết lớn nhất của electron
cũng phải nhỏ hơn hoặc bằng năng lượng của photon tới Trong tương tác quang
điện, năng lượng bị ion hoá, tạo ra một lỗ trống ở lớp trong, lỗ trống này được lấp
đầy bởi một electron có năng lượng liên kết thấp hơn Điều đó tạo thành một lỗ
trống khác và lỗ trống này lại được lấp đầy bởi một electron ở lớp có năng lượng
thấp hơn, các electron từ ngoài vào trong Sự khác nhau về năng lượng liên kết
được giải phóng dưới dạng tia X đặc trưng hoặc electron Auger
Xác suất phát ra tia X đặc trưng giảm khi số nguyên tử Z của nguyên tử hấp thụ
càng nhỏ và vì thế nó không xảy thường xuyên đối với tương tác của các photon có
năng lượng trong khoảng năng lượng chẩn đoán trong các mô mềm
Xác suất xảy ra hiệu ứng quang điện lớn nhất đối với các electron có liên kết mạnh
nhất, tức là electron ở lớp K Khoảng 80% quá trình quang điện xảy ra ở lớp K
Tiết diện quang điện đối với electron ở lớp K được tính theo công thức:
2 7 5
16 13 61 10
09 ,
=
L
M K
L
σ
σσ
Xác suất hấp thụ quang điện trên một đơn vị khối lượng tỷ lệZ3/E3 với Z là số
nguyên tử và E là năng lượng của photon tới Ví dụ, xác suất quang điện của iode
(Z=53) gấp 18.6 lần canxi đối với một electron riêng biệt Lợi ích của hấp thụ
quang điện trong chụp ảnh do sự truyền tia X là không có những photon mới tạo ra
làm xấu ảnh Thực tế là xác suất tương tác quang điện tỷ lệ với 1/E3 Điều đó giải
thích tại sao sự tương phản của ảnh giảm khi năng lượng của tia X cao được sử
dụng trong quá trình chụp ảnh Nếu năng lượng của photon tăng gấp đôi thì xác
suất quang điện giảm 8 lần: (1/2)3 = 8
Nói chung, năng lượng của photon giảm thì xác suất hấp thụ quang điện giảm, có
một ngoại lệ Đồ thị của xác suất tán xạ là một hàm của năng lượng có hình dạng
không liên tục gọi là cạnh hấp thụ, xác suất của tương tác có năng lượng vừa trên
giới hạn hấp thụ một ít Ví dụ, photon tia X có năng lượng 33.1 đối với nguyên tử
iode
Như đã trình bày ở trên, một photon không thể chịu tương tác quang điện với
electron ở một lớp điện tử hoặc phân lớp nhất định nếu năng lượng photon nhỏ hơn
năng lượng liên kết của lớp hoặc phân lớp Điều này gây ra sự giảm đột ngột xác
suất hấp thụ quang điện đối với electron có năng lượng có vừa nhỏ hơn năng lượng
Trang 16liên kết của một lớp Vì vậy, năng lượng của photon tương ứng với một ngưỡng hấp
thụ là năng lượng liên kết của electron ở lớp hoặc phân lớp đó Giới hạn hấp thụ
được giới hạn bằng các chữ cái, tương ứng với lớp electron, theo sau là thứ tự của
các lớp hoặc phân lớp (ví dụ như K, L1, L2, L3,… ) Năng lượng của photon tương
ứng với giới hạn hấp thụ xác định tăng theo số nguyên tử Z của nguyên tố Ví dụ,
những nguyên tố chính cấu tạo nên những mô mềm (H, C, N) có giới hạn hấp thụ
dưới 1 KeV Nguyên tố iode (Z=53) và bari (Z=56), thường được sử dụng làm tác
nhân tương phản trong kỹ thuật X quang là tăng sự suy yếu của tia X, có ngưỡng
hấp thụ K là 33.2 và 37.4 keV Năng lượng ngưỡng K của chì là 88 keV
Đối với photon có năng lượng dưới 50 keV thì hiệu ứng quang điện đóng vai trò
quan trọng trong việc chụp ảnh các mô mềm Quá trình hấp thụ quang điện chiếm
ưu thế khi photon có năng lượng thấp tương tác với vật liệu có Z cao (hình 3.1.5)
Thực tế, hấp thụ quang điện là phương thức đầu tiên Ngược lại, tán xạ Compton sẽ
chiếm ưu thế ở hầu hết năng lượng chẩn đoán với vật liệu có số nguyên tử thấp hơn
như mô và không khí
Hình 3.1.5: Hệ số suy giảm khối lượng quang điện đối với mô (Z=7), iode (Z=53) và
bari (Z=56) như là một hàm của năng lượng Sự giảm đột ngột hệ số hấp thụ gọi là
“ngưỡng hấp thụ”, xảy ra do xác suất thấp thụ quang điện tăng khi năng lượng của
photon vừa lớn hơn năng lượng liên kết của electron lớp bên trong (như K < L <
M,…), vì vậy làm tăng số electron sẵn sàng cho tương tác Quá trình này có ý nghĩa
quan trọng đối với vật liệu có Z cao như iode, bari trong khoảng năng lượng chẩn
đoán
Trang 17Hình 3.1.6: Đồ thị phần trăm góp phần vào quá trình hấp thụ quang điện (phần trái)
và tương tác Compton (bên phải) với vật liệu khác nhau là một hàm của năng lượng
Khi photon có năng lượng chẩn đoán (năng lượng hiệu dụng của tia X dùng trong
chẩn đoán là từ 20 đến 80 keV; các photon trong kỹ thuật chụp ảnh y học hạt nhân
từ 70 đến 511 keV), tương tác với vật liệu có số nguyên tử thấp như mô mềm thì quá
trình Compton chiếm ưu thế
3.1.1.4 Phản ứng tạo cặp (pair production)
Phản ứng tạo cặp chỉ xảy ra khi năng lượng của tia gamma lớn hơn 1.02 MeV
Trong khi phản ứng tạo cặp, tia gamma tương tác với điện trường của hạt nhân
nguyên tử Năng lượng của photon được chuyển thành cặp electron – positron (hình
3.1.7) năng lượng nghỉ ứng với mỗi electron là 0.551 MeV, điều này giải thích tại
sao ngưỡng năng lượng cho phản ứng là 1.02 MeV Năng lượng của photon vượt
quá ngưỡng sẽ truyền cho các electron dưới dạng động năng Electron và positron
giảm năng lượng bằng kích thích hoặc ion hoá
Khi positron ở trạng thái nghỉ, nó sẽ tương tác với một electron nhiễm điện âm, tạo
ra hai bức xạ huỷ có năng lượng 0.511 MeV hướng ngược nhau
Phản ứng tạo cặp không quan trọng trong tạo ảnh X quang chẩn đoán vì cần một
năng lượng rất lớn thì nó mới xảy ra Thực tế, phản ứng tạo cặp không thể xảy ra
nếu năng lượng của photon nhỏ hơn ngưỡng năng lượng 1.02 MeV
Trang 18Hình 3.1.7: Phản ứng tạo cặp A: Biểu đồ mô tả quá trình tạo cặp, dưới ảnh hưởng
của hạt nhân nguyên tử, photon tới có năng lượng cao chuyển thành cặp vật chất và
phản vật chất Hai electron (positron và negatron) mất động năng dưới dạng kích
thích hoặc ion hoá vật chất mà nó truyền qua B: Tuy nhiên, khi positron đạt trạng
thái nghỉ, nó kết hợp với electron tạo ra hai bức xạ huỷ có năng lượng 511 keV
Xác suất xảy ra sự tạo cặp được đặc trưng bởi tiết diện tạo cặp Tia gamma tới có
năng lượng thấp, tiết diện toàn phần của phản ứng tạo cặp thay đổi theo năng
lượng và không phụ thuộc vào Z của vật liệu:
ln 9
27
2 183
ln 9
2r Z
= ΦXác suất xảy ra phản ứng tạo cặp tăng theo năng lượng tia gamma tới và gần như
tỷ lệ với Z2 của nguyên tử chất hấp thụ
Sau đây là hình vẽ tiết diện tán xạ từng thành phần và tiết diện tán xạ tổng cộng
đối với vật liệu cacbon:
Trang 19Hình 3.1.8: Tiết diện photon toàn phần σtot trong cacbon là một hàm theo năng
lượng, do sự đóng góp của các quá trình khác nhau: τ, hiệu ứng quang điện σcoh , tán
xạ kết hợp (tán xạ Rayleigh); σincoh , tán xạ không kết hợp (tán xạ Compton); κn,
phản ứng tạo cặp trong trường hạt nhân; κe , phản ứng tạo cặp, trường electron; σph ,
hấp thụ quang hạt nhân (photonuclear absorption) (hấp thụ hạt nhân theo sau sự
phát ra nơtron hoặc những hạt khác)
Hình 3.1.9: tiết diện photon toàn phần σtot trong chì là một hàm theo năng lượng
Trang 20Từ tiết diện toàn phần của các loại tương tác trên ta tính được hệ số hấp thụ tuyến
tính µ của vật liệu do loại tương tác đó theo công thức:
σρµ
Với NA = 6,023.10-23 là số Avogadro
ρ là khối lượng riêng của vật liệu
σ là tiết diện tán xạ toàn phần
3.1.2 Sự suy giảm khi tia X đi qua môi trường vật chất
Sự suy giảm tia X là sự mất đi các photon từ chùm tia X hoặc tia gamma khi nó
truyền qua vật chất, sự suy giảm này bao gồm cả sự hấp thụ và tán xạ Đối với
photon năng lượng thấp (<26 keV), hiệu ứng quang điện chiếm ưu thế trong quá
trình suy giảm ở các mô mềm Tuy nhiên, như đã trình bày, hiệu ứng quang điện
phụ thuộc vào năng lượng photon và chất hấp thụ Khi photon có năng lượng cao
tương tác với vật liệu có Z thấp (mô mềm), tán xạ Compton chiếm ưu thế Tán xạ
Rayleigh xảy ra trong quá trình chụp ảnh y khoa với xác suất thấp, chiếm 10%
tương tác trong ngành chụp tia X quang vú và 5% trong kỹ thuật chụp X quang
ngực Chỉ có những photon có năng lượng rất cao (>1.02 MeV), vượt quá khoảng
năng lượng của ngành X quang chẩn đoán và phản ứng tạo cặp mới góp phần vào
sự suy giảm
3.1.2.1 Hệ số suy giảm tuyến tính
Lượng photon mất đi từ chùm tia x hoặc tia gamma đơn sắc (có cùng năng lượng)
trên cùng một đơn vị dày của vật liệu được gọi là hệ số suy giảm tuyến tính (µ),
đơn vị là cm-1 Số photon di chuyển ra khỏi chùm tia khi truyền qua một bề mặt dày
nhỏ ∆x có thể được tính:
∆N = - µN∆x
Hình 3.1.10: Quá trình suy giảm của photon
Với N0 là số photon di chuyển đến vật liệu từ chùm tia, và N là số photon ra khỏi
vật liệu
Ví dụ photon có năng lượng 100 keV truyền qua các mô mềm, hệ số suy giảm
truyến tính là 0.016 mm-1 Điều này có nghĩa là, cứ 1000 photon tới qua bề dày
1mm của mô, có khoảng 16 photon bị tách ra khỏi chùm tia, cả bằng hấp thụ và tán
xạ
Trang 21Hình 3.1.11: Đồ thị hệ số suy giảm của tán xạ rayleigh, hấp thụ quang điện, phản
ứng tạo cặp và tổng hệ số suy giảm khối lượng đối với mô (Z=7) là một hàm của
năng lượng
N: số nguyên tử trong một đơn vị thể tích [m-3]
σ: tiết diện của một nguyên tử [m2]
dN = -nσNdx
µ = nσ [m-1]: hệ số suy giảm tuyến tính
Hình 3.1.12: Sự suy giảm của tia X khi đi qua môi trường vật chất
Đối với chùm photon tới đơn sắc đi qua tấm vật liệu dày hoặc mỏng, mối liên hệ
theo quy luật mũ giữa số photon tới (N0) và số photon truyền qua (N) bề dày x mà
không chịu sự tương tác nào:
N = N0.e-µ.x (3.1.22) Hệ số suy giảm tuyến tính bằng hệ số suy giảm tuyến tính thành phần của từng
Trang 22tuyến tính khi khoảng năng lượng của photon từ 30 đến 100 keV từ 1.16 đến 0.35
cm-1
Với một bề dày của vật liệu cố định, xác suất tương tác phụ thuộc vào số nguyên tử
mà tia X hoặc tia gamma tương tác trên một đơn vị khoảng cách Ví dụ nếu mật độ
(ρ [g/cm3]) tăng gấp đôi, các photon sẽ va chạm với gấp đôi số lượng nguyên tử
trên một đơn vị khoảng cách của vật liệu Vì vậy hệ số suy giảm tuyến tính tỷ lệ
với mật độ của vật liệu
Ví dụ: µNước > µNước đá > µHơi nước
Bảng 3.1.1: Mật độ vật liệu, số electron trên một đơn vị khối lượng, mật độ electron
và hệ số suy giảm tuyến tính (ở 50 keV) đối với một số vật liệu
Vật liệu Mật độ
[g/cm3] Electron trên đơn vị khối lượng
1 1.85
5.97 3.34 3.006 3.34 3.34 3.34 3.192
0.0005 0.002 0.0038 3.34 3.06 3.34 5.91
0.000028 0.000128 0.000290 0.193 0.196 1.214 0.573
Mối quan hệ giữa mật độ vật liệu, mật độ electron, số electron trên một đơn vị
khối lượng và hệ số suy giảm tuyến tính (ở 50 keV) đối với nhiều vật liệu được
trình bày ở bảng 3.1.1
3.1.2.2 Hệ số suy giảm khối lượng (β)
Với bề dày cho trước, xác suất tương tác phụ thuộc vào khối lượng nguyên tử trên
một đơn vị thể tích, sự phụ thuộc này được thể hiện qua hệ số suy giảm tuyến tính
chia cho mật độ vật liệu Hệ số suy giảm tuyến tính trên một đơn vị mật độ gọi là
hệ số suy giảm khối lượng:
Hệ số suy giảm tuyến tính thường được biểu diễn bằng đơn vị cm-1, trong khi đó
đơn vị của hệ số suy giảm khối lượng là cm2/g
Hệ số suy giảm khối lượng không phụ thuộc vào mật độ, vì thế với cùng một năng
lượng của photon thì:
µNước/ρNước = µNước đá/ρNước đá = µHơi nước/ρHơi nước (3.1.24)
Tuy nhiên trong ngành phóng xạ, chúng ta không thể so sánh các khối lượng bằng
nhau Thay vào đó, chúng ta so sánh các vùng khác nhau của ảnh tương ứng với sự
chiếu sáng của thể tích mô lân cận Vì thế, mật độ, khối lượng chứa trong một thể
tích nhất định đóng vai trò quan trọng Do đó chúng ta có thể hình dung được nước
Hệ số suy giảm
khối lượng (µ/ρ) [cm 2 /g] =
Hệ số suy giảm tuyến tính (µ) [cm -1 ] Mật độ vật liệu (ρ) [g/cm -3 ] (3.1.23)
Trang 23đá trong một ly nước bằng kỹ thuật X quang do sự khác nhau về mật độ nước đá và
nước trong môi trường xung quanh Do mật độ của nước lớn hơn nước đá nên các
photon ít bị suy giảm hơn so với nước đá, do đó những vị trí ứng với ảnh đen hơn so
với phần nước đá
Hình 3.1.13: Hình X quang một cục đá trong nước
Để tính hệ số suy giảm tuyến tính với mật độ khác 1g/cm3, ta lấy mật độ cần quan
tâm là ρ nhân với hệ số suy giảm khối lượng của không khí đối với photon 60 keV
là 0.186 cm2/g trong điều kiện phòng, mật độ không khí là 0.001293 g/cm3 Do đó,
hệ số suy giảm tuyến tính của không khí ở điều kiện này là:
µ = (µ/ρ)ρ = βρ = (0.186 cm2/g)(0.001293 g/cm3) = 0.000241 cm-1 (3.1.25)
để sử dụng hệ số suy giảm khối lượng khi tính sự suy giảm, công thức (3.1.22) có
thể được viết lại như sau:
N = N0.e-(µ/ρ)ρ
Vì công dụng của hệ số suy giảm khối lượng rất phổ biến, các nhà khoa học trong
lĩnh vực này thường nghĩ về độ dày, không phải là một khoảng cách tuyến tính x
(cm) mà là khoảng khối lượng chia cho đơn vị diện tích ρx (g/cm2) ρx được gọi là
độ dày khối lượng (mass thickness) hoặc là độ dày diện tích (areal thickness)
3.1.2.3 Lớp bán trị (the half value layer)
Lớp bán trị (HVL) được là bề dày của vật liệu cần thiết để giảm cường độ chùm tia
X hoặc tia gamma một nửa so với giá trị ban đầu Lớp bán trị đối với một chùm tia
là sự đo gián tiếp năng lượng của photon của chùm tia khi đo bằng chùm tia có
dạng hẹp hoặc rộng Chùm tia hẹp là do cấu hình thí nghiệm được thiết kế sao cho
các photon tán xạ không đến được đầu dò (hình 3.1.14a) Đối với chùm tia rộng thì
chùm ta đủ rộng để một phần đáng kể photon tán xạ của chùm tia vẫn đến được
đầu dò dẫn đến việc đánh giá sai về sự suy giảm (hình 3.1.14b)
Trang 24Hình 3.1.14a Hình 3.1.14b
Hầu hết những ứng dụng thực tế của sự suy giảm (như chụp ảnh bệnh nhân) xảy ra
đối với chùm tia rộng
Lớp trị 10 (the tenth value layer) (TVL) cũng tương tự như lớp bán trị, nhưng bề
dày của vật liệu phải cần thiết để làm giảm cường độ chùm tia 10 lần so với giá trị
ban đầu TVL thường được sử dụng trong tính toán thiết kế màn chắn phòng tia X
Đối với những photon đơn trị ở điều kiện hình dạng chùm tia hẹp, xác suất suy
giảm giống như từng bề dày HVL cộng lại đặt trong chùm tia Sự giảm cường độ
của chùm tia có thể được biểu diễn (1/2)n, trong đó n bằng với số HVL Ví dụ, phần
photon đơn trị truyền qua 5 HVL của vật liệu là:
1/2x1/2x1/2x1/2x1/2 = (1/2)5 = 0.031 hay 31%
Vì vậy, 97% photon bị suy giảm (ra khỏi chùm tia) HVL của một chùm tia X chẩn
đoán, được đo bằng milimet nhôm trong trường hợp chùm tia hẹp, là số đo thay thế
cho năng lượng trung bình của photon trong chùm tia
Việc hiểu mối quan hệ giữa µ và HVL rất quan trọng Trong công thức (3.1.25) N
bằng N0/2 khi bề dày của vật hấp thụ bằng 1 HVL Vì vậy, đối với một chùm đơn
trị:
N0/2 = N0e-µ(HVL)1/2 = e-µ(HVL)ln(1/2) = ln e-µ(HVL) -0.693 = -µ(HVL)
HVL = 0.693/µ Đối với chùm photon tới đơn trị, HVL có thể tính dễ dàng từ hệ số suy giảm tuyến
tính và ngược lại
Những lớp bán trị đối với photon từ hai loại thuốc phóng xạ chẩn đoán thường được
sử dụng là Tali (Tl 201) và Tecnetium-99m (nguyên tố phóng xạ nhân tạo) (Tc
99m) được liệt kê đối với mô, nhôm và chì ở bảng 3.1.2 Vì vậy, HVL là một hàm
của (a) năng lượng photon, (b) hình dạng chùm tia, (c) vật liệu làm suy giảm
Bảng 3.1.2: Lớp bán trị của mô, nhôm và chì đối với tia X và tia gamma thường được
dùng trong tạo ảnh chẩn đoán
Trang 25Lớp bán trị (mm) Nguồn photon
Mô Nhôm Chì Tia X, 70 keV (Tl 201)
Tia gamma, 140 keV (Tc 99m) 37 44 11 18 0.2 0.3
3.1.2.4 Năng lượng hiệu dụng (effective energy)
Do tính đặc trưng của nguyên nhân tạo ra tia X, tia X sử dụng trong ngành X quang
thường có phổ năng lượng liên tục trải dài trong một khoảng năng lượng nào đó,
cho nên trong thực tiễn, người ta thường xác định độ mạnh yếu về năng lượng (còn
gọi là độ cứng, mềm) của nguồn tia X thông qua việc đo HVL (đo bằng mmAl)
bằng thực nghiệm để xác định một đại lượng đặc trưng, gọi là năng lượng hiệu
dụng Năng lượng hiệu dụng của chùm tia X, giống như nếu nó là chùm tia đơn sắc
Quan hệ giữa HVL (bằng mmAl) và năng lượng hiệu dụng được ghi ở bảng 3.1.3
Bảng 3.1.3: Lớp bán trị (HVL) là một hàm của năng lượng hiệu dụng của chùm tia X
HVL (mmAl) Năng lượng hiệu dụng 0.26
0.39 0.55 0.75 0.98 1.25 1.54 1.90 2.27 3.34 4.52 5.76 6.97 9.24 11.15 12.73 14.01 15.06
3.1.2.5 Quãng đường tự do trung bình (mean free path)
Chúng ta không thể tiên đoán khoảng dừng (range) của một electron riêng lẻ trong
vật chất, phạm vi có thể từ 0 đến vô cùng Tuy nhiên, khoảng cách trung bình đi
được trước khi tương tác xảy ra có thể tính từ hệ số suy giảm tuyến tính hoặc HVL
của chùm Chiều dài này được gọi là quãng đường tự do trung bình (mean free
path: MFP), được tính như sau:
MFP = 1/µ = 1/(0.693/HVL) = 1.44 HVL (3.1.26)
3.1.2.6 Phương pháp làm cứng chùm tia (beam hardening)
Trang 26Những photon có năng lượng thấp hơn của chùm tia X đa sắc sẽ được ưu tiên tách
khỏi chùm tia khi truyền qua vật chất Sự thay đội phổ tia X sang năng lượng hiệu
dụng cao hơn khi chùm tia truyền qua vật chất gọi là làm cứng chùm tia (hình 2.7)
Tia X có năng lượng thấp (mềm) sẽ không thể xuyên qua hầu hết các mô trong cơ
thể; vì vậy, sự tách ra (di chuyển đi) của chúng (tia X có năng lượng thấp) làm
giảm liều lượng chiếu sáng của bệnh nhân mà không làm ảnh hưởng đến chất
lượng của cuộc xét nghiệm Những máy tia X tách ra hầu hết những bức xạ mềm
với một thiết bị lọc, đó là một tấm nhôm mỏng hay là những vật liệu khác được đặt
trong chùm tia Sự lọc này làm cho chùm tia có năng lượng hiệu dụng cao hơn, vì
vậy mà HVL lớn hơn
Hệ số đồng nhất (homogeneity coefficient) là tỷ số giữa HVL đầu tiên và lần 2 (sơ
cấp và thứ cấp) và nó mô tả đặc điểm đa sắc của chùm tia HVL đầu tiên là bề dày
làm giảm 50% cường độ chùm tia tới và HVL lần hai là làm giảm 25% cường độ
ban đầu [(0.5)(0.5) = 0.25] Một nguồn đơn sắc của tia gamma có hệ số đồng nhất
bằng 1
Năng lượng tia X lớn nhất của phổ đa sắc có thể tính bằng cách kiểm tra định lượng
hệ số đồng nhất của hai chùm tia được lọc (ví dụ như 15 hoặc 16 lần HVL) Khi hệ
số này đạt đến 1, chùm tia có năng lượng đơn trị (đơn sắc) Đo µ của vật liệu và
tính toán để biết giá trị µ cho trường hợp chùm tia có năng lượng đơn trị sẽ cho giá
trị gần đúng của năng lượng cực đại
Năng lượng hiệu dụng (trung bình) của một chùm tia X của một ống tia X chẩn
đoán tiêu biểu bằng 1/3 hoặc một nửa giá trị năng lượng cực đại và đưa đến tăng µ
“hiệu dụng” hệ số suy giảm được tính nếu chùm tia là đơn trị có năng lượng “hiệu
dụng”
Hình 3.1.15: Làm cứng chùm tia là kết quả của sự hấp thụ ưu tiên những photon có
năng lượng thấp hơn khi chúng truyền qua vật chất
3.1.3 Cơ sở chụp ảnh X quang bằng phim
3.1.3.1 Phương pháp X quang truyền qua (projection radiography)
Chẩn đoán X quang (radiography) là kỹ thuật tạo ảnh y học đầu tiên khi nhà vật lý
Roentgen phát minh ra tia X và chính ông đã tạo ra ảnh tia X đầu tiên
Tạo ảnh X quang được thực hiện khi nguồn tia X ở một bên bệnh nhân và một đầu
dò ở phía kia Một xung tia X cực ngắn được tạo ra từ ống tia X, phần lớn tia X
tương tác với bệnh nhân và một ít tia X qua bệnh nhân và đập vào đầu dò Các tia
Trang 27X bị hấp thụ hoặc tán xạ Do đặc tính suy yếu của các mô như xương, mô mềm và
khí trong bệnh nhân là khác nhau, dẫn đến sự phân bố không đồng nhất của tia X
ló ra từ bệnh nhân Aûnh X quang là bức tranh của sự phân bố tia X Đầu dò được
dùng trong ngành phóng xạ có thể là phim ảnh (photographic film), màn huỳnh
quang hay các tế bào cảm quang điện tử (CCD)
Tạo ảnh truyền qua (transmission imaging) là nói đến việc tạo ảnh mà trong đó
nguồn năng lượng ở ngoài cơ thể và ở một bên, năng lượng được truyền qua cơ thể
và được tiếp nhận bởi đầu dò ở phía kia cơ thể Tạo ảnh truyền qua như X quang
khác với tạo ảnh phát xạ (emission imaging) trong y học hạt nhân và tạo ảnh dựa
vào sự phản xạ (reflection - based imaging) trong tạo ảnh siêu âm lâm sàng Aûnh X
quang truyền qua là ảnh hai chiều của giải phẫu cơ thể ba chiều
Trong ngành tạo ảnh X quang bằng phim, mật độ quang học (OD, đo độ tối của
phim) ở một vị trí xác định trên phim được xác định bằng đặc điểm suy giảm của
bức xạ dọc theo đường thẳng qua cơ thể giữa nguồn tia X và vị trí tương ứng trên
đầu dò Phim đánh dấu ghi lại phân bố tia X thay đổi theo mức độ suy giảm của
bức xạ tuỳ theo cấu trúc giải phẫu của bệnh nhân cho ta thông tin về cơ quan bị
chiếu
3.1.3.2 Nguyên tắc hình học cơ bản của việc tạo ảnh
Trong phương pháp X quang truyền qua, để xác định độ phóng đại của ảnh ta dùng
tam giác đồng dạng, ta có các tỷ số:
C
c B
b A
a = = và
G
g F
f E
e D
Hình 3.1.16: Các tam giác đồng dạng
Sự phóng xạ của hình ảnh xảy ra khi chùm tia phân kỳ đi từ vệt tiêu đến mặt phẳng
ảnh Trong trường hợp nguồn điểm, từ hình 3.1.18 thấy rằng độ phóng đại của cỡ
ảnh (I) liên hệ với kích cỡ của vật (O) là một hàm theo khoảng cách từ nguồn đến
ảnh (SID), khoảng cách từ nguồn đến vật (SOD), khoảng cách từ vật đến ảnh
(OID) Độ phóng đại M được định nghĩa như sau:
O I
Trang 28Với O là chiều dài của vật và I là chiều dài tương ứng của ảnh phát quang Từ tam
giác đồng dạng:
SOD
SID O
I
Độ phóng đại lớn nhất khi vật gần với vệt tiêu và bằng một khi vật trùng với mặt
phẳng ảnh
Một nguồn rộng, như vệt tiêu của ống tia X, có thể được xem như một số lượng lớn
nhiều nguồn điểm Hình 3.1.17 biểu diễn hai nguồn điểm ở biên và một nguồn
điểm ở trung tâm Với độ phóng đại, độ mờ hình học của vật xảy ra trên ảnh Gọi f
là độ mờ gradient của rìa trong trường hợp độ phóng đại là M và kích cỡ của vệt
SOD SID SOD
OID F
Do đó: f = F(M-1)
Từ đây ta thấy rằng độ mờ tăng theo kích cỡ vệt tiêu và độ phóng đại Do đó, độ
mờ của điểm tiêu có thể giảm thiểu bằng cách giữ vật gần với mặt phẳng ảnh
Hình 3.1.17: Độ phóng đại của vật đối với nguồn điểm và nguồn rộng
3.1.3.3 Bức xạ tán xạ trong ngành X quang truyền qua
Năng lượng tia X được sử dụng trong lĩnh vực X quang nói chung có giá trị trong
khoảng 15 đến 120 keV Trong mô, xác suất tán xạ Compton và hiệu ứng quang
điện bằng nhau ở 26 keV Trên 26 keV, tán xạ Compton chiếm ưu thế Đối với các
vật liệu có số nguyên tử trung bình lớn (xương), xác suất của hiệu ứng quang điện
và tương tác Compton bằng nhau ở 35 keV Do đó, trong hầu hết các quy trình tạo
ảnh X quang trừ ngành X quang vú, tương tác Compton trên mô mềm luôn tạo ra
các photon tia X tán xạ
Các photon tán xạ là điều bất lợi trong tạo ảnh X quang vì tạo ảnh X quang là tạo
ảnh truyền qua, thông tin trên ảnh X quang dựa vào quỹ đạo thẳng của photon
Để thấy mức độ tán xạ của các photon, người ta đưa ra tỷ số giữa photon tán xạ (S)
và photon ban đầu (P): S/P Tỷ số này phụ thuộc vào diện tích của trường tia X (thị
trường: field of view), bề dày (thickness) của bệnh nhân và năng lượng của tia X
Khi tỷ số này là 3, khi đập vào đầu dò, có 75% photon mang theo rất ít hoặc không
Trang 29mang theo những thông tin liên quan đến bệnh nhân Bệnh nhân càng mập thì tỷ số
này càng cao
Hình 3.1.18: A: Các photon tán xạ vi phạm nguyên tắc cơ bản của tạo ảnh X quang
B: Tỷ số S/P cho biết số photon tán xạ ứng với số photon ban đầu, hình vẽ có 3
photon ban đầu ứng với đường liền nét và 9 photon tán xạ (đường đứt) C: Sự phụ
thuộc của tỷ số S/P (SPR) vào thị trường đối với các bệnh nhân có bề dày (T) khác
nhau
Để giảm hệ số tán xạ, ta có thể giảm thị trường bằng cách chuẩn trực và chú ý đến
phần giải phẫu quan tâm Làm như vậy thì độ tương phản sẽ cao
Lưới chống tán xạ (antiscatter grid)
Lưới chống tán xạ được dùng để khắc phục sự tán xạ trong ngành X quang chẩn
đoán Lưới được đặt giữa bệnh nhân và băng đựng phim, nó làm giảm lượng photon
tán xạ đến đầu dò
Hình 3.1.19: Mô hình lưới tán xạ được sử dụng trong ngành X quang
Nguồn bức xạ ban đầu từ vệt tiêu tia X, trong khi những bức xạ, tán xạ bắt nguồn từ những vị trí khác nhau không thể tính được của bệnh nhân
Lưới chống tán xạ bao gồm một dãy các khe hở đồng quy với vệt tiêu, các khe hở được chia bởi các vết ngăn làm bằng vật liệu có hệ số hấp thụ cao (Pb), lưới có độ dày cỡ 3 mm gồm cả phần trên cùng và dưới cùng của lưới Các vách ngăn (thanh của lưới: grid bars) được làm bằng chì Vì các khe hở của lưới thẳng hàng với vệt tiêu (nguồn của bức xạ ban đầu) nên các
bức xạ ban đầu qua lưới mà không bị suy yếu còn các photon tán xạ bị hấp thụ bởi
chì của vách ngăn Khoảng trống bên trong (interspaces) thường được làm bằng sợi
cacbon, nhôm và thậm chí là giấy
Trang 30Lưới tán xạ tiêu biểu được biểu diễn ở hình 3.1.20 Có nhiều thông số để mô tả
cách thiết kế lưới, yếu tố quan trọng nhất là tỷ số lưới (grid ratio), tiêu cự (focal
length), tần số lưới (grid frequency) và một số yếu tố khác
Hình 3.1.20: Cấu trúc chi tiết của lưới có tiêu cự vô cùng (tia X song song) Bề dày
của lưới 10:1 là 1.20 mm, tuy nhiên tất cả các lưới được bao hai bên bởi nhôm hoặc
sợi cacbon làm giá đỡ, làm cho bề dày tổng cộng của lưới là 3 mm
Tỷ số lưới
Tỷ số lưới là tỷ số chiều cao và bề rộng của khoảng trống bên trong Trong ngành
X quang nói chung thì tỷ số lưới thông thường nhất là 8:1, 10:1 và 12:1 Lưới là
thiết bị chuẩn trực một chiều, tăng tỷ số lưới dẫn đến tăng mức độ chuẩn trực Khi
tỷ số lưới cao, khả năng loại trừ tán xạ tăng nhưng lại tăng liều lượng của bệnh
nhân
Lưới có hiệu suất làm sạch (clearup) tán xạ khi các photon đập vào lưới với góc lớn
và có hiệu suất là sạch tán xạ thấp với tán xạ có góc nhỏ Khi không có lưới, bức
xạ tán xạ đến đầu dò với góc tới từ 0 đến 900 Tất cả lưới đều hiệu quả trong việc
di dời các photon tán xạ có góc tới lớn (từ 700 đến 900) Tỷ số tán xạ càng lớn thì
lưới sẽ hấp thụ được nhiều photon tán xạ
Tiêu cự (focal length)
Tiêu cự của lưới được xác định dựa vào độ nghiêng của các khe hở (hình 3.1.19)
Lưới có tiêu cự vô cùng, không có độ nghiêng (ví dụ như các khoảng bên trong
song song) Trong ngành X quang nói chung, tiêu cự của lưới tiêu biểu là 100 cm
(40 inches) và 183 cm (72 inches) đối với ngành X quang sườn
Nếu như lưới đứng yên, nó sẽ in bóng của những đường song song nhỏ lên ảnh Để
khắc phục điều này, lưới có thể được di chuyển theo hướng vuông góc với hướng
của khe hở Một dụng cụ để di chuyển lưới trong tạo ảnh X quang được gọi là
Bucky
Tần số lưới (grid frequency)
Trang 31Tần số lưới là số thanh lưới trên một đơn vị chiều dài Lưới có 40 hay 60 đường
trên một centimet là thông dụng nhất Lưới có 80 đường trên một centimet là tốt
nhưng đắt
Vật liệu của khoảng trống bên trong (interspace material)
Vật liệu này có ảnh hưởng đến hiệu suất liều lượng của lưới, khoảng không bên
trong là không khí nhưng không thể được, vật liệu thường dùng là nhôm, sợi cacbon
tốt hơn nhưng đắt tiền
Trang 323.2 TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP TẠO ẢNH SIÊU ÂM [1, 2, 3, 5, 6]
3.2.1 ỨNG DỤNG SÓNG SIÊU ÂM TRONG Y TẾ
Sóng siêu âm được ứng dụng rộng rãi trong hai lĩnh vực y tế, đó là:
• Siêu âm chẩn đoán: thực chất là tạo hình bằng siêu âm Sử dụng phổ biến ba
tần số chuẩn: 3,5MHz, 5MHz, 7,5MHz ngoài ra người ta còn sử dụng các
tần số khác trong các đầu dò chuyên biệt, như: đầu dò siêu âm nội mạch
(Intraluminal), siêu âm da liễu (Dermotological) sử dụng tần số từ (40 – 50)
MHz…
• Siêu âm trị liệu: tạo hiệu ứng nhiệt, xoa bóp, kích thích cơ Có thể dùng
riêng hoặc kết hợp với điện trị liệu (trong các máy kích thích điện) để tìm
điểm phát bệnh – điểm gốc (trigger) Tần số thường dùng trong khoảng (700
– 900) KHz tuỳ theo thế hệ máy Công suất đầu dò (1 - 4)W/cm2 (gấp cỡ
1000 lần so với siêu âm chẩn đoán)
3.2.2 CƠ SỞ VẬT LÝ VÀ KỸ THUẬT CỦA PHƯƠNG PHÁP TẠO ẢNH BẰNG
SIÊU ÂM
3.2.2.1 CƠ SỞ VẬT LÝ CỦA PHƯƠNG PHÁP VÀ CÁC YẾU TỐ QUYẾT
ĐỊNH
Tạo hình bằng siêu âm được đưa vào ứng dụng trong chẩn đoán y học từ những
năm 50 Cơ sở của nó chính là sự phản hồi của sóng siêu âm từ những tổ chức trong
cơ thể, sự phản hồi này phụ thuộc vào:
• Tốc độ truyền sóng âm của môi trường
• Trở kháng âm của môi trường
• Sự hấp thụ của tổ chức
• Thông số (f, λ) của sóng siêu âm và cấu trúc hình dọc của tổ chức
3.2.2.1.1 Tốc độ truyền của sóng siêu âm
Đôi khi còn được ký hiệu là “c” đôi khi còn phụ thuộc vào môi trường truyền Vận
tốc truyền của sóng siêu âm trong những môi trường khác nhau thì không giống
nhau Tốc độ truyền trung bình của sóng siêu âm trong các tổ chức phần mềm v ≈
1540 m/s Biết được vận tốc truyền, khi đo thời gian đi và về của sóng siêu âm, ta
có thể định vị rõ bề mặt phản xạ
3.2.2.1.2 Trở kháng âm của môi trường và các định luật truyền âm
a Trở kháng âm Z:
Trở kháng âm là độ vang hay độ dội của sóng âm trong môi trường:
Z = c ρ [rayls]
Trong đó: c: vận tốc lan truyền sóng âm trong môi trường [m/s]
ρ: mật độ của môi trường [kg/m3] Trở kháng âm có vai trò quyết định đối với biên độ sóng phản xạ trên mặt phân
cách giữa hai môi trường
Trang 33Bảng 3.2.1: Trở kháng âm của một số môi trường sinh học
b Sự phản hồi và sự khúc xạ
Aâm được truyền đi theo những tia gọi là tia âm Thí nghiệm chứng tỏ tia âm cũng
có thể bị phản xạ, khúc xạ, tán xạ và hấp thụ như tia sáng
Phản xạ và khúc xạ: khi sóng âm truyền trong môi trường đồng nhất và đẳng
hướng, nó sẽ truyền theo phương thẳng, khi gặp mặt phân cách đủ lớn giữa hai môi
trường có âm trở kháng khác nhau, tức là có vận tốc truyền âm khác nhau, tia âm
sẽ tuân theo định luật phản xạ và khúc xạ Một phần năng lượng của sóng âm sẽ
phản xạ ngược trở lại và phần còn lại sẽ truyền tiếp vào môi trường thứ hai
Độ lớn của năng lượng phản xạ phụ thuộc vào sự khác biệt của trở kháng âm ∆Z
giữa hai môi trường Hệ số phản xạ K được tính theo công thức:
2
1 2
1 2
cos cos
cos cos
i t
i
r
Z Z
Z Z
P
P K
θ θ
θ θ
Trong đó:
θi : góc tới
θr : góc phản xạ
θt : góc khúc xạ
Pr : biên độ áp lực của sóng phản hồi
Pi : biên độ áp lực sóng tới
Z1, Z2 : trở kháng âm của hai môi trường
Hình 3.2.1: Sự phản xạ và khúc xạ
Ơû đây sẽ xảy ra hai trường hợp:
Trường hợp 1: tia tới vuông góc với mặt phân cách: θi = θr = 0
Z 2 , C 2
θ t
θ I θ r
Z 1 , C 1
Tia khúc xạ
Trang 34Hệ số phản hồi của mặt phân cách sẽ được tính theo công thức: cosθi = cosθr = 1,
nên:
2
1 2
1 2
−
=
Z Z
Z Z K
Trường hợp 2: tia tới tạo một góc θi ≠ 0 theo định luật phản xạ, góc phản xạ
bằng góc tới θi = θr sóng truyền tiếp lúc này không còn cùng hướng với góc
tới và tạo một góc θi ≠ θt, hiện tượng này gọi là hiện tượng khúc xạ, góc
khúc xạ θt phụ thuộc vào vận tốc truyền âm trong hai môi trường và được
xác định bởi công thức:
i t
Với C2 > C1 , khi sinθi = C1/C2, ta có θicritic = arcsin(C1/C2), thì sinθt = 1 và θt = 900
hiện tượng này gọi là hiện tượng phản xạ toàn phần Như vậy với tất cả các góc θi
≥ θicritic sóng âm sẽ không khúc xạ được sang môi trường thứ hai bên kia mặt phân
cách và toàn bộ năng lượng được phản xạ trở lại môi trường thứ nhất
Ngoài ra, dù với C2 > C1 hay C2 < C1, nếu góc tới θ ≈ 900 (tia tới đi gần như tiếp
tuyến với mặt phân cách) thì sóng âm chỉ trượt trên bề mặt phân cách mà không
truyền tiếp vào môi trường thứ hai
Cả hai hiện tượng trên (phản xạ toàn phần và tia tới truyền tiếp tuyến trên mặt
phân cách) giải thích cho sự xuất hiện bóng lưng bên (lateral shadowing) ở những
cấu trúc hình cầu và mặt cắt ngang cấu trúc ống
Từ hai công thức nêu trên ta thấy hệ số phản hồi của mặt phân cách giữa hai môi
trường phụ thuộc vào ∆Z = Z1 – Z2 giữa hai môi trường
∆Z càng lớn thì năng lượng phản xạ càng lớn và chỉ còn một phần rất nhỏ năng
lượng sóng siêu âm đi được xuống môi trường bên dưới mặt phân cách Nếu ∆Z là
vừa để để nhận biết mặt phân cách thì một phần lớn năng lượng của sóng siêu âm
sẽ truyền được xuống dưới mặt phân cách và tiếp tục cho thêm thông tin về cấu
trúc bên dưới
Nhìn vào bảng 3.2.1 ta thấy, ∆Z giữa mô mềm và không khí hoặc mô mềm và
xương rất lớn, do đó trong ghi hình siêu âm nếu sóng siêu âm gặp những mặt phân
cách này thì hầu hết năng lượng sẽ bị phản xạ trở lại, sóng truyền tiếp sẽ rất nhỏ
và ta sẽ không nhận được thông tin từ cấu trúc bên dưới mặt phân cách này, đó
cũng chính là lý do tại sao trong siêu âm chẩn đoán ta phải dùng gel tiếp xúc,
nhằm tạo ra tiếp xúc không có không khí – Airless contact
c Sự tán xạ
Một hiện tượng quan trọng khác trong tạo hình bằng siêu âm đó là hiện tượng tán
xạ của siêu âm khi gặp các cấu trúc nhỏ (có kích thước ∅ << λ) hoặc với bề mặt
không đồng đều, khi đó tia siêu âm sẽ bị tán xạ đi khắp các hướng và chỉ có một
phần rất nhỏ chắc chắn tới được đầu dò Tuy vậy, mặc dù việc ghi nhận các tia tán
xạ là rất khó khăn, song chúng ta cũng phải thừa nhận rằng chúng có một lợi thế
đó là không phụ thuộc vào góc tới của tia siêu âm và rất quan trọng trong việc
Trang 35đánh giá các cấu trúc nhỏ, ví dụ như độ đồng đều của nhu mô gan, tụy hay vách
đánh liên thất… và các máy siêu âm chẩn đoán ngày nay chủ yếu làm việc trên các
tia tán xạ
Hình 3.2.2: Sự tán xạ
3.2.2.1.3 Sự hấp thụ của các tổ chức và độ suy giảm năng lượng của tia siêu âm,
khuếch đại bù
Khi sóng âm truyền đi trong tổ chức thì biên độ và năng lượng của tia siêu âm bị
suy giảm theo khoảng cách Hình 3.2.3, biểu diễn sự suy giảm của biên độ áp âm
theo khoảng cách, sự suy giảm này tuân theo hàm số:
z f
e p z
0 ) ( = −α
Trong đó: p: biên độ áp âm
p0 = p(z = 0) α: hệ số suy giảm âm của môi trường truyền f: tần số của sóng siêu âm
z: độ sâu cần tới
Các nguyên nhân gây ra sự suy giảm năng lượng của tia siêu âm, đó là:
• Sự phản xạ và tán xạ trên các tổ chức
• Sự hấp thụ của môi trường do một phần năng lượng của tia siêu âm bị
chuyển đổi thành năng lượng của các dao động nhiệt, nhưng trong siêu âm
chẩn đoán, phần năng lượng này quá nhỏ và không thể gây ra các biến đổi
về nhiệt độ
Mức độ suy giảm năng lượng này thường được tính bằng [dB] hay [dB/cm], đơn vị
đo này được hiểu như sau: ví dụ tại khoảng cách z1 biên độ của áp âm là p1; ở
khoảng cách z2 biên độ đó là p2; ta nói khi đi từ z1 đến z2 biên độ áp âm đã bị suy
giảm đi D [dB], với D được tính theo công thức:
D[dB] = 20 log (p2/p1) Đối với mô mềm và f = 0,2 MHz – 100 MHz, có thể áp dụng công thức gần đúng
sau:
Độ suy giảm D[dB] = f[MHz] x z[cm] x α
Trang 36Hình 3.2.3: Sự suy giảm của năng lượng chùm tia theo khoảng cách
Bảng 3.2.2: Tính chất âm học của một số môi trường sinh học
Môi trường Mật độ
[kg/m3x103] Vận tốc [m/s] H/p dist at 2MHz [cm] Attenuat at 1MHz [dB/cm]
Trên bảng 3.2.2 có đưa ra sự suy giảm của sóng siêu âm trong một số môi trường
khác nhau Ta thấy năng lượng siêu âm bị giảm mạnh trong môi trường không khí
và xương còn với mô mềm, sự suy giảm này nằm trong khoảng 0,4 – 1 [dB/cm]
Trang 37Từ công thức trên, ta thấy sự suy giảm này cũng phụ thuộc rất nhiều vào tần số,
gần như tỷ lệ thuận với tần số Sự phụ thuộc này là một trong những hạn chế của
siêu âm chẩn đoán, bởi như ta sẽ thấy dưới đây tần số càng cao sẽ cho độ phân giải
càng cao song độ suy giảm cũng cao và do đó độ dâm sâu càng kém
3.2.2.1.4 Thông số của sóng siêu âm và kích thước hình học của tổ chức
Vì sóng siêu âm phản xạ trên mặt phân cách do đó năng lượng phản xạ còn phụ
thuộc vào kích thước của mặt phân cách và độ dài bước sóng của chùm tia Nếu ta
đặt một vật rắn chìm vào trong môi trường chất lỏng thì năng lượng phản xạ từ vật
đó phụ thuộc vào kích thước của vật so với độ dài bước sóng siêu âm Vật phải có
độ dài ít nhất lớn hơn λ/4 thì mới có khả năng phản xạ sóng siêu âm Do đó sóng
siêu âm có tần số càng cao, tức là λ càng nhỏ thì càng dễ phát hiện và phân biệt
được các vật nhỏ song cũng do đó mà khó vào được sâu Người ta đưa ra khái niệm
“Haft power distance” – khoảng giảm nửa năng lượng – để chỉ khoảng cách mà tia
siêu âm có thể đi được cho tới khi năng lượng của chùm tia giảm đi còn một nửa
Với cùng một loại đầu dò trong những điều kiện như nhau thì đại lượng này là khác
nhau Trên bảng 3.2.2 là khoảng cách giảm nửa của một số môi trường tiêu biểu
3.2.2.2 Kỹ thuật của phương pháp tạo hình bằng siêu âm
3.2.2.2.1 Nguyên lý tạo ảnh
Đầu dò khi được kích thích bởi xung điện với chiều dài và cường độ có thể điều
chỉnh được thì phát ra xung sóng âm lan truyền theo hướng của đầu dò vào môi
trường ở một vận tốc xác định bởi đặc tính của môi trường (mật độ ρ và độ đàn hồi
B) sóng âm sẽ gặp các mặt phản hồi trên đường truyền và tạo ra các sóng phản xạ
và tán xạ quay trở về đầu dò và được thu nhận tại đây
Khoảng thời gian mất cho sóng âm đi đến và quay về từ mặt phản hồi sẽ xác định
độ sâu của mặt phản hồi theo công thức:
d = c.t/2 Trong đó:
d: khoảng cách từ đầu dò đến mặt phản hồi c: vận tốc âm trong môi trường
t/2: thời gian cho sóng âm đi từ đầu dò đến mặt phản hồi Độ lớn của biên độ sóng phản hồi phụ thuộc vào biên độ sóng phát đi, góc tới của
sóng siêu âm và trở kháng âm của mặt phản hồi
Đầu dò sẽ biến đổi sóng phản hồi thành tín hiệu điện thông qua hiệu ứng áp điện,
tín hiệu điện này mang thông tin về độ lớn biên độ, thời gian tiếp nhận, các thông
tin này sau đó được xử lý và thể hiện thành hình ảnh trên màn hình
3.2.3.2.3 Các hình thức thể hiện
a A-mode (Amplitude Mode)
Tín hiệu hồi âm được thể hiện bằng xung hình gai trên dao động ký qua hệ thống
trục tung và trục hoành, chiều cao của xung thể hiện độ lớn của biên độ tín hiệu
hồi âm, vị trí của xung thể hiện khoảng cách từ đầu dò đến mặt phản hồi Loại hình
thể hiện này thường được dùng trong đo đạc vì có độ chính xác cao
b B-mode (Brighness Mode)
Trang 38Tín hiệu hồi âm được thể hiện bằng những chấm sáng, độ sáng của các chấm này
thể hiện biên độ tín hiệu hồi âm, vị trí các chấm sáng xác định khoảng cách từ đầu
dò đến mặt phản hồi
c TM-mode (Time Motion Mode)
Dùng để thể hiện sự chuyển động cùng phương với tia siêu âm của các vật thể theo
thời gian bằng cách thể hiện hình ảnh B-mode theo diễn biến thời gian với các tốc
độ quét khác nhau Kết quả là nếu nguồn hồi âm đứng yên thì sẽ tạo ra các đường
thẳng ngang qua màn hình, còn nếu mặt phản hồi chuyển động thì sẽ ra đường cong
phản ảnh sự chuyển động của mặt phản hồi
Hình 3.2.4 : A-mode, B-mode và TM mode
Trên màn hình hiển thị của TM-mode, biên độ chuyển động của mặt phản hồi được
biểu thị trên trục tung, thời gian trên trục hoành, nhờ vậy có thể tính toán được vận
tốc chuyển động của mặt phản hồi, khi tốc độ quét đã được xác định
Phương pháp A-mode, B-mode và TM-mode có thể gọi chung là siêu âm một chiều
(hay một bình diện)
Như vậy: ưu điểm của siêu âm một chiều là bằng phương pháp tương đối đơn giản,
rẻ tiền ta có thể xác định được chính xác vị trí của bề mặt phản xạ theo phương
song song với chùm tia siêu âm
Nhược điểm của phương pháp: không cho được hình ảnh tổng thể của vật cần chẩn
đoán Không đánh giá được các chuyển động có phương vuông góc với phương
truyền của tia siêu âm
d Hình ảnh tĩnh và hình ảnh động
Cơ sở của kiểu thể hiện hình ảnh siêu âm hai chiều này là B-mode, được dùng
trong hầu hết các thiết bị siêu âm chẩn đoàn từ trước cho đến nay, từ các máy
“Static scanner” (máy quét tĩnh) của thời kỳ sơ khai của ngành siêu âm chẩn đoán
thuộc thập niên 50, 60,… cho đến các máy quét động “Real time scanner” thuộc
những thập niên gần đây
Trang 39Cách thể hiện B-mode trong siêu âm một chiều thì tương xứng với mỗi vị trí đầu dò
trên cơ thể và mỗi hướng của chùm tia nhất định thì trên màn hình ta có một đường
tạo ảnh (line of site) B-mode phản ảnh các mặt phản hồi được tạo ra bởi các cấu
trúc cơ thể nằm trên đường truyền của chùm tia siêu âm Với các máy “Static
scanner”, sự tổng hợp tất cả các đường tạo ảnh tương xứng với nhiều vị trí đặt đầu
dò trên cơ thể theo nhiều hướng khác nhau trong cùng một mặt phẳng sẽ tạo thành
hình ảnh siêu âm phản ánh các cấu trúc giải phẫu theo tiết diện cắt ngang qua bởi
mặt phẳng nói trên
Để nhìn thấy sự chuyển động tức thời của cấu trúc trong cơ thể (đặc biệt quan trọng
trong lĩnh vực tim mạch) thì tốc độ tạo hình phải thật nhanh, tốc độ tạo hình thường
dùng (FR – frame rate) khoảng 25 hình/giây Vào cuối những năm thuộc thập niên
70 một thế hệ máy siêu âm mới ra đời cho phép ghi hình tức thời sự chuyển động
của các cấu trúc trong cơ thể, gọi là máy quét hình ảnh động (Real time scanner),
tốc độ tạo hình nhanh của những máy này đạt được nhờ kỹ thuật quét chùm tia
siêu âm và khả năng xử lý thông tin nhanh của các máy điện toán Có hai cách
quét chủ yếu được sử dụng:
• Quét điện tử – Electronic scanning: các tia siêu âm được quét bằng cách
dùng bộ điều khiển khoá điện tử để đóng mở nguồn nuôi các tinh thể sắp
xếp kế cận nhau, theo một thứ tự thời gian thì các tia siêu âm sẽ được quét
theo một phương nhất định
• Quét cơ học – Mechanical scanning: tia siêu âm được quét khi các chấn tử
được quay nhanh theo một trục hoặc dao động theo kiểu con lắc
• Một nhược điểm của máy ghi hình ảnh động là diện khảo sát (field of view)
bị hạn chế, không cho một hình ảnh tổng quát như trong kỹ thuật ghi hình
tĩnh nói trên, do kỹ thuật ghi hình động hạn chế bởi ba yếu tố:
o Số hình trong 1s: frame rate – FR
o Mật độ đường cho một hình – line density – N
o Độ sâu khảo sát – d
Liên quan chặt chẽ với nhau bằng công thức:
c
d N t
N FR
2
Ở đây: 1/FR thực chất sẽ là thời gian tạo một hình
T: thời gian tạo một đường hình (line) – là thời gian cho tia siêu âm đi và về tới đầu
dò Thông thường ở độ sâu khảo sát 20 cm, với số đường tạo ảnh cho một hình là
150 thì số hình trong một giây không thể vượt quá 25 hình Như vậy nếu sử dụng
diện khảo sát rộng thì đòi hỏi mật độ đường tạo ảnh lớn để đảm bảo chất lượng
hình và như thế làm tăng thời gian tạo nên một hình và đồng thời làm giới hạn tốc
độ tạo hình của máy
Một vài năm gần đây, nhờ những tiến bộ trong kỹ thuật vi xử lý, người ta đã tạo ra
được thế hệ máy có đồng thời cả hai ưu điểm của hai thế hệ máy nói trên, vừa có
hình ảnh động, vừa khảo sát trên diện rộng gọi là Real time – E.F.O.V (Extended
field of view) Để tạo được diện khảo sát rộng, người ta vừa di chuyển đầu dò theo
Trang 40một tiết diện cắt ngang cơ thể vừa ghi nhận hình ảnh, sau đó tổng hợp tất cả các
hình ảnh từ các góc quét riêng biệt ứng với các vị trí của đầu dò, sắp xếp và tạo
thành một hình tổng quát, đồng thời vẫn giữ được tính động của ảnh Để thực hiện
kỹ thuật này người ta phải dùng thuật toán Fuzzy-logic với sự xử lý cực nhanh của
máy điện toán và bộ vi mạch xử lý truyền thông đa phương tiện – M.V.P – Multi
media video processor
3.2.3 THIẾT BỊ GHI HÌNH BẰNG SIÊU ÂM
3.2.3.1 Sơ đồ cấu tạo của máy
Trên hình 3.1 biểu diễn sơ đồ cấu tạo chung của một máy siêu âm hoàn chỉnh
Hình 3.2.5: Cấu tạo chung của máy
3.2.3.2 Đầu dò
3.2.3.2.1 Hiệu ứng áp điện thuận nghịch
Hiệu ứng thuận: Nếu ta tác động một lực cơ học, hay nói cách khác là khi nén hoặc
kéo dãn một số tinh thể gốm theo những phương đặc biệt trong tinh thể thì trên các
mặt giới hạn của tinh thể có xuất hiện những điện tích trái dấu và do đó có một
hiệu điện thế giữa hai bề mặt Mà như chúng ta đã biết sóng siêu âm là sóng cơ
học do đó khi sóng siêu âm va đập vào mặt tinh thể gốm sẽ làm xuất hiện trên tinh
thể một chuỗi xung điện có độ lớn tỷ lệ với cường độ sóng âm
Hiệu ứng thuận:
Hiệu ứng nghịch: Nếu ta đặt tinh thể gốm áp điện một hiệu điện thế thì phụ thuộc
vào chiều điện thế đó, tinh thể gốm sẽ dãn ra hay nén lại và nếu như ta đặt tinh thể
gốm vào một hiệu điện thế xoay chiều thì tinh thể gốm sẽ nén dãn liên tiếp và dao
động theo tần số của hiệu điện thế xoay chiều, tạo ra áp lực nén và dãn liên tục
vào môi trường bao quanh tức là tạo ra sóng âm Phụ thuộc vào tần số dao động
của xung điện, kích thước và công nghệ chế tạo tinh thể gốm ta sẽ thu được các
chùm tia siêu âm có tần số khác nhau
ĐẦU DÒ
LƯU TRỮ
MÀN HÌNH
ĐIỀU KHIỂN VÀ XỬ LÝ HÌNH
Sóng siêu âm Tinh thể gốm Xung điện U
Xung điện U Tinh thể gốm Sóng siêu âm