Mảnh đất kinh kì ngàn năm văn hiến, từ bao đời nay, đã mang trong mình kết tinh văn hóa ẩm thực với những món ăn cầu kì trong cách chế biến, tinh tế trong cách thể hiện và thanh nhã trong cách thưởng thức. Trong các thức quà ấy, có lẽ, bún là món ăn gần gũi, quen thuộc nhất. Bún có ở nhiều nơi, song, nếu không kể đến bún Phú Đô thì xem như ta đã bỏ quên một viên ngọc quí. Bởi không phải bún ở đâu cũng đi vào nỗi nhớ và thèm thuồng của mỗi người khi đã có dịp thưởng thức, không phải bún nào cũng dễ dàng chinh phục hay đánh lừa được những chiếc lưỡi sành ăn đến khó tính của người Hà Thành.
Trang 1ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT
Đề tài: NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA LÀNG NGHỀ LÀM BÚN PHÚ ĐÔ -HÀ NỘI TRONG QUÁ TRÌNH
ĐÔ THỊ HÓA
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về văn hóa Trong tiếng Việt, “văn hóa” được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa); theo nghĩa chuyên biệt chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn (văn hóa Đông Sơn)… Trong khi theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động… Có thể hiểu đơn giản hơn bằng cách bóc tách từ “văn hóa” Nếu như “văn“ là “cái đẹp” thì “văn hóa“ sẽ là “hóa thành cái đẹp“ mà ở đó, “cái đẹp“ được biểu hiện ở muôn mặt của cuộc sống Đó
là Văn hóa nhận thức như triết lí âm dương, triết lí về cấu trúc không gian của vũ trụ, triết lí về thời gian của vũ trụ…; Văn hóa tổ chức đời sống tập thể như tổ chức nông thôn, tổ chức quốc gia, tổ chức đô thị,…; Văn hóa tổ chức đời sống cá nhân như tín ngưỡng, phong tục…; Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên như ăn, mặc, ở, đi lại…; Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội như Phật giáo và văn hóa Việt Nam, Nho giáo và văn hóa Việt Nam, phương Tây và văn hóa Việt Nam… Giữa muôn vàn các hình thái khác nhau về văn hóa ấy, có lẽ, Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên gắn bó thiết thực nhất với con người Mà hiển nhiên, để duy trì sự sống, ăn uống luôn là việc quan trọng số một Theo thời gian, cùng với sự phát triển của con người, ăn uống không đơn thuần chỉ dừng lại ở việc sinh tồn mà nó đã được nâng lên trở thành một nét văn hóa: “Văn hóa ẩm thực”
Trang 2Mảnh đất kinh kì ngàn năm văn hiến, từ bao đời nay, đã mang trong mình kết tinh văn hóa ẩm thực với những món ăn cầu kì trong cách chế biến, tinh tế trong cách thể hiện và thanh nhã trong cách thưởng thức Trong các thức quà ấy, có lẽ, bún là món ăn gần gũi, quen thuộc nhất Bún có ở nhiều nơi, song, nếu không kể đến bún Phú Đô thì xem như ta đã bỏ quên một viên ngọc quí Bởi không phải bún ở đâu cũng đi vào nỗi nhớ và thèm thuồng của mỗi người khi đã có dịp thưởng thức, không phải bún nào cũng dễ dàng chinh phục hay đánh lừa được những chiếc lưỡi sành ăn đến khó tính của người Hà Thành Người xưa khi nói đến bún Phú Đô có câu:
“Có bún nào như bún ấy không ?
Sợi tròn, thơm dẻo, vị trắng trong“
ắt hẳn phải có lí do riêng của nó
Bún Phú Đô nức tiếng là thế nhưng cũng giống như bao làng nghề truyền thống khác, Phú Đô cùng các làng nghề đang có nhiều sự chuyển biến Quá trình đô thị hóa chóng mặt cùng cơn lốc thị trường với sự xuất hiện, cạnh tranh của nhiều mặt hàng vừa thúc đẩy phát triển xã hội nhưng cũng đã và đang khiến cho nhiều làng nghề truyền thống dần bị mai một Làng nghề, phố nghề truyền thống là một trong những nét đặc sắc của Hà Nội Rất nhiều làng nghề ở Hà Nội có lịch sử phát triển hàng trăm năm, trong đó lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống của người dân Thủ đô và cũng là nét văn hóa tiêu biểu của người Việt Nam Nghiên cứu, bảo tồn các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể tại các làng nghề, phố nghề Hà Nội là việc làm cần thiết góp phần làm đa dạng và phong phú hơn diện mạo Thăng Long –Đông Đô –Hà Nội nghìn năm văn hiến
Làng Phú Đô nằm trong khu Mỹ Đình -Từ Liêm –Hà Nội Đây là khu vực trọng điểm về chính trị, kinh tế của Thủ đô vài năm trở lại đây với hàng loạt các công trình quốc gia được xây dựng như Sân vận động Mỹ
Trang 3Đình, Trung tâm Hội nghị Quốc gia, bảo tàng Hà Nội… cùng rất nhiều các khu trung cư cao cấp, trung tâm thương mại, khối văn phòng…đầu tư nước ngoài mọc lên như nấm khiến cho diện mạo khu Mỹ Đình nói chung và làng Phú Đô nói riêng có sự thay da đổi thịt Có thể nói, Phú Đô là một trong những làng nghề truyền thống tiêu biểu nhất có sự biến đổi rõ nét trong quá trình đô thị hóa
Bún Phú Đô nức tiếng là thế nhưng cũng giống như bao làng nghề truyền thống khác, Phú Đô cùng các làng nghề đang có nhiều sự chuyển biến Quá trình đô thị hóa chóng mặt cùng cơn lốc thị trường với sự xuất hiện, cạnh tranh của nhiều mặt hàng vừa thúc đẩy phát triển xã hội nhưng cũng đã và đang khiến cho nhiều làng nghề truyền thống dần bị mai một Làng nghề, phố nghề truyền thống là một trong những nét đặc sắc của Hà Nội Rất nhiều làng nghề ở Hà Nội có lịch sử phát triển hàng trăm năm, trong đó lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống của người dân Thủ đô và cũng là nét văn hóa tiêu biểu của người Việt Nam Nghiên cứu, bảo tồn các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể tại các làng nghề, phố nghề Hà Nội là việc làm cần thiết góp phần làm đa dạng và phong phú hơn diện mạo Thăng Long –Đông Đô –Hà Nội nghìn năm văn hiến
Làng Phú Đô nằm trong khu Mỹ Đình -Từ Liêm –Hà Nội Đây là khu vực trọng điểm về chính trị, kinh tế của Thủ đô vài năm trở lại đây với hàng loạt các công trình quốc gia được xây dựng như Sân vận động Mỹ Đình, Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Bảo tàng Hà Nội… cùng rất nhiều các khu trung cư cao cấp, trung tâm thương mại, khối văn phòng…đầu tư nước ngoài mọc lên như nấm khiến cho diện mạo khu Mỹ Đình nói chung và làng Phú Đô nói riêng có sự thay da đổi thịt Có thể nói, Phú Đô là một trong những làng nghề truyền thống tiêu biểu nhất có sự biến đổi rõ nét trong quá trình đô thị hóa
Trang 42 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Có thể thấy một số nội dung liên quan đến việc nghiên cứu đề tài như sau:
Thứ nhất là 1 số tài liệu như:
* Trong bài viết về “Đô thị hóa nông thôn thúc đẩy phát triển”, Giáo
sư Đặng Vũ Khiêu nhận xét “ Quá trình đô thị hóa nông thôn đã biến nền
sản xuất nông nghiệp độc canh trở thành nền sản xuất hàng hóa đa ngành nghề Lối sống thành phố du nhập vào nông thôn rất nhanh, tác động lớn tới cuộc sống, phong tục tập quán của thôn quê Việt Nam và những giá trị văn hóa truyền thống lâu đời”
* Bàn tới thực trạng làng nghề, ông Hoàng Văn Thức, phó trưởng phòng Thống kê nông nghiệp, tổng cục Thống kê Việt Nam đã báo cáo rõ về
“Thực trạng và giải pháp phát triển nghề, làng nghề truyền thống của Thủ
đô giai đoạn 2001 -2010”.
Những tài liệu trên mới dừng lại ở nhận định chung nhất về quá trình đô thị hóa của các làng nghề truyền thống, trong đó có đề cập tới làng bún Phú Đô -Hà Nội Những tài liệu này đã trở thành cơ sở lí luận cho việc triển khai nghiên cứu đề tài
Thứ hai là các bài báo, các thông tin thu thập được từ internet như:
* Phú Đô ( huyện Từ Liêm ) -Làng nghề truyền thống làm bún,
http://congthuonghn.gov.vn
* Sợi bún Phú Đô, http://hanoimoi.vn
* Bún Phú Đô -Một nét tinh hoa văn hóa ẩm thực Hà Nội, http://irv.moi.gov.vn
Ba bài báo này giới thiệu chung về mảnh đất, con người cũng như nghề làm bún ở Phú Đô
Trang 5* Giải pháp tiết kiệm năng lượng cho làng bún Phú Đô,
http://vietnamplus.vn Đây là bài báo gợi mở một số giải pháp về vấn đề năng
lượng cho làng nghề
Những bài báo trên đã cung cấp thêm thông tin cho người viết tham khảo để hoàn thành đề tài nghiên cứu
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
Với mong muốn đóng góp một chút sức mọn trong việc duy trì và bảo tồn làng nghề, là một sinh viên thuộc chuyên ngành Văn hóa, lại được
sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Hà Nội nên tôi quyết định chọn “Nghiên
cứu sự biến đổi các giá trị văn hóa của làng nghề làm bún Phú Đô trong quá trình đô thị hóa“ làm đề tài tìm hiểu và nghiên cứu để mọi người biết
được tầm quan trọng của nghề, trân trọng những giá trị vốn có, nắm được những sự biến đổi của làng nghề truyền thống trong thời đại ngày nay, đồng thời có những quan tâm, đầu tư đúng mức tạo động lực cho sự tồn tại và phát triển lâu dài của nghề làm bún truyền thống nơi đây
3.2 Nhiệm vụ
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về làng nghề làm bún truyền
thống Phú Đô
- Tìm hiểu lịch sử phát triển của làng nghề Phú Đô
- Đánh giá hiện trạng phát triển của làng nghề Phú Đô
- Đề xuất những giải pháp bảo tồn và phát triển nghề làm bún của làng
4 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng
- Làng bún Phú Đô trước kia và bây giờ
- Đời sống của người làm nghề
Trang 64.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Làng bún Phú Đô –xã Mễ Trì -huyện Từ Liêm –Hà
Nội
- Về thời gian: Đề tài tập trung tìm hiểu sự chuyển biến của làng
nghề trong giai đoạn hiện nay khi quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh chóng
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu lí thuyết: Đề tài nghiên cứu những cơ sở khoa học về
biến đổi văn hóa trong quá trình đô thị hóa của các làng nghề truyền thống của Việt Nam nhằm tạp cơ sở cho việc phân tích đánh giá trong nhận diện biến đổi văn hóa của làng bún Phú Đô trong quá trình đô thị hóa
- Phương pháp thống kê so sánh: Đề tài sử dụng các số liệu thống kê
để hệ thống hóa, khái quát hóa, phân loại, so sánh nhằm đưa ra kết luận về thực trạng biến đổi văn hóa của làng Phú Đô hiện nay
- Phương pháp điền dã: Người viết đã quan sát, tìm hiểu, nghiên
cứu, điều tra thực tế ở làng nghề nhằm tìm ra tiềm năng và đánh giá đúng thực trạng hiện nay của làng nghề Đặc biệt phải kể tới sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban Quản lí đình làng Phú Đô và gia đình cô Trần Thị Thu Hà ở xóm Chợ -Phú Đô
- Phương pháp thu thập và xử lí thông tin: Thu thập các tài liệu liên
quan đến đề tài từ nhiều nguồn khác nhau như: Giáo trình, sách, báo, tạp chí, internet…để có cơ sở phân tích, đánh giá, thẩm định và bổ sung nguồn tài liệu đã có, mặt khác, kiểm chứng lại kết quả tư liệu sẵn có
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Trên cơ sở các tài liệu thu thập
được, tổng hợp, phân tích và rút ra kết luận trong việc đánh giá thực trạng và tiềm năng của làng nghề
6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Trang 7Mỗi một đề tài nghiên cứu khoa học đều nhằm tới một mục đich là ứng dụng một lĩnh vực nào đó của cuộc sống Ở đây cũng vậy Dù chỉ là một
đề tài nhỏ mang tính tập sự nhưng nó cũng mang tới những đóng góp nhất định và dần làm sáng tỏ vấn đề được đưa ra nghiên cứu:
- Đối với làng bún truyền thống Phú Đô:
+ Phân tích hiện trạng và tiềm năng của làng bún Phú Đô
+ Góp thêm một tiếng nói trong việc giữ gìn và phát huy làng nghề
- Đối với cá nhân người viết:
Sau khi tìm hiểu và hoàn thành đề tài, tôi đã tích lũy được cho mình vốn kiến thức thực tế nhất định Từ đó thêm hiểu, thêm yêu con người, cuộc sống và sinh hoạt kinh tế nơi đây
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Phụ lục, Thư mục tham khảo, đề tài gồm ba chương:
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIẾN ĐỔI VĂN HÓA VÀ TỔNG
QUAN VỀ LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG PHÚ ĐÔ
1.1 KHÁI NIỆM
1.1.1 Khái niệm "làng nghề truyền thống"
Để hiểu thế nào là “làng nghề truyền thống”, trước hết cần phải
nắm rõ khái niệm về “nghề truyền thống”: “Nghề truyền thống là nghề được
hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc đang có nguy cơ bị mai một, thất truyền Nghề truyền thống phải đạt 3 tiêu chí sau: Thứ nhất đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm; Thứ hai tạo ra sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc; Thứ ba phải gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề.”
Trang 8Bên cạnh đó, ta cũng cần tìm hiểu khái niệm “làng nghề”: “Làng
nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn hoặc các điểm dân cư tương tự trên mộtđịa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau Làng nghề phải đạt 3 tiêu chí sau: Thứ nhất có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề; Thứ hai phải có hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm; Thứ ba phải chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước.”
Từ hai khái niệm trên ta thấy “Làng nghề truyền thống là làng có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống theo khái niệm trên Tuy nhiên đối với những làng chưa đạt tiêu chí thứ nhất và thứ hai của làng nghề nhưng có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận theo tiêu chí trên thì vẫn được coi là làng nghề truyền thống.
1.1.2 Khái niệm “đô thị hóa”
Theo Wikipedia, “đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỉ lệ
phần trăm giữa dân số đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực” Ngày nay, đô thị hóa là là một trong những
quá trình đặc biệt, góp phần làm biến đổi diện mạo của các làng nghề truyền thống
1.2 KHÁI QUÁT VỀ LÀNG BÚN TRUYỀN THỐNG PHÚ ĐÔ
1.2.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên của làng Phú Đô
Về mặt địa lí, làng Phú Đô thuộc xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội Làng ở cách trung tâm Thủ đô khoảng 10km về phía Tây Nam Phía Bắc giáp xã Mỹ Đình, phía Nam giáp đường cao tốc Láng -Hòa Lạc, phía Đông giáp thôn Mễ Trì Thượng, phía Tây giáp sông Nhuệ Với vị
Trang 9trí địa lí thuận lợi như vậy, làng Phú Đô như được bao bọc, ôm ấp trong lòng vùng châu thổ sông Hồng
Về mặt điều kiện tự nhiên, đia hình vùng đất bằng phẳng, được phù
sa bồi đắp màu mỡ Nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ nên ở đây cũng có dạng khí hậu bốn mùa với mỗi mùa tương đối rõ nét Là một làng ngoại thành ven đô có từ lâu đời, cư dân nơi đây làm nông nghiệp một cách thuần túy với phương thức canh tác chính là trồng lúa nước Tổng diện tích tự nhiên của làng nghề là 258,6 ha, trong đó, đất nông nghiệp là khoảng 164,6
ha chiếm trên 64% Cũng chính từ việc gắn bó với cây lúa mà làng đã phát triển nghề chế biến nông sản thực phẩm và rồi nghề làm bún đã trở thành nghề chính của làng, bún Phú Đô được biết đến như một đặc sản
1.2.2 Lịch sử hình thành nghề làm bún của làng
Nghề bún ở Phú Đô đã có truyền thống mấy trăm năm lịch sử Người có công sáng lập ra nghề bún là Tổ nghề Hồ Nguyên Thơ Tục truyền rằng, vào thời Hậu Lê, sau khi chiến thắng quân Minh một bộ phận tướng lĩnh được nhà vua ban lộc, đã về “cắm đô” dựng trại làm lễ ăn mừng ở một
vùng gò đồi hoang vu ngập nước, lập nên xóm Kẻ Quách Theo truyền
thuyết, tại đây, họ sống trông vào cây lúa Vùng này nước ngập quanh năm bốn mùa, người nông dân chẳng thể cấy cày Ngày đó, có cây đa cổ thụ cỡ hàng chục người ôm mới xuể Một bộ phận “ngụ binh ư nông” sống nhờ vào cây đa này Cây đa thân không cao, xung quanh gốc hình thành một cái
“mâm” rộng, có bậc lên xuống dễ dàng Các bậc cao niên thường ngồi quây tròn quanh “mâm”, bên ấm trà nóng bàn chuyện làm ăn Lúc thường, trẻ nhỏ hay trèo leo đùa nghịch Rồi về sau, cuộc sống thêm bức bối đói nghèo, dân sinh làm càn, vác dao, búa đi đẽo vỏ, chặt trụi cành đa lấy củi bán kiếm sống qua ngày Cho tới năm 1947 thì cây đa này chết Vụ mùa thất bát Nhiều người phải dời làng, lang bạt kỳ hồ Trong làng bắt đầu có nghề hàng xáo
Trang 10Nhưng nghề này chẳng trụ được bao lâu Dân lại xoay sang nghề làm các loại bánh gia công, rồi cũng không xong Một ngày kia, có một cụ già sau thời gian phiêu bạt đã mang về làng nghề làm bún Thời bấy giờ, nghề làm bún còn rất mới mẻ Mọi công việc đều trông vào đôi tay, đôi chân, đôi vai trần khó nhọc Dụng cụ đồ nghề phần lớn được làm bằng đất nung Sợi bún khi làm ra thường ngả màu nâu đục, nhỏ bằng cái tăm gọi là bún đồng hến (khoanh nhỏ bằng cái hến), bán theo mớ chục một, lót bằng lá chuối Người làm bún lấy công làm lãi Thóc đong về đem xay, giã lấy cám nuôi lợn, lấy trấu làm chất đốt, làm phân bón ruộng; gạo làm ra bún đổi lấy gạo, để rồi lại làm bún… Cứ như thế người dân duy trì cuộc sống Bún đồng hến phát triển, được nâng cấp dần, qua những tên gọi khác nhau: bún cách, bún dài đồng bừa, bún hình hoa (bún được xếp thành hình hoa) Bún hình hoa còn để lại những dấu ấn mang đậm phong tục địa phương Vào ngày lễ, ngày tết, trước khi cưới vợ, các chàng trai phải có một lễ được làm bởi những sợi bún hình hoa (gọi là lễ sếu) mang đến làm lỡi (lễ) chúc sức khỏe bố mẹ vợ tương lai Sau hòa bình lập lại năm 1954, một loại bún mới ra đời, đó là bún rối - bún Phú Đô ngày nay Và cùng với thời gian, với nghề, xóm Kẻ Quách trở thành
làng Hương Đô, rồi Hồng Đô và sau cùng là Phú Đô bây giờ
Nói về bún Phú Đô, người ta vẫn thường truyền nhau câu chuyện về
hai Bà Hoàng người làng Tương truyền thời Lê, trong làng có ông Nguyễn Duy Tình sinh được hai người con gái là Nguyễn Phương và Nguyễn An Cô Phương vào thành Long Biên cắt cỏ, cô vừa làm vừa hát Vừa hay, Công tử
Lê Duy Bang dạo chơi Nghe tiếng hát tuyệt hay tìm đến người đẹp rồi cưới
về làm vợ Về sau, cô An cũng được triệu vào cung trở thành vợ vua Năm
1556, Duy Bang được lên ngôi vua, lấy tên hiệu là Lê Anh Tông Ngày 15 tháng 2 năm Nhâm Tuất (1562), Bà Phương được phong làm Hoàng Thái Hậu, Bà An làm Tuyên Phi Năm 1573, vua Lê Anh Tông bị ám hại, Hai Bà