Tại nước Cộng Hòa Dân Chủ nhân Dân Lào, trong thời kỳ mở cửa, thời kỳ xây dựng cơ chế thị trường cạnh tranh theo định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế – xã hội nước nhà phải được chuẩn bị
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TPHCM
CHUYÊN NGÀNH : MẠNG VÀ HỆ THỐNG ĐIỆN
MÃ SỐ NGÀNH : 2.06.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP.HCM, THÁNG 12-2005
Trang 2
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ và tên học viên : VIRACHACK PHOULITHAD Phái : Nam
I Tên Đề Tài :
Nghiên cứu quá trình hình thành Thị trường điện Trung Quốc và xác định những kinh nghiệm có thể áp dụng cho ngành điện của nước Cộng Hoà Dân Chủ Nhân Dân Lào
II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG
1 Nghiên cứu thị trường điện Trung Quốc
2 Ứng dụng cho ngành điện của nước CHDCND Lào
III Ngày Giao Nhiệm Vụ: 20 / 01 /2005
IV Ngày Hoàn Thành Nhiệm Vụ: 07/12/2005
V Họ Và Tên Cán Bộ Hướng Dẫn: TS.Nguyễn Bách Phúc
VI Họ Và Tên Cán Bộ Nhận Xét 1:……… VII Họ Và Tên Cán Bộ Nhận Xét 2:………
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN CHỦ NHIỆM NGÀNH BỘ MÔN QUẢN LÝ NGÀNH
Nội dung và đề cương luận văn thạc sĩ đã được Hội Đồng Chuyên Ngành thông qua
Ngày…….tháng…….năm 2005
Trang 3CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Cán bộ hướng dẫn khoa học: ………
Cán bộ chấm nhận xét 1:………
Cán bộ chấm nhận xét 2:………
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại HỘI ĐỒNG CHẤM BẢO VỆ LUẬN VĂN THẠC SĨ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA, ngày…….…tháng…….năm 2005
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận án này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến
TS Nguyễn Bách Phúc, người thầy đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ
em trên con đường nghiên cứu khoa học Cảm ơn thầy cô phòng Đạo tạo sau Đại học và Bộ môn Hệ Thống Điện – trường ĐH Bách Khoa đã tạo mọi điều kiện thuận lời cho em trong quá trình học tập Xin trân trọng bày tỏ Lòng biết ơn đối với gia đình, người thân và bạn bè đã động viên và giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian qua
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2005
Virachack Phoulithad
Trang 5Mở Đầu
1 Đặt vấn đề ix
2 Nhiệm vụ và mục tiêu của luận văn x
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu x
4 Tính thực tiễn của đề tài x
5 Nội dung cụ thể của luận văn x Chương I Tổng quát về thị trường điện cạnh tranh
1.1 Mô hình công ty điện lực độc quyền liên kết dọc truyền thống 01
1.2 Khái niệm về thị trường điện cạnh tranh 03
1.3 Một số mô hình thị trường điện cạnh tranh cơ bản 04
1.3.1 Mô hình có sự tham gia của bên thứ ba : 05
1.3.2 Mô hình một người mua: 07
1.3.3 Mô hình thị trường bán buôn cạnh tranh : 10
1.3.4 Mô hình thị trường bán lẻ điện cạnh tranh: 12
1.4 Điều tiết hoạt động điện lực trong thị trường điện 14
1.4.1 Vai trò của điều tiết hoạt động điện lực trong thị trường điện: 14
1.4.2 Nguyên tắc hoạt động cơ quan điều tiết điện lực: 15
1.4.3 Nguyên tắc xây dựng Tổ chức của Cơ quan điều tiết điện lực: 18
1.4.4 Các mô hình cơ quan Điều tiết hoạt động điện lực: 19
1.5 Thương mại điện tử trong thị trường điện 21
1.5.1 Vai trò của Hệ thống thông tin năng lượng: 21
1.5.2 Vai trò của môi trường kinh doanh đối với
Trang 61.5.3 Kết luận: 23
Chương II Giới thiệu công nghiệp điện lực Trung Quốc 2.1 Sự phát triển công nghiệp điện Trung Quốc 24
2.1.1 Tóm lược: 24
2.1.2 Phát điện: 28
2.1.3 Truyền tải: 29
2.1.4 Tiêu dụng điện: 31
2.1.5 Phát triển tương lai: 32
2.2 Quá trình đổi mới công nghiệp điện Trung Quốc 33
2.2 1 Tổ chức công nghiệp trước khi đổi mới: 33
2.2 2 Đổi mới để tăng vốn (1986-1996): 34
2.2 3 Cải tổ để đổi mới quản lý ngành điện (1997-2001): 40
2.2 4 Khởi tạo thị trường điện để nâng cao năng lực Ngành điện: 43
Chương III : Khởi tạo Thị trường điện Trung Quốc 3.1 Những bước đi đầu tiên – Thị trường điện thử nghiệm cấp tỉnh: 45
3.1.1 Thị trường điện thử nghiệm 6 tỉnh miền Đông Bắc (1999): 45
3.1.2 Thị trường điện thử nghiệm Thường Hải (1999): 46
3.1.3 Thị trường điện thử nghiệm Triết Giang (2000): 46
3.1.4 Những Đặc điểm chung của Thị trường điện thử nghiệm cấp tỉnh: 48
Trang 7xây dựng thị trường Điện cạnh tran 49
3.2.1 Quyết định của chính phủ: 49
3.2.2 Tổ chức lại ngành Điện toàn Trung Quốc: 49
3.3 Thị trường cạnh tranh cấp khu vực (cấp vùng) thử nghiệm 53
3.3.1 Tiền đề của việc xây dựng thị trường cấp khu vực: 53
3.3.2 Phương án xây dựng thị trường cạnh tranh cấp khu vực của SERC: 54
3.3.3 Thị trường cấp khu vực thử nghiệm ở Đông Bắc: 56
3.3.4 Thị trường cấp khu vực thử nghiệm ở Hoa Đông: 56
3.4 Xây dựng nền Thương mại điện tử 64
3.4.1 Đầu tư Phần cứng: 64
3.4.2 Xây dựng mạng diện rộng : 65
3.4.3 Xây dựng mạng truyền tải ổn định: 65
Chương IV Hiện trạng ngành điện của nước CHDCND Lào 4.1 Giới thiệu 66
4.2 Mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty điện lực Lào (EDL) 66
4.3 Hiện trạng cơ sở vật chất và kỹ thuật 68
4.3.1 Nguồn điện: 68
4.3.2 Lưới điện truyền tải: 70
4.4 Chiến lược phát triển ngành điện của nước CHDCND Lào giai đoạn 2005-2020 72
4.5 Đánh giá ngành điện của nước CHDCND Lào 75
Trang 84.5.2 Về hạ tầng kỹ thuật của ngành điện: 76
Chương V Tổng kết ưu khuyết điểm của quá trình hình thành thị trường
điện lực Trung Quốc và xác định những kinh nghiệm có thể áp dụng cho ngành điện của nước Cộng Hoà Dân Chủ Nhân Dân Lào
5.2 Xác định những kinh nghiệm có thể áp dụng cho ngành điện
Phụ lục
Tại liệu tham khảo
Trang 91 Đặt vấn đề
Điện rất cần thiết cho một xã hội hiện đại, và sự bền vững của đất nước phụ thuộc vào sự tăng tưởng của nền kinh tế nói chung, và ngành năng lượng nói riêng Kinh nghiệm của các nước cho thấy trong giai đoạn công nghiệp hoá thì tốc độ tăng trưởng của ngành điện cần phải vượt tốc độ tăng trưởng GDP của quốc gia
Tại nước Cộng Hòa Dân Chủ nhân Dân Lào, trong thời kỳ mở cửa, thời kỳ xây dựng cơ chế thị trường cạnh tranh theo định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế – xã hội nước nhà phải được chuẩn bị nội lực để hội nhập với quốc tế cho nên cần phải nghiên cứu kinh nghiệm của các nước đang phát triển, như Trung Quốc, Trung Quốc là một Quốc gia đang phát phát triển rất nhanh về kinh tế xã hội và công nghiệp điện
Ngành điện nước Cộng Hòa Dân Chủ nhân Dân Lào bắt buộc phải có một bước phát triển vượt bậc để đón đầu sự phát triển của xã hội nhằm đáp ứng những đòi hỏi khắt khe hơn trong cơ chế kinh tế mới, và sự phát triển đó tất yếu không thế tách rơi sự phát triển của thế giới Một trong những nội dung quan trọng trong chính sách cơ chế quản lý kinh tế của chính phủ là cải tổ các doanh nghiệp nhà nước nhằm thích nghi với cơ chế thị trường, nâng cao hiệu quả quản lý và khả năng cạnh tranh Bên cạnh đó, trong chiến lược phát triển năng lượng nước Cộng Hòa Dân Chủ nhân Dân Lào từ năm 2005 đến 2020 sẽ có các phương án giao dịch mua bán điện với các nước trong khu vực Đông Nam Á, do đó Công
ty điện lực Lào ( Electric Du Lao ) cần phải có những chuẩn bị tích cực một cơ chế quản lý phù hợp để có thể tham gia với quốc tế mà không bị vi phạm các luật chơi cũng như đảm bảo được chiến lược của mình
Trang 10- Nghiên cứu thị trường điện Trung Quốc
- Ứng dụng cho ngành điện của nước CHDCND Lào
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1 Thu thập thông tin
- Thu thập thông tin trên các trang Web của Trung Quốc và của các nước, có liên quan đến Ngành Điện Trung Quốc
- Thu thập thông tin trên các tài liệu của Ngành Điện nước Cộng Hoà Dân Chủ Nhân Lào
2 Tham khảo các mô hình tổ chức ngành điện của các nước, nhất là các nước Đông Nam Á và các nước thuộc phe Xã Hội Chủ Nghĩa cũ, từ đó có thể so sánh và tím ra những đặc điểm của quá trình đổi mới của Trung Quốc và Lào
3 Nghiên cứu sự phát triển của Ngành Điện nước Lào, các đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Lào về Ngành Điện
4 Trên cơ sở những thông tin và những nghiên cứu nói trên, có thể tổng kết những ưu khuyết điểm của quá trình phát triển thị trường điện Trung Quốc, và xác định những kinh nghiệm tốt có thể áp dụng cho nước Lào
4 Tính thực tiễn của đề tài
Có thể sử dụng các kết luận của Đề tài làm tài liệu tham khảo khi nghiên cứu vấn đề sự phát triển ngành điện của nước CHDCND Lào, trên lĩnh vực thị trường hoá ngành Điện
5 Nội dung cụ thể của luận văn
Chương I Trình bày tổng quát về thị trường điện cạnh tranh gồm có:
Trang 11về thị trường điện cạnh tranh, một số mô hình thị trường điện cạnh tranh
cơ bản, đều tiết hoạt động điện lực trong thị trường điện và thương mại điẹn tử trong thị trường điện
Chương II Trình bày giới thiệu công nghiệp điện lực Trung Quốc gồm
có: Sự phát triển công nghiệp điện của Trung Quốc, và quá trình đổi mới
công nghiệp điện Trung Quốc
Chương III Trình bày về khởi tạo Thị trường điện Trung Quốc gồm có:
Những bước đi đầu tiên – Thị trường điện cấp tỉnh, Những quyết sách của Nhà nước Trong Quốc về xây dừng thị trường Điện cạnh tranh, Thị trường cạnh tranh cấp khu vực (cấp vùng) thứ nghiệm và Xây dựng nền Thương mại điện từ
Chương IV Trình bày về hiện trạng ngành điện của nước Lào gồm có:
Giới thiệu, mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh của Tổng công ty điện lực Lào ( EDL), hiện trạng cơ sở vật chất và kỹ thuật, chiến lược phát triển ngành điện của nước CHNCND Lào giai đoàn 2005-2020, và đánh giá ngành điện của nước CHNCND Lào
Chương V Tổng kết ưu khuyết điểm của quá trình hình thành thị trường
điện Trung Quốc và xác định những kinh nghiệm có thể áp dụng cho ngành điện của nước Cộng Hoà Dân Chủ Nhân Dân Lào gồm có: Tổng kết những ưu khuyết điểm, và xác định những kinh nghiệm có thể áp dụng cho ngành điện của nước Cộng Hoà Dân Chủ Nhân Đân Lào
Trang 12CHƯƠNG I
TỔNG QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG ĐIỆN CẠNH TRANH
1.1 Mô hình công ty điện lực độc quyền liên kết dọc truyền thống
Mô hình công ty điện lực độc quyền liên kết dọc được hình thành và phát triển dựa trên những đặc trưng riêng của sản phẩm điện năng và lý thuyết về hiệu quả kinh tế theo quy mô của tổ chức, lý thuyết về chi phí giao dịch áp dụng vào ngành điện như: các công trình quy mô lớn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao, giá thành sản xuất thấp, chi phí giao dịch nội bộ công ty sẽ thấp hơn chi phí của nhiều công ty độc lập Với ngành điện lực, chi phí đầu tư giá nhập hoặc rút khỏi ngành điện là rất lớn, nên thực tế trước những năm 40 của thế kỷ 20 các công ty tư nhân không đủ khả năng và tiềm lực tài chính để tham gia kinh doanh điện năng Vì vậy mô hình độc quyền liên kết dọc là phù hợp nhất, các nước trên thế giới đều xây dựng các công ty điện lực theo mô hình này và đa số thuộc sở hữu nhà nước
Mô hình này về lý thuyết là giảm thiểu được các chi phí cố định, chi phí giao dịch, phối hợp tốt nhất giữa đầu tư, vận hành, khai thác, từ đó dẫn đến chi phí đầu
tư phát triển là tối ưu nhất, mặt khác, công tác quản lý kỹ thuật, công tác điều độ, vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống điện là ưu việt bởi cùng chịu sự điều hành, chi phối của một ông chủ
Các công ty điện lực có nghĩa vụ cung ứng điện đến mọi khách hàng trên địa bàn phục vụ kể cả các phụ tải ở xa như khu dân cư, miền núi, hải đảo hoặc vùng nông thôn Ngược lại, khách hàng không có cơ hội về quyền lựa chọn người bán điện cho mình mà chỉ mua điện từ một công ty độc quyền
Trang 13Trong cơ chế này, các công ty điện lực cũng chủ trì tham mưu, đề xuất về cơ chế chính sách quản lý nhà nước về các hoạt động điện lực
CÔNG TY ĐIỆN
Phát Điện Truyền tải Phân phối và
kinh doanh
Hầu hết chính phủ các nước thường quản lý chặt chẽ giá bán điện dựa theo chi phí giá thành sản xuất do các công ty điện lực đệ trình, mô hình truyền thống thường cho phép thực hiện việc bù chéo giữa các khu vực khách hàng dùng điện
Ví dụ : giá điện ở khu vực thành phố cao hơn ở khu vực nông thôn và miền núi để bù đắp cho chi phí đầu tư lưới điện ở các khu vực này Đối với các nước đang phát triển, công ty độc quyền liên kết dọc có nhiều cơ hội được vay vốn từ các tổ chức tín dụng quốc tế với lãi suất ưu đãi thấp, thời gian gia hạn dài để xây dựng, phát triển các nhà máy và lưới điện
Trang 14Tuy nhiên, cho đến những năm đầu thập niên 70, mô hình công ty điện lực truyền thống đã bắt đầu bộc lộ các khuyết điểm : giá bán điện bao gồm chi phí giá thành và chi phí đầu tư hệ thống điện đã làm cho khách hàng dùng điện phải trả giá cho những công trình đầu tư không hiệu quả hay sự lạc hậu của thiết bị và công nghệ, cơ chế độc quyền đã không tạo động lực để các công ty điện lực giảm giá thành, tăng lợi nhuận và nhất là không phải xây dựng các chiến lược cạnh tranh giành thị trường Kết quả là ngành điện lực có hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả đầu tư không cao
1.2 Khái niệm về thị trường điện cạnh tranh
Có nhiều định nghĩa khác nhau về thị trường, ở mức độ đơn giản, thị trường được hiểu như nơi tập hợp các sự thoả mãn lẫn nhau giữa những người có nhu cầu bán và nhu cầu mua Trong thị trường, người bán có thể là người trực tiếp làm ra sản phẩm, dịch vụ hoặc có người trung gian giữa người mua và người sản xuất Hàng hoá có thể sử dụng ngay để phục vụ cho tiêu dùng, sinh hoạt hoặc cũng có thể làm đầu vào cho một quá trình sản xuất ra hàng hoá khác
Ở thị trường, với cùng một loại sản phẩm có thể có nhiều nhà sản xuất hoặc cung ứng, nhu cầu sử dụng lại có hạn nhưng nhà sản xuất nào cũng muốn mình chiếm lĩnh thị phần càng cao càng tốt để tăng lợi nhuận Chính điều này tất yếu dẫn đến tính cạnh tranh trong thị trường và kết qủa là hàng hoá ngày càng phong phú, đa dạng, giá thành thấp, người tiêu dùng càng được hưởng lợi Chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy nếu vì lý do gì đó, một loại hàng hoá chỉ có một nhà cung ứng, người tiêu dùng không có cơ hội lựa chọn, nguyên nhân và động lực cạnh tranh không có, giá thành hàng hoá không giảm …
Điện năng là hàng hoá đặc biệt, quá trình sản xuất, truyền tải, phân phối, tiêu thụ điện năng diễn ra đồng thời Nó còn là loại hàng hoá mà người mua không
Trang 15thể cầm, sờ nhưng có thể dùng trước và trả tiền sau Thêm nữa điện năng là sản phẩm mà tổn thất, mất mát giữa sản xuất và tiêu thụ là không thể nào khắc phục một cách hoàn toàn
Thị trường điện cạnh tranh là thị trường mà trong đó sản phẩm điện năng phải được bán bởi nhiều nhà cung ứng khác nhau Như vậy, khâu sản xuất điện năng muốn có thị trường cạnh tranh thì các nhà máy điện phải thuộc sở hữu nhiều công ty khác nhau thay vì trực thuộc một công ty duy nhất quản lý và điều hành Khâu truyền tải và phân phối có đặc điểm là : trên một mặt bằng địa lý không thể để nhiều công ty cùng xây dựng nhiều lưới điện truyền tải và phân phối, do dó có thể chấp nhận một công ty độc quyền cung ứng dịch vụ này Khâu kinh doanh điện năng muốn có cạnh tranh thì phải tạo cơ chế để có nhiều nhà cung ứng cùng tham gia thị trường
1.3 Môt số mô hình thị trường điện cạnh tranh cơ bản
Thực tế cho thấy rằng, trong dây chuyền sản xuất kinh doanh của ngành điện, khâu truyền tải và phân phối luôn mang tính chất độc quyền tự nhiên và sẽ tiếp tục giữ vai trò độc quyền trong tương lai Lý do chính là vì chi phí đầu tư xây dựng hệ thống lưới điện rất lớn nên việc cung cấp dịch vụ truyền tải và phân phối sẽ rẻ hơn và hiệu quả hơn rất nhiều khi một công ty cung cấp dịch vụ này trên một phạm vi địa lý nhất định thay vì nhiều công ty khác nhau cùng xây dựng nhiều hệ thống hạ tầng kỹ thuật trên cùng một địa bàn để cung cấp cho một khu vực hoặc một khách hàng Thời gian gần đây, nhiều mô hình cạnh tranh trong các hoạt động điện lực đã có được nghiên cứu và phát triển ở nhiều nước trên thế giới Để việc cạnh tranh có hiệu quả, cần phải đảm bảo quyền được đấu nối vào lưới công bằng, không phân biệt đối xử giữa các đối tượng tham gia thị trường Kinh nghiệm hình thành và phát triển thị trường điện lực trên thế giới cho thấy rằng có 2 Mô hình cơ bản của thị trường điện, là Mô hình thị trường điện có sự tham gia của bên thứ 3
Trang 16(TPA) và các mô hình thị trường điện cạnh tranh Mô hình thị trường điện cạnh tranh thể hiện dưới 3 Mô hình cơ bản là: thị trường một người mua ( còn gọi là thị trường cạnh tranh nguồn phát ), thị trường cạnh tranh bán buôn, thị trường cạnh tranh bán lẻ Ngoài ra còn có một số biến thể của các mô hình này tùy theo đặc thù phát triển thị trường điện của các nước
1.3.1 Mô hình có sự tham gia của bên thứ ba
Mô hình này thực chất là hình thức “bán dịch vụ truyền tải” trong đó khách hàng và nhà sản xuất ký với nhau hợp đồng song phương, công ty sở hữu lưới truyền tải chịu trách nhiệm điều hành lưới truyền tải để chuyển tải điện năng từ nhà sản xuất đến khách hàng mua điện và được hưởng một khoản phí dịch vụ cho công việc này Có hai mô hình có sự tham gia của bên thứ ba: Mô hình có điều tiết ( Regulated TPA ) và mô hình thỏa thuận ( Negotiated TPA ) Trong mô hình TPA có điều tiết, các công ty muốn nối lưới ký kết hợp đồng dựa trên các qui định đấu nối, mức cước phí do cơ quan điều tiết qui định trên cơ sở đảm bảo quyền lợi của các bên Đối với mô hình TPA thỏa thuận, các công ty tự thỏa thuận về mức cước phí và các điều kiện để nối lưới Trong hai cách nêu trên, cách thứ nhất có nhiều điểm ưu điểm hơn vì nó sẽ hạn chế được hiện tượng phân biệt đối xử của công ty quản lý lưới điện với các công ty sử dụng lưới điện và tiết kiệm đáng kể chi phí giao dịch
Trang 17Phát điện
Truyền tải điện
Phân phối điện
Khách hàng
KH đủ điều kiện
Nhà máy điện độc lập
Bảng 1.2 Mô hình tham gia của bên thứ ba ( TPA )
Mô hình có sự tham gia của bên thứ ba được thực hiện cả ở lưới điện truyền tải và lưới điện phân phối Việc thực hiện mô hình này sẽ hạn chế sự lạm dụng vị thế độc quyền của các công ty điện lực liên kết dọc trong kinh doanh bán điện cho các khách hàng, khuyến khích các công ty mới tham gia vào kinh doanh điện Mô hình tham gia của bên thứ ba được lựa chọn trong giai đoạn đầu của công cuộc cải cách thị trường hóa ngành điện ở các nước như: Mỹ, cộng đồng Châu Âu, một số khu vực của Canada, Phần Lan, Đức, Nhật, Hà Lan và Bồ Đào Nha dưới cả hai hình thức thỏa thuận và có điều tiết
¾ Ưu điểm
" Đã tạo ra cạnh tranh trong khâu phát điện và phân phối Giảm vị thế độc quyền
của công ty điện truyền thống trong kinh doanh điện;
Trang 18" Khách hàng được quyền lựa chọn nhà cung cấp;
" Không yêu cầu phải có sự phân tách về chức năng của công ty điện liên kết dọc
¾ Hạn chế
" Cần phải có các qui định tham gia lưới và điều tiết đủ mạnh vì sẽ có nhiều khả
năng xung đột lợi ích khi công ty liên kết dọc phải cho các đơn vị ngoài sử dụng lưới;
" Phải có phương pháp và quy định tính toán phí truyền tải phức tạp
" Hệ thống cơ sở hạ tầng cho vận hành đo đếm sẽ phải đầu tư rất lớn
1.3.2 Mô hình một người mua:
Mô hình này được coi là bước đầu của quá trình cải tổ tiến tới tự do hóa trong kinh doanh điện Mô hình một người mua cho phép các nhà đầu tư tư nhân xây dựng, sở hữu và quản lý các nhà máy điện độc lập ( Independent power producer – IPP ) Các công ty phát điện phải cạnh tranh để bán điện cho Đơn vị mua điện duy nhất Đơn vị mua duy nhất độc quyền mua điện từ các nguồn phát và bán điện đến các khách hàng sử dụng điện Các công ty phát điện sẽ cạnh tranh để được xây dựng nhà máy và bán điện theo các hợp đồng mua bán điện (PPA – Power Purchase Agreement) thỏa thuận giữa nhà sản xuất điện và Đơn vị mua duy nhất Thực chất đây là mô hình chuyển tiếp, được bắt đầu bằng việc cho phép cạnh tranh trong lĩnh vực phát điện trong khi chưa có điều kiện để thiết lập các thiết chế của thị trường cạnh tranh đến tận khâu bán buôn và bán lẻ Mô hình này bảo đảm rủi ro ít nhất cho các IPP, làm tăng trách nhiệm của các công ty điện lực mặc dù nó vẫn tạo động lực thu hút vốn đầu tư vào lĩnh vực phát điện Việc lựa chọn thời điểm đầu tư, vị trí đầu tư phụ thuộc vào các nhà lập kế hoạch nhiều hơn là của bản thân doanh nghiệp Thị trường phát điện cạnh tranh một người mua đòi hỏi phải
Trang 19chia tách chức năng của các khâu truyền tải và phát điện trong mô hình liên kết dọc
Việc cho phép các nhà đầu tư tư nhân trong và ngoài nước đầu tư vào xây dựng các IPP sẽ giảm nhẹ gánh nặng tài chính cho ngân sách của Chính phủ đầu tư vào ngành điện, chia sẻ bớt các rủi ro khi đầu tư xây dựng các nhà máy điện Việc
đa dạng hóa thành phần trong phát điện cũng là động lực để nâng cao hiệu quả hoạt động, giảm giá thành sản xuất điện của các nhà máy điện Trong giai đọan đầu hình thành thị trường điện, có nhiều nước đã trải qua mô hình này Chủ yếu là các nước Đông Âu thuộc Liên Xô cũ và các nước đang phát triển như Hàn Quốc, Nam Mỹ, một số nước Đông Nam Á, và tại một số tỉnh của Trung Quốc
Công ty phát Công ty phát Công ty phát
Cơ quan mua
Cty phân phối Cty phân phối Cty phân phối
Bảng 1.3 Mô hình thị trường một người mua
Trang 20¾ Ưu điểm
" Không gây ra những thay đổi đột biến và xáo trộn lớn trong hoạt động sản xuất
kinh doanh và cơ cấu tổ chức của ngành điện hiện tại
" Cơ hội thực hiện thành công cao do có đủ thời gian để các đối tượng tham gia thị
trường dần tăng cường năng lực của mình đáp ứng yêu cầu của thị trường
" Hình thành được môi trường cạnh tranh trong khâu phát điện, chủ yếu là cạnh
tranh phát triển nguồn mới và một phần cạnh tranh trực tiếp trên thị trường ngắn hạn; Ổn định được giá điện, giảm áp lực tăng giá
" Thu hút được đầu tư vào các nguồn điện mới, giảm nhẹ được yêu cầu vốn đầu tư
từ Chính phủ cho ngành điện, là mô hình thích hợp cho thời kỳ có nhu cầu điện tăng với tốc độ cao, nhu cầu đầu tư nguồn điện mới lớn
" Không gây ảnh hưởng lớn tới các hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty
phân phối hiện tại, do đó không ảnh hưởng trực tiếp tới các khách hàng sử dụng điện, các công ty phân phối có đủ thời gian cho để tăng cường năng lực tài chính và quản lý, chuẩn bị cho các cấp độ cạnh tranh cao hơn trong tương lai
" Mô hình thị trường đơn giản nên hệ thống các quy định cho hoạt động của thị
trường chưa phức tạp
" Nhu cầu đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho vận hành thị trường không lớn
¾ Hạn chế
" Đơn vị mua duy nhất được độc quyền mua nguồn điện từ các đơn vị phát điện sẽ
có nhiều cơ hội cho các tiêu cực trong điều hành thị trường Vì vậy, đòi hỏi phải có mức độ điều tiết rất cao
Trang 21" Mức độ cạnh tranh chưa cao, chỉ giới hạn cạnh tranh trong phát triển các nguồn
điện mới và một phần cạnh tranh trong thị trường ngắn hạn Sức ép đối với các đơn
vị phát điện giảm chi phí, tăng hiệu quả chưa lớn Không có cơ hội cho các công ty phân phối lựa chọn nhà cung cấp
" Đơn vị mua duy nhất phải có năng lực tài chính đủ mạnh để đảm bảo thực hiện
các PPA đã ký và đủ uy tín thu hút các nhà đầu tư mới;
" Chưa có lựa chọn mua điện cho các công ty phân phối khách hàng
1.3.3 Mô hình thị trường bán buôn cạnh tranh:
Mô hình thị trường bán buôn cạnh tranh tạo ra sự cạnh tranh trong khâu phát và bán buôn điện Điểm khác biệt nổi bật đối với mô hình một người mua là các công ty phân phối được quyền lựa chọn mua điện trực tiếp từ bất cứ công ty phát điện nào, không nhất thiết phải từ Đơn vị mua duy nhất Tuy nhiên khâu bán lẻ điện đến các khách hàng dùng điện vẫn độc quyền bởi các công ty phân phối quản lý địa bàn của mình Trong mô hình này sẽ xuất hiện một số công ty kinh doanh mua bán điện nhưng không sở hữu lưới điện Các công ty này sẽ thực hiện các hợp đồng mua điện từ các công ty phát điện và bán điện cho các công ty phân phối
Trong mô hình thị trường bán buôn điện cạnh tranh, các công ty phát điện sẽ tự do cạnh tranh và chịu các rủi ro trong đầu tư kinh doanh Các giao dịch mua bán điện năng được thực hiện thông qua các hợp đồng song phương hoặc thông qua thị truờng tức thời hoặc dưới cả hai hình thức Thị trường điện có thể ở dạng tự nguyện hoặc bắt buộc Trong thị trường bắt buộc, tất cả điện năng bán buôn tại lưới truyền tải đều bắt buộc phải thực hiện thông qua thị trường Ưu điểm nổi bật của mô hình thị trường điện bắt buộc là số lượng giao dịch ít nên chi phí giao dịch thấp, ít có tranh chấp giữa các bên khi thực hiện các hợp đồng mua bán điện Nhược điểm của mô hình này là người mua chưa hoàn toàn được quyền lựa chọn phương thức mua
Trang 22điện phù hợp nhất Phần lớn các nước khi mở ra cạnh tranh đều nhanh chóng chuyển sang mô hình này Các nước hiện đang hoạt động theo mô hình này gồm: một số bang của Mỹ, phần lớn các nước trong cộng đồng Châu Âu, Singapore, Philipine, một số bang của Ấn Độ
Công ty phát Công ty phát Công ty phát Công ty phát Công ty phát
Cty phân phối Cty phân phối Cty phân phối Cty phân phối
Khách hàng Khách hàng Khách hàng Khách hàng
Lưới truyền tải & thị trường bán buôn
Bảng 1.4 Mô hình thị trường bán buôn điện cạnh tranh
¾ Ưu điểm
" Đã xóa bỏ được độc quyền mua điện của Đơn vị mua duy nhất trong thị trường
một người mua
" Các đơn vị phân phối có quyền cạnh tranh mua điện từ nhà cung cấp Các khách
hàng tiêu thụ lớn được quyền lựa chọn nhà cung cấp
Trang 23" Lượng điện mua bán qua thị trường ngắn hạn tăng lên đáng kể, tăng mức độ cạnh
tranh
¾ Hạn chế
" Khách hàng tiêu thụ vừa và nhỏ chưa được quyền lựa chọn nhà cung cấp, vẫn còn
độc quyền trong khâu bán lẻ điện
" Hoạt động giao dịch thị trường phức tạp hơn nhiều so với thị trường một người
mua, đòi hỏi hệ thống qui định cho hoạt động của thị trường phức tạp hơn
" Nhu cầu đầu tư về cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho vận hành thị trường lớn hơn so với
thị trường một người mua
1.3.4 Mô hình thị trường bán lẻ điện cạnh tranh:
Mô hình bán lẻ cạnh tranh là bước phát triển cao nhất, cuối cùng của cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh điện Trong mô hình này, cho phép cạnh tranh trong tất cả các khâu phát điện, bán buôn và bán lẻ điện Vấn đề cơ bản của mô hình này là sự chia tách hoàn toàn khâu phát điện và bán lẻ ra khỏi khâu truyền tải và phân phối Không còn độc quyền bán lẻ nữa Tùy theo từng bước phát triển thị trường, các khách hàng sẽ dần được quyền lựa chọn mua điện từ các công ty bán lẻ, các công ty bán lẻ lại được quyền lựa chọn mua điện từ các công ty phát điện hoặc các đơn vị bán buôn điện hoặc thông qua thị trường bán buôn điện Ưu điểm của mô hình cạnh tranh bán lẻ là cho phép tự do kinh doanh và cạnh tranh trong kinh doanh, đầu tư vào các khâu phát và phân phối điện Thông qua cạnh tranh, các công ty kinh doanh điện buộc phải tìm cách nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh Điện năng thực sự trở thành hàng hóa, được giao dịch mua bán trên thị trường
Trang 24Kinh nghiệm của một số nước đã thực hiện mô hình cạnh tranh bán lẻ cho thấy tự do hóa và cạnh tranh trong kinh doanh điện đã mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực Với sự tham gia kinh doanh điện của các doanh nghiệp cá nhân tư nhân và nhà nước, các công ty kinh doanh điện đặc biệt là các công ty phân phối đã kết hợp nhiều dịch vụ gia tăng, đáp ứng tốt nhất mọi yêu cầu của khách hàng Mô hình này được ngành điện các nước trên thế giới phát triển rất nhanh trong những năm gần đây Hiện nay tại nhiều nước đã đạt được mô hình cạnh tranh bán lẻ toàn diện như: Anh, Bắc Âu, Australia, New Zealand, Argentina, một số bang của Mỹ,
Chile
Công ty phát Công ty phát Công ty phát Công ty phát Công ty phát
Bán lẻ Cty phân
phối
Bán lẻ Cty phân
phối
Bán lẻ
Khách hàng Khách hàng Khách hàng Khách hàng Khách hàng
Lưới phân phối % Thị trường bán lẻLưới truyền tải & thị trường buôn bán
Bảng 1.5 Mô hình thị trường bán buôn điện cạnh tranh
Trang 25¾ Ưu điểm
" Mức độ cạnh tranh tăng rất nhiều Khách hàng dùng điện được hưởng lợi trực
tiếp từ cạnh tranh, được lựa chọn mua điện Xóa bỏ hoàn toàn độc quyền trong kinh doanh mua bán điện
" Chất lượng dịch vụ, chất lượng điện năng sẽ được nâng lên đáng kể; giá điện do
cạnh tranh cao nên có thể giảm đáng kể
" Giảm dần tiến tới loại bỏ bù chéo trong kinh doanh phân phối và bán lẻ điện giữa
các vùng trong cả nước
" Mức độ điều tiết trong thị trường giảm đi rất nhiều so với hai cấp độ trước
¾ Hạn chế
" Hoạt động giao dịch thị trường rất phức tạp, đòi hỏi hệ thống qui định cho hoạt
động của thị trường phức tạp hơn;
" Nhu cầu đầu tư về cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho vận hành thị trường lớn hơn rất
nhiều so với thị trường buôn bán cạnh tranh
1.4 Điều tiết hoạt động điện lực trong thị trường điện
1.4.1 Vai trò của điều tiết hoạt động điện lực trong thị trường điện:
Điều tiết được định nghĩa là việc thiết lập và đảm bảo hiệu lực thi hành các luật lệ, quy định nhằm thúc đẩy vận hành hiệu quả và tính tối ưu thị trường điện Điều tiết thường chỉ áp dụng cho các ngành công nghiệp có lợi ích công cộng khá lớn, ví dụ như ngành điện, khí đốt, viễn thông, cấp nước v.v
Trang 26Đối với ngành điện, cơ quan điều tiết là một mắt xích quan trọng cơ bản trong thị trường điện cạnh tranh Để đảm bảo thành công của việc đưa cạnh tranh vào ngành điện, cần thiết phải có một thể chế điều tiết rõ ràng, minh bạch, có một
cơ quan điều tiết độc lập được trao đầy đủ quyền để chuyên trách thực hiện các chức năng điều tiết
Mục tiêu chính của điều tiết hoạt động điện lực là bảo vệ quyền và lợi ích cho khách hàng sử dụng điện và các nhà đầu tư Khách hàng sử dụng điện và các nhà đầu tư cần được bảo vệ chống lại sự lũng đoạn thị trường và những hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động của thị trường điện Ngoài ra điều tiết còn nhằm thúc đẩy các lợi ích công cộng, tối đa hóa các lợi ích xã hội, các giá trị xã hội đồng thời với việc duy trì khả năng tài chính và nâng cao hiệu quả kinh tế của ngành điện về lâu dài
1.4.2 Nguyên tắc hoạt động của Cơ quan điều tiết điện lực:
Cơ quan điều tiết điện lực là cơ quan chịu trách nhiệm tổ chức và giám sát thực hiện các mục tiêu, chính sách của Chính phủ, các chính sách về phát triển điện lực được xã hội chấp nhận Việc thực hiện các mục tiêu chính sách của Chính phủ có thành công được hay không sẽ phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tiết điện lực Các hoạt động của Cơ quan điều tiết điện lực đồng thời phải đáp ứng các yêu cầu rất khác biệt:
- Đáp ứng các mục tiêu và chính sách đề ra cho phát triển của ngành điện
cũng như các chính sách xã hội của Chính phủ;
- Phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế;
- Bảo vệ quyền lợi của người sử dụng;
- Bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư;
- Bảo vệ quyền lợi của các đơn vị hoạt động điện lực;
Trang 27- Thỏa mãn các yêu cầu của công luận;
- Đáp ứng sự thay đổi về công nghệ;
- Giảm thiểu các rủi ro khác
Bảnbg 1.6 Các đòi hỏi, áp lực đối với Cơ quan Điều tiết Điện lực
Theo kinh nghiệm nhiều nước trên thế giới, muốn hoạt động hiệu quả Cơ
quan điều tiết điện lực cần: “ Phải độc lập với các đơn vị mà nó điều tiết, được
bảo vệ khỏi các áp lực chính trị và được trao toàn quyền để điều tiết thị trường bằng các quyết định về chính sách và cưỡng chế thi hành Cơ quan điều tiết có
Trang 28quyền ra các phán quyết, xét xử để thực hiện các chức năng điều tiết và cưỡng chế một cách hiệu quả và rõ ràng Cơ quan điều tiết điện lực phải được cung cấp tài chính đầy đủ từ các nguồn doanh thu tin cậy và dự tính được ”
Để đồng thời đáp ứng được các yêu cầu đa dạng từ nhiều phía như trên, Cơ quan điều tiết điện lực cần được tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc sau:
) Vai trò và mục tiêu rõ ràng – Chức năng điều tiết, trách nhiệm và
quyền hạn của Cơ quan điều tiết điện lực cần phải được quy định cụ thể, rõ ràng trong các văn bản pháp luật để có thể triển khai thực hiện được trên thực tế và có hiệu lực thực sự
) Tính Độc lập– Cơ quan điều tiết điện lực cần phải độc lập về quyền lợi
với các hoạt động của các đơn vị tham gia thị trường để tránh bị chi phối và dẫn tới hoạt động không khách quan và kém hiệu quả Muốn vậy, nguồn tài chính cho Cơ quan điều tiết điện lực phải từ các nguồn ổn định không dễ bị thay đổi (chủ yếu là từ phí tham gia thị trường và phí giao dịch thị trường do các đối tượng tham gia giao dịch nộp qua cơ quan điều hành giao dịch thị trường)
) Tính Tự chủ cao – Cơ quan điều tiết điện lực phải có quyền tự chủ về tài
chính, tự chủ về tài chính sẽ giúp cho các hoạt động điều tiết mạnh hơn trong triển khai thực hiện, đáp ứng đủ và kịp thời các yêu cầu, diễn biến của thị trường Nguyên tắc này cũng phần nào giúp cho Cơ quan điều tiết điện lực đảm bảo được tính độc lập
) Tính Minh bạch cao trong hoạt động – Cơ quan điều tiết điện lực cần
phải minh bạch trong tất cả các phán quyết, quyết định và hoạt động tài chính của mình Có “minh bạch” thì Chính phủ và các đơn vị tham gia thị trường mới có thể giám sát được các hoạt động điều tiết điện lực và loại bỏ động cơ điều tiết sai lệch chính sách của nhà nước, sai lệch mục tiêu của phát triển thị trường điện Có minh
Trang 29bạch, các phán quyết, quyết định của Cơ quan điều tiết điện lực sẽ có sức thuyết phục cao hơn đối với các đối tượng tham gia thị trường
) Năng lực thực hiện – Năng lực thực hiện thể hiện ở chỗ có khả năng
xem xét phân tích đánh giá, dự báo trước được diễn biến, xây dựng được các cơ chế chiến lược để đáp ứng được diễn biến, ra quyết định và cưỡng chế thi hành Để thực hiện được nguyên tắc này Cơ quan điều tiết điện lực cần tuân thủ các yêu cầu sau:
- Rõ ràng minh bạch trong các quyết định
- Tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật
- Nhất quán trong giải quyết và xử lý các vấn đề
- Đáp ứng thông tin kịp thời chính xác
- Đáp ứng được các điều kiện thay đổi của thị trường
1.4.3 Nguyên tắc xây dựng tổ chức của Cơ quan điều tiết điện lực:
Tùy theo vai trò, chức năng và nhiệm vụ điều tiết trong từng cấp độ phát triển của thị trường điện mà nội dung hoạt động điều tiết và cơ cấu tổ chức cụ thể của Cơ quan điều tiết điện lực được xây dựng và điều chỉnh cho phù hợp Tuy nhiên, cơ cấu tổ chức của Cơ quan điều tiết điện lực cần được xây dựng sao cho luôn đáp ứng các nguyên tắc hoạt động nêu trên Tuy cơ cấu tổ chức của Cơ quan điều tiết điện lực có thể thay đổi qua các cấp độ thị trường nhưng tổ chức của Cơ quan điều tiết điện lực cần đảm bảo các nguyên tắc sau:
1 Phù hợp với hệ thống tổ chức và hệ thống văn bản pháp luật, liên quan tới các vấn đề về hoạt động doanh nghiệp, cạnh tranh, thanh tra, khiếu nại, tố tụng
2 Phù hợp với lộ trình phát triển thị trường và thiết kế chi tiết mô hình tổ chức và hoạt động của thị trường điện lực tại từng cấp độ
Trang 303 Tùy theo từng cấp độ phát triển của thị trường, chức năng điều tiết phải được tập trung, tránh phân tán, chồng chéo làm giảm hiệu quả của hoạt động điều tiết
4 Giảm thiểu các điều chỉnh lớn về cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ quyền hạn của Cơ quan điều tiết điện lực khi chuyển dịch qua các cấp độ của thị trường
5 Xây dựng Cơ quan điều tiết điện lực có đủ các chức năng, quyền hạn để đảm bảo điều tiết hoạt động điện lực có hiệu quả, đạt được các mục tiêu, chính sách của Chính phủ đề ra
6 Đảm bảo nguồn kinh phí hoạt động độc lập và ổn định đáp ứng đầy đủ và kịp thời các yêu cầu, diễn biến của thị trường
7 Có khả năng phối hợp chặc chẽ với hệ thống cơ quan hành pháp liên quan, như: Cơ quan quản lý cạnh tranh, thanh tra, Cơ quan tư pháp để kiểm tra, giám sát, xử phạt và cưỡng chế thi hành các Quy định, quyết định về điều tiết trong quá trình điều tiết hoạt động điện lực
1.4.4 Các mô hình Cơ quan điều tiết hoạt động điện lực:
Việc chọn mô hình tổ chức của Cơ quan điều tiết điện lực có vai trò quan trọng trong việc thực thi thành công điều tiết điện lực Tùy theo khuôn khổ pháp lý và mục tiêu chính trị của từng nước, việc lựa chọn mô hình tổ chức Cơ quan điều tiết điện lực của từng quốc gia là tương đối khác nhau
Hiện nay, trên thế giới có 3 mô hình tổ chức chính của Cơ quan điều tiết điện lực là: (a) Cơ quan điều tiết điện lực độc lập; (b) Cơ quan điều tiết điện lực trực thuộc Bộ quản lý ngành; và (c) Bộ quản lý ngành trực tiếp thực hiện chức năng điều tiết:
- Cơ quan điều tiết độc lập: Ở mô hình này Cơ quan điều tiết điện lực hoàn
toàn độc lập với chức năng quản lý nhà nước của Bộ quản lý ngành Mô hình tổ
Trang 31chức này hiện được áp dụng cho Cơ quan điều tiết điện lực tại Úc, Canada, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Iceland, Ý, Bồ Đào Nha, Thụy Điển, Anh, Mỹ, Nam Phi, Philippin, Mông Cổ Cơ quan điều tiết điện lực ở các nước nêu trên thường được điều hành bởi một Cơ quan, đối với các nước có nhiều bang, mỗi bang có một cơ quan điều tiết với đầy đủ các chức năng về điều tiết hoạt động điện lực
Theo mô hình này, Cơ quan điều tiết điện lực thường là những cơ quan công cộng độc lập được trao quyền để điều tiết một số lĩnh vực nhất định của một ngành công nghiệp Cơ quan điều tiết điện lực có thể có một số quyền phán quyết như là đặt ra các mức phạt đối với những đơn vị điện lực không thực hiện những quy định của cơ quan điều tiết hoặc đóng vai trò của một quan tòa trong những vụ tranh chấp giữa các đơn vị điện lực tham gia thị trường điện
- Cơ quan điều tiết trực thuộc Bộ quản lý ngành: Cơ quan điều tiết trực
thuộc Bộ quản lý ngành nhưng được hoạt động tự chủ Phạm vi hoạt động của cơ quan điều tiết này cũng tương tự như cơ quan điều tiết độc lập Mô hình này được áp dụng tại Hungary, Hà Lan, Na Uy, v.v Cơ quan điều tiết điện lực trực thuộc Bộ hoạt động dựa trên một nguồn ngân sách riêng biệt, theo sự quản lý tự chủ và có thể theo một khung pháp lý riêng Kinh nghiệm thực tế cho thấy, các cơ quan điều tiết tự chủ trực thuộc Bộ ở một số nước lại được vận hành, hoạt động với một mức độ độc lập khá cao
- Bộ quản lý ngành trực tiếp làm chức năng điều tiết: Mô hình này được áp
dụng ở một số nước như: Áo, Bỉ, CH Séc, Hy Lạp, Nhật Bản, New Zealand, Thổ Nhĩ Kỳ, là các nước chưa hình thành thị trường điện cạnh tranh và ngành điện vẫn còn hoạt động chủ yếu theo mô hình tích hợp dọc Các hoạt động điều tiết tại Bộ phụ thuộc chủ yếu vào chính sách điều tiết của mỗi nước
Trang 321.5 Thương mại điện tử trong thị trường điện
1.5.1 Vai trò của Hệ thống thông tin năng lượng:
Hoạt động của thị trường cạnh tranh đã mang lại lợi nhuận kinh tế và ảnh hưởng xã hội rất lớn Tuy nhiên, kinh doanh thị trường điện năng thời gian thực tế vẫn rất phức tạp do có sự khác nhau giữa các thị trường cổ truyền và thị trường điện năng Các nhà sản xuất và khách hàng thì ở khắp đất nước và điện thì không lưu trữ được, nên cần phải cĩ thơng tin rộng lớn trên thị trường Đĩ là lý do tại sao phát triển thị trường điện năng phải dựa trên thơng tin và thương mại điện tử, là những
hệ thống tính tốn và thương mại Khơng cĩ Internet/Intranet, mục đích thương mại khơng thể đạt được
Do yêu cầu thực tế, từ đầu những năm 1960 ngành cơng nghiệp điện bắt đầu ứng dụng cơng nghệ thơng tin và trở thành một trong những nơi IT sớm nhất được sử dụng Cĩ thể phân thành 3 bước: Đầu tiên, IT được đưa vào quá trình sản xuất, giám sát và điều khiển tự động ở các nhà máy điện và trạm biến áp Thứ hai là, IT chuyển sang dùng như cơng cụ chuyên biệt như tự động hố truyền tải hệ thống điện, điều khiển tải cơng suất, thiết kế cĩ hỗ trợ máy tính, hệ thống mơ phỏng máy tính Thứ ba, ứng dụng IT để điều khiển và quản lý toàn bộ Hệ thống điện và quản lý Thị trường điện
Thị trường điện năng, bao gồm việc điều hành hệ thống, quản lý tải, sự hợp tác của các nhà cung cấp và khách hàng, truyền thơng và thương mại điện tử Vì thế, hệ thống vận hành trở nên rất phức tạp và cần hệ thống đo đếm hoàn chỉnh đáng tin cậy
và chính xác, hệ thống xử lý thơng tin, hệ thống giám sát truyền thơng tin, hệ thống Kế toán và các bộ luật, điều lệ
Trang 33Tồn bộ các thủ tục bao gồm cung cấp, truyền tải, phân phối, và sử dụng điện phải được phối hợp và quản lý trong Thị trường điện duy nhất sao cho thị trường cĩ thể đáp ứng nhu cầu của các đơn vị
Trong thị trường điện năng số lượng thơng tin là rất lớn, bao gồm việc thu thập
dữ liệu và xử lý dữ liệu, quản lý thị trường kinh doanh năng lượng điện, dịch vụ truyền tải, đấu thầu và các cơng tác thương mại khác, xuất bán thành phẩm cho nhà cung cấp/nhu cầu, dịch vụ truyền tải, giá mua bán điện theo thời gian thực, giám sát và quản lý tiến độ thực hiện hợp đồng, và những thứ tương tự như thế Vì vậy, hệ thống
xử lý thơng tin phải là hệ thống tốc độ cao và có độ tin cậy cao
1.5.2 Vai trò của môi trường kinh doanh đối với thương mại điện tử:
Sự phát triển thương mại điện tử là một cơng trình xã hội mang tính hệ thống và phức tạp, khơng chỉ liên quan đến việc xây dựng cấu trúc nền tảng thơng tin, mà cịn phụ thuộc vào tín dụng thương mại, hệ thống trả tiền trong Internet, thẻ ID, các tiêu chuẩn, hệ thống giao nhận, hệ thống thuế, ban hành đạo luật và sự bổ sung sửa đổi các luật liên quan và chế độ chính trị Nĩi cách khác, nĩ dựa vào 2 yếu tố cơ bản, một là ứng dụng rỗng rãi kỹ thuật và một nữa là xây dựng các chính sách và mơi trường thị
nhiều nước cĩ thể dễ dàng kết luận rằng khâu trì trệ chủ yếu của sư phát triển thương mại điện tử là những quy tắc mơi trường thị trường và chính sách
- Hệ thống quản lý thương mại:
Hệ thống quản lý thương mại đặt trên nền tảng của Internet, đóng vai trò quan trọng nhất trong thị trường điện năng Nó đưa ra một qui tắc cho tất cả các đơn vị tham gia thị trường, như các nhà máy điện và các đơn vị cung cấp điện
Trang 34- Hệ thống kế toán:
Hệ thống kế toán trong thời gian thực hiện phải giải quyết các trường hợp không chỉ trong điều kiện bình thường mà còn trong trường hợp vi phạm hợp đồng, hệ thống này phải phản ánh toàn bộ hoạt động kinh tế trong thị trường một cách chính xác hợp lý
- Hệ thống thanh toán trên Internet:
Để phát triển thị trường điện năng, trước tiên phải hoàn thiện hệ thống thanh toán trên Internet; ngược lại hiệu suất kinh doanh sẽ rất thấp
1.5.3 Kết luận:
Trên cơ sở Internet/Intranet, trong thế kỷ này thương mại điện tử sẽ là kiểu kinh doanh chính yếu ở các doanh nghiệp điện rất có ích cho việc vận hành thị trường năng lượng điện Thật ra, thị trường rất phức tạp và gặp hàng loạt trở ngại như chính sách quốc gia, hệ thống kinh tế, các quy định và luật lệ, cấu trúc thị trường và kỹ thuật đo đạc liên quan, phương pháp tính, kỹ thuật truyền tải và kỹ thuật tự động hố Tuy nhiên, với nỗ lực của chính quyền và các chuyên gia cĩ thể tiên đốn rằng nĩ sẽ có một tương lai sáng sủa
Trang 35CHƯƠNG II
GIỚI THIỆU CÔNG NGHIỆP ĐIỆN LỰC TRUNG QUỐC
2.1 Sự phát triển công nghiệp điện Trung Quốc
2.1.1 Tóm lược:
Công nghiệp điện Trung Quốc ra đời trong thập niên 1880 của thể kỷ 19 Cơ sở nguyên thủy của công nghiệp được hình thành bởi những nhà đầu tư tư nhân và chính phủ hoạt động rải rác trong nhiều hệ thống địa phương Nhà máy điện đầu tiên được xây dựng bởi một công ty Anh tại Thượng Hải vào năm 1882 Năm 1888, chính quyền Tỉnh Quảng Đông của triều đại Thanh đã lắp đặt một nhà máy điện nhập khẩu tại thành phố Quảng Châu và trở thành nhà sản xuất điện Trung Quốc đầu tiên Những nhà máy điện ban đầu này đã sử dụng than đá địa phương phát điện thắp sáng đường phố Sự gia tăng việc sử dụng điện của các hộ giàu có ở thành thị trong thập kỷ kế tiếp đã thúc đẩy làn sóng đầu tiên của đầu tư công nghiệp điện Cả những Công ty tư nhân trong và ngoài nước, cũng như các chính quyền Trung Quốc tiếp nối, đã xây dựng những hệ thống điện địa phương để phục vụ các thành phố lớn như Thượng Hải, Thiên Tân, Bắc Kinh, Trùng Khánh, Vũ Hán, v v … Trong hơn 60 năm, những hệ thống địa phương này phát triển chậm chạp vì đất nước trải qua nhiều cuộc chiến và thay đổi chế độ
Việc thành lập Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1949 đã mang lại một thay đổi quan trọng trong việc tổ chức và phát triển của công nghiệp điện Chính quyền mới, do Đảng Cộng Sản lãnh đạo, tin rằng quyền công hữu về tư liệu sản xuất và kế họach hóa tập trung nền kinh tế quốc dân sẽ khắc phục được những
Trang 36suy thoái chu kỳ và mất cân đối của nền kinh tế thị trường tư bản Được chỉ đạo bởi quan điểm này, chế độ mới đã quốc hữu hóa công nghiệp điện, cũng như mọi tài sản kinh tế quan trọng khác, và thực hiện kế hoạch năm năm đầu tiên trong năm
1953 Chính quyền trung ương trở thành nhà đầu tư độc quyền và người vận hành hệ thống điện trong ba thập niên kế tiếp
Hệ thống điện mà chế độ mới kế thừa năm 1949 có công suất lắp đặt 1,85GW Việc xây dựng cơ sở hạ tầng điện trở thành một ưu tiên quốc gia cốt lõi, dài hạn nhằm hỗ trợ chiến lược công nghiệp hóa quy mô lớn mà chính quyền Trung Quốc chấp nhận để phát triển kinh tế Công nghiệp điện được nhận những hỗ trợ tài chính và vật chất mạnh mẽ từ chính quyền trung ương và phát triển ổn định Công suất phát điện đã tăng từ 2.000 MW đến 80.000 MW giữa những năm từ 1949 đến 1978 (Xem Hình 2.1) Trong khi đó, một hệ thống cấp quốc gia gồm năm vùng liên kết và nhiều hệ thống lưới điện cấp tỉnh dần dần phát triển Tuy nhiên, bất chấp sự gia tăng nhanh chóng, việc cung cấp điện luôn luôn tụt hậu so với việc gia tăng nhu cầu về điện theo kế hoạch trung ương Vào giữa thập niên 1970, việc thiếu hụt công suất quốc gia được dự kiến khoảng 5.000 MW hay 12% công suất lắp đặt
Những khó khăn chung về kinh tế kết hợp với yêu cầu toàn diện của trung ương đã khiến chính quyền bắt đầu những cải tổ kinh tế trong năm 1979 Những cải tổ ban đầu này, được thực hiện trên toàn bộ nền kinh tế, nhưng chỉ thâm nhập vào lĩnh vực điện dần dần và có chọn lọc Thí dụ, những cải tổ tổng quát đã thúc đẩy những nỗ lực liên tục kể từ đầu thập niên 1980 để thay đổi các đơn vị sản xuất từ kế hoạch hóa tập trung sang những doanh nghiệp hạch toán độc lập Trào lưu cải tổ kinh tế được thực hiện ở các lãnh vực khác cũng được đưa vào công nghiệp điện
1986 khi chính phủ phân quyền việc đầu tư, đưa ra quyết định tài trợ cho khu vực phát điện trong một nỗ lực để gia tăng công suất hệ thống nhằm đáp ứng nhu cầu
Trang 37ngày càng tăng Trong thời kỳ cải tổ kể từ năm 1986, các chính quyền tỉnh và điạ phương, các doanh nghiệp phi chính phủ và các nhà sản xuất điện nước ngoài đã được phép đầu tư vào các dự án được chính quyền trung ương quy hoạch, để bổ sung cho cơ sở hạ tầng điện Phần công suất của những nhà đầu tư mới này đã gia tăng từ số không đến hơn 50% của tổng công suất quốc gia trong khoảng 15 năm, mặc dù chính quyền trung ương tiếp tục là nhà cung cấp độc quyền lớn nhất về phát điện (cũng như người vận hành đơn độc của tất cả các hệ thống truyền tải đường dài và hầu hết các hệ thống phân phối địa phương) Sự phát triển công suất này, được củng cố bởi việc thiết lập một số các ưu đãi thị trường làm lợi cho việc đầu tư mới, dẫn đến sự phát triển chưa từng thấy của công nghiệp điện Sự tăng trưởng hiệu quả đã loại trừ thiếu hụt điện triền miên trên khắp nước vào cuối thập niên 1990 và tạo nên hệ thống điện lớn thứ nhì thế giới
Như Hình 2.1 cho thấy, công suất phát điện đã tăng từ 2,3 GW trong năm
1953 đến 319 GW trong năm 2000 Tỷ lệ tăng trưởng có tầm quan trọng đặc biệt trong những năm cuối của thập niên 1980 và thập niên 1990 bởi vì nhu cầu về điện tăng lên và sự tiếp tục đầu tư cho tương lai kết hợp với cải tổ kinh tế thị trường Công suất 15 GW được cộng thêm vào mỗi năm trên số trung bình Sự phát triển mới này khiến cho sản xuất điện của Trung Quốc trở thành có quy mô thế giới
Hình 2.1 Công suất phát điện (1953 – 2010)
Trang 38Về quy mô các nhà máy phát điện, mặc dù nhiều đơn vị lớn đã được xây dựng trong suốt thời kỳ cải tổ, các đơn vị nhỏ hơn, ít hiệu quả (ít hơn 100 MW) vẫn cho hơn một nửa của tổng công suất lắp đặt (Hình 2.2) Trong đợt cải tổ công nghiệp điện lần thứ nhất vào giữa thập niên 1980, chính quyền các địa phương đã khuyến khích các doanh nghiệp phi chính phủ, đầu tư vào việc phát điện, ưu đãi những nhà máy điện nhỏ, đòi hỏi vốn đầu tư thấp, thời gian xây dựng ngắn
Khi trình độ chuyên môn kỹ thuật của Trung Quốc dần dần được cải thiện vào thập niên 1990 các dự án được triển khai bởi chính quyền trung ương được hoạch định tốt hơn, đáp ứng sự gia tăng của nhu cầu cung cấp điện thông qua những lưới điện lớn Chúng thích ứng với nhà máy điện tầm cỡ lớn hơn (300MW) và những tiêu chuẩn công nghệ cao hơn Các Doanh nghiệp phát điện nhận được tài trợ ưu đãi từ các ngân hàng chính sách nhà nước và đôi khi từ các cơ quan tín dụng quốc tế Kết quả là cấu trúc của điện lực Trung Quốc được xây dựng nên từ những năm 1980 bao gồm cả những nhà máy điện hiện đại, công suất lớn, và cả những nhà máy điện lạc hậu, công suất nhỏ
Hình 2.2 Công suất theo kích cỡ đơn vị (2000)
Trang 392.1.2 Phát điện:
Công nghiệp điện Trung Quốc khởi đầu với những nhà máy quy mô nhỏ chạy bằng than đá địa phương Một số các trạm thủy điện đã được phát triển vào đầu thế kỷ 20 Sau năm 1949, chính sách năng lượng lâu dài của Trung Quốc đã nhấn mạnh vào việc thúc đẩy các nguồn năng lượng bản xứ, chủ yếu là than đá và thủy điện Tài nguyên về than đá của Trung Quốc rất phong phú, than có chất lượng tốt dùng cho việc phát điện lại tập trung tại miền Bắc, rất xa các trung tâm công nghiệp tại các vùng bờ biển phía Đông và Đông Nam Chuyển vận than, hay truyền tải điện phát tại các khu vực hầm mỏ là 1 bài toán của Ngành năng lượng Trung Quốc Việc sản xuất, vận tải, và cung cấp than cho những nhà máy điện, đã được phối hợp bởi các kế hoạch nhà nước 5 năm Thêm vào đó, việc trợ cấp giá than và việc kiểm soát nhập khẩu nhiên liệu được thực hiện như một phần của chính sách năng lượng quốc gia Kết quả là thiết lập dần dần một nền kinh tế quốc gia gia tăng phụ thuộc vào than nội địa Việc tổ chức sản xuất của công nghiệp điện Trung Quốc đã thích nghi với những công nghệ đặt nền tảng trên than đá, và công suất chạy than này lên đến 70% tổng công suất lắp đặt (Hình 2.3)
Trong các nguồn năng lượng phi hóa thạch, thủy lực và nguyên tử là những nguồn điện ưu thế Tài nguyên về thủy điện của Trung Quốc rất dồi dào, sự phân phối của chúng chủ yếu tại phía Tây Sự phát triển của thủy điện đã bị chậm do thiếu vốn và những công nghệ cho các trạm thủy điện lớn và những hệ thống truyền tải đường dài, 80% công suất thủy điện có thể khai thác được vẫn chưa được triển khai Trung Quốc bắt đầu phát triển điện hạt nhân vào thập niên 1980 Nhà máy điện nguyên tử đầu tiên, 300 MW Tần Sơn (Giai đoạn 1) tại Tỉnh Triết Giang, đã được vận hành vào năm 1992 Vào năm 2000, các nhà máy năng lượng hạt nhân lên đến khoảng 1% công suất lắp đặt
Trang 40Gas Hạt nhân Dầu khí Than Thủy điện
Hình 2.3 Công suất cơ cấu nhiên liệu
2.1.3 Truyền tải:
Các hệ thống truyền tải và phân phối đã được ưu tiên phát triển cao theo kế hoạch tập trung Trung Quốc Năm 1949, chính quyền mới đã tiếp nhận một cơ sở hạ tầng điện lực yếu kém với 6.500 km đường dây truyền tải (35 KV và hơn) Nó đã được nhân lên hơn hàng trăm lần kể từ đó Sự tăng trưởng nhanh nhất đạt được trong những năm cải tổ sau 1981 (Hình 2.4) Đặc biệt, hệ thống truyền tải được phát triển mạnh bởi việc lắp đặt mới các đường dây truyền tải cao thế và mạng lưới phân phối Trung Quốc đã xây dựng đường dây truyền tải 330 KV đầu tiên (534 km) vào năm 1972 Năm 1981, đường dây 500 KV đầu tiên được lắp đặt Mặc dù lưới điện thuộc miền và tỉnh có những đường dây cao thế này như những mạng truyền tải chính, vào năm 2000, các đường dây 330KV và 500KV chỉ chiếm 5% các đường dây truyền tải quốc gia (Bảng 2.1)
Như trong nhiều hệ thống điện phát triển nhanh khác, sự phát triển mạng truyền tải điện của Trung Quốc tiếp tục tụt hậu so với sự phát triển của công suất phát điện Trong nhiều năm, các hệ thống truyền tải không tương xứng đã hạn chế