BÀI TIỂU LUẬN Đề tài: Du lịch Phố Hiến (Hưng Yên) và những điểm không thể bỏ qua I. Đề cương bài tiểu luận 1. Giới thiệu chung về tỉnh Hưng Yên và Phố Hiến 2. Khái quát tiềm năng du lịch Phố Hiến 3. Những địa danh, thắng cảnh nên đến 4. Lễ hội, trò chơi dân gian 5. Đặc sản của Phố Hiến Hưng Yên
Trang 1BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài: Du lịch Phố Hiến (Hưng Yên) và những điểm không thể bỏ qua
I Đề cương bài tiểu luận
-1./ Giới thiệu chung về tỉnh Hưng Yên và Phố Hiến
-2./ Khái quát tiềm năng du lịch Phố Hiến
-3./ Những địa danh, thắng cảnh nên đến
-4./ Lễ hội, trò chơi dân gian
-5./ Đặc sản của Phố Hiến- Hưng Yên
II Bài làm:
“Thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến.”
Câu ca dân gian đó, phần nào nói lên thời hưng thịnh của một đô thị nay không còn nữa Song câu hỏi thường được nhiều du khách và ngay cả không
ít người bản xứ đặt ra là: Cảng thị sầm uất nhất nhì cả nước trong nhiều thế
kỷ, nay còn lại gì? Phố Hiến ra đời như thế nào? thời hưng thịnh phát triển ra sao? Vì sao Phố Hiến lụi tàn…? Và cho đến ngày nay, nhưng gì còn lại của Phố Hiến – Hưng Yên còn hấp dẫn khách du lịch?
Với hơn 200 năm, thành lập và phát triển, Hưng Yên được xếp vào danh sách những tỉnh trẻ của Bắc bộ Tuy vậy, nơi đây lại được đánh giá khá cao về bề dày văn hóa, lịch sử và sự phát triển vượt bậc của công nghiệp những năm gần đây
Thành phố Hưng Yên là tỉnh lỵ của tỉnh Hưng Yên Thành phố nằm ở phía Nam của tỉnh, bên bờ trái (bờ Bắc) sông Hồng
Diện tích: 923,5m²
Trang 2Dân số : 1.128.702 người (1/4/2009)
Tỉnh lỵ: Thành phố Hưng Yên
Các huyện: Mỹ Hào, Văn Lâm, Yên Mỹ, Khoái Châu, Văn Giang, Ân Thi,
Kim Động, Phù Cừ, Tiên Lữ
Dân tộc: Việt (Kinh), Tày, Nùng, Hoa
Hưng Yên là tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc bộ, phía bắc giáp Bắc Ninh, phía đông giáp Hải Dương, phía đông nam giáp Thái Bình, phía tây và tây bắc giáp Hà Nội, phía nam và tây nam giáp Hà Nam
Địa hình của tỉnh tương đối bằng phẳng Khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm hai mùa, mùa nóng và mùa lạnh Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23ºC
Thành phố Hưng Yên giáp với huyện Kim Động ở phía Bắc, Tiên Lữ ở phía Đông Sông Hồng làm ranh giới tự nhiên giữa thành phố Hưng Yên với các huyện Lý Nhân và Duy Tiên của tỉnh Hà Nam ở bờ Nam sông Hồng Quốc lộ
38 với cầu Yên Lệnh nối thành phố Hưng Yên với quốc lộ 1
Thành phố Hưng Yên cách Hà Nội 60km Giao thông đường bộ, đường thuỷ, đường sắt đều thuận lợi Hưng Yên nằm trên trục đường sắt và quốc lộ 5: Hà Nội – Hưng Yên – Hải Dương – Hải Phòng Có quốc lộ 39 nối từ quốc lộ 5 tại huyện Mỹ Hào tới Tp Hưng Yên và tới Thái Bình Có quốc lộ 38 qua Hải Dương và tới Bắc Ninh
Khu vực Phố Hiến nằm trên vùng đất thành phố Hưng Yên ngày nay vào thế
kỷ 16, 17 đã từng là lỵ sở của trấn Sơn Nam (ngày nay bao gồm toàn bộ hoặc một phần địa phận các tỉnh: Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Tây(cũ)) Điều này đã được xác nhận qua các thư tịch cổ của Việt Nam
Từ tháng 10 năm 1831, vua Minh Mạng thực hiện một cuộc cải cách hành chính lớn trên toàn lãnh thổ Việt Nam, trong đó có việc xóa bỏ các đơn vị tổng, trấn, và chia đặt cả nước thành 30 tỉnh Tỉnh Hưng Yên theo đó được
Trang 3thành lập, lỵ sở của tỉnh được đóng ở khu vực Xích Đằng (phường Lam Sơn -thành phố Hưng Yên ngày nay)
Sau Cách mạng Tháng Tám - 1945, thị xã Hưng Yên tiếp tục được chính quyền cách mạng chọn làm lỵ sở của tỉnh Hưng Yên
Năm 1968, hai tỉnh Hưng Yên và Hải Dương hợp nhất thành tỉnh Hải Hưng,
lỵ sở của tỉnh mới được đặt tại thị xã Hải Dương (nay là thành phố Hải Dương), thị xã Hưng Yên tạm thời mất đi vị thế trung tâm của cả tỉnh, cùng với hoàn cảnh kinh tế khó khăn của cả nước trong thời gian đó và điều kiện giao thông không thuận lợi, thị xã Hưng Yên mất đi khá nhiều cơ hội để phát triển
Tình trạng này chỉ được giải quyết từ ngày 06/11/1996, khi Quốc hội ra nghị quyết chia tách tỉnh Hải Hưng thành hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên như trước Cùng với sự "lột xác" của tỉnh Hưng Yên, thị xã Hưng Yên cũng ngày càng lớn mạnh
Ngày 17/7/2007, thị xã Hưng Yên được Bộ Xây dựng công nhận là đô thị loại III theo quyết định 1012/QĐ-BXD
Ngày 19/01/2009, thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ra Nghị định 04/NĐ - CP thành lập thành phố Hưng Yên trực thuộc tỉnh Hưng Yên trên cơ
sở diện tích, dân số của thị xã Hưng Yên cũ, mở ra một thời kỳ phát triển mới cho thành phố Hưng Yên
Đồng thời thành phố Hưng Yên cũng được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân
Thành phố Hưng Yên còn được gọi là Phố Hiến
Tiềm năng dịch vụ du lịch cũng ngày càng được các doanh nghiệp khai thác hiệu quả Thành phố hiện có 6 doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực khách sạn, nhà hàng, nhiều dự án có giá trị đầu tư lớn như: Trung tâm hội nghị quốc
tế Sơn nam Plaza, Khách sạn Phố Hiến, Khách sạn Thái Bình… Cùng với
Trang 4quần thể di tích Phố Hiến với 128 di tích, lễ hội văn hoá dân gian Phố Hiến đang được khôi phục, tôn tạo, thu hút du khách đến với hoạt động du lịch tâm linh Hàng năm thành phố đón hàng triệu lượt khách trong và ngoài nước, doanh thu khách sạn, nhà hàng và dịch vụ du lịch đạt trên 100 tỷ đồng
Để tạo nên những điểm nhấn phát triển thương mại dịch vụ, lưu giữ, phát huy những bản sắc của thành phố vốn hưng thịnh, yên bình, các cấp, ngành của tỉnh đang chung tay đầu tư tôn tạo quần thể di tích Phố Hiến, cảng đón khách
và đặc biệt là khu chợ Phố Hiến Hiện thành phố đang xúc tiến đầu tư xây dựng khu đô thị Đại học Phố Hiến và trung tâm dịch vụ thương mại tổng hợp, khu mua sắm, nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khoẻ bằng những sản vật vốn có của Hưng Yên
Từng là thương cảng quốc tế vang bóng một thời vào thế kỷ 16-17, Phố Hiến nay là dải bãi bồi từ thôn Đằng Châu (xã Lam Sơn) đến thôn Nễ Châu (phường Hồng Châu, TP Hưng Yên) Phố Hiến có những địa danh trên cùng trục đường không thể bỏ qua:
1 Đền Quan Lớn - Văn miếu Xích Đằng (phường Lam Sơn)
2 Chùa Chuông - đình An Vũ (phường Hiến Nam)
3 Chùa Nễ Châu - Chùa Hiến - Đông Đô Quảng Hội (đường Phố Hiến)
4 Đền Mẫu - đền Trần (đường Bãi Sậy, phường Quang Trung, TP Hưng Yên)
5 Đền Thiên Hậu - Chùa Phố - Võ Miếu (đường Trưng Trắc, phường Quang Trung)
Đô thị cổ Phố Hiến
Phố Hiến là một địa danh lịch sử ở thành phố Hưng Yên Vào thế kỷ 17-18, nơi đây là một thương cảng cổ nổi tiếng của Việt Nam Lúc ấy, Phố Hiến là một đô thị trải dài theo bờ tả ngạn sông Hồng
Ngoài kinh đô Thăng Long-Kẻ Chợ phồn vinh nhất nước, Phố Hiến đã là một
đô thị nổi bật đứng ở vị trí thứ hai Dân gian có câu: “Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ
Trang 5nhì Phố Hiến.” Văn bia chùa Thiên ứng, dựng năm Vĩnh Tộ thứ 7 (1625) đã ghi: “Phố Hiến nổi tiếng trong bốn phương là một tiểu Tràng An” – tức một Kinh đô thu nhỏ
Có nhiều khả năng tên gọi Phố Hiến lần đầu tiên xuất hiện vào cuối thế kỷ 15 trong công cuộc cải cách hành chính của vua Lê Thánh Tông Tuy nhiên, phải đến thế kỷ 16 mới trở thành một thương cảng sầm uất tấp nập tàu, thuyền của các nước Nhật Bản, Trung Quốc, Hà Lan, Bồ Đào Nha và các địa phương trong nước vào ra buôn bán
Ngoài vị trí trấn thủ Sơn Nam, Phố Hiến chủ yếu mang diện mạo của một đô thị kinh tế Kết cấu của nó bao gồm một bến cảng sông, một tập hợp chợ, khu phường phố và hai thương điếm phương Tây (Hà Lan và Anh)
Mạch máu giao thương của Phố Hiến là sông Xích Đằng – đoạn sông Nhị Hà chảy sát Phố Hiến Đây là nơi trung chuyển và là điểm tụ hội của những đoạn đường sông từ biển Đông vào tới Kinh thành Thăng Long Bến cảng Phố Hiến
là nơi các tàu thuyền ngoại quốc lưu đỗ để làm thủ tục kiểm soát và xin giấy phép đi tiếp tới Kinh đô
Cùng với bến cảng sông là các khu chợ khá sầm uất như chợ Vạn ở bến Xích Đằng, chợ Hiến bên cạnh lị sở Sơn Nam, chợ Bảo Châu… Những chợ này đã vượt khỏi khuôn khổ những chợ địa phương để trở thành các chợ liên vùng Thuyền bè từ Thăng Long-Kẻ Chợ và các trấn gần xa trong nước cũng như nước ngoài đã đến đây buôn bán, trao đổi hàng hóa
Khu phường phố là khu định cư của người Việt và các kiều dân ngoại quốc (chủ yếu là người Hoa) sản xuất và buôn bán với tính chất cố định ở Phố Hiến Dựa theo các văn bia ở chùa Hiến (năm 1709) và chùa Chuông (năm 1711), Phố Hiến thời đó có khoảng 20 phường Qua các bia ký, có thể đọc được 13 phố và 32 tên cửa hiệu buôn bán như Tân Thị, Tân Khai, Tiên Miếu, Hậu Trường
Trang 6Phố Hiến mang những nhu cầu tâm linh văn hóa của nhiều cộng đồng người khác nhau, thể hiện qua những công trình kiến trúc Nổi bật là các phong cách kiến trúc Việt Nam và phong cách kiến trúc Trung Hoa (với sắc thái vùng Phúc Kiến, phía Nam Trung Quốc), thấp thoáng có phong cách kiến trúc châu
Âu (nhà thờ Gôtích Phố Hiến) Nhiều khi, các phong cách kiến trúc đó pha trộn lẫn nhau Cũng như ở các đô thị Việt Nam khác, bên cạnh những kiến trúc bằng gạch ngói, đại bộ phận nhà ở của dân đều bằng gỗ tre nứa, lại ở sát nhau
Trong lịch sử, Phố Hiến là một đô thị đa quốc tịch, trong đó nhiều nhất là người Việt và người Hoa Những kiều dân ngoại quốc khác ở đây là Nhật, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp… Phần lớn người Việt cự ngụ ở Phố Hiến là từ các địa phương khác đổ về sinh sống làm ăn, đó là một cộng đồng cư dân tứ xứ
Thời kỳ phồn thịnh nhất của Phố Hiến là vào khoảng giữa thế kỷ 18 (1730-1780) Năm 1831, tỉnh Hưng Yên được thành lập trên địa bàn Phố Hiến cũ Quần thể di tích Phố Hiến
Trải qua những biến cố lịch sử và sự thay đổi của tự nhiên, Phố Hiến vẫn còn bảo tồn, giữ gìn được hơn 100 di tích lịch sử-văn hóa có giá trị, đã có 17 di tích được xếp hạng di tích lịch sử-văn hóa quốc gia; gần 100 bia ký, trên 11.200 hiện vật trong đó có 6.022 hiện vật có giá trị về lịch sử Điều đặc biệt
là các di tích phân bố ở khắp các phường, xã… tạo thành một quần thể di tích với nền kiến trúc nghệ thuật độc đáo
Văn miếu Xích Đằng
Trang 7Một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu có giá trị là văn miếu Xích Đằng tại phường Lam Sơn, thành phố Hưng Yên, biểu tượng về học vấn của nền văn hiến Hưng Yên
Văn miếu Xích Đằng là một trong 6 văn miếu còn tồn tại trong cả nước- được khởi dựng từ thế kỷ 17 (thời hậu Lê) quy mô ban đầu còn nhỏ, đến năm Minh Mệnh thứ 20 (1839), triều Nguyễn, được xây dựng lại có quy mô như hiện nay trên nền của chùa Nguyệt Đường Ngôi chùa lớn, tương truyền có 36 nóc, được Hương Hải thiền sư khởi dựng năm 1701, với sự trợ giúp của quan trấn thủ trấn Sơn Nam khi đó là Quận công Lê Đình Kiên
Dấu tích còn lại đến ngày nay là 2 mộ tháp đá: Phương Trượng Tháp và Tịnh Mãn Tháp Năm 1992, Văn miếu Xích Đằng được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích lịch sử văn hoá quốc gia
Đây là nơi thờ Khổng Tử, người được mệnh danh là “ người thày tiêu biêu của muôn đời" và Chu Văn An, thày giáo mẫu mực của nước Nam ở triều Trần
Toàn bộ khuôn viên Văn miếu có diện tích rộng gần 6 ha, nhìn ra hướng nam, phía trước là đầm Vạc, bên cạnh phía tây là hồ Văn Nhìn toàn cảnh kiến trúc công trình đồng bộ và liền mạch, gồm các hạng mục được bố trí liên hoàn như: tam quan, nhà tả vu, nhà hữu vu, tòa đại bái, trung từ và tòa hậu cung
Từ điển Địa danh văn hóa và thắng cảnh Việt Nam của Nguyễn Như Ý và Nguyễn Thành Chương ghi rõ: văn miếu Xích Đằng là một trong 6 văn miếu còn tồn tại cho đến ngày nay của đất nước, là một trong hai văn miếu lâu đời nhất (đứng sau văn miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội) còn tồn tại
Khi đến thăm văn miếu Xích Đằng, qua hồ Văn, đầm Vạc được trang điểm bởi đặc sản Hưng Yên là nhãn và sen, quang cảnh đầu tiên mà ta gặp là hình ảnh quen thuộc với sự hiện diện của 2 cây gạo cổ thụ hàng trăm năm tuổi,
Trang 8đứng trước tam quan, hay còn gọi là Nghi môn Đây là một trong những công trình còn giữ được những nét kiến trúc độc đáo trong các văn miếu còn lại ở Việt Nam Được dựng theo lối kiến trúc chồng diêm, hai tầng tám mái có lầu gác
Hai bên tam quan có hai bục loa, dùng để xướng danh sĩ tử và thông báo những quy định trong các kỳ thi hương trước đây
Thay vì lầu trống như ở các Văn miếu Quốc Tử Giám Hà Nội hay Văn miếu Mao Điền, của Hải Dương, thì ở Văn miếu Xích Đằng, lầu trống được thay vào bằng lầu chuông và lầu khánh Tiếng chuông và tiếng khánh vang lên chính là lúc báo hiệu giờ thi đã bắt đầu và kết thúc, đồng thời nó cũng là tiếng cầu thỉnh tỏ lòng biết ơn, tri ân với những bậc hiền nho trong mỗi dịp lễ hội Hai chiếc chuông và khánh đá của văn miếu cũng là những di vật cổ được đúc
và tạo dựng từ thế kỷ 18
Qua Nghi môn, phía trong cổng là sân rộng, ở giữa sân là đường thập đạo, hai bên sân ngoài lầu chuông và lầu khánh là 2 dãy tả vu, hữu vu Hai dãy nhà này hiện được dùng để trưng bày các hình ảnh và hiện vật liên quan đến giáo dục và các di tích lịch sử của tỉnh Hưng Yên
Khu nội tự văn miếu có kết cấu kiến trúc kiểu chữ Tam, bao gồm: tiền tế, trung từ và hậu cung, kiến trúc giống nhau, được làm theo kiểu vì kèo trụ trốn Hệ thống mái được kết cấu theo kiểu “trùng thiềm địa ốc” Mặt chính quay về hướng nam Bên trong khu nội tự tỏa sáng với hệ thống các đại tự, câu đối, cửa võng và một hệ thống các trụ cột, kèo được sơn son thếp vàng Ngoài các đồ thờ tự, hiện vật quý giá nhất trong văn miếu còn lưu giữ được đến ngày nay đó chính là 9 tấm bia đá khắc ghi tên tuổi, quê quán, chức
vụ của 161 vị đỗ đại khoa ở trấn Sơn Nam thượng xưa Trong đó có 138
vị quê Hưng Yên và 23 vị ở Thái Bình
Trang 9Thế kỷ 17, để chấn hưng lại nền Nho học, triều đình đã cho thành lập nhiều trường học bên ngoài trường Quốc Tử Giám Ở trấn Sơn Nam (gồm các tỉnh
Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình và một phần đất của Hà Nội và Hưng Yên) văn miếu Sơn Nam (văn miếu Xích Đằng khi đó) được xây dựng vừa làm nơi để thờ tự các bậc hiền nho, vừa là nơi tổ chức các kỳ thi của trấn
Sử sách còn ghi: Văn miếu Xích Đằng đã có lần là trường thi của khoa thi Hương, hoặc là nơi sát hạch học trò để đi thi Hương Nhà bác học Lê Quý Đôn, đã dự kỳ thi hương ở Hưng Yên hồi ấy”
Sau nhiều biến chuyển trong việc chia tách lại địa lý và đơn vị hành chính các trấn dưới các triều: Hậu Lê, Tây Sơn, nhà Nguyễn, văn miếu Xích Đằng trở thành văn miếu của trấn Sơn Nam và sau này là của tỉnh Hưng Yên
Từ các khoa thi đầu tiên đến khoa thi cuối cùng vào cuối thời nhà Nguyễn của nền học vấn phong kiến trước đây, tỉnh Hưng Yên đều có người đỗ đạt cao Thời nào cũng có người tài của đất Hưng Yên đỗ đạt ra giúp nước Trong
đó có những dòng họ hiếu học và đỗ đạt cao như: Dòng họ Dương ở xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm, dòng họ Lê Hữu ở Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, dòng họ Nguyễn Trung ở Thổ Hoàng, huyện Ân Thi.v.v Học vị cao nhất được ghi danh ở các bia đá còn lưu lại là trạng nguyên Tống Trân, thời nhà Trần; trạng nguyên Nguyễn Kỳ, triều nhà Mạc; trạng nguyên Dương Phúc Tư, triều nhà
Lê Chức vụ cao nhất được biết đến là tiến sĩ Lê Như Hổ, quận công triều nhà Mạc…
Ngay từ khi được xây dựng vào thế kỷ 17 dưới thời Lê và đến hết thời nhà Nguyễn sau này, văn miếu Xích Đằng là nơi tổ chức các kỳ thi, bái tế các bậc hiền nho vào mỗi dịp “xuân thu nhị kỳ” hằằ̀ng năm như: ngày mùng 10 tháng giêng và 14 tháng 8 âm lịch, các chức sắc đầu tỉnh và nho sinh của toàn trấn Sơn Nam và tỉnh Hưng Yên sau này tổ chức tế lễ, đồng thời thi bình văn
Trang 10Nối tiếp truyền thống của vùng đất hiếu học và văn hiến, sau ngày tái lập tỉnh Hưng Yên năm 1997, văn miếu Xích Đằng tiếp tục là nơi hàng năm diễn ra các hoạt động văn hóa, giáo dục trọng đại và có ý nghĩa của thành phố Hưng Yên và của tỉnh Hưng Yên như: các hoạt động thư pháp, hát ca trù đầu xuân,
tổ chức ngày thơ Việt Nam, vinh danh và phát thưởng cho học sinh đỗ đạt cao, có thành tích học tập tốt
Ở văn miếu Hưng Yên hiện tại đang thờ hai pho tượng của Đức Khổng Tử và các bậc chư hiền nho gia Cùng với đó là pho tượng của người thầy giáo lỗi lạc, người hiệu trưởng đầu tiên của văn miếu Quốc Tử Giám Chu Văn An Khác với cách bài trí của các văn miếu khác, ở văn miếu Hưng Yên, tượng Chu Văn An được đặt thờ ngay ở phía giữa khu đại bái, còn tượng Đức Khổng Tử và các vị chư hiền nho gia được đặt thờ trong phần hậu cung Điều này cho thấy sự kính trọng, vinh danh tấm lòng, đức độ người thầy lỗi lạc muôn đời của nền giáo dục Việt Nam mang tên Chu Văn An
Trải qua hàng trăm năm tồn tại, văn miếu Hưng Yên vẫn luôn là biểu tượng của tinh thần hiếu học và nền văn hiến Hưng Yên, trở thành địa chỉ quen thuộc của du khách gần xa khi đến thăm Phố Hiến Đó cũng là niềm tự hào của mỗi người con xứ nhãn khi được sinh ra, lớn lên trên quê hương văn hiến, cách mạng anh hùng
Chùa Chuông
Theo sách “Hưng Yên tỉnh nhất thống chí” của Trịnh Như Tấu có ghi: “Chùa Chuông – Phố Hiến đẹp nhất danh lam” có nghĩa: chỉ Chùa Chuông ở Phố Hiến là đẹp nhất Chùa Chuông được xây dựng từ thời Lê (thế kỷ 15), qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo, chùa vẫn giữ được nét kiến trúc nghệ thuật thời Hậu Lê (thế kỷ 17)