Tác giả tiến hành đề tài nghiên cứu đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân và một số biện pháp kỹ thuật cho sản xuất rau ăn tươi an toàn tại Bắc Ninh. Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là những dẫn liệu khoa học quý làm cơ sở cho các nhà quản lý nhằm hoạch định kế hoạch, chính sách đồng thời cung cấp các biện pháp kỹ thuật cần thiết cho người sản xuất rau ăn tươi an toàn không chỉ riêng trên địa bàn Bắc Ninh mà còn cho những vùng có điều kiện tương tự.
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ĐẶNG TRẦN TRUNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ĐỘ AN TOÀN RAU ĂN TƯƠI
SẢN XUẤT TẠI BẮC NINH, XÁC ĐỊNH
NGUYÊN NHÂN, NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT SẢN XUẤT RAU AN TOÀN
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ: 9620110
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
HÀ NỘI, 2019
Trang 2Công trình hoàn thành tại:
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người hướng dẫn: GS.TS NGUYỄN QUANG THẠCH
PGS.TS ĐỖ TẤN DŨNG
Hội Sinh lý thực vật
Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện họp tại: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Vào hồi giờ, ngày tháng năm 2019
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Trang 31
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Rau xanh là thực phẩm thiết yếu trong bữa ăn hằng ngày của mỗi gia đình Tuy nhiên, vấn nạn ngộ độc thực phẩm do rau xanh đang ngày càng đáng lo ngại khi mà mỗi ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng luôn có tin tức về những ca ngộ độc phải nhập viện cấp cứu Có 4 nguyên nhân chính gây nên sự mất an toàn rau, đó là hiện tượng nhiễm thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), hàm lượng nitrat (NO3-
), kim loại nặng và sự hiện diện của
vi sinh vật có hại trong sản phẩm rau vượt tiêu chuẩn cho phép (Pham Thi
Thu Huong et al., 2013) Khi con người sử dụng các loại rau bị ô nhiễm có
thể gặp các triệu chức nghiêm trọng (Tuan Anh Tran and Losanka Petrova Popova, 2013)
Bắc Ninh là một trong những địa phương có truyền thống sản xuất rau
ở miền Bắc Việt Nam Ngoài phục vụ nội tỉnh, sản phẩm rau Bắc Ninh còn cung cấp cho thành phố Hà Nội và các tỉnh lân cận Bắc Ninh có năng suất rau vào loại cao nhất 239,5 tạ/ha, trong khi Hà Nội là 211,4 tạ/ha, Vĩnh Phúc 194,8 tạ/ha và Quảng Ninh là 156,9 tạ/ha (Cục Trồng trọt - Bộ NN&PTNN, 2017) Điều này cho thấy trình độ thâm canh rau ở Bắc Ninh rất cao Tuy nhiên, dù đã có những hệ thống sản xuất rau theo quy trình sản xuất an toàn của VietGap triển khai tại một số huyện ở Bắc Ninh nhưng số lượng còn rất nhỏ lẻ Toàn tỉnh mới có 5 cơ sở được cấp chứng nhận đủ điều kiện sản xuất rau an toàn với tổng diện tích 41,5ha, 8 cơ sở được chứng nhận rau VietGAP với diện tích 23,1ha (Sở NN&PTNT Bắc Ninh, 2017) Công tác đánh giá chất lượng rau ở Bắc Ninh vẫn chưa được thực hiện đầy đủ nên chưa có các số liệu về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm rau tại tỉnh Tình trạng mất an toàn trên rau ăn lá là phổ biến chung, trên rau ăn tươi là loại rau ăn trực tiếp không qua chế biến (rau sống) chắc chắn còn nghiêm trọng hơn Do đó việc nghiên cứu đánh giá thực trạng, nguyên nhân gây mất an toàn trên rau sản xuất tại Bắc Ninh và xác định được các biện pháp kỹ thuật sản xuất rau ăn tươi an toàn cho Bắc Ninh là việc làm rất bức xúc và cần thiết
Trang 42
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu thực trạng an toàn rau ăn tươi sản xuất tại Bắc Ninh, xác định nguyên nhân gây mất an toàn rau và giải pháp khắc phục để sản xuất rau ăn tươi an toàn tại Bắc Ninh
1.3 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Các loại rau ăn tươi phổ biến (rau xà lách, rau mùi tàu, rau mùi ta và hành hoa) tại Bắc Ninh
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Điều tra, phân tích hiện trạng đất, nước tưới của một số vùng sản xuất rau chính ở Bắc Ninh, thực trạng an toàn của 4 đối tượng rau ăn tươi: xà lách, hành hoa, mùi tàu và mùi ta Bước đầu xác định nguyên nhân gây mất
an toàn trong sản xuất rau ăn tươi
- Nghiên cứu xây dựng biện pháp kỹ thuật trồng rau ăn tươi an toàn cây
xà lách, mùi ta, mùi tàu và hành hoa
- Xây dựng một số mô hình sản xuất rau ăn tươi (xà lách, mùi ta và hành hoa) an toàn
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
- Cung cấp các dẫn liệu về điều kiện sản xuất rau an toàn tại một số vùng sản xuất rau chính, thực trạng an toàn của 4 loại rau ăn tươi (xà lách, hành hoa, mùi tàu, mùi ta) tại Bắc Ninh Bước đầu xác định nguyên nhân gây mất an toàn trong sản xuất rau ăn tươi ở Bắc Ninh Dữ liệu này sẽ làm
cơ sở khoa học để quy hoạch sản xuất và đề xuất chính sách phát triển rau
an toàn tại địa phương
- Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật sản xuất rau ăn tươi an toàn cho xà lách, hành hoa, mùi tàu và mùi ta tại Bắc Ninh và các vùng có điều kiện tương tự
- Xây dựng được 6 mô hình trồng rau an toàn cho 3 loại rau ăn tươi gồm xà lách, hành hoa, mùi ta đầu tiên tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh cho hiệu quả tốt, có thể áp dụng mở rộng tại tỉnh Bắc Ninh hoặc những vùng có điều kiện sinh thái tương tự
1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ÐỀ TÀI
1.5.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài cung cấp những dẫn liệu khoa học về nguyên nhân gây mất an
Trang 53
toàn thực phẩm và yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng rau ăn tươi Đây là tài liệu có thể được sử dụng trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học về cây rau
1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài cung cấp một số biện pháp kỹ thuật sản xuất rau ăn tươi
an toàn phục vụ sản xuất rau xà lách, mùi ta, mùi tàu, hành hoa có thể áp dụng tại Bắc Ninh và các vùng có điều kiện sinh thái tương tự
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ RAU TRÊN THẾ GIỚI
VÀ VIỆT NAM
2.1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên thế giới
Tổ chức Nông nghiệp Lương thực của Liên hợp quốc (FAO, 2018) dự đoán dân số thế giới sẽ lên tới tám tỉ người vào năm 2030 Do đó, nhu cầu sản phẩm nông nghiệp sẽ tăng lên đáng kể Theo báo cáo của FAO (2018), sản lượng cây trồng dự kiến sẽ tăng 70% trong năm 2030 so với sản lượng hiện tại, trong đó trái cây và rau quả sẽ đóng vai trò quan trọng trong thức
ăn và là nguồn chủ yếu cung cấp các vitamin, khoáng chất và chất xơ cần thiết cho con người Cũng theo báo cáo này, nhu cầu về rau quả sẽ tăng mạnh trong thập kỷ tới FAO (2018) ước tính sản xuất rau quả dự kiến sẽ tăng với tốc độ 3,2% mỗi năm đối với rau và 1,6% mỗi năm cho trái cây Châu Á là nhà sản xuất rau hàng đầu với tổng sản lượng 61% và tăng trưởng 51% mỗi năm
2.1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau ở Việt nam nói chung và Bắc Ninh nói riêng
Theo FAO (2018), giai đoạn từ 1994 đến 2011, diện tích trồng rau của Việt Nam chỉ khoảng gần 300.000 ha, cho sản lượng xấp xỉ 7 triệu tấn/năm Tuy nhiên, những năm gần đây diện tích trồng rau và sản lượng đã tăng mạnh Năm 2016, diện tích trồng rau tăng lên đến 907.771 ha, cho sản lượng rau trên 13,5 triệu tấn Mặc dù Việt Nam nằm trong số các nước có ngành rau quả phát triển với tốc độ nhanh và có giá trị xuất khẩu cao Tuy nhiên, giá trị gia tăng của sản phẩm hàng hoá nông nghiệp Việt Nam vẫn thấp Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Ninh (2016) toàn tỉnh gieo trồng được hơn 15.000 ha rau màu và cây công nghiệp các loại, với 35
Trang 64
vùng sản xuất khoai tây, 36 vùng sản xuất rau xanh và 7 vùng sản xuất hoa, cây cảnh Trong đó, diện tích trồng cà rốt là 1.257,7ha, chiếm 14,3% tổng diện tích cây thực phẩm, năng suất ổn định đạt 370 tạ/ha/năm, sản lượng đạt 46.919 tấn Về cơ bản, cà rốt và rau màu sản xuất ra chủ yếu tiêu thụ tự do,
số lượng được sơ chế để xuất khẩu còn thấp và chưa ổn định (UBND tỉnh Bắc Ninh, 2016) Đến năm 2017, toàn tỉnh đã có diện tích sản xuất rau 9.398,7 ha, giảm 240,8 ha; năng suất bình quân đạt 241,1 tạ/ha, tăng 29,8 tạ/ha; sản lượng 226.623,9 tấn, tăng 22.930 tấn so với năm 2012
2.2 YÊU CẦU VỀ ĐỘ AN TOÀN CỦA RAU
Theo Camelo (2004), trái cây và rau phải có mùi vị hấp dẫn, tươi, có hàm lượng dinh dưỡng và có ngoại hình tốt Bên cạnh những đặc điểm này, rau và quả cũng phải đảm bảo không gây nguy hiểm cho sức khoẻ Người tiêu dùng không có cách nào để phát hiện sự hiện diện của các chất nguy hiểm đối với thực phẩm và hoàn toàn phụ thuộc vào trách nhiệm của tất cả các thành viên trong chuỗi sản xuất và phân phối An toàn thực phẩm là không chứa các chất gây nguy hiểm cho sức khoẻ và đặc biệt quan trọng đối với trái cây và rau Sự hiện diện của dư lượng thuốc trừ sâu trên sản phẩm là mối quan tâm chính của người tiêu dùng Tuy nhiên, có nhiều chất gây ô nhiễm khác có thể nguy hiểm như sự hiện diện của các vi sinh vật gây bệnh, độc tố của sinh vật và các chất độc hại, kim loại nặng, hàm lượng nitrate và một số chất khác
2.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP KỸ THUẬT TRONG SẢN XUẤT RAU AN TOÀN HIỆN NAY
2.3.1 Sử dụng phân hữu cơ hợp lý trong sản xuất rau
Hiện nay, sử dụng phân hữu cơ là giải pháp thay thế hữu hiệu để quản
lý các chất thải hữu cơ ở các nước đang phát triển do tính đơn giản và nhanh chóng Hơn nữa, ủ các chất thải thành phân hữu cơ có chi phí thấp hơn so với các lựa chọn khác (Taiwo, 2011) Phân tích chi phí - lợi ích cho việc chôn lấp với việc ủ phân và sử dụng trong nông nghiệp là một giải pháp thay thế tốt do chi phí môi trường và xã hội thấp hơn Ngoài ra, một
số nghiên cứu đã báo cáo rằng phân ủ tạo ra sự thay thế thân thiện với môi trường hơn các phương pháp xử lý chất thải hữu cơ khác như đốt và chôn rác Hơn nữa, bón phân hữu cơ đã tạo ra giá trị gia tăng trên sản phẩm, tạo
Trang 75
ra sản phẩm an toàn hơn, đồng thời cũng là giải pháp an toàn để cải tạo đất
Sử dụng phân hữu cơ được nhiều nhà nghiên cứu coi như giải pháp cho
canh tác nông nghiệp bền vững và an toàn (Lim et al., 2016; Samaniego et al., 2017; Koffi et al., 2018) Các nghiên cứu tại Việt Nam
Jara-đã cho thấy, sử dụng phân hữu cơ cho hiệu quả cao trong sản xuất các loại rau ăn lá (Nguyễn Đình Thi, 2013)
2.3.2 Sử dụng phân đạm hợp lý trong sản xuất rau
Các nghiên cứu của Santamaria et al (2008) trên các loại rau ăn lá cho
thấy, hàm lượng nitrate trong rau có liên quan chặt đến kỹ thuật bón phân bao gồm dạng phân ni-tơ, thời điểm bón và lượng phân bón Kết quả nghiên cứu của các tác giả này cho thấy sự thay thế ¾ lượng N trong dạng phân nitrate bằng phân bón ammonia không ảnh hưởng ở mức có ý nghĩa đến sinh trưởng của rau diếp và xà lách nhưng đã làm giảm đáng kể lượng nitrate tồn dư trong các loại rau này Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan Hương (2013) cho thấy có mối liên quan khá chặt giữa lượng ni-tơ bón vào đất với hàm lượng nitrate tồn dư trong rau
2.3.3 Sử dụng chế phẩm vi sinh hữu hiệu (Effective EM) hợp lý trong sản xuất rau
Microorganism-Higa (1995) đưa ra những bằng chứng rằng vi sinh vật hữu hiệu (EM) được sử dụng trong nông nghiệp còn phát triển lấn át các vi sinh vật gây hại Đồng thời một số vi sinh vật EM có khả năng cố định đạm, cũng như ức chế côn trùng, bệnh trên cây rau và cải thiện đáng kể chất lượng và năng suất cây rau Hiện nay, các sản phẩm phân bón sinh học như EM hiện được bán phổ biến trên thị trường Một số nghiên cứu đã báo cáo những thay đổi tích cực
về đặc tính của đất và sự sinh trưởng rau khi áp dụng các chế phẩm này
(Namasivayam, 2010; Chantal et al., 2013) Trong bối cảnh hiện nay, việc sử
dụng EM là một chiến lược quan trọng để sản suất bền vững
2.3.4 Sử dụng kỹ thuật thủy canh trong sản xuất rau
Hệ thống thủy canh là công nghệ canh tác mới, trong đó áp dụng các giải pháp dinh dưỡng mà không có đất, nhưng có sự tham gia của giá thể
hỗ trợ nhân tạo (Bhattarai et al., 2008) Các nghiên cứu cho thấy, hệ thống
thủy canh cung cấp những điều kiện tối thích đối với sự tăng trưởng của thực vật, có khả năng tái sử dụng nước và chất dinh dưỡng, dễ dàng kiểm
Trang 86
soát sự biến đổi của môi trường, cho năng suất cao hơn và thuận lợi trong phòng chống sâu, bệnh (Lommen, 2007) Chính vì vậy, hydroponics hiện nay ngày càng phát triển và ứng dụng phổ biến trong sản xuất hướng đến sản phẩm rau an toàn
PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 VẬT LIỆU, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
3.1.1 Vật liệu nghiên cứu
- Đối tượng tập trung trên 4 loại rau ăn tươi (ăn sống): rau xà lách, hành hoa, mùi tàu, mùi ta
- Các loại phân bón: Phân hữu cơ: Phân chuồng (phân gà và phân lợn) hàm lượng chủ yếu gồm hữu cơ tổng số (OM): 14,3%; N: 0,75%; K2O: 0,65%; P2O5: 0,65%.; phân Bokashi, phân vi sinh đa chức, phân Polyfa, phân Biof.Phân vô cơ: phân ure 46,3%N; phân kali (kali clorua 60% K2O, kali sulphate 50% K2O), phân super lân Lâm Thao.Chế phẩm sinh học EMINA (Effective microorganisms of Institute of Agrobiology) do Viện Sinh học Nông nghiệp, Học viện Nông nghiệp Việt Nam cung cấp
3.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu điều tra, phân tích thuộc tính của đất, độ an toàn của rau tại Bắc Ninh được tiến hành tại 31 xã thuộc các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh từ năm 2014 đến 2015;
Các thí nghiệm xác định biện pháp canh tác rau ăn tươi an toàn được thực hiện trong vụ đông-xuân năm 2016 tại xã Thụy Hòa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1- Nghiên cứu thực trạng độ an toàn rau ăn tươi trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
2- Nghiên cứu một số giải pháp kỹ thuật sản xuất rau an toàn (RAT) tại huyện Yên Phong, Bắc Ninh:
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ đến năng suất, chất lượng, độ an toàn trên một số cây rau ăn tươi
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của phân đạm đến năng suất, chất lượng, độ
an toàn trên một số cây rau ăn tươi
Trang 97
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm EMINA đến năng suất, chất lượng, độ an toàn trên một số cây rau ăn tươi
+ Nghiên cứu sản xuất rau xà lách, mùi tàu sạch bằng kỹ thuật thủy canh
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Điều tra thu thập số liệu thứ cấp tại UBND huyện, thị trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh: phương pháp phỏng vấn và quan sát
- Tại thời điểm thu hoạch, tiến hành mẫu theo tiêu chuẩn Việt Nam - TCVN 9016:2011 ban hành ngày 13/12/2012 Mẫu được lấy tại mỗi điều kiện trồng trọt, lấy theo đường chéo 5 điểm, bảo quản trong túi nilon vô trùng, làm mát trong quá trình vận chuyển từ địa điểm nghiên cứu về phòng thí nghiệm
- Các thí nghiệm xác định ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật được bố trí theo phương pháp của Gomez and Gomez (1984) và đánh giá các chỉ tiêu theo phương pháp của AVRDC (2002)
- Các chỉ tiêu về vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng rau được phân tích theo TCVN 9016:2011 ban hành ngày 13/12/2012
- Số liệu thí nghiệm được xử lý thống kê, phân tích phương sai (ANOVA) sử dụng phần mềm Excel 2013, Minitab 16 Các số liệu được trình bày là giá trị trung bình (Mean) ± SE (Standard Error); độ sai khác giữa các giá trị được chỉ ra trong các bảng, với mức độ tin cậy p = 0,05 hoặc p = 0,01
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 THỰC TRẠNG DƯ LƯỢNG NITRATE, KIM LOẠI NẶNG, VI SINH VẬT GÂY BỆNH VÀ DƯ LƯỢNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT TRONG RAU TẠI TỈNH BẮC NINH
Phân tích dư lượng nitrate, tồn dư kim loại nặng, hàm lượng vi sinh vật gây bệnh và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (TBVTV) trong các mẫu rau
ăn tươi được thể hiện ở bảng 4.1
Kết quả cho thấy hàm lượng kim loại nặng trong các loại rau rất thấp Ở
xà lách chỉ phát hiện thấy hàm lượng Pb ở dạng vết và hàm lượng Cd chỉ chiếm 1,1 - 1,2 µg/kg Ở hành hoa, hàm lượng Pb và Cd cũng thấp hơn QCVN 8-2:2011/BYT rất nhiều lần Kết quả này khác với các công bố của Nguyễn Minh Trí và cs (2015), Đoạn Chí Cường và cs (2015), George et
Trang 108
al (2000) và Fytianos et al (2001) là hàm lượng Pb và Cd trong lá khá cao khi trồng xà lách ở nơi ô nhiễm như bãi thải của mỏ khai khoáng và rác thải công nghiệp hoặc ở nơi đất có hàm lượng các kim loại này đạt tiêu chuẩn Tuy nhiên, kết quả của chúng tôi tương đồng với nghiên cứu khác ở Việt Nam của Nguyễn Thị Ngọc Ẩn và Dương Thị Bích Huệ (2007) cho thấy, xà lách và hành hoa không hấp thu và tích lũy nhiều Cd Rất có thể trong nghiên cứu của chúng tôi, hàm lượng Pb, Cd trong đất tại các khu vực điều tra đều thấp hơn ngưỡng nhiều lần nên không gây ra sự tích lũy kim loại nặng trong xà lách
Bảng 4.1 Dư lượng nitrate, tồn dư kim loại nặng và thuốc bảo vệ thực
vật trong rau ăn tươi tại Bắc Ninh
số mẫu
Pb (µg/kg)
Cd (µg/kg)
Coliform (CFU/g)
Salmonella
(CFU/g)
Số mẫu có
dư lượng TBVTV (mẫu)
Ngoài ra, phân tích về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng bộ kít VPR10 kiểm tra nhanh thuốc trừ sâu nhóm lân hữu cơ và carbamate cho thấy
ở các mẫu đều không phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (bảng 4.1)
Qua kết quả phân tích các chỉ tiêu về kim loại nặng, dư lượng thuốc BVTV và vi sinh vật trong rau là đảm bảo an toàn Tuy nhiên, dư lượng nitrat là chỉ tiêu ô nhiễm đáng báo động Đặc biệt, đối tượng hành hoa có
dư lượng nitrat vượt ngưỡng cao nhất, chiếm tới 73,3%, sau đó là mùi ta 56,7% Rau mùi tàu và xà lách có dư lượng nitrat vượt ngưỡng thấp hơn, chiếm 36,7 - 40%
Trang 119
Như vậy, dư lượng nitrat là vấn đề đáng quan tâm nhất trong sản xuất rau an toàn tại tỉnh Bắc Ninh Nghiên cứu đã tiếp tục phân tích để tìm hiểu nguyên nhân sự tích lũy nitrat trong rau ăn tươi Vì vậy, để xác định mối liên quan giữa liều lượng phân đạm urea, phân chuồng ủ hoai, số lần cách
ly và lượng đạm tổng số đến dư lượng nitrate chúng tôi đã tiến hành phân tích mối liên quan của các yếu tố này đến dư lượng nitrate trong rau Trong
đó, những hộ không rõ về chúng loại phân bón và lượng bón (rau mùi tàu)
đã được loại ra, không đưa vào phân tích tương quan
Trong nghiên cứu này, hệ số tương quan giữa hàm lượng nitrate trong
xà lách và tổng lượng N nguyên chất bón cho rau là r = 0,393 Kết quả cũng cho thấy tương quan giữa lượng urea bón và hàm lượng nitrate trong rau khá chặt (r = 0,785) Trong khi đó, mối tương quan nghịch giữa lượng phân bón hữu cơ, số ngày cách ly với dư lượng nitrate trong xà lách với hệ
số tương quan lần lượt là r= -0,177 và r = -0,508 Hàm lượng nitrate trong hành hoa có tương quan đồng biến với tổng lượng N bón và liều lượng phân urea (hệ số tương quan giữa hàm lượng nitrate với tổng lượng N nguyên chất bón thấp (r = 0,3), trong khi đó hệ số tương quan giữa nitrate trong hành hoa với liều lượng urea bón khá cao (r = 0,690) Ngoài ra, hàm lượng nitrate trong hành hoa có tương quan nghịch biến với lượng phân hữu cơ (phân chuồng) và số ngày cách ly, với hệ số tương quan lần lượt là
r = - 0,135 và r = - 0,569 (p<0,05) Ở mùi tàu, hệ số tương quan giữa hàm lượng nitrate với tổng lượng N nguyên chất bón ở mức trung bình (r = 0,367), trong khi đó hệ số tương quan giữa nitrate trong mùi tàu với liều lượng urea bón khá cao (r = 0,621) Kết quả phân tích cũng cho thấy, hàm lượng nitrate trong mùi tàu có tương quan nghịch biến với số ngày cách ly (r = - 0.699, p<0,05) Ở mùi ta cho thấy, hệ số tương quan giữa hàm lượng nitrate và tổng lượng N nguyên chất bón cho rau là r = 0,345; với lượng urea bón là r = 0,724 Trong khi đó, có mối tương quan nghịch giữa lượng phân bón hữu cơ, số ngày cách ly với dư lượng nitrate trong mùi ta với hệ
số tương quan lần lượt là r= -0,312 và r = -0,291
Như vậy, đã phát hiện mối tương quan thuận giữa hàm lượng nitrate tích lũy trong rau với lượng bón N (urea) và càng cao khi thời gian cách ly
từ khi bón đến lúc thu hoạch càng ngắn Có thể thấy trong nghiên cứu này
Trang 1210
việc bón đạm urea cao là nguyên nhân chính làm tăng hàm lượng nitrate trong rau ăn tươi Để làm giảm hàm lượng nitrate có thể áp dụng thời gian cách ly hợp lý Ngoài ra, cần nghiên cứu thêm về mối liên quan giữa lượng phân chuồng (phân hữu cơ) với dư lượng nitrate trong rau
4.2 NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT SẢN XUẤT RAU ĂN TƯƠI AN TOÀN TẠI BẮC NINH
Để xác định được biện pháp kỹ thuật sản xuất rau ăn tươi an toàn, đề tài
đã nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng và độ an toàn một số cây rau ăn tươi
4.2.1 Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến năng suấtvà độ an toàn của xà lách, hành hoa, mùi tàu, mùi ta
4.2.1.1 Ảnh hưởng của phân hữu cơ trên cây xà lách
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ đến cây xà lách (bảng 4.2) cho thấy khi sử dụng các loại phân hữu cơ khác nhau với liều lượng bón tăng lên thì năng suất xà lách có xu hướng tăng lên Sử dụng phân hữu cơ VSĐC với mức bón 7 tấn/ha cho rau xà lách đạt năng suất cao nhất (22,5 tấn/ha)
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến năng suất và độ an toàn
Nitrate (mg/kg)
Pb (µg/kg)
Cd (µg/kg)
P.chuồng 5 T/ha 18,1
b ±0,3 217,2 c ±10,2 1,4±0,1 0,7±0,1 0,6 × 10 2 KPH 0
7 T/ha 18,9b±0,5 316,6 a ± 11,1 1,5±0,2 0,5±0,1 0,5 × 10 2 KPH 0 Bokashi 5 T/ha 18,3
b±0,7 240,0 c ± 17,6 1,3±0,1 1,3±0,1 0,6 × 10 2 KPH 0
7 T/ha 19,2b±0,7 300,4 ab ± 14,9 0,5±0,3 1,5±0,1 0,6 × 10 2 KPH 0 VSĐC 5 T/ha 17,9b±0,3 176,0d ± 6,9 0,8±0,5 1,3±0,5 0,5 × 102 KPH 0
7 T/ha 22,5a±0,5 168,8 d ± 9,73 3,2±0,3 1,2±0,5 0,6 × 10 2 KPH 0 Polyfa 5 T/ha 18,0b±0,4 264,8 ab ± 34,2 4,2±0,5 0,8±0,6 0,6 × 10 2 KPH 0
7 T/ha 19,4b±0,4 322,3 a ± 21,0 1,3±0,5 1,5±0,2 0,4 × 10 2 KPH 0 Biof 5 T/ha 18,2b±0,3 307,9 ab ± 29,7 2,5±0,2 2,5±0,3 0,6 × 10 2 KPH 0
7 T/ha 19,7b±1,0 327,2 a ± 26,0 3,3±0,3 1,5±0,5 0,6 × 10 2 KPH 0 Kết quả thí nghiệm trên cây xà lách cho thấy hàm lượng nitrate biến động từ 176.0 - 327.2 (mg/kg), thấp hơn so với ngưỡng quy định (1500mg/kg) Với mức bón VSĐC 7 tấn/ha có dư lượng nitrate trong rau
Trang 1311
xà lách thấp nhất là 168.8 (mg/kg); trong khi đó, mức bón 7 tấn/ha của phân Biof có hàm lượng nitrate cao nhất là 327.2 (mg/kg), gấp 2 lần so với lượng bón phân VSĐC 7 tấn/ha Sử dụng phân chuồng 7 tấn/ha gây ra sự tích luỹ hàm lượng nitrate trong rau xà lách là 316.6 (mg/kg) cao gần tương đương so với dùng 7 tấn/ha phân Bolyfa
Đánh giá dư lượng Pb, Cd và vi sinh vật gây bệnh (E.coli và
Salmonella) cho thấy rau xà lách trồng trên các nền phân hữu cơ khác nhau
đều dưới ngưỡng cho phép theo quy chuẩn
4.2.1.2 Ảnh hưởng của phân hữu cơ trên cây hành hoa
Kết quả thí nghiệm trên cây hành hoa (bảng 4.3) cho thấy, khi sử dụng phân vi sinh đa chức 5 tấn/ha, năng suất cao nhất (20.73 tấn/ha), nhưng khi tăng lượng phân lên 7 tấn/ha thì năng suất thu được chỉ đạt 18.38 tấn
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến năng suất và độ an toàn
Cd (µg/kg)
P.chuồng 5 T/ha 14,08 a
±1,28 1140a ± 169 24,9±0,4 1,5±0,2 0,5 × 102 KPH 0
7 T/ha 15,38 a
±1,28 1280a ± 189 25,5±0,2 1,5±0,3 0,6 × 10 2 KPH 0 Bokashi 5 T/ha 17,52 a ±1,45 426 d ± 71 17,3±1,1 1,5±0,3 0,6 × 10 2 KPH 0
7 T/ha 15,81 a ±1,96 487 cd ± 41 11,5±0,5 1,5±0,2 0,5 × 102 KPH 0 VSĐC 5 T/ha 20,73 a ±3,86 683 bc ± 16 13,5±0,7 1,7±0,4 0,6 × 10 2 KPH 0
7 T/ha 18,38 a ±1,96 754 b ± 33 22,5±0,3 1,2±0,3 0,6 × 10 2 KPH 0 Polyfa 5 T/ha 18,80 a
±0,74 620bcd ± 76 24,3±0,5 1,2±0,5 0,6 × 10 2 KPH 0
7 T/ha 18,48 a
±0,67 641bcd ± 76 17,3±0,5 1,3±0,5 0,6 × 10 2 KPH 0 Biof 5 T/ha 17,20 a ±3,15 405 d ± 51 18,5±0,2 1,5±0,2 0,6 × 10 2 KPH 0
7 T/ha 17,52 a ±1,96 515 bcd ± 82 15,3±0,5 1,4±0,3 0,6 × 102 KPH 0 Điều này cũng nhận thấy xu hướng giảm năng suất khi tăng lượng phân hữu cơ bón cho hành hoa ở mức 7 tấn với mỗi loại phân Dư lượng nitrate khi sử dụng các loại phân hữu cơ khác nhau dao động từ 405 mg/kg đến
1280 mg/kg Việc sử dụng các loại phân hữu cơ có bổ sung chế phẩm vi sinh sẽ có dư lượng nitrate thấp hơn hẳn so với việc sử dụng phân chuồng theo tập quán Tuy kết quả xử lí thống kê cho thấy khi sử dụng cùng một