Phạm vi nghiên cứu Đề tài nghiên cứu một số khái niệm cơ bản về sửa tật ngôn ngữ tronglĩnh vực giáo dục đặc biệt; nguồn tài liệu chuyên môn được hồi cứu và phântích gồm các tài liệu tiến
Trang 1TÌM HIỂU MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN TRONG CHUYÊN NGÀNH SỬA TẬT NGÔN NGỮ
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới, chuyên ngành sửa tật ngôn ngữ trong giáo dục đặcbiệt đã có quá trình phát triển lâu dài và đạt được nhiều thành tựu ứngdụng mạnh mẽ Ở nước ta, chuyên ngành này chỉ mới manh nha hìnhthành cùng với quá trình xây dựng và phát triển của ngành Giáo dụcđặc biệt trong khoảng hơn 2 thập kỉ trở lại đây và đã đạt được một sốkết quả nhất định Tuy nhiên, so với nhu cầu của thực tiễn giáo dục đặcbiệt ở trong nước cũng như yêu cầu hội nhập quốc tế vẫn tồn tại nhữngkhoảng cách đáng kể, đòi hỏi nỗ lực cập nhật Thêm nữa, sự phát triểngần đây của chuyên ngành ngôn ngữ trị liệu trong lĩnh vực Y tế - Phụchồi chức năng ở nước ta trong sự độc lập và với những góc nhìn khácđòi hỏi các nhà chuyên môn trong giáo dục đặc biệt cần tìm hiểu, đốichiếu và phân tích nhằm đúc rút những thông tin cần thiết Mặt khác,trong giáo dục hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu về trẻ khuyết tật nóichung và trẻ khuyết tật ngôn ngữ nói riêng chưa có cái nhìn toàn diện
và sâu sắc về đối tượng này Các thành tựu về khuyết tật ngôn ngữ mớichỉ nhấn mạnh ở khía cạnh lời nói Cho nên, Đề tài TÌM HIỂU MỘT
SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN TRONG CHUYÊN NGÀNH SỬA TẬTNGÔN NGỮ VÀ LỜI NÓI được thực hiện sẽ góp phần đáp ứng nhữngđòi hỏi cấp thiết vừa nêu
2 Mục đích nghiên cứu
Trang 2Tìm hiểu một số khái niệm cơ bản trong chuyên ngành sửa tậtngôn ngữ nhằm làm cơ sở cho việc nghiên cứu sâu hơn về chuyênngành này ở Việt Nam.
3 Phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận
3.1 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp chính được sử dụng trong quá trình thu thập và xử
lí dữ liệu đề tài gồm: 1) Hồi cứu tư liệu; 2) Phương pháp lấy kiến chuyêngia; 3) Phân tích, so sánh và suy luận
3.2 Cách tiếp cận
- Tiếp cận lịch sử-logic: trong tìm hiểu lịch sử phát triển chuyên ngành.
- Tiếp cận hệ thống-cấu trúc: trong tìm hiểu vị trí, vai trò của chuyên ngành
cũng như hệ thống các khái niệm cơ bản
- Tiếp cận so sánh-cá biệt: trong so sánh sự phát triển chuyên ngành ở
trong và ngoài nước
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Một số khái niệm cơ bản về chuyên ngành sửa tật ngôn ngữ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu một số khái niệm cơ bản về sửa tật ngôn ngữ tronglĩnh vực giáo dục đặc biệt; nguồn tài liệu chuyên môn được hồi cứu và phântích gồm các tài liệu tiếng Việt và tiếng Anh
5 Nội dung nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu và kết luận khuyến nghị, phụ lục, tài liệu thamkhảo, kết quả nghiên cứu của đề tài gồm 2 nội dung:
Trang 3I Cơ sở lí luận
II Phân tích một số khái niệm cơ bản trong chuyên ngành sửa tật ngônngữ
Trang 4KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
I CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nghiên cứu nước ngoài
Sửa tật ngôn ngữ là một lĩnh vực mang tính liên ngành, trong đó có sựtham gia trực tiếp của Giáo dục học đặc biệt, Y học, Thanh thính học… Vàđây cũng là lĩnh vực có nhiều sự khác biệt về quan điểm giữa hai trườngphái phương Tây (Anh, Mỹ, Úc…) và Nga (Liên Xô cũ) cùng các nướcĐông Âu Hiện nay, ở Nga và các nước Đông Âu, giáo dục sửa tật ngônngữ là một chuyên ngành thuộc khoa Giáo dục Đặc biệt của nhiều trườngĐại học, ví dụ như tại Hungary, chuyên ngành giáo dục sửa tật ngôn ngữthuộc khoa Giáo dục Đặc biệt, Đại học Barczi Gusztav Một số nước nhưBulgary, Hungary, Hy Lạp, Macedonia, Phần Lan… chuyên ngành giáodục sửa tật ngôn ngữ cũng đã hình thành từ những năm 60, 70 và đã khẳngđịnh được vị thế của mình Ở các nước phương Tây, các nghiên cứu trướcđây về chuyên ngành trị liệu ngôn ngữ (speech and language therapy) chủyếu tập trung vào các nhóm đối tượng khó khăn về lời nói Ban đầu, tậtngôn ngữ được biết đến như là những rối loạn về lời nói và các nhà sửa tậtngôn ngữ lúc đó được gọi với cái tên “nhà chuẩn hóa lời nói.” Tuy nhiên,hiện nay, nội hàm khái niệm tật ngôn ngữ không chỉ bó hẹp trong vấn đềlời nói, lĩnh vực sửa tật ngôn ngữ đã mở rộng phạm vi đối tượng và hướngđến bao hàm cả khó khăn về nghe, nói, đọc, viết và giao tiếp
Các thuật ngữ hay khái niệm về tật ngôn ngữ đã được nhiều tác giảnước ngoài đề cập tới trong các công trình nghiên cứu của mình Trong đó,tập trung là các công trình nghiên cứu về lý thuyết, tiêu biểu như
Definitions of communication disorders and variations của hiệp hội nghe
Trang 5- nói (MỹAmerican Speech-Language-Hearing Association) (1993);
Speech – language guidelines for School của ZoAn Torrey (September, 2005); Human communication disorders: An introduction của Noma B Anderson; Geoge H Shames (2006); Treatment resource manual for speech-language pathology của Froma P.Roth, Colleen K Worthington
(2011) Các công trình này đã đề cập đến vấn đề về tật ngôn ngữ, các dạng
tật ngôn ngữ trong mối liên quan trực tiếp đến vấn đề hiệu quả giao tiếp
Có thể thấy, nội hàm về thuật ngữ tật ngôn ngữ đã có những thay đổi,kéo theo đó là hệ thống khái niệm liên quan và cách phân loại trong sửa tậtngôn ngữ cũng có những biến đổi nhất định Cho nên, việc tìm hiểu một sốkhái niệm cơ bản về sửa tật ngôn ngữ là điều cần thiết
1.1.2 Nghiên cứu trong nước
Từ những năm 70, giáo dục đặc biệt tại Việt Nam chịu ảnh hưởngmạnh mẽ giáo dục đặc biệt của Nga và Đông Âu Lĩnh vực giáo dục pháttriển ngôn ngữ cho trẻ khuyết tật đã hình thành và phát triển qua vài thập
kỷ gần đây với vai trò tiên phong của các chuyên gia thuộc Trung tâmNghiên cứu giáo dục đặc biệt, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam Các kếtquả nghiên cứu trong nước đã có tác dụng ban đầu trong việc ứng dụng vàophát triển ngôn ngữ giao tiếp cho trẻ khuyết tật ngôn ngữ và tiếp tục mở ranhiều hướng nghiên cứu chuyên sâu Đề cập đến khái niệm về tật ngôn ngữ
đã có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu trong nước như: Tìm hiểu về trẻ em tật ngôn ngữ của Trung tâm Gi áo dục trẻ có tật; Sửa lỗi phát âm phần vần tiếng Việt cho trẻ khuyết tật ngôn ngữ độ tuổi mẫu giáo và tiểu học bằng phương pháp sử dụng âm tiết trung gian của Trịnh Thiên Tự (1997); Phương pháp dạy phát âm của Lê Nguyên Huân (2003); Dạy hòa nhập trẻ có tật ngôn ngữ cấp Trung học cơ sở của các tác giả Lê Văn Tạc, Bùi Thế Hợp (2007), Can thiệp sớm cho trẻ khuyết tật ngôn ngữ của
Trang 6Nguyễn Thị Kim Hiền (2008)… Song song với giáo dục, chuyên ngànhngôn ngữ trị liệu trong Y học – Phục hồi chức năng cũng được xây dựng vàphát triển Tuy nhiên, có những khác biệt trong quan điểm, hệ thống kháiniệm, phương pháp và kĩ thuật giữa tiếp cận của giáo dục và y tế Vì vậy,cần có sự nghiên cứu về tật ngôn ngữ trong lĩnh vực giáo dục để góp phầnvào việc đánh giá, so sánh liên ngành ở cả trong và ngoài nước nhằmhướng đến việc ứng dụng có hiệu quả hơn các thành tựu nghiên cứu chuyênngành sau này.
1.2 Khái niệm và khái niệm cơ bản
1.2.1 Khái niệm
Khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánhnhững thuộc tính bản chất của sự vật hiện tượng Mỗi sự vật hiện tượngđều bao gồm nhiều thuộc tính, khái niệm chỉ phản ánh những thuộc tính
VD : Khái niệm “ghế” : vật dược làm ra, dùng để ngồi
1.1.2 Khái niệm cơ bản
Theo định nghĩa như trên thì khái niệm cơ bản có thể được hiểu làhình thức có bản nhất của tư duy trừu tượng, phản ánh những thuộc tínhbản chất nhất, cốt lõi nhất của sự vật hiện tượng trong thế giới xung quanh
1.3 Ngôn ngữ theo nghĩa rộng
1.3.1.Ngôn ngữ theo nghĩa rộng
Theo nghĩa rộng, ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, làphương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của các thành viên trongmột cộng đồng người và đồng thời cũng là phương tiện phát triển tư duy,
1 Phạm Đình Nghiệm (2008) Nhập môn Logic học, Nxb Đại học Quốc gia TPHCM.
Trang 7truyền đạt truyền thống văn hóa, lịch sự từ thế hệ này sang thế hệ khác[dẫn luận ngôn ngữ học2 [trang 5]
Ngôn ngữ của con ngươi không phải chỉ tồn tại dưới dạng thành tiếng mà có thể tồn tại dưới dạng biểu tượng âm thanh ở trong óc, dạng chữ viết ở trên giấy Cho nên có ngôn ngữ nói, ngôn ngữ bên trong và ngôn
ngữ viết
Ngôn ngữ gồm 2 quá trình tiếp nhận/ lĩnh hội và biểu đạt/ diễnđạt Ngôn ngữ tiếp nhận là khả năng hiểu nghĩa từ những thông tin âmthanh đầu vào hoặc những thông tin thị giác hay nói cách khác đó làkhả năng hiểu thông tin của cá nhân Ngôn ngữ biểu đạt là sự kết hợpcủa những biểu tượng ngôn ngữ vào các dạng thông tin có ý nghĩa hay
đó là khả năng đưa thông tin của cá nhân
Đầu thế kỉ XX, nhà Ngôn ngữ học F.D.Saussure đưa ra một số cặplưỡng phân để làm ranh giới phân định việc nghiên cứu trong các cặp đó cócặp lưỡng phân ngôn ngữ và lời nói Hiện nay, các nghiên cứu về ngôn ngữcũng thiên về việc phân định với cặp lưỡng phân này Như vậy, ngôn ngữtheo nghĩa rộng bao gồm 2 bình diện: ngôn ngữ theo nghĩa hẹp và lời nói
Ở đề tài này, chúng tôi lựa chọn ngôn ngữ với nội hàm ngôn ngữ theonghĩa rộng với 2 bình diện đã nêu trên
1.3.2 Ngôn ngữ theo nghĩa hẹp
1.3.2.1 Định nghĩa
Ngôn ngữ theo nghĩa hẹp là một hệ thống những đơn vị vật chấtphục vụ cho việc giao tiếp của con người và được phản ánh trong ý thứccủa tập thể một cách độc lập với những tư tưởng, tình cảm và nguyện vọng
2 Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết (2000) Dẫn luận Ngôn ngữ học Nxb Giáo dục
Trang 8cụ thể của con người, cũng như trừu tượng hóa khỏi những tư tưởng, tìnhcảm và nguyện vọng đó3 [Trang 311]
Nghĩa là, ngôn ngữ là một hệ thống những đơn vị chung nhất, là mộtmẫu chung do một cộng đồng người xây dựng nên Nó không mang tính cánhân và tách khỏi ý muốn của cá nhân Ngôn ngữ tồn tại dưới hai hình thức
là ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
Ví dụ, trong tiếng Việt chúng ta thường nói, viết theo trật tự tuyến
tính như sau: “bông hoa này rất đẹp” để chỉ một thông báo, không thể nói
“bông hoa này đẹp rất” hay “rất bông hoa đẹp này”…
1.3.2.2 Các bộ phận của ngôn ngữ
Ngôn ngữ là sự kết hợp phức tạp của ba yếu tố chính: hình thức, nộidung và cách sử dụng (Bloom và Lahey, 1975) Về mặt hình thức gồm cóngữ âm, hình thái và cú pháp Trong đó ngữ âm bao gồm hệ thống âmthanh của một ngôn ngữ và những quy tắc kết hợp những âm thanh này vớinhau Cú pháp bao gồm những quy tắc sắp xếp thứ tự và sự kết hợp giữacác từ trong cấu trúc của một câu đúng cấu trúc Vì tiếng Việt là ngôn ngữđơn lập, không phải là ngôn ngữ biến hình nên khía cạnh hình không được
đề cập ở đây
Mặt nội dung ngôn ngữ chính là bình diện ngữ nghĩa bao gồm những
ý nghĩa của từ và những quy tắc kết hợp nghĩa của các từ để tạo thànhnhững cụm từ và câu có nghĩa
Mặt hành dụng của ngôn ngữ chính là bình diện chức năng hay ngữdụng bao gồm việc sử dụng ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp để đạt đượcmục đích nhất định
3 Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết (2000) Dẫn luận Ngôn ngữ học Nxb Giáo dục.
Trang 9Những trẻ khuyết tật ngôn ngữ có thể gặp khó khăn với một hoặcnhiều yếu tố trên của ngôn ngữ.
1.3.3 Lời nói
1.3.3.1 Định nghĩa
Lời nói là kết quả của việc vận dụng các phương tiện khác nhau củangôn ngữ để truyền đạt thông tin, kêu gọi người nghe có hành động tươngứng4 [Trang 311].
Trong giao tiếp, mỗi thành viên của một cộng đồng phát ra nhữngchuỗi âm thanh khác nhau nhằm truyền đạt những thông tin cụ thể Đó làlời nói Cùng một lời nói nhưng ở mỗi cá nhân có sự khác nhau về mặt âmthanh5 [Trang 147]
1.3.3.2 Các bình diện âm thanh của lời nói
a Về mặt âm học
Âm thanh của lời nói cũng như âm thanh trong thế giới tự nhiênxung quanh chúng ta, về bản chất đều là những sóng âm được truyền trongmột môi trường nhất định và thường là không khí Khi chúng ta nói, dâythanh trong hầu chấn động, tạo nên những sóng âm Chúng được truyềntrong không khí đến tai người nghe và đập vào màng nhĩ Âm thanh cónhững đặc trưng để phân biệt nhau là:
* Cao độ do tần số dao động của vật thể quyết định Dây thanh chấn
động nhanh cho ta những âm cao, chấn động chậm cho ta những âm thấp.Đơn vị đo cao độ là Hertz (Hz) Tần số là số chu kì được thực hiện trong 1giây Tần số càng lớn thì âm phát ra càng cao và ngược lại
4 Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết (2000) Dẫn luận Ngôn ngữ học Nxb Giáo dục.
5 Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết (2000) Dẫn luận Ngôn ngữ học Nxb Giáo dục.
Trang 10* Cường độ hay độ mạnh của âm thanh, do biên độ dao động của vật
thể quyết định Dây thanh chấn động mạnh so với tư thế nghỉ ngơi thì âmphát ra lớn và ngược lại thì âm phát ra nhỏ
* Âm sắc là sắc thái của âm thanh Sự khác nhau của âm sắc là do sự
khác nhau của các hộp cộng hưởng Miệng của con người với tư cách làmột hộp cộng hưởng khác nhau do vị trí của lưỡi, môi hàm thay đổi mà trởthành rất nhiều hộp cộng hưởng khác nhau và ta có những âm với âm sắckhác nhau
* Trường độ hay là độ dài của âm thanh Độ dài của âm thanh tạo
nên sự tương phản giữa các bộ phận của lời nói
b Về mặt sinh lý học
Nói về mặt sinh lý học của âm thanh, chúng ta phải xem xét đến bộmáy phát âm Bộ máy PÂ gồm ba bộ phận chính 6 [1; 234]:
Cơ quan hô hấp: là các cơ quan ở lồng ngực như hoành cách, phế
quản, thanh quản và phổi Không khí ở phổi đi ra làm dây thanh rung động,lượng không khí cọ xát vào các bộ phận PÂ ở khoang miệng, khoang mũitạo nên âm thanh Nhiệm vụ của cơ quan hô hấp là cung cấp mức khôngkhí cần thiết, vừa đủ để tạo ra những dao động tạo âm ở trẻ bình thường là
tự nhiên, đều đặn Trẻ khuyết tật ngôn ngữ (KTNN) có những hoạt độngngôn ngữ diễn ra không bình thường, không tự nhiên vì cơ quan hô hấp cókhiếm khuyết nên cần có sự tác động thêm từ bên ngoài
Thanh hầu: là cơ quan phát ra âm thanh Thanh hầu có cấu tạo như
một cái hộp do 4 miếng sụn hợp lại Bên trong có dây thanh, dây thanh cóthể rung theo hướng căng lên hay chùng xuống, mở ra hay khép vào vì nó
6 Bộ GD & ĐT, Dự án phát triển giáo viên Tiểu học (2006) Giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật ở tiểu học (Tài liệu bồi dưỡng giáo viên) NXB Giáo dục.
Trang 11gồm 2 màng cơ mỏng giống như đôi môi Dây thanh chính là nguồn âm.Thanh hầu là khoang cộng hưởng đầu tiên của bộ máy PÂ Nếu thanh hầu
có khiếm khuyết, giọng nói của trẻ sẽ bị khàn, yếu, đứt đoạn hoặc khôngthành tiếng hay thành tiếng khó xác định…
Các khoang cộng hưởng phía trên thanh hầu: gồm khoang yết hầu,
khoang mũi và khoang miệng Từ thanh hầu, âm được phát ra rất nhỏnhưng nhờ có các khoang cộng hưởng ở trên mà âm thanh được khuếchđại Khoang miệng là một khoang cộng hưởng động Ở đây có các cơ quanngôn ngữ quan trọng: môi, ngạc, lợi, răng và đặc biệt là lưỡi Lưỡi có thểvận động linh hoạt theo mọi hướng Cùng với lưỡi, hoạt động của môi, hàmdưới… cũng làm cho hình dáng và thể tích khoang miệng thay đổi nên đãtạo ra sự đa dạng của âm thanh phát ra
Cơ quan chính của bộ máy PÂ:
1.3.4 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói
Trang 12Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp ở dạng khả năng tiềm tàng, trừutượng hóa khỏi bất kì một sự áp dụng cụ thể nào của chúng Ngôn ngữ làmẫu chung cho tất cả mọi người trong một cộng đồng.
Lời nói là phương tiện giao tiếp ở dạng hiện thực hóa, tức là ở dạnghoạt động, gắn liền với những nội dung cụ thể của từng cá nhân cụ thể
Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói là mối quan hệ giữa cái chung
và cái riêng Trong giao tiếp, người ta chỉ tiếp xúc trực tiếp với các lời nói.Người ta chỉ có thể giao tiếp nếu các ngôn bản hay lời nói bao gồm nhữngyếu tố có giá trị chung, hoạt động theo những nguyên tắc chung Ngôn ngữchính là hệ thống những nguyên tắc có giá trị chung, làm cơ sở để cấu tạocác ngôn bản hay các lời nói
Ngôn ngữ và lời nói thống nhất nhưng không đồng nhất Ngôn ngữđược hiện thực hóa trong lời nói cho nên muốn khám phá ra những đơn vị
và những quy luật hoạt động của ngôn ngữ cần phải xuất phát từ tất cảnhững lời nói phong phú và đa dạng
Trang 13Theo tài liệu [1; 222], trẻ khuyết tật ngôn ngữ là những trẻ trong nóinăng, giao tiếp hàng ngày có những biểu hiện chưa chuẩn, thiếu hụt haymất ít nhiều các yếu tố ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp so với ngôn ngữ chuẩn7
Theo như định nghĩa trên, tật ngôn ngữ tập trung chủ yếu vào tật lờinói và khả năng giao tiếp hàng ngày của trẻ với những vấn đề về hình thức
và nội dung của ngôn ngữ mà chưa đề cập đến chức năng của ngôn ngữcũng như các hình thức tồn tại của ngôn ngữ
Theo IDEA (The Individuals with Disabilities Education Act) địnhnghĩa tật ngôn ngữ tương ứng với sự rối loạn về giao tiếp với các vấn đềnhư nói lắp, suy giảm khả năng phát âm, suy giảm giọng và suy giảm vềngôn ngữ làm ảnh ảnh đến khả năng học tập của trẻ 8 [trang 3]
Với định nghĩa trên, tật ngôn ngữ và tật giao tiếp tương đồng vớinhau và bao gồm các tật ngôn ngữ (theo nghĩa hẹp) và tật lời nói
Theo ASHA (American Speech-Language-Hearing Association)
“Tật ngôn ngữ là một phạm vi rộng về các điều kiện thực hiện, các nhân tốcốt yếu và những thách thức trong việc tạo được hiệu quả trong giao tiếp.Thuật ngữ này ngụ ý rằng nó bao gồm các rối loạn trong lời nói với sự suygiảm về khả năng phát âm, về khả năng nói lưu loát và về giọng cũng nhưcác rối loạn trong ngôn ngữ với sự suy giảm trong việc sử dụng ngôn ngữnói (hoặc hệ thống kí mã hay viết ) và liên quan đến hình thức ngôn ngữ(ngữ pháp và âm vị), nội dung ngôn ngữ (ngữ nghĩa), chức năng ngôn ngữ(ngữ dụng)”9
7Bộ GD & ĐT, Dự án phát triển giáo viên Tiểu học (2006) Giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật ở
tiểu học (Tài liệu bồi dưỡng giáo viên) NXB Giáo dục.
8 ZoAn Torrey (September, 2005) Speech – language guidelines for School Kansas State Deparment of
Education
9 American Speech-Language Hearing Association Definitions of communication disorders and
variations ASHA 1993;35(Suppl 10):40–41
Trang 14Định nghĩa này đã đề cập tới vấn đề ngôn ngữ và lời nói như lànhững điều kiện để thực hiện giao tiếp có hiệu quả với đầy đủ các yếu tốbên trong chúng (hình thức, nội dung, chức năng của ngôn ngữ và khả năngphát âm, độ lưu loát, giọng của lời nói.)
Như vậy, tật ngôn ngữ (theo nghĩa rộng) bao gồm tật ngôn ngữ (theonghĩa hẹp) và tật về lời nói và chúng ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng củaquá trình giao tiếp
1.4.1.2 Nguyên nhân dẫn tới tật ngôn ngữ
Nguyên nhân dẫn tới tình trạng ngôn ngữ phát triển không bìnhthường hay tật ngôn ngữ là rất đa dạng Nói chung, các trường hợp đềuxuất phát từ những nguyên nhân sau:
a Sự phát triển không bình thường về cơ thể và giác quan
Để hiểu được tiếng nói của mình (ngôn ngữ biểu đạt) và của ngườikhác (ngôn ngữ cảm thụ) đòi hỏi phải có sự phối hợp của nhiều cơ quantrong cơ thể, trước hết là hệ thần kinh trung ương Bởi vậy, nếu hệ thầnkinh trung ương hoặc các cơ quant ham gia vào việc hình thành ngôn ngữkét phát triển hoặc bị khuyết tật thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triểnngôn ngữ
b Nguyên nhân thai nghén sinh đẻ
Nếu trong quá trình thai nghén, người mẹ bị ốm đau, nhiễm độc hoặcthai chịu ảnh hưởng của di truyền, dẫn tới quá trình phát triển của thai nhikhông bình thường thì khi sinh ra và lớn lên ngôn ngữ của trẻ cũng sẽ chịuhậu quả kém phát triển Nếu quá trình sinh nở không bình thường như đẻnon, trẻ bị ngạt hoặc phải dùng dụng cụ lấy thai gây chấn thương phần đầucho trẻ thì cũng có thể khiến ngôn ngữ của trẻ không bình thường
c Nguyên nhân bệnh tật, dùng thuốc, chấn thương
Trang 15Trẻ bị mắc bệnh sớm, đặc biệt là bệnh não sẽ dẫn tới tật ngôn ngữ.Khi trẻ ốm đau dùng thuốc không đúng liều cũng có thể dẫn tới trẻ mắc tậtnày Nếu trẻ không may bị chấn thương cũng có thể khiến ngôn ngữ của trẻkém phát triển.
d Nguyên nhân môi trường ngôn ngữ và đặc điểm chăm sóc, giáodục
Từ 1 đến 5 tuổi là thời kì ngôn ngữ sơ bộ phát triển và thời kỳ pháttriển ngôn ngữ giao tiếp thông dụng Nếu trẻ sống trong môi trường ngônngữ nghèo nàn, tiêu cực thì ngôn ngữ của trẻ đó cũng ảnh hưởng xấu theo.Ngược lại, nếu có một môi trường ngôn ngữ tốt và trẻ được chăm sóc uốnnắn kịp thời trong gia đình cũng như nhà trường thì ngôn ngữ của trẻ sẽphát triển tốt
1.4.2 Tật ngôn ngữ (theo nghĩa hẹp)
Sự quan tâm về trẻ mắc tật ngôn ngữ có một lịch sử lâu dài trongngôn ngữ bệnh học và sự quan tâm này được hâm nóng trở lại sau Hội nghịStanford về Chứng mất ngôn ngữ trẻ em trong những năm 1960 Những trẻ
bị tật ngôn ngữ ban đầu hấp dẫn các nhà nghiên cứu lý thuyết là những trẻ
có khó khăn học tập ngôn ngữ với sự suy giảm về cảm giác và thể chất, rốiloạn cảm xúc nghiêm trọng, các yếu tố môi trường, hoặc tổn thương não.Song những nguyên nhân này không phải là nguyên nhân chính yếu và rõràng Chính điều này đã thu hút hơn nữa sự quan tâm của các nhà nghiêncứu Sau hơn 40 năm, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng những đứatrẻ đó, bây giờ được gọi là trẻ em suy giảm ngôn ngữ cụ thể (SpecificLanguage Impairment), và có đặc điểm yếu kém trong việc nhận thức ngônngữ Điều này có thể giải thích được ít nhất một số khó khăn mà trẻ đanggặp phải
Trang 161.4.2.1 Định nghĩa
Tật ngôn ngữ (theo nghĩa hẹp) hay rối loạn ngôn ngữ (languagedisorders), suy giảm ngôn ngữ (language impairment/ language impaired),chậm ngôn ngữ (language delayed), suy giảm ngôn ngữ cục bộ/ cụ thể(specific language impairment) được Bloom (1988) L định nghĩa như sau:
“Tật ngôn ngữ là kết quả của sự chậm trễ hoặc rối loạn sự phát triển về mặthình thức, nội dung và việc sử dụng ngôn ngữ nói Trong đó nội dungngôn ngữ đề cập tới vấn đề cá nhân nói và hiểu như thế nào Hình thứcngôn ngữ đề cập tới vấn đề dạng thức, âm thanh của các đơn vị ngôn ngữ
và sự kết hợp chúng trong việc tạo từ, câu Sử dụng ngôn ngữ đề cập tới lí
do tại sao cá nhân nói và xây dựng cuộc đối thoại dựa trên những hiểu biết
về đối tượng nghe và ngữ cảnh xung quanh” 10 [trang 17 ]
Với định nghĩa này, có thể thấy Bloom L quá nhấn mạnh đến ngônngữ nói mà mờ nhạt hóa ngôn ngữ viết của ngôn ngữ
Khác định nghĩa trên là định nghĩa của ASHA, 1993 (AmericanSpeech-Language-Hearing Association) “Tật ngôn ngữ là một sự chậm trễđáng kể trong việc sử dụng hoặc hiểu về ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ viết.Ngôn ngữ được xem xét ở các bình diện như hình thức ngôn ngữ (âm vị, cúpháp, và hình thái), nội dung hoặc ý nghĩa (ngữ nghĩa), cách sử dụng (ngữdụng).”11
Như vậy, trẻ mắc tật ngôn ngữ sẽ khó khăn trong quá trình tiếp nhận(hiểu) ngôn ngữ hoặc/ và quá trình biểu đạt (sử dụng) ngôn ngữ ở một hoặc
cả hai hình thức ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
10 Bloom L (1988) What’s language? In M Lahey (Ed) Language disorders and language development (pp 1 -19) New York, Macmillan Publishing Company.
11 American Speech-Language-Hearing Association 1993 Definitions of communication disorders and variations [Internet] [cited 2009 Jan 7] Available from: http://www.asha.org/docs/pdf/RP1993-
00208.pdf
Trang 171.4.2.2 Mối quan hệ giữa tật ngôn ngữ (theo nghĩa hẹp) và vấn
đề đọc - viết
Như trên đã có dịp đề cập, ngôn ngữ tồn tại dưới hai hình thức là nói
và viết (trong đó bao hàm cả khả năng đọc) Vài thập kỉ trở lại đây, ngônngữ viết trở thành một đối tượng nghiên cứu chuyên sâu của nhiều nhàkhoa học trên thế giới và và bắt đầu được quan tâm sâu sắc ở Việt Nam
Giữa ngôn ngữ nói và khả năng đọc, viết có mối quan hệ chặt chẽvới nhau Ngôn ngữ nói được coi là yếu tố cơ bản để phát triển các kĩ năngviết và đọc Nhận thức siêu ngôn ngữ là một vùng của ngôn ngữ lời nói, nó
có mối liên quan mật thiết với nhận biết chữ viết Nhận thức siêu ngôn ngữ
là việc có những kiến thức rõ ràng và khả năng hiểu các khía cạnh của hệthống ngôn ngữ một cách độc lập cũng như nghĩa của những thông tin đượctruyền tải Nhận thức âm vị học là một kỹ năng năng siêu ngôn ngữ baogồm việc vận dụng những cấu trúc âm thanh của ngôn ngữ thông qua cácnhiệm vụ như: vần điệu, sự kết hợp từ và phân chia từ, âm tiết, âm vị Đặcbiệt, khả năng điều khiển âm thanh của một trẻ ở một mức độ âm vị là khảnăng phán đoán cao trong kỹ năng giải mã và đánh vần Theo đó sự lĩnhhội kĩ năng mã hóa sẽ giúp cho khả năng nhận thức âm vị được nâng lên.Những khía cạnh khác của ngôn ngữ nói như khả năng hiểu từ và vốn từ cóthể dự đoán được việc đọc hiểu của trẻ12 [trang 129]
Ngôn ngữ nói hỗ trợ cho đọc – viết và giữa ngôn ngữ nói với khảnăng đọc viết sau nay và thành tích học tập có mối liên kết chặt chẽ vớinhau Có một vài bằng chứng đã chứng minh sự liên kết này Những trẻchậm phát triển ngôn ngữ ở lứa tuổi mần non sẽ gặp nhiều vấn đề về đọchơn những trẻ bình thường khác (Bishop & Adams, 1990; Bishop &Edmondson; 1987; Catts & Kamhi, 1999; Gallagher, Frith & Snowling,
12Froma P.Roth, Colleen K Worthongton (2011) Treatment resource manual for speech-language pathology Delmar, a division of Thomson Learning, Inc.
Trang 182000; Stothard, Snowling, Bishop, chipchase & Kaplan, 1998.) Điều này cónghĩa là những trẻ đi học mà yếu về khả năng ngôn từ có thể sẽ gặp khókhăn trong việc học đọc và học viết hơn so với trẻ cùng trang lứa.(Scarborough, 2001; Scarborough and Dobrich, 1990) Trên thực tế, nhữngvấn đề trong kĩ năng ngôn ngữ nói ở lứa tuổi nhà trẻ và mẫu giáo sẽ dựđoán được khả năng đọc trong những năm đầu lớp tiểu học (Perfetti, Beck,Bell & Hughes, 1987; Roth, Speece & Cooper, 2002 Torgresen & Davis,1996…) Vì vậy, khó khăn trong đọc, viết là sự khó khăn kéo dài dai dẳng
Theo ASHA (American Speech-Language-Hearing Association), tậtlời nói là “sự suy giảm về khả năng phát âmvới đặc trưng là sự thiếu sóthoặc biến dạng của âm thanh tiếng nói; sự mất lưu loát với đặc trưng là sựbất thường về độ trôi chảy, nhịp điệu, sự lặp đi lặp lại các âm thanh; hoặc
sự rối loạn về giọng nói với đặc trưng là sự bất thường về cao độ, âm ắc,cường độ, trường độ, chất lượng phát âm” 14 [trang 7].
13 Noma B Anderson; Geoge H Shames (2006) Human communication disorders: An introduction
Pearson Education, Inc.
14 American Speech-Language-Hearing Association 1993 Definitions of communication disorders and variations [Internet] [cited 2009 Jan 7] Available from: http://www.asha.org/docs/pdf/RP1993-
00208.pdf
Trang 19Với định nghĩa trên về tật lời nói cũng đã cho chúng ta hình dungmột cách khá rõ nét về các kiểu tật lời nói cũng như các đặc trưng củachúng.
Những dạng khó khăn vừa nêu trên, khi ở mức đáng kể và tương đối
ổn định, sẽ gây tác động tiêu cực đến quá trình giao tiếp, học tập và sinhhoạt hàng ngày của trẻ
Trang 20II PHÂN TÍCH MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN TRONG CHUYÊN NGÀNH SỬA TẬT NGÔN NGỮ
2.1 Vài nét về sự hình thành và phát triển chuyên ngành sửa tật ngôn ngữ
Các chuyên gia trong lĩnh vực sửa tật ngôn ngữ được biết đến đầutiên với thuật ngữ “nhà chuẩn hóa lời nói” (speech correctionists) và liênquan chủ yếu tới các vấn đề của lời nói, chẳng hạn như nói lắp Các chuyêngia này chuẩn hóa ngôn ngữ trong các lĩnh vực của y học, giáo dục, diễnthuyết
Ở những năm đầu của quá trình phát triển chuyên ngành, sự pháttriển về nhân lực trong việc sửa tật ngôn ngữ còn mỏng và chỉ mới xuấthiện một vài nhóm được thành lập ra để thúc đẩy giáo dục và những hiểubiết về những khó khăn trong lờ nói Một nhóm các nhà chuẩn hóa lời nóitrước đó vốn là những giáo viên tập hợp lại được gọi là hiệp hội quốc gia
về nghiên cứu và sửa các rối loạn lời nói, bắt đầu vào khoảng 1918
Năm 1925, Hiệp hội nghe, nói Mỹ (ASHA) đã được thành lập Trước
đó nó được biết đến với cái tên Trường/ học viện chuẩn hóa lời nói Mỹ
Những người tiên phong trong lĩnh vực này có Charles VanRiper, đãtập trung vào việc phát triển nghiên cứu khoa học cơ bản và thực hành.Những thành tựu chính của ông là tạo ra những nguyên tắc phân loại, chẩnđoán về nguyên nhân và điều kiện liên quan với những rối loạn giao tiếpkhác nhau; phát triển các chẩn đoán để đo khả năng thực hiện của đốitượng trong nhiều lĩnh vực khác nhau; thu thập các cứ liệu qui chuẩn vàđược sử dụng như nguồn dữ liệu cho việc phân biệt những bất thường vàbình thường trong giao tiếp VanRiper cũng có công trong việc chú ý trựctiếp tới sự liên kết xã hội trong rối loạn giao tiếp Miller (1951) đã ủng hộ
Trang 21quan điểm của VanRiper và ông đã nói rằng “Suy cho cùng thì giao tiếp chỉ
Theo thời gian, “rối loạn lời nói ” hay “tật lời nói” đã thay đổi đểphản ánh quan điểm quan điểm rằng “rối loạn lời nói gồm các rối loạn giaotiếp và những khó khăn khác” Điều này cũng mang lại những quan điểmmới trong việc đánh giá Một trong những mốc ứng dụng mốc là việc sửdụng nghĩa đầy đủ của phát ngôn trong việc mô tả sự phát triển ngôn ngữđiển hình (Brown, 1973) Phương pháp này tiếp tục là một mô tả hữu íchtrong phát triển ngôn ngữ trẻ nhỏ
Như vậy, “ sửa tật ngôn ngữ” Ban đầu, chỉ tập trung vào “chuẩn hóalời nói” sau đó đã phát triển bao gồm cả phạm vi rộng cả về rối loạn giaotiếp Ngày nay, việc định nghĩa về rối loạn giao tiếp đã được mở rộng baogồm khả năng hiểu và thể hiện ý tưởng Những tác động của việc mở rộngnày thể hiện rất rõ trong chương trình giảng dạy bậc đại học và nó đã thuhút sự quan tâm của nhiều ngành khác nhau như ngành tâm lí, thần kinhhọc, y học, di truyền học, vật lí học và giáo dục học
2.2 Vai trò của các nhà sửa tật ngôn ngữ
Lực lượng tham gia sửa tật ngôn ngữ cho trẻ gồm rất nhiều thànhphần gồm có giáo viên đứng lớp, hiệu trưởng, phụ huynh, giáo viên giáodục đặc biệt, nhà tư vấn và hướng dẫn tâm lý giáo dục, người xây dựng
Trang 22chương trình giáo dục v.v trong đó phải nhấn mạnh đến vai trò của nhà sửatật ngôn ngữ (speech – language pathologist).
Khác với các nhà trị liệu ngôn ngữ ở bệnh viện, các nhà sửa tật ngônngữ ở trường học làm việc với trẻ trong độ tuổi từ 3 – 22 tuổi ở cả trườngcông lập và dân lập Người sửa tật ngôn ngữ thường làm việc trong mộtnhóm các ngành học liên quan với nhau, gồm các nhân viên công tác xãhội, nhân viên giáo dục đặc biệt, nhà tâm lí học học đường, nhà trị liệunghề nghiệp, nhà vật lý trị liệu, nhân viên giáo dục phổ thông và các nhàquản lí Họ chịu trách nhiệm về việc chẩn đoán và trị liệu cho các khó khăn
về ngôn ngữ gồm: các vấn đề về phát âm, nói lưu loát, giọng và các vấn đềliên quan đến ngôn ngữ
SLP cũng có thể làm việc với can thiệp cá nhân ở các độ tuổi khácnhau cho những người khó khăn về ngôn ngữ
Mục đích của các nhà sửa tật ngôn ngữ gồm: chẩn đoán sự suy giảmngôn ngữ, đưa ra các kiến nghị điều trị, cung cấp các hướng dẫn cho cha
mẹ và các chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục Vai trò của họ là thực hiệncác bài kiểm tra trẻ bị nghi ngờ là có vấn đề về ngôn ngữ; cung cấp các kếtquả theo dõi đánh giá trẻ khuyết tật ngôn ngữ, tham khảo ý kiến chuyên gia
và cộng đồng; làm việc với tư cách là một bộ phận của nhóm liên ngành.Bên cạnh đó, họ còn cung cấp dịch vụ tư vấn, hỗ trợ trực tiếp trẻ có nhucầu ngôn ngữ, can thiệp trực tiếp trẻ tại trường và tại nhà Yêu cầu đối với
họ là phải có bằng Thạc sĩ và 350 giờ thực hành
2.3 Phân loại tật ngôn ngữ
Ngôn ngữ (theo nghĩa hẹp) và lời nói được coi như là những thànhphần của ngôn ngữ (theo nghĩa rộng) Vì vậy, tật ngôn ngữ bao gồm tậtngôn ngữ (theo nghĩa hẹp) và tật lời nói
Trang 232.3.1 Phân loại tật ngôn ngữ (theo nghĩa hẹp)
Có rất nhiều cách phân loại tật ngôn ngữ Dựa vào các tiêu chí phânloại khác nhau sẽ cho chúng ta các kết quả phân loại khác nhau
Theo Hiệp hội Tâm thần Mỹ DSM – IV và Tổ chức phân loại quốc tế
về chức năng, khuyết tật, y tế (the International Classification ofFunctioning, Disability, and Health), dựa trên sự rối loạn trong quá trìnhtiếp nhận và biểu đạt ngôn ngữ, có thể phân chia khuyết tật ngôn ngữthành:
- Rối loạn ngôn ngữ tiếp nhận (language comprehension/ receptivelanguage ), trong đó gồm có rối loạn ngôn ngữ tiếp nhận về cả 3 mặt củangôn ngữ: nội dung, hình thức và ngữ dụng
- Rối loạn ngôn ngữ biểu đạt (language performance/ languageproduction/ expressive language), trong đó cũng gồm các rối loạn về 3 mặtcủa ngôn ngữ như trên
- Rối loạn ngôn ngữ hỗn hợp gồm cả rối loạn ngôn ngữ tiếp nhận và ngôn ngữ biểu đạt (Mixed receptive-expressive language)
Theo ASHA (American Speech language and Hearing Association)
và nhiều nhà nghiên cứu hiện đại như Noma B Anderson, George H.Shames thì căn cứ vào nhiều tiêu chí khác nhau
Nếu dựa vào tiêu chí nguyên nhân, có thể phân chia thành:
- Tật ngôn ngữ nguyên phát (primary language impairment)
- Tật ngôn ngữ thứ phát (secondary language impairment)
- Tật ngôn ngữ phát triển (developmental):
- Tật ngôn ngữ mắc phải (acquired)
Nếu căn cứ vào mặt biểu hiện, có thể phân thành các dạng tật ngôn ngữ sau: