1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Gián án sụ gặp gỡ giữa văn hóa phương đông va phương tây

62 1,8K 68
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự Gặp Gỡ Văn Hóa Phương Đông Và Phương Tây
Tác giả Nhóm 7
Người hướng dẫn Th.s Nguyễn Văn Đoàn
Trường học Trường Đại Học
Thể loại Đồ án
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 5,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các con đường giao lưu văn hóa phương Đông – phương Tây cổ trung đại 1.2.1.. Chương 1: Khái quát về phương Đông - phương Tây cổ trung đại và các con đường giao lưu văn hóa Đông – Tây 1.

Trang 1

SỰ GẶP GỠ VĂN HÓA PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY

GV hướng dẫn: Th.s Nguyễn Văn Đoàn Nhóm SV thực hiện: Nhóm 7

Trang 2

1.1.3 Những đặc điểm cơ bản của văn hóa phương Đông –

phương Tây cổ trung đại

1.2 Các con đường giao lưu văn hóa phương Đông – phương Tây cổ trung đại

1.2.1 Con đường thương mại:

1.2.2 Con đường chiến tranh:

1.2.3 Con đường truyền giáo

1.2.4 Con đường di dân:

Trang 3

Chương 2 Sự gặp gỡ văn hóa Đông Tây

Trang 4

“Ôi Đông là Đông, Tây là Tây

và hai bên sẽ chẳng bao giờ gặp nhau”

(Kipling )

MỞ ĐẦU

Trang 5

Chương 1: Khái quát về phương Đông - phương Tây cổ trung đại

và các con đường giao lưu văn hóa Đông – Tây 1.1 Khái quát về phương Đông và phương Tây cổ trung đại

1.1.1 Khái niệm:

trong lịch sử, cụ thể là xuất phát đầu tiên ở khu vực Nam Âu

(Hy Lạp, bán đảo Bakkans) vào thời cổ đại Lúc đó con người

chưa tìm ra Tân lục địa nên người Hy Lạp gọi khu vực mặt

trời lặn so với họ là phương Tây, các vùng đất còn lại (Châu

Á, châu Phi) gọi là phương Đông Sự phân loại này mang tính

chất tương đối và chỉ là sự quy ước của con người mà thôi.

Trang 6

1.1.2 Khái quát lịch sử phương Đông – phương Tây cổ - trung đại Phương Đông và phương Tây cổ đại:

Bản đồ các quốc gia cổ đại phương Đông

Trang 7

Bản đồ Hi Lạp cổ đại

Trang 8

La Mã cổ đại

Trang 9

1.1.3 Những đặc điểm cơ bản của văn hóa phương Đông – phương Tây cổ trung đại.

 Về loại hình văn hóa: Văn hóa phương Đông thuộc cội nguồn văn

hóa nông nghiệp Còn văn hóa phương Tây thuộc văn hóa du mục

và thương nghiệp.

 Về tư tưởng triết học: Phương Đông “ chủ toàn” còn phương Tây “

chủ biệt” ( Cao Xuân Huy ).

 Trong phương thức sống: Phương Đông trọng tình, hướng nội và

khép kín trong khi đó phương Tây trọng động, hướng ngoại và cởi mở.

 Trong phương thức tư duy: Phương Đông nặng về tổng hợp còn

phương Tây nặng về phân tích Phương Đông duy linh còn phương Tây duy lý.

 Trong quan hệ ứng xử giữa người với người: Phương Đông nặng về

cộng đồng, phương Tây nặng về cá thể; phương Đông đề cao

nghĩa vụ trách nhiệm, phương Tây coi trọng quyền lợi.

 Trong quan hệ ứng xử với thiên nhiên: phương Đông nghiêng về

quan hệ hòa đồng với tự nhiên trong khi phương Tây coi thiên

nhiên là đối tượng chinh phục.

Trang 10

1.2 Các con đường giao lưu văn hóa phương Đông – phương Tây cổ trung đại

Thương mại Chiến tranh Truyền giáo Di dân

Các con đường giao lưu văn hóa

Trang 11

1.2.1 Con đường thương mại:

 Thời cổ trung đại, sự giao lưu buôn bán được thực hiện thông

qua hai con đường chủ yếu là đường bộ và đường biển

 Các thương nhân đã tạo ra hai con đường đã đi vào lịch sử

nhân loại: con đường tơ lụa và con đường hương liệu

 Trên những con đường hoang, khách buôn tụ nhau ca

hát, kể cho nhau nghe về phong tục tập quán xứ mình,

về kiến thức khoa học, triết lý, tôn giáo, thế giới quan

Từ một hoạt động thuần tuý trao đổi hàng hóa, những

“thương lái đường dài” đầu tiên đó của thế giới trở thành cầu nối của những nền văn hóa khác nhau.

Trang 15

1.2.2 Con đường chiến tranh

Trang 16

1.2.3 Con đường truyền giáo

Trang 17

Nhà thờ Thiều Châu – nhà thờ Thiên chúa đầu tiên

ở Trung Hoa

Trang 18

1.2.4 Con đường di dân

Trang 19

Chương 2: Sự gặp gỡ văn hóa phương Đông và

phương Tây

 Chữ viết là một trong những thành tựu lớn nhất trong lịch sử văn minh

nhân loại

 Người Ai Cập cổ đại đã xây dựng được hệ thống gồm 24 con chữ,

ghi lại các phụ âm trong ngôn ngữ Ai Cập Đáng tiếc sáng chế này

không được người Ai Cập đương thời quan tâm cải tiến và phát triển

Đến khoảng năm 2000 TCN người Semites và sau đó là người

Phenicie - những tộc người sống trong khu vực ven Hồng Hải và Địa

Trung Hải đã tiếp thu thành quả sáng tạo này của người Ai Cập cổ đại

Khoảng thế kỷ IX TCN, người Phenicie đã sáng tạo ra 22 chữ cái

2.1 Chữ viết:

Trang 20

 Hệ thống chữ này của người Phenicie được người Hi Lạp tiếp cận thông qua

những mối quan hệ buôn bán, bảng chữ cái Hy Lạp ra đời gồm 24 chữ có 18 phụ âm

và 6 nguyên âm La Mã cổ đại do điều kiện địa lý gần với Hi Lạp nên người La Mã đã sớm học hỏi bảng mẫu tự Hi Lạp để rồi sáng tạo ra chữ viết của dân tộc mình

 Đặc điểm bảng chữ người La Mã sáng tạo ban đầu gồm 20 chữ, sau thêm 6

hình thành chữ cái Latinh hoàn chỉnh như ngày nay

Trang 21

2.2 Tôn giáo tín ngưỡng

 Cả Phương Đông và Phương Tây đều thờ rất nhiều loại thần Nếu như Phương Đông có thần mặt trời, thần đất, nước, mây, mưa, sấm, chớp Thì ở Phương Tây có thần đất Giaia, thần Uranut tức là thần trời, thần thợ rèn

Hêphaixtốt

Cũng như loài người, các thần cũng thường kết hợp với nhau và

tạo thành những thần mới

Trang 22

Thần mặt Trời (Ai Cập) Thần Dơt (Hy Lạp)

Trang 23

Cơ sở của sự xuất hiện tôn giáo nhất thần (độc thần giáo) là ở Ai Cập vào thời

kì Trung Vương quốc đã diễn ra cuộc cải cách tôn giáo cả nước chỉ thờ một thần,

đó là thần Atôn

 Đặc biệt đến thời kỳ Hi Lạp hoá đã diễn ra sự đan quyện độc đáo giữa tôn

giáo Phương Đông và Phương Tây

 Hầu hết ở Phương Đông và Phương Tây thời cổ trung đại, giai cấp thống trị đều

sử dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm bệ đỡ tư tưởng nhằm bảo vệ quyền lợi của giai cấp mình, răn đe dân chúng phải an phận thủ thừa, không đấu tranh, vì tội lỗi,

nghèo đói ở kiếp này là do việc làm ở tiền kiếp, nếu đấu tranh sẽ bị trừng phạt

 Phương Đông là quê hương của nhiều tôn giáo như :Ấn Độ giáo, Phật giáo,

Hồi giáo,…cùng với văn hóa Phương Đông, Phương Tây, các nhà truyền giáo

đã đưa tôn giáo Phương Đông đến với thế giới

Trang 24

 Những tác phẩm này đã ảnh hưởng đến văn học Phương Tây như

trường ca “Iliat và Ôdixe”, v.v…

 Ở Ai Cập vào năm 332 TCN Alechxander Đại Đế đến Ai Cập ông đã tổ

chức lại đất nước, thiết lập thủ đô mới Alechxandria Trong 3 thế kỉ sau đó,

tiếng Hi Lạp là ngôn ngữ chính thức của triều đình Ai Cập Văn hóa Hellen

đã hòa nhập vào văn hóa bản địa của người Ai Cập Thành phố

Alechxandria là thủ đô, hội tụ những tinh hoa văn hóa của Hi Lạp và Ai Cập

là trung tâm thư viện của thế giới

Trang 25

Tư tưởng “Phục Hưng” không những có ở các nhà thơ Phương Tây mà cũng xuất hiện ở các nhà thơ Phương Đông

Lý Bạch Đantê

Trang 26

Kỹ thuật làm giấy

2.4 Khoa học

2.4.1 Tứ đại phát minh và ảnh hưởng của nó

Nghề làm giấy: Từ thế kỉ I TCN

nhờ sự phát triển của ngành dệt tơ

tằm, người Trung Quốc đã tạo ra

cách làm giấy bằng tơ

Sang thế kỉ VI, kỉ thuật làm giấy

được truyền sang Triều Tiên,

Việt Nam và Nhật Bản Đến thế

kỉ VIII, phương pháp này qua

Thổ Nhỉ Kì truyền vào ARập,

sau đó được truyền sang Châu

Âu

Trang 27

Kỹ thuật in bằng con chữ

rời: Người Trung Quốc biết

đến kỉ thuật in từ đời Đường

đến thế kỉ XI (thời Tống)

người ta phát minh ra kỉ thuật

in chữ rời bằng đất sét nung

Đầu thế kỉ XIV, chữ đất sét

nung được thay bằng chữ gỗ

Sau khi truyền sang Triều

Tiên chữ gỗ được thay bằng

chữ đồng Từ đó nghề in càng

phát triển Sau đó được

truyền sang Triều Tiên, Nhật

Bản, ARập sau đó truyền Kỹ thuật in

Trang 28

La bàn: Cũng là một

trong những phát kiến quan

trọng của người Trung Quốc

thời cổ đại Từ thế kỉ III TCn

người Trung Quốc đã biết

biết thu từ tính bằng việc

dùng mài lên đá nam châm

Từ miếng sắt đó người ta

làm ra được la bàn La bàn

Trang 29

 Thuốc súng:

Việc phát minh ra thuốc súng có

nguồn gốc từ việc luyện đan

được coi là thuốc trường sinh

bất lão

 Sau khi được truyền vào

ARập thuật luyện đơn tức là

phương pháp bào chế thuốc đã

góp phần phát triển kỉ thuật chế

biến thuốc của nước này sau đó

Châu Âu lại học tập kỉ thuật chế

biến thuốc từ người ARập và

nền hóa học hiện đại sau này

chính là dựa trên cơ sở từ thuật

chế biến thuốc của người Trung

Thuốc súng

Trang 30

2.4.2 Sử học

 Ở Phương Đông và Phương Tây sử học đều ra đời sớm và có nhiều tác phẩm Ở Phương Đông nổi tiếng với “Bộ sử kí” của Tư Mã Thiên còn ở Phương Tây, Herodot được coi là cha đẻ của sử học Phương Tây

Trang 31

 Các tác giả Rô Ma và Hi Lạp cổ đại ghi chép khá nhiều về lịch sử

Phương Đông, hay nói cách khác lịch sử của Phương Đông cổ đại

được đề cập tới khá đầy đủ trong các tác phẩm của các tác giả Hi Lạp,

La Mã Phong phú và đầy đủ hơn cả là các tác phẩm của Herodot ông

có công rất lớn trong việc ghi chép lịch sử Phương Đông

 Vào thế kỉ V TCN Herodot đã có điều kiện di du lịch nhiều nơi: Ai Cập, Lưỡng Hà, Ba Tư và đã có những tư liệu quan trọng được ghi chép lại trong bộ “Lịch sử” Đây là một trong những nguồn tư liệu quý giá để

nghiên cứu lịch sử các dân tộc Phương Đông, như việc xây dựng Kim

Tự Tháp ở Ai Cập

Trang 32

2.4.3 Toán học và Vật lí

Người Ai Cập đã sáng tạo ra chữ số thập phân, hệ đếm tiến vị, biết tính diện tích hình tròn hình tam giác, họ cũng là người biết dùng đòn bẩy trong xây dựng.

Người Lưỡng Hà biết đến bốn phép tính : cộng, trừ, nhân, chia từ

rất sớm biết khai căn bậc 2, bậc 3 sử dụng hệ đếm lấy 10; 60 làm cơ

sở

Với việc phát minh ra con số 0 ở người Ấn Độ đã hoàn thiện hệ thống 10 chữ số từ O đến 9 có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với nhân loại.

Thông qua giao lưu những kiến thức toán học và vật lí từ

Phương Đông được người Phương Tây tiếp nhận và phát triển

lên một tầm cao mới.

Trang 33

Talet (thế kỉ VI TCN) nhà toán học thiên văn học và triết học Hi Lạp Talet

đã đưa những tri thức hình học từ việc đo đạc của Phương Dông để sáng tạo ra những định luật phổ biến góp phần đáng kể trong thành tựu toán học của nhân loại

Ông chính là người đầu tiên đo được chiều cao của Kim Tự Tháp nhờ

phương pháp đo và tính bóng của nó trên mặt đất

Trang 34

Pitago (580 – 500TCN), nhà số học nổi tiếng của Hi Lạp cổ đại ông và các

học trò đã tổng kết về các tri thức số học, đặt ra những công thức toán học quan trọng nhất là định lí về các cạnh trong tam giác vuông “ Định lí Pitago”

Có thể ông đã tiếp thu định lí này từ người Lưỡng Hà, trong định lí của người Lưỡng Hà: trong một tam giác vuông bình phương cạnh huyền bằng tổng bình phương hai cạnh gốc vuông Là hoàn toàn trùng khớp với định lí Pitago

Trang 35

Ơclit (Nữa đầu thế kỉ III TCN) nhà toán học của Hi Lạp người có

công tập hợp nhiều nhà toán học và nhiều công trình toán học về Alechxandria (Ai Cập), người đầu tiên biên soạn sách giáo khoa hình học Công trình chính của ông là tập “Cơ bản” gồm 13 chương được soạn thảo vào năm 325 TCN

 Acsimet (287 – 212 TCN) là toán học, vật lí học nổi tiếng ông có một thời gian học tập ở Alechxandria Asimet đã phát minh ra đòn bẩy và nguyên lí vật nổi, ròng rọc, guồng nước Căn cứ trên

những ttri thức về hình học và đại số để đặt ra những công thức toán học mà quan trọng là về số π

Trang 36

2.4.4.Thiên văn học và địa lý học

 Phương Đông ra đời sớm hơn

phương Tây nên thiên văn học

phương Đông cũng ra đời sớm và

phát triển đạt nhiều kết quả cao Ta có thể kể đến một số thành tựu như tính được lịch dương lịch, biết được các hành tinh khác trong hệ mặt trời: Kim- Mộc- Thủy- Hỏa- Thổ, biết cung hoàng đạo, biết Trái Đất, Mặt Trời, ngôi sao Khi người phương Tây đến (đầu tiên ở

Ấn Độ) họ đã lấy đó làm cơ sở xây dựng lên thành ngành khoa học thực

sự đó là ngành khoa học lịch pháp

Trang 37

 Ở Hy Lạp lúc đầu dùng lịch âm đến la Mã cổ đại TKI TCN Julies Cacsao sang Ai Cập, ông ta mang về nhiều thứ trong đó có lịch Xeda đã tiến hành cải cách, từ đó ở phương Tây đã chuyển từ âm lịch sang dương lịch

Thales là người nghiên cứu đầu tiên sau khi tiếp xúc với những thành tựu của người Ai Cập và Lưỡng Hà Do có sự hiểu biết sâu sắc về thiên văn học mà từ đó ông tính được nhật thực vào ngày 25/05/585 TCN

Trang 38

 Lĩnh vực thiên văn học luôn gắn liền với lĩnh vựu địa lý học, cùng quá trình phát triển thiên văn học, địa lý học cũng đã phát triển lên một bước, việc tìm hiểu các sao, chòm sao, hành tinh mới , các thành tựu khác về hiểu biết thiên nhiên xung quanh con người, từ đó thúc đẩy quá trình tìm hiểu vùng đất mới (con đường tơ lụa), tới thăm nhiều khu vực khác nhau có trên trái đất

mà con người chưa hề đặt chân đến Các nhà khoa học thông thái tìm hiểu vẽ bản đồ thế giới như Hecataux, Ptoleme – người

vẽ bản đồ Trái đất cực Bắc là Scandincave tới cực Nam là sông Nin, từ Tây Ban Nha sang Trung Quốc,v.v…

Trang 39

2.5 Nghệ thuật

Kiến trúc và điêu khắc:

Ở Ai Cập thời cổ đại kiến trúc và điêu khắc là thành tựu văn hóa lớn nhất

mà tiêu biểu là các lăng mộ với dụng ý lưu truyền tên tuổi các Pharaon thì trong thời kì Ai Cập bị Hi Lạp và La Mã chiếm đóng thì các công trình phát triển kinh tế đô thị, văn hóa giáo dục mới là tiêu biểu

Trang 40

 Cây đèn biển Alechxandria, thư viện thành phố Alechxandria, là hai công trình lớn chịu ảnh hưởng của văn hóa Hi Lạp, La Mã Dọc theo bờ biển Địa Trung Hải đến Thái Bình Dương là những cây đèn biển giống ở Alechxandria, cũng giống như những cây đèn biển ở Pháp, Tây Ban Nha, Italya đều được gọi là Pharos.

Trang 41

Đấu trường ở La Mã cổ đại

Trang 42

 Khi đi đến bất cứ nơi nào trong vùng đất Trung Á, người ta sẽ tìm thấy một chút nghệ thuật Hi Lạp còn sót lại dưới hình thức này hay hình thức khác

Đó có thể là đồng tiền xưa vào thế kỷ thứ VII có khắc tượng thần trong thần thoại Hi Lạp như thần “mĩ thuật” mà ta quen biết dưới tên thần Vinus, hay tượng thiếu niên với những đường nét thật Hi Lạp Một trong những vùng thấy ảnh hưởng của Hi Lạp rất mạnh mẽ là tiểu quốc Gandhara

 Theo quan niệm tạc tượng của Gandhara thì hình Đức Phật không phải

mà là hình ảnh của một lý tưởng hay một điều gì mà khiến người ta hi

vọng có thể đạt tới Vì thế khi muốn tạo nên một hình ảnh của Đức Phật thì hình ảnh lí tưởng được sử dụng là của một lực sĩ Hi Lạp tuyệt hảo,

một con người thập toàn Tiêu chuẩn này cũng được áp dụng cho hình

tượng các vị Bồ Tát tuy rằng có sự thay đổi và có một hàm ý khác

Trang 44

Tượng phật theo quan niệm tạc tượng của người Gandhara

Trang 45

Âm nhạc

Trước khi nền văn hóa của Arap thăng hoa với sự xuất hiện và phát triển của Hồi giáo thì âm nhạc đã có từ sớm trong đời sống văn hóa tinh thần của họ

 Từ thế kỉ VII đến thế kỉ IX Hồi giáo chinh phục khắp bán đảo ARập và

tràn cả sang Libya, Ai Cập, Syria nền văn hóa Ai Cập nhanh chống tiếp

nhận văn hóa Hi – La

 Họ mang sang Châu Âu những loại nhạc cụ như : Trống, kèn vào năm

924 Đến thế kỉ XI Tây Ban Nha trở thành trung tâm sản xuất các loại

nhạc cụ lớn Châu Âu không chỉ tiếp nhận những loại nhạc cụ này mà còn giữ nguyên tên gọi các loại nhạc cụ này : Đàn Luýt tiếng Anh gọi là “lute”, tiếng ARập gọi là “all-ude”, đàn Ban - bđua tiếng Anh gọi là “Pandero”

tiếng ARập gọi là “tanbun”, đàn Ghi ta tiếng Anh gọi là “Giuta”, tiếng ARập gọi là “Qitara”

Trang 46

Đàn Gita

Đàn Lute

Trang 47

2.6 Sự gặp gỡ trên một số lĩnh vực khác

2.6.1 Ðông Tây gặp nhau trong khoa học huyền bí

Giải đoán vận mệnh bằng Thần Số Học – Numerology môn khoa học huyền bí Tây phương gọi là Thần Số (Numerology) dựa theo nhân sinh quan của Thần Tam Giác (Divine Triangle) nhờ Thần Số

mà người ta đoán được nhân cách, tính tình, công việc, năng khiếu, tình duyên v.v của một đời người Môn khoa học huyền bí đã phát xuất 600 năm trước Thiên Chúa giáng sinh và do nhà toán học

Pythagorax lập ra Pythagorax dùng phương trình C2-A2-B2 của hình tam giác (pythagorean theorem) để giải đoán định mệnh nên các nhà siêu hình học Hy Lạp cho là "God geometrizes." Môn siêu hình học này gồm có tất cả 9 số

Trang 48

2.6.2 Phong tục đón năm mới, quan niệm xông đất

 Lễ kỉ niệm năm mới có lịch sử hình thành sớm nhất trong tất cả những ngày lễ Nó bắt nguồn từ xứ Babylon cổ đại khoảng 4000 năm trước Đối với người Babylon, năm mới bắt đầu từ dịp Trăng thượng tuần đầu tiên sau thời điểm xuân phân ( ngày đầu tiên của mùa xuân )

 Trước đây người La Mã đón năm mới vào thời điểm cuối tháng 3 hàng năm Tuy nhiên thời điểm này luôn bị xáo trộn vì mỗi hoàng đế lên trị vì

lại có một cách tính lịch riêng Để thống nhất, vào năm 153 trước Công

Nguyên, những người đứng đầu đế chế đã quy định thời điểm đầu năm

bắt đầu từ ngày mùng 1 tháng 1 và lễ kỉ niệm năm mới vẫn là thời điểm

cuối tháng 3 hàng năm

 Sau này bằng ảnh hưởng của mình, Julius Caesar bắt vương quốc

mình phải sử dụng bộ lịch mang tên Julian và quy định lễ kỉ niệm năm

mới là ngày mùng 1 tháng 1 Nhưng bộ lịch này một năm kéo dài đến

445 ngày để phù hợp với sự hoạt động của mặt trời

Ngày đăng: 28/11/2013, 11:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thành chữ cái Latinh hoàn chỉnh như ngày nay. - Gián án sụ gặp gỡ giữa văn hóa phương đông va phương tây
Hình th ành chữ cái Latinh hoàn chỉnh như ngày nay (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w