1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo đánh giá tác động môi trường: Phát triển bền vững tại Việt Nam (nhóm 5)

20 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo đánh giá tác động môi trường với chủ đề Phát triển bền vững tại Việt Nam (nhóm 5) sau đây giới thiệu về phát triển bền vững, các nguyên tắc phát triển bền vững tại Việt Nam, phân tích làm rõ nguyên tắc thứ 2,... Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG

KHOA MÔI TRƯỜNG & BẢO HỘ LAO ĐỘNG

Môn học

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG

BTKN 02

Chủ đề : PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI VIỆT NAM Nhóm: 05

STT Sinh viên MSSV

1 Lê Thị Trúc Linh 91202137

2 Lê Diệu Linh 91202136

3 Lê Thị Thu Thanh 91202201

4 Trịnh Khắc Tuấn 91202063

5 Lê Hoàng Tuấn 91301183

6 Trần Thanh Vy 91202272

Nộp bài: 23g30 ngày 3/9/2014

Tp Hồ Chí Minh, 2014

Trang 2

Mục lục

1 GIỚI THIỆU VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 3

1.1 Định nghĩa: 3

1.2 Các mốc sự kiện liên quan đến phát triển bền vững: 3

1.3 Phát triển bền vững tại Việt Nam 6

2 CÁC NGUYÊN TẮC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI VIỆT NAM 7

3 PHÂN TÍCH VÀ LÀM RÕ NGUYÊN TẮC THỨ 2 9

4 CÁC VIỆC CẦN LÀM ĐỂ ĐẢM BẢO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 13

4.1 Trong phát triển kinh tế: 13

4.2 Trong phát triển xã hội: 14

4.3 Trong sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường: 16

5 GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ “ MÔI TRƯỜNG” 17

5.1 Định nghĩa: 17

5.2 Mô tả vấn đề môi trường: 17

6 TÀI LIỆU THAM KHẢO 19

Trang 3

1 GIỚI THIỆU VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

1.1 Định nghĩa:

Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học"

Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland) Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai " Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội

- môi trường

Như vậy nội dung của phát triển bền vững được tái khẳng định tại Hội nghị

Rio-92 và được bổ sung, hoàn chỉnh tại tại Hội nghị Johannesburg – 2002 không chỉ

là “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển Đó là: phát triển kinh tế, công bằng xã hội

và bảo vệ môi trường” mà còn đề cập tới những khía cạnh khác của phát triển bền vững như chính trị, văn hóa, tinh thần, dân tộc và đòi hỏi phải tính toán và cân đối chúng trong hoạch định các chiến lược và chính sách phát triển kinh tế-xã hội cho từng quốc gia, từng địa phương cụ thể

1.2 Các mốc sự kiện liên quan đến phát triển bền vững:

+ Tháng 4 năm 1968: Câu lạc bộ Rome được thành lập: Đây là một tổ chức phi

chính phủ, hỗ trợ cho việc nghiên cứu “Những vấn đề của thế giới” – một cụm từ được đặt ra nhằm diễn tả những vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường và công nghệ trên toàn cầu với tầm nhìn lâu dài Tổ chức này đã tập hợp những nhà khoa học, nhà nhiên cứu, nhà kinh doanh cũng như các nhà lãnh đạo của các quốc gia trên thế giới (bao gồm cả Tổng thống Liên xô Mikhail Sergeyevich Gorbachyov và Rigoberta Menchus Tum) Trong nhiều năm, Câu lạc bộ Rome

Trang 4

đã công bố một số lượng lớn các báo cáo, bao gồm cả bản báo cáo Giới hạn của

sự tăng trưởng– được xuất bản năm 1972 – đề cập tới hậu quả của việc tăng dân

số quá nhanh, sự hữu hạn của các nguồn tài nguyên

+ Năm 1970: Thành lập Chương trình Con người và Sinh quyển với mục tiêu là

phát triển cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp lý và bảo tồn các tài nguyên của sinh quyển và cải thiện quan hệ toàn cầu giữa loài người và môi trường

+ Tháng 6 năm 1972: Hội nghị của Liên Hợp Quốc về Con người và Môi

trường được tổ chức tại Stockhom, Thụy Điển được đánh giá là hành động đầu tiên đánh dấu sự nỗ lực chung của toàn thể nhân loại, nhằm giải quyết các vấn

đề về môi trường Hội nghịcó 113 quốc gia tham dự và đã đạt được những kết quả chính sau: (i) Khởi động các cuộc đối thoại Bắc – Nam; (ii) Khởi động chương trình “Viễn cảnh toàn cầu”; (iii) Khởi động sự tham gia của các tổchức phi chính phủ trong giám sát và bảo vệ môi trường; (iv) Thành lập Chương trình Môi trường của LHQ (UNEP); (v) Đề nghị Đại hội đồng LHQ lấy ngày 5 tháng 6 làm “Ngày Môi trường Thế giới

+ Năm 1980: Chiến lược bảo tồn thế giới:Tiếp theo Hội nghị Stockholm, các tổ

chức bảo tồn như Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (IUCN), Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) và Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Thế giới

(WWF) đã đưa ra “Chiến lược bảo tồn thế giới Ba mục tiêu chính về bảo tồn tài nguyên sinh vật được nhấn mạnh trong Chiến lược như sau: (i) Duy trì những hệ sinh thái cơ bản và những hệ hỗ trợ sự sống (như cải tạo đất, tái sinh các nguồn dinh dưỡng, bảo vệ an toàn nguồn nước); (ii) Bảo tồn tính đa dạng di truyền; và (iii) Bảo đảm sử dụng một cách bền vững các loài và các hệ sinh thái

Tiếp theo Chiến lược này, một công trình khoa học có tiêu đề “Cứu lấy Trái đất – Chiến lược cho cuộc sống bền vững” đã được IUCN, UNEP và WWF soạn thảo

và công bố (1991) (cuốn sách này đã được Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường dịch ra tiếng Việt vào năm 1993)

+ Năm 1984: Thành lập Ủy ban Brundtland Tới nay, Ủy ban này đã được ghi

nhận có những cống hiến rất giá trị cho việc đẩy mạnh sự phát triển bền vững

+ Năm 1987: Xuất bản Báo cáo Brundtland:Hoạt động của Ủy ban Môi trường

và Phát triển Thế giới trở nên nóng bỏng khi xuất bản báo cáo có tựa đề“Tương lai của chúng ta” (tựa tiếng Anh: Our Common Futur và tiếng Pháp là Notre

Trang 5

+ Năm 1989: Sự phát hành và tầm quan trọng của bản báo cáo “Tương lai của

chúng ta” đã được đưa ra bàn bạc tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc và đã dẫn đến

sự ra đời của Nghị quyết 44/228 – tiền đề cho việc tổ chức Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc

+ Năm 1992: Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc tại Rio

de

Janeiro, tên chính thức là Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc (UNCED) Tại đây, các đại biểu tham gia đã thống nhất những nguyên tắc

cơ bản và phát động một chương trình hành động vì sự phát triển bền vững có tên Chương trình Nghị sự 21 (Agenda 21) Với sự tham gia của đại diện hơn 200 nước trên thế giới cùng một số lượng lớn các tổ chức phi chính phủ, hội nghị đã thông qua các văn bản quan trọng:

– Tuyên bố Rio về Môi trường và Phát triển với 27 nguyên tắc chung, xác định những quyền và trách nhiệm của các quốc gia nhằm làm cho thếgiới PTBV; – Chương trình Nghị sự 21 về PTBV;

– Tuyên bố các nguyên tắc quản lý, bảo vệ và PTBV rừng;

– Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu nhằm ổn định các khí gây hiệu ứng nhà kính ở mức độ không gây đảo lộn nguy hiểm cho hệ thống khí hậu toàn cầu;

– Công ước về Đa dạng sinh học

Từ đó, Chương trình Nghị sự 21 về Phát triển bền vững đã trở thành chiến lược phát triển của toàn cầu trong thế kỷ XXI, và “Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ”, với 8 nội dung (xóa đói, giảm nghèo; phổ cập giáo dục tiểu học; thúc đẩy bình đẳng giới tính, đồng thời nâng cao quyền lợi của nữ giới; giảm tỷ lệ trẻ em tử vong; cải thiện và đảm bảo sức khỏe sản phụ; đấu tranh với các loại bệnh như HIV, sốt xuất huyết; bảo vệ môi trường; thúc đẩy phát triển hợp tác toàn cầu) đã được tập trung thực hiện

+ Năm 2002: Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững họp tại

Johannesburg, Nam Phi là dịp cho các bên tham gia nhìn lại những việc đã làm

10 năm qua theo phương hướng mà Tuyên ngôn Rio và Chương trình Nghị sự 21

đã vạch ra, tiếp tục tiến hành với một số mục tiêu được ưu tiên Những mục tiêu này bao gồm xóa nghèo đói, phát triển những sản phẩm tái sinh hoặc thân thiện

Trang 6

với môi trường, nhằm thay thế các sản phẩm gây ô nhiễm, bảo vệ và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên Hội nghị cũng đề cập tới chủ đề toàn cầu hóa gắn với các vấn đề liên quan tới sức khỏe và phát triển Các đại diện của các quốc gia tham gia Hội nghị cũng cam kết phát triển chiến lược về phát triển bền vững tại mỗi quốc gia trước năm 2005

1.3 Phát triển bền vững tại Việt Nam

Ở nước ta, quan điểm phát triển nhanh và bền vững đã được nhận thức rất sớm và thể hiện trong nhiều chủ trương, nghị quyết của Đảng Ngay từ Đại hội III năm

1960 và Đại hội IV năm 1976, Đảng ta đã đặt mục tiêu “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” Đại hội VII thông qua Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 1991 – 2000, nhấn mạnh “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hoá, bảo vệ môi trường” Đại hội VIII nêu bài học “Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái

Việt Nam đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của phát triển bền vững và tích cực tham gia các hoạt động quốc tế liên quan: Năm 1992, đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam tham dự Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển ở Rio de Janero (Braxin) đã ký Tuyên bố chung của thế giới về môi trường

và phát triển, Chương trình Nghị sự 21 toàn cầu, cam kết xây dựng Chiến lược PTBV quốc gia và chương trình nghị sự 21 địa phương Năm 2004, Việt Nam đã phê chuẩn Chiến lược quốc gia về bảo vệ môi trường thời kỳ đến 2010 và định hướng đến 2020 Việt Nam cũng đã tham gia nhiều cam kết quốc tế nhằm bảo vệ môi trường và phát triển xã hội Năm 2000, Việt Nam cam kết thực hiện các Mục tiêu thiên niên kỷ của thế giới

Đặc biệt tại đại hội Đảng lần thứ IX đã thông qua Mục tiêu chiến lược 10 năm (2001-2010), mà nội dung tập trung vào những nhân tố phát triển bền vững:

“Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân Tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại; nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản Vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao”

Trang 7

2 CÁC NGUYÊN TẮC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI VIỆT NAM

Để đạt được mục tiêu “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh

tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường"; "Phát triển kinh tế-xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học” đã nêu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 của Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX trong tiến trình phát triển cần thực hiện 8 nguyên tắc về phát triển bền vững ( theo chương trình nghị sự 21):

Thứ nhất: con người là trung tâm của phát triển bền vững Đáp ứng ngày càng

đầy đủ hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân, xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh là nguyên tắc quán triệt nhất quán trong mọi giai đoạn phát triển

Thứ hai: coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn phát triển sắp

tới Bảo đảm an ninh lương thực, năng lượng để phát triển bền vững, bảo đảm vệ sinh và an toàn thực phẩm cho nhân dân; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa với phát triển xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái và bảo vệ môi trường lâu bền Từng bước thực hiện nguyên tắc "Mọi mặt: kinh tế, xã hội và môi trường đều cùng có lợi"

Thứ ba: bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường phải được coi là một yếu tố

không thể tách rời của quá trình phát triển Tích cực và chủ động phòng ngừa, ngăn chặn những tác động xấu đối với môi trường do hoạt động của con người gây ra Cần áp dụng rộng rãi nguyên tắc "Người gây thiệt hại đối với tài nguyên

và môi trường thì phải bồi hoàn" Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ và có hiệu lực về công tác bảo vệ môi trường; chủ động gắn kết và có chế tài bắt buộc lồng ghép yêu cầu bảo vệ môi trường trong việc lập quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển kinh tế-xã hội, coi yêu cầu về bảo vệ môi trường là một tiêu chí quan trọng trong đánh giá phát triển bền vững

Thứ tư: quá trình phát triển phải bảo đảm đáp ứng một cách công bằng nhu cầu

của thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới cuộc sống của các thế hệ tương lai Tạo lập điều kiện để mọi người và mọi cộng đồng trong xã hội có cơ hội bình

Trang 8

đẳng để phát triển, được tiếp cận tới những nguồn lực chung và được phân phối công bằng những lợi ích công cộng, tạo ra những nền tảng vật chất, tri thức và văn hoá tốt đẹp cho những thế hệ mai sau, sử dụng tiết kiệm những tài nguyên không thể tái tạo lại được, gìn giữ và cải thiện môi trường sống, phát triển hệ thống sản xuất sạch và thân thiện với môi trường; xây dựng lối sống lành mạnh, hài hoà, gần gũi và yêu quý thiên nhiên

Thứ năm: khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa,

hiện đại hóa, thúc đẩy phát triển nhanh, mạnh và bền vững đất nước Công nghệ hiện đại, sạch và thân thiện với môi trường cần được ưu tiên sử dụng rộng rãi trong các ngành sản xuất, trước mắt cần được đẩy mạnh sử dụng ở những ngành

và lĩnh vực sản xuất có tác dụng lan truyền mạnh, có khả năng thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành và lĩnh vực sản xuất khác

Thứ sáu: phát triển bền vững là sự nghiệp của toàn Đảng, các cấp chính quyền,

các bộ, ngành và địa phương; của các cơ quan, doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cư và mọi người dân Phải huy động tối đa sự tham gia của mọi người có liên quan trong việc lựa chọn các quyết định về phát triển kinh tế,

xã hội và bảo vệ môi trường ở địa phương và trên quy mô cả nước Bảo đảm cho nhân dân có khả năng tiếp cận thông tin và nâng cao vai trò của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt của phụ nữ, thanh niên, đồng bào các dân tộc ít người trong việc đóng góp vào quá trình ra quyết định về các dự án đầu tư phát triển lớn, lâu dài của đất nước

Thứ bảy: gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội

nhập kinh tế quốc tế để phát triển bền vững đất nước Phát triển các quan hệ song phương và đa phương, thực hiện các cam kết quốc tế và khu vực; tiếp thu có chọn lọc những tiến bộ khoa học công nghệ, tăng cường hợp tác quốc tế để phát triển bền vững Chú trọng phát huy lợi thế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn những tác động xấu đối với môi trường do quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế gây ra

Thứ tám: kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ

môi trường với bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội

Trang 9

3 PHÂN TÍCH VÀ LÀM RÕ NGUYÊN TẮC THỨ 2

Phân tích nguyên tắc thứ 2: “ Coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của

giai đoạn phát triển sắp tới, bảo đảm an ninh lương thực, năng lượng để phát triển bền vững, bảo đảm vệ sinh và an toàn thực phẩm cho nhân dân; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa với phát triển xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái và bảo

vệ môi trường lâu bền Từng bước thực hiện nguyên tắc “Mọi mặt:kinh tế, xã hội

và môi trường đều cùng có lợi”

“Coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn phát triển sắp tới”: Nước ta đang thực hiện phát triển bền vững là kết hợp hài hòa giữa tăng

trưởng kinh tế, an sinh xã hội và bảo vệ môi trường, nhưng kinh tế vẫn là một nội dung thiết yếu nhất, bởi kinh tế có phát triển đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu thì mới có khả năng thực hiện tốt các vấn đề khác ( xã hội và môi trường) Mặt khác nền kinh tế nước ta còn kém phát triển và đủ các điều kiện để thực hiện tốt các nội dung của phát triển bền vững Trong 10 năm đầu của thế kỷ 21, Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2001-2010 đã nêu quan điểm là phải phát triển kinh

tế nhanh, hiệu quả và bền vững, GDP năm 2010 phải tăng gấp đôi năm 2000, mức thu nhập bình quân đầu người 3.000 đô la Mỹ vào năm 2020, nghĩa là mức thu nhập bình quân đầu người phải tăng gần 10% mỗi năm Từ năm 1990 đến

2010, nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao và tương đối ổn định, trung bình hàng năm là 7,3%, thu nhập bình quân đầu người tăng gần gấp năm lần, GDP năm 2000 đã gấp hơn 2 lần so với năm 1990, tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân 7,5% năm, riêng năm 2003 GDP tăng 7,24% , trong giai đoạn 2011-2013: năm 2011 tăng trưởng GDP đạt 6,24%, năm 2012 chỉ đạt 5,25%; năm 2013 tăng trưởng quý sau cao hơn quý trước (quý I tăng 4,76%, quý II tăng 5%, quý III tăng 5,54%), cả năm ước tăng khoảng 5,4% Bình quân 3 năm, GDP tăng khoảng 5,6%/năm Sự chuyển đổi của Việt Nam – từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường và từ một đất nước rất nghèo trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình thấp trong vòng chưa đến 20 năm Riêng năm 2014, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt khoảng 5,8% Giá tiêu dùng tăng khoảng 7% Trong những năm tới 2014-2015, mục tiêu của nước ta là: Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân khoảng 6%/năm GDP bình quân đầu người khoảng 2.200 - 2.300 USD vào năm 2015 Giá tiêu dùng tăng khoảng 7%/ năm

Trang 10

Hình 1 Biểu đồ tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình năm qua các năm của Việt

Nam và một số khu vực

Hình 2 Biểu đồ tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Việt nam và một số vùng trong giai đoạn 2011-2014

Ngày đăng: 16/04/2021, 09:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w