Biểu đồ kết quả trước khi thực hiện dạy học Ngữ văn 7 bằng sơ đồ tư duy.Biểu đồ kết quả trước khi áp dụng sơ đồ tư duy Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, kết hợp kinh nghiệm giảng dạy t
Trang 1Tiếp cận theo định hướng nội dung là chú trọng trang bị kiến thức, ít chú
ý đến việc hình thành, rèn luyện kĩ năng Do vậy, việc đánh giá kết quả học tập
chủ yếu vào câu hỏi: Học sinh biết những gì? Và biết đến đâu? Hạn chế của xu
hướng này là nội dung kiến thức nặng nề, ôm đồm; học sinh biết nhiều nhưnglàm không được bao nhiêu, thậm chí không biết làm Chương trình tiếp cận
theo định hướng năng lực tập trung vào hệ thống năng lực cần có ở mỗi người
học Năng lực (competency) được hiểu là khả năng vận dụng là hứng thú để hành động học tập một cách phù hợp và có hiệu quả Mục tiêu đánh giá kết quả học tập ở đây chủ yếu hướng vào kết quả đầu ra, nhằm trả lời câu hỏi: Học sinh biết làm gì? Và làm như thế nào? Theo định hướng này, học sinh phải tích cực,
sáng tạo và chủ động học tập
Cũng như nhiều nước khác trên thế giới, giáo dục Việt Nam đang từngbước chuyển sang tiếp cận theo hướng phát triển năng lực Tức là chú trọng hìnhthành những kĩ năng, năng lực tư duy sáng tạo Trong Định hướng phát triển
chương trình giáo dục sau 2015, môn Ngữ văn được xác định là môn học công
cụ vừa có bản chất khoa học, vừa mang tính nghệ thuật Theo đó, môn học này
sẽ giúp học sinh hình thành và phát triển các năng lực chung (năng lực giao tiếp,năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề ) và năng lực đặc thù (năng lựcthưởng thức văn học, cảm thụ thẩm mĩ văn học ) Ngoài ra, môn Ngữ văn còngóp phần hình thành và phát triển những phẩm chất thiết yếu cho người họcnhư: sống tự chủ (trung thực, tự lực, chăm chỉ ), sống trách nhiệm
Những năng lực và phẩm chất ấy chỉ được hình thành khi học sinh cóđược niềm vui, sự hứng thú, yêu thích và thấy được ý nghĩa to lớn của môn học
Từ đó, một yêu cầu quan trọng đặt ra là phải có sự vận dụng và phát huy nhữngphương pháp dạy học truyền thống với những biện pháp, kĩ thuật dạy học hiệnđại Đặc biệt là ứng dụng CNTT, ứng dụng những thành tựu KH hiện đại vàoviệc giảng dạy các môn khoa học xã hội
Đặc biệt là môn Ngữ văn nói chung, Ngữ văn 7 nói riêng - môn học có vaitrò quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của con người Đồngthời môn học này có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng,tình cảm cho học sinh Mặt khác, môn văn còn thể hiện rõ mối quan hệ với rấtnhiều các môn học khác trong nhà trường phổ thông Học tốt môn văn sẽ tácđộng tích cực tới các môn học khác và ngược lại, học tốt các môn học khác cũnggóp phần học tốt môn văn Điều đó đặt ra yêu cầu tăng cường tính thực hành,giảm lí thuyết, gắn học với hành, gắn kiến thức với thực tiễn hết sức phong phú,sinh động của cuộc sống Từ đó, học sinh buộc phải chủ động, tích cực, tự giác
và sáng tạo trong học tập
2 Cơ sở thực tiễn
Trang 22.1 Thực tiễn xã hội
Xu hướng học của HS hiện nay là học lệch, học theo ban, chọn ngànhnghề theo khối đã tạo ra rất nhiều bất cập trong việc lựa chọn môn học Các môn
xã hội có xu hướng bị coi nhẹ; môn Ngữ văn cũng không nằm ngoài xu hướng
ấy Nhiều học sinh cho rằng Ngữ văn là môn khoa học xã hội, tính ứng dụngkhông cao, không thiết thực với cuộc sống, với công việc Từ đó, dẫn đến tìnhtrạng HS quay lưng lại với môn học, chán ghét học văn, học mang tính đối phó
Vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học, trong đó có đổi mới phươngpháp, tìm hướng tiếp cận mới trong dạy học môn Ngữ văn là rất quan trọng Tạohứng thú, nâng cao năng lực học tập cho học sinh, giúp học sinh cảm nhận đượccái hay, cái đẹp, biết cảm thông, yêu thương chia sẻ với những số phận, cuộc đờithông qua mỗi trang sách, thông qua mỗi tác phẩm là điều rất cần thiết Tìmhướng tiếp cận, đổi mới phương pháp, từ đó tạo hứng thú trong học tập cho họcsinh, khơi gợi, đánh thức niềm đam mê với văn học, tìm về với giá trị đời sốngtâm hồn của con người là vấn đề được đặt ra và cần phải giải quyết
2.2 Thực tiễn mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học
Trong những năm gần đây, vấn đề đổi mới dạy học môn Ngữ Văn luônđược các nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu Nhiều phương pháp, biện phápmới liên tục được đưa ra dù có khác nhau nhưng đều thống nhất khẳng định vaitrò của người học không phải là những bình chứa thụ động mà là những chủ thểnhận thức tích cực trong quá trình học tập Như vậy, dạy Văn là dạy cách tư duy,dạy cách đi tìm và tự chiếm lĩnh lấy kiến thức Đó là một định hướng giáo dụcquan trọng hiện nay
Với tinh thần của Bộ giáo dục và đào tạo tiếp tục đổi mới phương phápdạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học Ngữ văn trong các nhà trườngphổ thông Một trong những phương pháp dạy học mới và hiện đại được đưavào là phương pháp: Dạy học bằng Sơ đồ tư duy Phương pháp này, bước đầu
đã giảm bớt được tâm lí ngại học văn; đem đến cho các em cái nhìn mới, tư duymới, khơi gợi trong học sinh tình yêu đối với văn chương
2.3 Thực tiễn đơn vị công tác
Trong những năm gần đây công tác bồi dưỡng chỉ đạo chuyên môn củaphòng Giáo dục và Đào tạo ngày càng chặt chẽ hơn; các tổ, nhóm chuyên mônđược quan tâm, sinh hoạt ngày càng hiệu quả Bên cạnh đó, tại đơn vị công tácchỉ đạo đổi mới phương pháp được thống nhất từ Ban giám hiệu đến các tổ,nhóm và từng cá nhân Vì vậy, mỗi giáo viên đều suy nghĩ, tìm tòi làm sao đểnâng cao chất lượng nhằm đem lại hiệu quả cao trong việc dạy và học bộ mônnày
Thứ nhất: Với vai trò là người tổ chức, hướng dẫn và điều khiển trong
quá trình học của học sinh, hơn ai hết giáo viên sẽ là người trăn trở để đi tìm tòinhững cách tiếp cận, tổ chức mới nhằm nâng cao chất lượng của giờ học Ngữvăn Đưa ra những phương pháp dạy học mới không chỉ kích thích tư duy màcòn phát huy tính tích cực chủ động, khơi dậy hứng thú đam mê trong học sinh
Thứ hai: Thực trạng kết quả khảo sát môn Ngữ văn 7 trước khi áp dụng
giảng dạy theo phương pháp sơ đồ tư duy ở ba lớp 7a1, 7A3 và 7A5
Trang 3Biểu đồ kết quả trước khi thực hiện dạy học Ngữ văn 7 bằng sơ đồ tư duy.
Biểu đồ kết quả trước khi áp dụng sơ đồ tư duy
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, kết hợp kinh nghiệm giảng dạy thựctiễn của bản thân, với mong muốn, trong từng bài dạy, trong từng giờ học, họcsinh luôn hứng thú, chủ động, yêu thích môn học Từ đó, góp phần nâng caohiệu quả dạy và học tôi chọn đề tài: Nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ
Văn 7 bằng phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy.
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Sáng kiến kinh nghiệm nhằm khẳng định giá trị, ý nghĩa của việc sửdụng sơ đồ tư duy trong dạy học văn
- Tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng đến việc họcvăn của học sinh
- Chỉ ra được những phương pháp, biện pháp dạy học văn hiệu quả bằng
sơ đồ tư duy
- Phát triển năng lực sáng tạo, tự giác, tích cực, chủ động của giáo viên vàhọc sinh
Sau khi vận dụng đề tài, chất lượng dạy của giáo viên và chất lượng họccủa học sinh phải được nâng lên Đồng thời, giáo viên giúp học sinh có nhữngnhận thức về quan hệ giữa văn học với cuộc sống và môi trường xung quanh Từ
đó, giúp các em vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết vấn đề thực tiễn
III NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Từ những đối tượng đưa ra ở trên, tôi sẽ linh hoạt để hướng dẫn học sinh
sử dụng sơ đồ tư duy trong việc học Sau đây là nội dung nghiên cứu:
- Xây dựng cơ sở lí luận của hoạt động: Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạyhọc Ngữ văn 7
- Đề xuất một số giải pháp: giúp cho học sinh nhận ra ưu điểm của biệnpháp sử dụng sơ đồ tư duy trong ghi chép so với cách ghi chép truyền thống
+ Sử dụng sơ đồ tư duy trong hoạt động kiểm tra bài cũ
+ Sử dụng sơ đồ tư duy trong hoạt động mở đầu/ khởi động
+ Sử dụng sơ đồ tư duy trong hoạt động hình thành kiến thức mới
+ Sử dụng sơ đồ tư duy trong hoạt động luyện tập/ vận dụng
+ Sử dụng sơ đồ tư duy trong hoạt động củng cố/ mở rộng
Trang 4IV PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2 Đối tượng nghiên cứu.
Tôi chọn khách thể nghiên cứu là học sinh lớp 7a1, 7a3, 7a5 năm học2020-2021 do tôi dạy bộ môn, ba lớp gồm 131 học sinh
V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp phân tích, tổng hợp lí luận
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực trạng của việc sử dụng sơ đồ tư duytrong dạy học bộ môn Ngữ văn 7
- Phương pháp so sánh, ví dụ, phân loại
- Phương pháp thống kê kết quả trước khi thực hiện sáng kiến kinhnghiệm làm đối chứng với kết quả sau khi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm
VI THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9/2020 đến tháng 3/2021
Trang 5B PHẦN NỘI DUNG
I THỰC TRẠNG CỦA SÁNG KIẾN
1 Một số vấn đề chung về sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học.
1.1 Khái niệm sơ đồ tư duy.
“Sơ đồ tư duy là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh để
mở rộng và đào sâu các ý tưởng Ở giữa sơ đồ là một ý tưởng hay một hình ảnh trung tâm Ý tưởng hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho các ý chính và đều được nối với các ý trung tâm Với phương thức tiến dần từ trung tâm ra xung quanh, sơ đồ tư duy khiến tư duy con người cũng phải hoạt động tương tự Từ đó các ý tưởng của con người sẽ phát triển.” (Theo Tony Buzan).
Các loại sơ đồ tư duy được sử dụng phổ biến hiện nay:
- Sơ đồ vòng tròn (circle map): bao gồm một vòng tròn lớn bên ngoài và
một vòng tròn nhỏ bên trong Vòng tròn bên trong là chủ đề chính hoặc ý tưởngtrung tâm Xung quanh nó là vòng tròn lớn là nơi diễn đạt dòng chảy ý tưởngtương ứng
- Sơ đồ bong bóng kép (double bubble map): hay còn được gọi là biểu đồ
Venn Sơ đồ bong bóng kép là một sơ đồ so sánh xác định sự khác biệt và tươngđồng giữa hai chủ đề Trung tâm giữa hai vòng tròn chứa hai ý chính Điểm giaonhau của hai vòng tròn chính là nơi chứa các điểm tương đồng được chia sẻ.Hướng về hai bên là các bong bóng xác định sự khác biệt của mỗi vòng tròntrung tâm
- Sơ đồ cây (tree map): Khi đến lúc cần phân loại và sắp xếp thông tin, sơ
đồ cây có thể giúp ích rất nhiều Về mặt trực quan, sơ đồ cây giống như một cáicây thật với nhiều nhánh Phần trên cùng là tiêu đề hoặc chủ đề chính, bên dưới
là các chủ đề phụ là thông tin liên quan, chi tiết hơn và chúng tạo thành các danhsách dài
- Sơ đồ luồng (flow map): chủ đề chính được gắn bên ngoài sơ đồ Các
hình chữ nhật được kết nối tạo thành các bước trong tiến trình giải thích của sơ
đồ Một số hình chữ nhật cũng có thể được thêm vào bên dưới để mô tả bướcđó…
1.2 Chức năng của sơ đồ tư duy
Các kiểu và loại sơ đồ tư dạy học tuy có khác nhau nhưng chức năng củachúng là tích hợp và cơ động Mỗi sơ đồ tư duy dùng dạy học đều có thể thựchiện các chức năng sau:
- Chuẩn bị bài học trước khi đến lớp
- Giới thiệu vào bài
- Minh họa, giải thích, mô tả trực quan
- Tổ chức và tiến hành các hoạt động cụ thể trong bài học
- Kết thúc bài học, khắc sâu củng cố kiến thức, giải quyết những vấn đềliên quan trong cuộc sống
1.3 Tác dụng của việc dạy học bằng sơ đồ tư duy
Trang 6Sơ đồ tư duy được mệnh danh là công cụ vạn năng cho bộ não, là phươngpháp ghi chú đầy sáng tạo, hiện đang được hơn 250 triệu người trên thế giới sửdụng, đã và đang đem lại những hiệu quả thực sự, nhất là trong lĩnh vực giáodục Lập sơ đồ tư duy là một cách thức cực kì hiệu quả để ghi chú Các sơ đồ tưduy không chỉ cho thấy các thông tin mà còn cho thấy cấu trúc tổng thể của mộtchủ đề và mức độ quan trọng của những phần riêng lẻ trong đó đối với nhau Nógiúp bạn liên kết các ý tưởng và tạo các kết nối với các ý khác.
- Sơ đồ tư duy giúp học sinh có được phương pháp học hiệu quả hơn:Việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện phápnâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học Thực tế cho thấy một
số học sinh học rất chăm chỉ nhưng vẫn học kém, các em thường học bài nàobiết bài đấy, học phần sau đã quên phần trước và không biết liên kết các kiếnthức với nhau, không biết vận dụng kiến thức đã học trước đó vào những phầnsau Phần lớn số học sinh khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biếtcách tự ghi chép để lưu thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ củamình Sử dụng thành thạo sơ đồ tư duy trong dạy học sẽ giúp học sinh có đượcphương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy
- Sơ đồ tư duy giúp học sinh học tập một cách tích cực Một số kết quảnghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ nhớ lâu, hiểu sâu và in đậm cái
mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình Vì vậy,việc sử dụng sơ đồ tư duy giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy độngtối đa tiềm năng của bộ não
- Việc học sinh vẽ sơ đồ tư duy có ưu điểm là phát huy tối đa tính sángtạo của học sinh, các em được tự do chọn màu sắc ( xanh, đỏ, tím, vàng…),
đường nét (đậm, nhạt, thẳng, cong ), các em tự “ sáng tác” trên mỗi sơ đồ tư
duy thể hiện rõ cách hiểu, cách trình bày kiến thức của từng học sinh và sơ đồ
tư duy do các em tự thiết kế nên các em sẽ yêu quý, trân trọng “ tác phẩm” của
mình
- Sơ đồ tư duy giúp học sinh ghi chép rất hiệu quả Do đặc điểm của sơ
đồ tư duy nên người thiết kế sơ đồ tư duy phải chọn lọc thông tin, từ ngữ, sắpxếp bố cục để ghi thông tin cần thiết nhất và logic Vì vậy, sử dụng sơ đồ tưduy sẽ giúp học sinh dần dần hình thành cách ghi chép hiệu quả
2 Thực trạng của vấn đề
Xuất phát từ thực tiễn dạy học ở đơn vị nhiều năm qua: tôi nhận thấygiáo viên chưa thực sự quan tâm đến việc sơ đồ hóa kiến thức bài học Trướcđây, ở các tiết ôn tập chương, một số giáo viên đã vẽ sơ đồ và cả lớp HS sẽ cócách vẽ sơ đồ, cách trình bày giống của GV, chứ không phải do HS tự nghĩ ra;hơn nữa, ở các sơ đồ đó GV chưa thực sự đầu tư, chú ý vào hình ảnh, màu sắc,đường nét nên sẽ khiến việc sử dụng sơ đồ tư duy không hiệu quả V ới mụctiêu nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường, tôi luôn mong muốn mangđến cho các em những giờ học hấp dẫn, bổ ích, lí thú khi học tập bộ môn Ngữvăn Vì vậy, cùng một đơn vị kiến thức nhưng vở ghi của mỗi học sinh lại khácnhau tùy vào niềm hứng thú, say mê và sự sáng tạo của các em
Phương pháp dạy học bằng sơ đồ tư duy này đã được nhiều nước trên thếgiới áp dụng và mang lại hiệu quả cao trong giáo dục Sau một thời gian vận
Trang 7dụng, tôi nhận thấy phương pháp này rất có hiệu quả đặc biệt là phù hợp vớiđặc điểm tâm lí lứa tuổi của HS lớp 7, các em vừa chuyển cấp từ tiểu học lênTHCS, giúp các em có cách học tập khoa học, hiệu quả.
Đồng thời, dựa vào quy luật hoạt động của não bộ, nếu học sinh chỉ ghichép thông thường thì mức độ nhớ bài của học sinh là 5%, nếu sử dụng sơ đồ,hình ảnh thì mức độ nhớ bài của học sinh là 30% hoặc hơn thế nữa Với những
lí do trên, mỗi giáo viên đều nung nấu trong mình những khát vọng đổi mớicho giờ dạy thật hiệu quả có tính giáo dục cao Và từ đó, những câu hỏi như:Thế nào là phương pháp dạy học bằng sơ đồ tư duy? Có những giải pháp nào
để sử dụng sơ đồ tư duy nhằm nâng cao chất lượng trong các giờ học Văn?được đông đảo GV đặt ra
2.1 Thực trạng của việc học văn hiện nay.
Đất nước đang trên đà phát triển bước vào thời kì hội nhập, toàn cầu hóavới cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 Hơn lúc nào hết, mỗi GV đều phải có ýthức sâu sắc về trách nhiệm của bản thân với sự phát triển của đất nước Đặc
biệt là với GV Ngữ văn, bởi các nhà khoa học, triết học cũng đã chỉ ra rằng: Văn học, văn hóa là động lực của sự phát triển, không thể phát triển đất nước nếu cắt đứt liên hệ với văn học, văn hóa Các tác phẩm văn học, có tác dụng bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn, nhân cách, của các thế hệ HS; đồng thời, nó còn là nơi lưu giữ, phản ánh và kết tinh những tinh hoa văn hóa của dân tộc và thời đại Ngữ văn là môn học có vai trò quan trọng như vậy Bởi đây còn là môn học
giúp các em học sinh nhận thức được cái hay, cái đẹp chuẩn mực trong cuộcsống “Văn” là kết tinh những tinh hoa văn hóa nhân loại, lưu truyền những giátrị tốt đẹp của con người qua các thời đại Giúp con người có bản lĩnh, có suynghĩ, ứng xử, lối sống đúng đắn, lành mạnh Nếu thiếu văn học con người sẽ rơi
vào bi kịch, như nhà văn Mê-hi-cô đã nói: Bi kịch của thời đại chúng ta là thừa trí tuệ, thiếu tâm hồn Hơn nữa, học tốt môn Văn sẽ có tác động tích cực đến các
môn học khác
Vậy mà một thực trạng đáng lo ngại là học sinh hiện nay không còn thíchhọc văn, quay lưng lại với môn văn Thực trạng này, lâu nay đã được xã hội báođộng Ban đầu chỉ đơn thuần là những lời than thở của GV trực tiếp giảng dạy
và nay đã trở thành vấn đề của báo chí và dư luận Những ai đã trực tiếp dạyvăn, chấm bài làm văn trong những năm gần đây mới thấy cần thiết phải cónhững thay đổi về phương pháp dạy và học Qua kinh nghiệm giảng dạy cũngnhư chấm trả các bài kiểm tra Ngữ văn, tôi nhận thấy có rất nhiều những biểuhiện thể hiện tâm lý chán học văn của học sinh, cụ thể là:
Học sinh thờ ơ với môn Văn: Vì các em còn phải dành thời gian học các
môn khác Phần lớn phụ huynh khi đã định hướng cho con mình sẽ thi khối Athì chỉ chủ yếu chú trọng ba môn: Toán, Lý, Hóa Có không ít phụ huynh đãchọn hướng cho con thi khối A từ khi học tiểu học Một bậc học mà học sinhcòn đang được rèn nói, viết, mới bắt đầu làm quen với những khái niệm về từngữ mà đã định hướng khối A thì thật là nguy hại Điều đáng buồn hơn cho cácgiáo viên dạy văn hiện nay là nhiều học sinh có năng khiếu văn cũng khôngmuốn tham gia đội tuyển văn
Trang 8Khả năng trình bày còn hạn chế: Khi học sinh tạo lập một văn bản giáoviên có thể dễ dàng nhận ra những lỗi sai cơ bản của học sinh như: dùng từ, viếtcâu, viết chính tả sai, bố cục và lời văn lủng củng, thiếu logic Đặc biệt có nhữngbài văn diễn đạt ngô nghê, tối nghĩa Đây là một tình trạng đã trở nên phổ biến
và thậm chí là đáng báo động trong xã hội
Mục tiêu của bậc học phổ thông là đào tạo con người toàn diện, nhưng thực
tế hiện nay cho thấy, các bộ môn khoa học xã hội thường bị học sinh xem nhẹ,mặc dù kiến thức của các bộ môn này vô cùng quan trọng cho tất cả mọi người.Muốn khôi phục sự quan tâm của xã hội đối với các bộ môn khoa học xã hội,không thể chỉ bằng biện pháp kêu gọi mà chúng ta phải tích cực đổi mới phươngpháp dạy học văn, khơi gợi lại hứng thú học văn của học sinh, hình thành chocác em phương pháp học văn hiệu quả nhất
2.2 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng của việc học văn hiện nay.
Qua việc kiểm tra vở ghi bài, vở chuẩn bị bài của học sinh, tôi nhận thấyrằng: trong vở các em hầu như đều ghi được những đề mục, cột mục chung,những kiến thức cơ bản liên quan đến nội dung bài học, bằng một phương phápchung cho nên vở ghi toàn chữ và chữ Hoặc khảo sát giáo án của 1 số GV cũngvậy, mặc dù giáo án rất đầy đủ cột, mục theo quy định nhưng một thực trạngchung là GV vẫn chưa chú trọng đến khai thác, sử dụng sơ đồ tư duy trong việcdạy; và HS vẫn chưa sử dụng sơ đồ tư duy trong việc học Thực trạng này là domột số nguyên nhân cơ bản sau:
Đối với giáo viên: Đa số giáo viên đều có tình yêu nghề, tận tụy với công
tác giảng dạy, chăm lo quan tâm đến học sinh Tuy nhiên:
- Giáo án của giáo viên khi sử dụng sơ đồ tư duy để dạy học còn khá đơnđiệu, máy móc, giáo điều, chưa hấp dẫn, lôi cuốn người học nên học sinh chưa
có sự yêu thích đối với môn học “Người thầy dạy học muốn học sinh học tích cực thì thầy cũng phải dạy tích cực” Một số giáo án có sử dụng nhưng thường
là sử dụng ở cuối bài học cho đủ, cho có, hiệu quả chưa cao
- Phương pháp, biện pháp tổ chức hoạt động học tập chưa thực sự phù hợpvới một bộ phận không nhỏ học sinh yếu kém dẫn đến chất lượng chưa cao,chưa khơi gợi được mạch nguồn cảm xúc ẩn sau mỗi trái tim người học
- Do điều kiện khách quan, chủ quan nên vận dụng phương pháp dạy họchiện đại còn nhiều khó khăn
Đối với học sinh:
- Một số học sinh vì lười học, chán học mải chơi, hổng kiến thức nên khôngchuẩn bị tốt tâm thế cho giờ học Ngữ văn Hơn nữa, trong quá trình học tập họcsinh chưa chủ động, tự giác ghi chép nội dung bài học
- Sự khác biệt về mặt thời đại: nghĩa là khoảng cách lịch sử giữa thời đại
mà tác phẩm được sinh ra với thời đại học sinh sống là quá lớn, nhất là nhữngtác phẩm văn học dân gian, truyện trung đại Học sinh không hiểu do đó khôngthể yêu thích tác phẩm văn học này, dù cho các em biết đó là tác phẩm đỉnh caocủa thời đại có những ý nghĩa quan trọng
- Đời sống văn hóa tinh thần ngày một nâng cao, một số nhu cầu giải trínhư xem ti vi, chơi game ngày càng nhiều làm cho một số em chưa có ý thứchọc bị lôi cuốn, sao nhãng việc học tập
Trang 9II NỘI DUNG ÁP DỤNG SÁNG KIẾN NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG CỦA GIỜ HỌC MÔN NGỮ VĂN 7.
1 Bản chất phương pháp dạy học bằng sơ đồ tư duy.
- Sơ đồ tư duy là kĩ thuật dạy học tổ chức và phát triển tư duy giúp ngườihọc chuyển tải thông tin vào bộ não rồi được thông tin ra ngoài bộ não một cách
dễ dàng, đồng thời là phương tiện ghi chép sáng tạo và hiệu quả, mở rộng, đàosâu và kết nối các ý tưởng, bao quát được các ý tưởng trên phạm vi sâu rộng
- Dạy học bằng sơ đồ tư duy - một giải pháp góp phần đổi mới cơ bản giáodục
1.1 Sơ đồ tư duy tận dụng được các nguyên tắc của trí nhớ siêu đẳng.
- Sự hình dung: Sơ đồ tư duy có rất nhiều hình ảnh để bạn hình dung về
kiến thức cần nhớ Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của trí nhớ siêu đẳng Đối với não bộ, sơ đồ tư duy giống như một bức tranh lớn đầy
hình ảnh màu sắc phong phú hơn là một bài học khô khan, nhàm chán
- Sự liên tưởng, tưởng tượng: Sơ đồ tư duy hiển thị sự liên kết giữa các ý
tưởng một cách rất rõ ràng
- Làm nổi bật sự việc: Vấn đề phải ghi chép một lượng thông tin rất lớn
trong mỗi tiết học là một điều gây khó khăn cho học sinh, thậm chí nhiều bạnchỉ ghi chép qua loa, không thực sự hiểu rõ vấn đề
Thay cho những từ ngữ tẻ nhạt đơn điệu khi ghi chép, sơ đồ tư duy chophép giáo viên và học sinh làm nổi bật các ý tưởng trọng tâm bằng việc sử dụngnhững màu sắc, kích cỡ, hình ảnh đa dạng Hơn nữa, việc sơ đồ tư duy dùng rấtnhiều màu sắc khiến giáo viên và học sinh phải vận dụng trí tưởng tượng sángtạo đầy phong phú của mình Nhưng đây không chỉ là một bức tranh đầy màusắc sặc sỡ thông thường, sơ đồ tư duy giúp tạo ra một bức tranh mang tính líluận, liên kết chặt chẽ về những gì được học
1.2 Sơ đồ tư duy sử dụng cả hai bán cầu não cùng một lúc.
Dựa vào quy luật hoạt động của não bộ, tiềm năng trí tuệ của con người làkết quả hoạt động của hai bán cầu não Do đó, các nhà nghiên cứu khoa họcthường khuyên rằng: chúng ta nên sử dụng và phát triển tiềm năng ở cả hai báncầu não Vì bán cầu não trái: có xu hướng thiên về ngôn ngữ, xử lí những thôngtin mà người học nghe được; còn bán cầu não phải: xử lí thông tin liên quan tớitoán học, giúp ta hiểu được ý nghĩa của những hình ảnh
Do đó, sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy và học thực sự giúp chúng ta tậndụng được các chức năng của não trái lẫn não phải Đây chính là công cụ họctập vận dụng được sức mạnh của cả bộ não Nếu vận dụng đúng cách, nó sẽhoàn toàn giải phóng những năng lực tiềm ẩn trong bạn, đưa bạn lên một đẳngcấp mới, đẳng cấp của một tài năng thực thụ hay thậm chí của một thiên tài
2 Cách thức thực hiện dạy học bằng sơ đồ tư duy
2.1 Các bước để tạo nên một sơ đồ tư duy.
- Bước 1: Bắt đầu từ trung tâm một tờ giấy trắng và kéo sang một bên Tại sao?
Bởi vì bắt đầu từ trung tâm cho não bộ sự tự do để trải rộng một cách chủ động
và để thể hiện phóng khoáng hơn, tự nhiên hơn
Trang 10- Bước 2: Dùng một hình ảnh hay bức tranh cho ý tưởng trung tâm Tại sao? Do
một hình ảnh có giá trị tương đương cả nghìn từ và giúp ta sử dụng trí tưởngtượng của mình
- Bước 3: Luôn sử dụng màu sắc Tại sao? Bởi vì màu sắc cũng có tác dụng kích
thích não như hình ảnh Màu sắc mang đến cho Sơ đồ tư duy những rung độngcộng hưởng, mang lại sức sống và năng lượng vô tận cho tư duy sáng tạo và nócũng thật vui mắt
- Bước 4: Nối các nhánh chính tới hình ảnh trung tâm, và nối các nhánh cấp hai,
cấp ba với nhánh cấp một, cấp hai… Tại sao? Bởi vì, như ta đã biết, bộ não làmviệc bằng sự liên tưởng Nếu ta nối các nhánh lại với nhau, sẽ hiểu và nhớ nhiềuthứ dễ dàng hơn rất nhiều
- Bước 5: Vẽ nhiều nhánh cong hơn đường thẳng Tại sao? Vì chẳng có gì mang
lại sự buồn tẻ cho não hơn các đường thẳng Giống như các nhánh cây, cácđường cong có tổ chức sẽ lôi cuốn và thu hút được sự chú ý của mắt hơn rấtnhiều
- Bước 6: Sử dụng một từ khóa trong mỗi dòng Bởi vì, các từ khóa mang lại
cho sơ đồ tư duy của ta nhiều sức mạnh và khả năng linh hoạt cao Mỗi từ haymỗi hình ảnh đơn lẻ giống như một cấp số nhân, mang đến cho những sự liêntưởng và liên kết của nó diện mạo đặc biệt
- Bước 7: Dùng những hình ảnh xuyên suốt Bởi vì, giống như hình ảnh trung
tâm, mỗi hình ảnh cũng có giá trị của một ngàn từ Vì vậy, nếu ta chỉ có mườihình ảnh trong sơ đồ tư duy của mình thì nó đã ngang bằng với mười nghìn từcủa những lời chú thích
2.2 Các phương tiện xây dựng sơ đồ tư duy
- Dùng phương tiện máy tính và sử dụng các phần mềm tạo sơ đồ tư duy:
- Dùng những phương tiện sẵn có của một lớp học bình thường như phấn màu
vẽ trực tiếp lên bảng
- GV có thể thực hiện các thao tác vẽ trên giấy A2, A1 hoặc A0 bằng bút màu
2.3 Giáo viên sử dụng sơ đồ tư duy để hỗ trợ quá trình dạy học Ngữ văn 7.
Giáo sư Trần Đình Sử quan niệm: Học sinh là người chủ động sáng tạo kiến thức văn học trong giờ học dưới sự tác động của thầy Cần dành cho học sinh khoảng trời riêng để các em biểu lộ tình cảm, sự thích thú, suy nghĩ và chủ động tìm hiểu Cần biết tôn trọng cách hiểu, cách ghi chép độc đáo của học sinh Vì vậy, giáo viên có thể sử dụng sơ đồ tư duy trong mọi hoạt động học tập:
2.3.1 Dùng sơ đồ tư duy trong hoạt động kiểm tra bài cũ:
a Mục tiêu của hoạt động: giúp nâng cao ý thức sử dụng sơ đồ tư duy trongdạy học Ngữ văn cho đội ngũ giáo viên Từ đó giúp giáo viên có thêm kĩ năng,kinh nghiệm trong sử dụng sơ dồ tư duy, và các phần mềm vẽ sơ đồ tư duy
Trang 11b Nội dung của hoạt động: So với kiểm tra bài cũ theo cách truyền thống thì sử
dụng Sơ đồ tư duy trong kiểm tra bài cũ có nhiều lợi thế hơn Với hình thứckiểm tra này, giáo viên không chỉ kiểm tra được vấn đề nhớ bài của học sinh màcòn đánh giá được việc tiếp nhận kiến thức, hiểu và vận dụng kiến thức của họcsinh
Trang 12a Mục tiêu của hoạt động: Giúp giáo viên dẫn dắt vào bài nhanh, tiết kiệm thời
gian, đồng thời có thể tổ chức các hoạt động phong phú, đa dạng
b Nội dung của hoạt động: Dẫn dắt vào bài học tuy không phải là một hoạt
động chính nhưng nó có vai trò quan trọng trong giờ học Thành công của mộtgiờ dạy học chịu ảnh hưởng khá nhiều từ hoạt động này Ngay từ hoạt động dẫndắt nếu giáo viên tạo được sự chú ý thì giờ học sẽ hiệu quả hơn
c Cách thức thực hiện hoạt động:
Ở chương trình Ngữ văn lớp 7, học kì I; học sinh được học về các phươngthức biểu đạt Giáo viên khi dẫn vào bài mới sẽ chiếu sơ đồ tư duy về cácphương thức biểu đạt, sau đó nhấn mạnh cho học sinh ở học kì I lớp 7, chúng tatập trung tìm hiểu về phương thức biểu cảm, học kì II là phương thức nghịluận…
2.3.3 Dùng sơ đồ tư duy trong hoạt động hình thành kiến thức mới:
a Mục tiêu của hoạt động: Giúp giáo viên có thể tổ chức các hoạt động
phong phú, đa dạng để giờ học hấp dẫn, thú vị không nhàm chán
Học sinh hiểu và nhớ bài nhanh hơn
b Nội dung của hoạt động: Đây là hoạt động quan trọng nhất, vì giờ học
sôi nổi, hứng thú, lôi cuốn học sinh là giờ học phải kích thích được sự sáng tạo,
sự say mê tìm tòi của học sinh; huy động được tinh thần đồng đội, tạo cơ hội đểhọc sinh thể hiện bản thân, hình thành và phát triển các ý tưởng sáng tạo Dovậy, trong một giờ học sử dụng Sơ đồ tư duy, giáo viên có thể tổ chức hoạt độngnhóm, kết hợp với trò chơi, thi giữa các nhóm nhằm đạt được hiệu quả tối ưu màdạy học bằng Sơ đồ tư duy mang lại Bằng cách, giáo viên đưa ra một từ khoá đểnêu kiến thức của bài mới rồi yêu cầu học sinh vẽ sơ đồ tư duy Giáo viên đặtcâu hỏi, gợi ý cho các em để các em tìm ra các từ liên quan đến từ khoá đó vàhoàn thiện sơ đồ tư duy hoặc sử dụng Sơ đồ tư duy trong phần tiểu kết của mỗiđơn vị kiến thức
c Cách thức thực hiện hoạt động:
Ví dụ: Khi dạy văn bản: “Ca Huế trên sông Hương” (Môn Ngữ văn lớp 7,
tập 2), Giáo viên có thể sử dụng sơ đồ tư duy để giúp học sinh nắm được hệthống ý cơ bản Sơ đồ tư duy gồm 5 nhánh chính, ở mỗi nhánh có thể phânthành nhiều nhánh nhỏ tuỳ thuộc vào nội dung bài học
Trang 13- Bước 1: Giáo viên vẽ từ khóa là tên văn bản: “Ca Huế trên sông Hương” lên
bảng
- Bước 2: Để có thể hoàn thiện được mô hình sơ đồ tư duy của bài học, giáoviên sử dụng hệ thống câu hỏi định hướng để khai thác kiến thức có thể thôngqua các phương pháp dạy học như chia nhóm, làm việc theo cặp để thảo luậncác đơn vị kiến thức và tình huống thực tiễn có liên quan
+ Học sinh sẽ dựa vào nội dung văn bản để xác định các ý chính (Tìm hiểu
về xuất xứ? Thể loại? Nhan đề? Bố cục? Cách xem voi? Sự phong phú, đa dạng của các làn điệu dân ca Huế? Những đặc sắc của ca Huế?)
+ Tiếp tục hoàn thành các nhánh của sơ đồ tư duy bằng hệ thống câu hỏi
nhỏ có tính gợi mở, học sinh thảo luận theo bàn (đặc sắc trong cách biểu diễn? trong trang phục của các ca công ? )
- Bước 3: Giáo viên cùng học sinh chốt kiến thức về giá trị nội dung và giá trị
nghệ thuật của tác phẩm
- Bước 4: GV sử dụng màu sắc hoặc hình ảnh để sơ đồ ấn tượng hơn.
Sơ đồ tư duy văn bản: Ca Huế trên sông Hương - Ngữ văn 7
Lưu ý: GV,HS còn có thể tự sáng tạo ra những cách vẽ khác tùy sở thích củatừng GV,HS
Trang 14* Lưu ý: với các văn bản khác học sinh làm theo các bước tương tự.
Sơ đồ tư duy bài “Sống chết mặc bay” – Phạm Duy Tốn
2.3.4 Dùng sơ đồ tư duy trong hoạt động luyện tập – thực hành, ứng dụng - bổ sung, củng cố - dặn dò.
a Mục tiêu của hoạt động: Giúp giáo viên có thể tổ chức các hoạt động
phong phú, đa dạng để giờ học hấp dẫn, thú vị không nhàm chán
Học sinh nhớ kiến thức nhanh, vận dụng kiến thức vào giải quyết các bàitập khác có nội dung tương tự
b Nội dung của hoạt động:
Ở hoạt động này, giáo viên có thể gọi học sinh chiếu sơ đồ tư duy của cánhân, hoặc nhóm; học sinh khác trong lớp lắng nghe, thảo luận, nhận xét vàđóng góp ý kiến để hoàn thiện sơ đồ tư duy
c Cách thức thực hiện hoạt động:
Sau khi dạy bài “Đức tính giản dị của Bác Hồ (Ngữ Văn 7)
- Bước 1: Học sinh thực hiện việc chiếu, trình bày sơ đồ tư duy của cá nhânhoặc nhóm trong khoảng thời gian quy định
- Bước 2: Học sinh nhóm khác nhận xét, bổ sung
- Bước 3: Giáo viên nhận xét, chấm chữa sơ đồ tư duy.
Sơ đồ tư duy “ Đức tính giản dị của bác Hồ” – Phạm Văn Đồng