Một số yếu tố liên quan đến việc sinh con thứ 3 trở lên của các đối tượng nghiên cứu .... Mối liên quan giữa dân tộc với việc sinh con thứ 3 trở lên của đối tượng nghiên cứu .... Mối liê
Trang 1
NGUYỄN HỒNG DUYÊN
THỰC TRẠNG SINH CON THỨ 3 TRỞ LÊN
CỦA PHỤ NỮ 15-49 TUỔI TẠI HUYỆN ỨNG HÒA,
HÀ NỘI NĂM 2019 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
HÀ NỘI 12/2019
Trang 2KHOA KHOA HỌC SỨC KHỎE
BỘ MÔN Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN HỒNG DUYÊN
THỰC TRẠNG SINH CON THỨ 3 TRỞ LÊN
CỦA PHỤ NỮ 15-49 TUỔI TẠI HUYỆN ỨNG HÒA,
HÀ NỘI NĂM 2019 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
CHUYÊN NGÀNH Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số chuyên ngành 8.72.07.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐÀO XUÂN VINH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo sau Đại học cùng toàn thể các Thầy, Cô trường Đại học Thăng Long đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, rèn luyện, tu dưỡng tại trường
Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô thuộc Bộ môn Y tế Công cộng, trường Đại học Thăng Long đã trang bị cho tôi kiến thức, đạo đức nghề nghiệp, phương pháp nghiên cứu và tư duy khoa học
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đào Xuân Vinh, người Thầy đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn Trung tâm y tế huyện Ứng Hòa và các trạm
y tế xã đã tạo điều kiện, hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập số liệu
Xin cảm ơn các anh, chị và các bạn học viên sau đại học chuyên ngành
Y tế công cộng trường Đại học Thăng Long đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Đặc biệt, từ tận đáy lòng mình tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, cơ quan đã cùng tôi chia sẻ những khó khăn và giành cho tôi những tình cảm, chăm sóc quý báu để tôi hoàn tất luận văn này
Hà Nội, tháng 12 năm 2019
Nguyễn Hồng Duyên
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi: Phòng Đào tạo Sau đại học Trường Đại Học Thăng Long
Bộ môn Y tế công cộng Trường Đại học Thăng Long
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Tên tôi là: Nguyễn Hồng Duyên - học viên lớp cao học YTCC6.2, chuyên ngành Y tế công cộng, Trường Đại học Thăng Long
Tôi xin cam đoan các số liệu trong luận văn này là có thật và kết quả hoàn toàn trung thực, chính xác, chưa có ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Hà Nội, tháng 12 năm 2019
Học viên
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CBCNVC: Cán bộ công nhân viên chức
CTC: Cộng tác viên
ĐTNC: Đối tượng nghiên cứu
UBND: Ủy ban nhân dân
BPTTHĐ: Biện pháp tránh thai hiện đại
DS KHHGĐ: Dân số kế hoạch hóa gia đình
Trang 6MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Gia tăng dân số hiện nay 3
1.1.1 Gia tăng dân số trên thế giới 3
1.1.2 Gia tăng dân số tại Việt Nam 4
1.2 Sinh con thứ 3 trở lên tại Việt Nam và một số yếu tố liên quan 6
1.2.1 Tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên tại Việt Nam 6
1.2.2 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng sinh con thứ 3 trở lên tại Việt Nam 7
1.3 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu 16
1.3.1 Giới thiệu chung về huyện Ứng Hòa 16
1.3.2 Tình hình sinh con thứ 3 trở lên và việc thực hiện công tác dân số 16
1.4 Khung lý thuyết nghiên cứu 18
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 19
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 19
2.2.3 Thời gian 19
2.2 Phương pháp nghiên cứu 19
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 19
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 19
2.3 Biến số, chỉ số nghiên cứu 21
2.4 Phương pháp thu thập thông tin 26
2.4.1 Công cụ thu thập thông tin 26
2.4.2 Qui trình thu thập thông tin và sơ đồ nghiên cứu 26
Trang 72.6 Sai số và biên pháp khắc phục 27
2.6.1 Sai số 27
2.6.2 Các biện pháp khắc phục sai số 28
2.7 Đạo đức nghiên cứu 28
2.8 Hạn chế của nghiên cứu 29
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 30
3.2 Thực trạng sinh con thứ 3 trở lên của đối tượng nghiên cứu 34
3.3 Một số yếu tố liên quan đến việc sinh con thứ 3 của đối tượng nghiên cứu 40
3.3.1 Nhóm yếu tố cá nhân của vợ, chồng đối tượng nghiên cứu 40
3.3.2 Nhóm yếu tố từ phía gia đình 46
3.3.3 Nhóm yếu tố tiếp cận, sử dụng dịch vụ DS – KHHGĐ và PLDS 48
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 50
4.1 Thực trạng sinh con thứ 3 trở lên của đối tượng nghiên cứu 50
4.2 Một số yếu tố liên quan đến việc sinh con thứ 3 trở lên của các đối tượng nghiên cứu 56
4.2.1 Yếu tố cá nhân của vợ, chồng đối tượng nghiên cứu 56
4.2.2 Yếu tố từ phía gia đình 60
4.2.3 Nhóm yếu tố tiếp cận, sử dụng dịch vụ DS – KHHGĐ và PLDS 61
KẾT LUẬN 63
KHUYẾN NGHỊ 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
PHỤ LỤC 1: PHIẾU KHẢO SÁT CÁC CẶP VỢ CHỒNG SINH CON THỨ 3 TRỞ LÊN 71
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ 3 trở lên chia theo thành 7
thị/nông thôn, thời kỳ 2006 - 2013 7
Bảng 3.1 Phân nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu 30
Bảng 3.2 Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu 31
Bảng 3.3 Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 32
Bảng 3.4 Trình độ học vấn của người chồng đối tượng nghiên cứu 32
Bảng 3.5 Nghề nghiệp của chồng đối tượng nghiên cứu 33
Bảng 3.6 Thực trạng sinh con thứ ba của đối tượng nghiên cứu 34
Bảng 3.7 Phân bố đối tượng sinh con thứ 3 trở lên theo nhóm tuổi 35
Bảng 3.8 Số con đã sinh của đối tượng sinh con thứ 3 trở lên 35
Bảng 3.9 Giới tính của các con hiện tại đang sống 36
Bảng 3.10 Tình trạng sức khỏe của các con hiện tại đang sống 36
Bảng 3.11 Tình trạng giới tính của trẻ trước lần sinh thứ 3 trở lên 37
Bảng 3.12 Tình trạng sinh con ngoài ý muốn của đối tượng nghiên cứu 37
Bảng 3.13 Lý do sinh con thứ 3 trở lên của đối tượng nghiên cứu 38
Bảng 3.14 Người quyết định chính trong việc sinh con thứ 3 trở lên 39
Bảng 3.15 Người gây áp lực trong việc sinh con thứ 3 trở lên 39
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa dân tộc với việc sinh con thứ 3 trở lên của đối tượng nghiên cứu 40
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa tôn giáo với việc sinh con thứ 3 trở lên của đối tượng nghiên cứu 40
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa trình độ học vấn với việc sinh con thứ 3 trở lên của đối tượng nghiên cứu 41
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa nghề nghiệp với việc sinh con thứ 3 trở lên của đối tượng nghiên cứu 41 Bảng 3.20 Mối liên quan giữa trình độ học vấn của người chồng với việc
Trang 9sinh con thứ 3 trở lên của đối tượng nghiên cứu 42Bảng 3.21 Mối liên quan giữa nghề nghiệp của chồng với việc sinh con thứ
3 trở lên của đối tượng nghiên cứu 43Bảng 3.22 Mối liên quan giữa độ tuổi kết hôn với việc sinh con thứ 3 trở lên của đối tượng nghiên cứu 44Bảng 3.23 Mối liên quan giữa yếu tố Đảng viên với việc sinh con thứ 3 trở lên của đối tượng nghiên cứu 44Bảng 3.24 Mối liên quan giữa thu nhập bình quân với việc sinh con thứ 3 trở lên của đối tượng nghiên cứu 45Bảng 3.25 Mối liên quan giữa số con mong muốn với việc sinh con thứ 3 trở lên của đối tượng nghiên cứu 46Bảng 3.26 Mối liên quan giữa yếu tố sống cùng gia đình với việc sinh con thứ 3 trở lên đối tượng nghiên cứu 46Bảng 3.27 Mối liên quan giữa giới tính trẻ gia đình mong muốn với việc sinh con thứ 3 trở lên đối tượng nghiên cứu 47Bảng 3.28 Mối liên quan giữa số cháu mong muốn của gia đình với việc sinh con thứ 3 trở lên của đối tượng nghiên cứu 47Bảng 3.29 Mối liên quan giữa sử dụng biện pháp tránh thai với việc sinh con thứ 3 trở lên của đối tượng nghiên cứu 48Bảng 3.30 Hồi quy đa biến giữa tình trạng sinh con thứ 3 trở lên của đối tượng nghiên cứu và một số yếu tố liên quan 48
Trang 10DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Hình 1.1 Dự báo dân số Việt Nam giai đoạn 2009 – 2049 5
Biểu đồ 3.1 Dân tộc của đối tượng nghiên cứu 30
Biểu đồ 3.2 Tôn giáo của đối tượng nghiên cứu 31
Biểu đồ 3.3 Độ tuổi kết hôn của đối tượng nghiên cứu 33
Biểu đồ 3.4 Thu nhập trung bình của đối tượng nghiên cứu 34
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Dân số và sự gia tăng dân số từ lâu đã trở thành mối quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt đối với các nước đang phát triển có tốc độ gia tăng dân số nhanh Các vấn đề thuộc về dân số luôn đi liền với các vấn đề về phát triển bền vững của các quốc gia, tương lai của dân tộc phụ thuộc vào ý thức trách nhiệm và sự nỗ lực của mỗi cá nhân Việt Nam sẽ sống trong nghèo đói hay phồn vinh, trong bất công hay bình đẳng, trong bệnh tật hay khỏe mạnh, trong môi trường suy thoái, cạn kiệt hay môi trường mà con người và thiên nhiên được sống trong sự phát triển bền vững… điều đó liên quan chặt chẽ đến
sự quan tâm của chúng ta tới công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình
Theo số liệu thống kê, dân số thế giới tại thời điểm hiện tại là gần 7,7 tỷ người, dân số tăng nhanh gây ra nhiều khó khăn trong việc bảo vệ môi trường, duy trì chất lượng dân số, tình trạng nghèo đói và sự phát triển chung của nhiều quốc gia [51]
Việt Nam là một trong những quốc gia sớm thực hiện công tác Dân số -
Kế hoạch hóa gia đình Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác dân số
và kế hoạch hóa gia đình, xem công tác này là một nội dung quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu ở nước ta, là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi người dân, mỗi gia đình và toàn xã hội
Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2018, dân số Việt Nam ước tính là 96.963.958 người, tăng 950.346 người so với dân số năm 2017 Năm 2018, tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên là dương vì số người sinh nhiều hơn số người chết đến 997.715 người [33] Chương trình dân số Việt Nam đã có bước ngoặt quan trọng, chuyển hướng từ mục tiêu tập trung vào giảm số dân sang chất lượng dân
số, từ nội dung Kế hoạch hóa gia đình hạn hẹp sang sức khoẻ sinh sản toàn diện hơn [16]
Theo báo cáo Dân số kế hoạch hóa gia đình huyện Ứng Hòa năm 2018, tổng số trẻ sinh ra 2893 trẻ, trong đó trẻ là con thứ 3 trở lên là 464 trẻ Tỷ lệ sinh
Trang 12con thứ 3 trở lên của huyện Ứng Hòa năm 2018 là 16,03%, còn cao so với tỷ lệ chung của thành phố Hà Nội Với tình hình trên nếu không có giải pháp kịp thời nhằm khống chế tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên tại địa bàn huyện có thể sẽ gây ra những ảnh hướng đến tình hình phát triển kinh tế xã hội của địa phương và đặc biệt ảnh hưởng lớn đến cuộc sống người dân nơi đây [36] Vậy với thực trạng trên, những lý do nào là lý do dẫn đến thực trạng sinh con thứ 3 trở lên? Liệu thực trạng này có chịu tác động bởi những quan điểm về giới tính khi sinh? Để
trả lời các câu hỏi đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Thực trạng sinh
con thứ 3 trở lên của phụ nữ 15-49 tuổi tại huyện Ứng Hòa, Hà Nội năm
2019 và một số yếu tố liên quan Với 2 mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng sinh con thứ 3 trở lên của phụ nữ có chồng từ 15-49 tuổi tại huyện Ứng Hòa, Hà Nội năm 2019
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến thực trạng sinh con thứ 3 trở lên của đối tượng nghiên cứu
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình gia tăng dân số hiện nay
1.1.1 Gia tăng dân số trên thế giới
Dân số thế giới tính đến ngày 15 tháng 12 năm 2014 là 7,2 tỷ người và tiếp tục tăng, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới với 1,39 tỷ người, đứng thứ 2 là Ấn Độ với 1,27 tỷ người, Indonesia là nước có dân số đứng thứ 4 thế giới và đứng đầu các nước ở khu vực Đông Nam Á với hơn 254 triệu người Dân số thế giới đạt mốc 6 tỷ người vào năm 1999, 7 tỷ người năm 2011 và dự đoán mùa xuân năm 2024 dân số thế giới đạt mốc 8 tỷ người, năm 2050 con số này lên đến 9,5 tỷ người [51]
Dân số thế giới đang gia tăng với tỷ lệ trung bình là 1,2%/năm; tức cứ
1 giây lại có 4,4 em bé chào đời; tăng 78 triệu người hàng năm; bình quân cứ
13 năm dân số thế giới đã tăng thêm 1 tỷ người Tốc độ tăng dân số sẽ giảm xuống còn 0,5% năm 2050 Khi đó, Ấn Độ sẽ vượt Trung Quốc trở thành nước đông dân nhất thế giới [24]
Theo UNFA, các chỉ báo về nhân khẩu học năm 2012, dân số Thế giới
là 7,052 tỷ người, thì các vùng kém phát triển chiếm 5.8076 tỷ người Tỷ lệ tăng dân số trung bình hàng năm giữa vùng phát triển là 0,3% trong khi đó tỷ
lệ này ở các vùng kém phát triển là 1,3% Tỷ suất sinh/phụ nữ từ năm 2010
-2015 ở các nước phát triển là 2 và ở các nước kém phát triển là 3 Những thay đổi về tỷ lệ sinh trong vòng vài thập kỷ tiếp theo có thể gây hậu quả lớn về quy mô, cấu trúc và phân bổ dân số trong thời gian dài hạn [14]
Theo báo cáo Triển vọng dân số thế giới năm 2012, dân số tại khu vực phát triển sẽ giữ ở mức không thay đổi vào khoảng 1,3 tỷ người từ nay cho tới
2050 Dân số của châu Âu được dự báo giảm khoảng 700 triệu dân vào năm
2050 thì tại 49 nước kém phát triển dự báo sẽ có quy mô tăng gấp đôi ở mức
900 triệu người vào năm 2013 lên 1,8 tỷ người vào năm 2050 [27], [46] Khu vực dân số tăng nhanh nhất thế giới là Châu Phi khoảng 1 tỷ người (2011)
Trang 14Dân số Châu Á và Châu Mỹ La Tinh cũng được dự báo sẽ tăng thêm khoảng 25% trong 50 năm tới [24]
Trong số bốn yếu tố tác động đến tốc độ tăng dân số là mức sinh, mức chết, di dân và cơ cấu dân số trẻ thì cơ cấu dân số trẻ có ảnh hưởng lớn nhất Theo Ngân hàng Thế giới, quy mô dân số ở các nước đang phát triển năm
2010 sẽ tăng 1,81 lần so với năm 2000 thì phần tăng do cơ cấu dân số trẻ là 1,39 lần, do mức chết giảm là 1,15 lần và do mức sinh là 1,13 lần Với cơ cấu dân số trẻ - tỷ lệ phụ nữ dưới 30 tuổi theo Tổng điều tra dân số 1999 chiếm gần 59,6% dân số nữ, đúng bằng trung bình của các nước đang phát triển năm
2000 (59,3%), dân số Việt Nam sẽ vẫn tiếp tục tăng trong nhiều năm nữa trước khi đạt đến quy mô dân số ổn định [20]
1.1.2 Gia tăng dân số tại Việt Nam
Sự thay đổi dân số bất bình thường của Việt Nam đã diễn ra trong vòng
30 năm từ 1921 đến 1951, tỷ lệ tăng bình quân hàng năm 1,9% trong thời kỳ
1921 - 1926 đã giảm xuống còn 0,7% thời kỳ 1926 - 1931 Thời kỳ 1954 -
1960 sau khi miền Bắc được giải phóng nền kinh tế được phục hồi và phát triển, quy luật dân số tăng đã làm cho dân số tăng với tốc độ kỷ lục, tới 3,9%/năm [7]
Những năm gần đây, 1976 - 1979, tốc độ phát triển dân số giảm nhanh
do tác động của giảm tỷ suất sinh Trong 10 năm kể từ 1979 - 1989, tỷ lệ tăng dân số bình quân cả nước ở mức 2,1% Từ 1989 - 1992, tỷ lệ sinh cỏ giảm nhưng chậm Trong khi tỷ lệ sinh lần 3 còn cao, tỷ lệ chết giảm đáng kể nên
tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của dân số trong những năm sau tổng điều tra dân
số 1989 vẫn còn ở mức cao, ngoài ra còn có tác động của yếu tố di dân từ nước ngoài về [7]
Trang 152009 2014 2019 2024 2029 2034 2034 2044 2049
Nguồn: Tổng cục Thống kê(2011), Dự báo dân số Việt Nam giai đoạn
2009 – 2049 [30 ]
Hình 1.1 Dự báo dân số Việt Nam giai đoạn 2009 – 2049
Theo báo cáo của Tổng cục Dân số và KHHGĐ, dân số Việt Nam năm
2000 là 77,6 triệu người, tăng lên 82,4 triệu người vào năm 2005 và 86,92 triệu người vào năm 2010, đạt mục tiêu Chiến lược đề ra là dưới 89 triệu người Trong 10 năm (2001-2010), dân số đó tăng thêm 11,2 triệu người Tỷ
lệ phát triển dân số từ 1,28% (2001) xuống 1,17% (2005) và đạt 1,05% năm
2010, vượt mục tiêu đề ra là 1,1% vào năm 2010 Từ năm 2000 đến nay, mức sinh giảm chậm và có sự dao động “lên xuống” qua các năm [32]
Ngày 1/4/2013 dân số Việt Nam tính là 89,5 triệu người (tăng 952.131người so với 1/4/2012) trong đó có 45.215.396 người nữ, theo xếp hạng dân số Việt Nam đứng thứ 13 trên thế giới và đang đứng thứ 8 trong khu vực Châu Á Trong đó, dân số thành thị là 28,9 triệu người, chiếm 32,3%; dân
số nông thôn là 60,6 triệu người, chiếm 67,7% Với 20,4 triệu người, Đồng bằng sông Hồng là vùng có quy mô dân số lớn nhất, chiếm 22,8%, tiếp đến là Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (19,3 triệu người) chiếm 21,5%, Tây
Trang 16Nguyên là vùng có số dân ít nhất (5,5 triệu người) chỉ chiếm 6,1% dân số cả nước Dân số Việt Nam vẫn tiếp tục có xu hướng gia tăng Tổng tỷ suất sinh năm 2013 đạt 2,1 con/phụ nữ, tăng so với mức 2,05 con/phụ nữ của năm
2012
Tỷ suất sinh thô đạt 17 trẻ sinh ra sống trên 1000 người dân Tỷ số giới tính của trẻ em là 113,8 bé trai/100 bé gái, tăng so với mức 112,3 bé trai/100 bé gái của năm 2012 Tỷ suất chết thô năm 2013 là 7,1 %o; tỷ suất chết của trẻ
em dưới 1 tuổi là 15,3%o; tỷ suất chết của trẻ em dưới 5 tuổi là 23,1%0 [34]
Với quy mô dân số hơn 90 triệu người và duy trì mức sinh thay thế (mỗi phụ nữ sinh từ 2-2,1 con), mỗi năm dân số Việt Nam tăng hơn 1 triệu người và sẽ đạt quy mô dân số cực đại vào năm 2050 với khoảng 110 triệu dân, trong đó dân số già trên 65 tuổi chiếm 18% Đây là cơ cấu dân số này là mong muốn của nhiều nước, đảm bảo hài hòa giữa các lứa tuổi và sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Hiện nay, dân số Việt Nam đang đứng thứ
14 trên thế giới cũng sẽ là áp lực rất lớn trong việc bảo vệ môi trường cũng như các chính sách an sinh xã hội [16],[21],[49]
1.2 Thực trạng sinh con thứ 3 trở lên và một số yếu tố liên quan
1.2.1 Tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên tại Việt Nam
Tình hình sinh con thứ 3 trở lên tại Việt Nam đang trở thành mối quan tâm của Đảng và nhà nước ta Sinh con thứ 3 trở lên hiện không chỉ tồn tại ở nông thôn mà còn là vấn đề của các thành phố lớn, không chỉ ở bộ phận có trình độ hiểu biết thấp mà còn ở cả những người có trình độ học vấn cao, cán bộ, đảng viên Tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên biểu thị số phụ nữ có sinh con thứ
ba trở lên trong 12 tháng trước điều tra trên 100 phụ nữ sinh con trong thời kỳ
đó
Bảng 1.1 trình bày tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ ba trở lên ở Việt Nam
từ năm 2006 đến 2013 chia theo thành thị và nông thôn, số liệu cho thấy,
Trang 17trong thời gian qua, tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên trong cả nước giảm dần qua các năm, từ 18,5% năm 2006 xuống 14,2% năm 2012, tuy nhiên năm
2013 tỷ lệ này có xu hướng tăng nhẹ 14,3% [34]
Bảng 1.1 Tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ 3 trở lên chia theo thành
thị/nông thôn, thời kỳ 2006 - 2013
Trong những năm qua, tỷ lệ sinh con thứ ba của phụ nữ thành thị thay đổi không đáng kể trong khi tỷ lệ này của phụ nữ nông thôn giảm mạnh Tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ ba trở lên cao nhất ở Tây Nguyên (24,0%), tiếp theo là Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (18,0%) Đông Nam Bộ
và Đồng bằng sông Cửu Long là hai vùng có tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ ba trở lên trên thấp nhất, khoảng 11% Tây Nguyên là nơi sinh sống của các dân tộc ít người, việc tiếp cận các phương tiện tránh thai cũng như phương tiện truyền thông về kế hoạch hóa gia đình có hạn chế nên đây cũng
có thể là một trong những nguyên nhân khiến tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ ba trở lên của vùng này cao nhất nước [34]
1.2.2 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng sinh con thứ 3 trở lên tại Việt Nam
1.2.2.1 Các yếu tố cá nhân người vợ
Trang 18trở lên càng thấp Tỷ lệ phần trăm phụ nữ sinh con thứ ba trở lên trong năm của những phụ nữ chưa đi học tới 45,4%, giảm dần xuống còn 27,4% đối với phụ nữ chưa tốt nghiệp tiểu học, 21,1% đối với phụ nữ tốt nghiệp tiểu học, 16,2% đối vói phụ nữ tốt nghiệp trung học cơ sở và chỉ còn 5,7% đối với phụ
nữ có trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên [34]
Trong những năm 2000, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng trình độ học vấn có ảnh hưởng lớn đến sinh con thứ 3 trở lên Trình độ học vấn càng thấp thì tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên càng cao Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên có sự hiểu biết về xã hội còn hạn chế và tập trung cao nhất ở những bà mẹ có trình độ dưới tiểu học [15],[17],[19] Đến sau những năm 2010, những nghiên cứu về tình trạng sinh con thứ 3 trở lên của các tác giả Nguyễn Thế Hùng tại tỉnh Quảng Trị, Nguyễn Ngọc Nha tại Phú Yên, Lang Đình Bính t ại tỉnh Bình Định đã cùng nhận định nhưng tình trạng sinh con thứ 3 trở lên ở những bà
mẹ có học vấn thấp vẫn chiếm tỷ lệ cao Dù đã sau hơn 10 năm nhưng tỷ lệ này vẫn tập trung chủ yếu ở nhóm bà mẹ có trình độ học vấn dưới Tiểu học [3],[18],[22]
Yếu tố tâm lý mong muốn sình con trai
Tại Việt Nam, yếu tố tâm lý có ảnh hưởng sâu sắc đến hành vi sinh con thứ 3 trở lên Yếu tố tâm lý là lý dó những gia đình quyết định sinh thêm con, những yếu tố tâm lý này đã tồn tại trong tâm thức nhiều người Việt Nam từ lâu, với tư tưởng trọng nam khinh nữ, muốn có con trai để nối dõi tông đường, sinh con dự phòng, tâm lý thích đông con hơn đông của, để có thêm lao động hay về già có nơi nương tựa [19] Tư tưởng trọng nam khinh nữ là yếu tố hàng đầu ảnh hưởng tới mong muốn sinh con trai Nghiên cứu của Ph Kamala Devi năm 2013 tại vùng biên giới đông bắc Ấn Độ và nghiên cứu của Tongkholal Balte, L Tombi Singh (2013) cũng cho kết quả mong muốn sinh con trai là nguyên nhân dẫn đến việc sinh con thứ 3 tại nơi đây [42], [44]
Trang 19Nghiên cứu của Sharat Singh N (2011) cho rằng nguyên nhân dẫn đến sinh con thứ 3 là do mong muốn sinh con trai của các cặp vợ chồng ở Ấn Độ [48]
Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, từ thành thị cho đến vùng nông thôn, miền núi thì lý do sinh thêm con vì muốn có con trai để nối dõi tông đường Tại Bắc Ninh 44% người chồng cho biết lý do sinh thêm con là
vì muốn có con trai để nối dõi tông đường Tại các tỉnh miền Trung tâm lý của những người có sinh con thứ 3 trở lên mong muốn nhất thiết phải có con trai cao nhất chiếm 89% tại huyện Triệu Phong tỉnh Quảng Trị và tại Đông Hòa, Phú Yên là 54% Tại Thừa Thiên Huế tác giả Ngô Văn Vinh cũng cho thấy, 41,1% bà mẹ muốn có con trai nối dõi [17], [18], [22], [41]
Tâm lý mong muốn có nhiều con, đủ trai đủ gái bên cạnh các quan niệm thích có con trai, thích có nhiều con vẫn tồn tại trong suy nghĩ của các cặp vợ chồng, có cả trai lẫn gái, chọn "năm đẹp" đế sinh thêm con, sinh con hợp tuổi cha mẹ cũng làm tăng thêm việc sinh con thứ 3 trở lên [4],[43] Tại
Hà Nội, có 5,9% số người vợ đưa ra lý do sinh con thứ 3 trở lên vì đó là năm đẹp để sinh con [26]
Điều kiện mức sống
Điều kiện mức sống có ảnh hưởng lớn đến việc sinh con thứ 3 trở lên, nhiều gia đình có điều kiện nuôi con, kinh tế khá giả mặc dù đã có 2 con, đủ trai đủ gái nhưng vẫn mong muốn sinh nhiều con Theo Nguyễn Thị Hà, tại Bắc Giang, có 6,3% gia đình có điều kiện nuôi con nên đã đẻ thêm mặc dù đă
có cả trai và gái [15] Tại Hà Nội, hầu hết các gia đình sinh con thứ 3 trở lên đều có kinh tế khá giả [33] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Lệ Thu cho thấy, lý
do chính của các gia đình sinh con thứ 3 trở lên trong nghiên cứu là do kinh tế khá giả (46,4% cặp vợ chồng lựa chọn) [28] Nghiên cứu Ngô Văn Vinh tại huyện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên Huế (2008) lại cho thấy tỷ lệ sinh con 3 trở lên giữa các nhóm đối tượng có kinh tế giàu chiếm 23,9% [41] Nghiên cứu
Trang 20của Vũ Ngọc Dũng (năm 2011), 92,48% ĐTNC có sinh con thứ 3 trở lên có thu nhập nghèo và trung bình [12] Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Nha tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo chiếm tỷ lệ 57,55% [22]
Như vậy, xu thế sinh con hiện nay xuất hiện ở hai nhóm, nhóm kinh tế không khá giả mong muốn sinh nhiều con với quan niệm “trời sinh voi sinh cỏ”, thì nhóm còn lại cho rằng mình có kinh tế, sinh nhiều con vẫn đảm bảo được chất lượng cuộc sống cho con Sự khác biệt quan niệm này tập trung ở nhóm gia đình khá giả ở vùng đồng bằng, thành thị và một nhóm gia đình khó khăn ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa
Yếu tố nghề nghiệp
Sự phân bổ tỷ lệ những người sinh con thứ 3 trở lên theo nghề nghiệp
có sự khác nhau tùy theo đặc điểm vùng miền [4] Nghiên cứu của Nguyễn Thế Hùng có đến 63,3% nghề nghiệp làm ruộng, 20,8% là ngư nghiệp, 5,8% cán bộ công chức Kết quả của Nguyễn Ngọc Nha cho thấy có đến 57,55% ĐTNC sinh con thứ 3 trở lên là ngư nghiệp, 18,87% là nghề nông, 6,6% là cán bộ công nhân viên chức [22] Nghiên cứu của Lang Đình Bính có đến 99,5% ĐTNC là nghề nông [3]
Tại Hà Nội, nghề nghiệp chủ yếu của những người chồ ng sinh con thứ
3 trở lênlà buôn bán (42,9%), 27,1% là CBCN, 10% thất nghiệp và 6% làm nông nghiệp Tỷ lệ này ở người vợ 40% ở nhà làm nội trợ, 32,9% buôn bán, 17,1% là CBCN và 10% làm nông nghiệp Trong đó, có tổng số 34,3% hộ gia đình có vợ hoặc chồng hoặc cả hai người là CBCN; 18,6% hộ gia đình có vợ hoặc chồng hoặc cả hai người là Đảng viên [26]
Yếu tố văn hóa vùng miền
Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên ở các dân
Trang 21sâu, vùng xa, ở vùng núi và Tây Nguyên Nghiên cứu của Vũ Ngọc Dũng chỉ
ra dân tộc Ba na có tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên cao nhất 49,5%, dân tộc Ê đê 43,44% và dân tộc Tày 38% [12]
Tuy vậy, trong điều kiện của nước ta hiện nay, việc gia tăng dân số đang đặt ra những khó khăn, thách thức trước mắt như: thiếu việc làm, thất nghiệp, học vấn của dân cq thấp, tật tăng, bất bình đẳng giới đang là những rào cản hạn chế nâng cao mức sống của người dân Do đó, chính sách c ủa Nhà nước cần có biện pháp hạn chế, giảm và ổn định mức sinh ở mức độ thấp nhằm nâng cao mức sống dân cq ở Việt Nam cần được quán triệt và xuyên suốt trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội
Yếu tố tôn giáo tín ngưỡng
Tôn giáo tín ngưỡng cũng là một nhân tố có ảnh hưởng đến mức sinh, mức độ ảnh hưởng này rất khác nhau giữa các tín đồ tôn giáo và không tôn giáo Nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên xuất phát từ chủ thuyết của các tôn giáo đối với sinh đẻ, áp dụng các biện pháp tránh thai và nạo phá thai Ở Việt Nam, pháp luật tôn trọng và bảo đ ảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo c
ủa công dân Tôn giáo là một đặc trqng của dân số [30], [45]
Nghiên cứu của Nguyễn Thế Hùng tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên của nguời Luơng là 55,84%, nguời theo đạo Phật là 23,38% và nguời theo đạo Công giáo là 20,45% [18] Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Nha tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên của nguời theo đạo Công giáo là 34,91%, những nguời không có đạo là 32,08% những nguời theo đạo Phật và đạo Tin lành là 16,04% [22 ] Tuy nhiên theo nghiên cứu của Lang Đình Bính đã cho thấy tỷ lệ sinh con thứ
3 trở lên của nguời có tôn giáo là 0,49%, tỷ lệ này ở đối tuợng không tôn giáo
là 99,51%, điều này có thể do ĐTNC tại đây có tôn giáo chiếm tỷ lệ rất nhỏ [3]
Một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nguời ra quyết định sinh con thứ 3 trở lên
Trang 22không phải chủ yếu là nguời chồng, bố mẹ chồng mà là nguời vợ [35]
1.2.2.2 Yếu tố cá nhân người chồng
Nghề nghiệp nguời chồng có tác động đến việc sinh con thứ 3 trở lên Nhiều nghiên cứu cho thấy, nhiều phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên có chồng là nghề nông chiếm 66,6% [18] Tại Hà Nội, nghề nghiệp chủ yếu của những nguời chồng sinh con thứ 3 trở lên là buôn bán (42,9%) [26]
Bên cạnh đó là yếu tố trình độ học vấn của nguời chồng Theo nghiên cứu của Nguyễn Thế Hùng năm 2010, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên của nhóm đối tuợng
có chồng học vấn duới Trung học cơ sở là là 72,4% [16] Nguyễn Hải và Lê
Cự Linh tại huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh kết quả tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên
ở những nguời chồng có trình độ học ở bậc trung học phổ thông chiếm đa số trong mẫu nghiên cứu (60,7%) [17]
Một lý do cũng đuợc quan tâm là nguời chồng là con truởng, truởng tộc hoặc con trai duy nhất trong gia đình hay dòng họ
1.2.2.3 Yếu tố gia đình
Tại Việt Nam, thuờng có quan niệm “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”, “Giấy rách phải giữ lấy lề”, “Áo mặc không qua khỏi đầu” thì ý kiến của nguời cha, nguời mẹ thuờng đuợc quan trọng Những ý kiến này có khi là những vấn
đề áp đật trong một gia đình mà con cái phải làm theo Điều đó cho thấy các ý kiến mong muốn có thêm con cháu của nguời cha, nguời mẹ thuờng tác động lớn đến quyết định sinh con của con cái Bên cạnh đó, những người xung quanh như xóm giềng, bàn bè, đồng nghiệp khi thấy người ta có đủ trai đủ gái, những dèm pha cũng ảnh hưởng đến việc sinh con thứ 3 trở lên
Nghiên cứu của Nguyễn Hải và Lê Cự Linh cho thấy, có trên 30% cặp vợ chồng sinh thêm con thứ 3 trở lên là vì áp lực gia đình và những người lớn xung quanh [17]
Trang 23Thi Lệ Thu 21,4% số cặp vợ chồng cho biết họ sinh con thứ 3 trở lên là vì áp lực phải có con trai từ gia đình và dòng tộc [28]
1.2.2.4 Các yếu tố dịch vụ dân số kế hoạch hóa gia đình
Kết quả cuộc Điều tra biến động dân số và kế hoạch hoá gia đình 1/4/2013 cho thấy, tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại tại thời điểm 1/4/2013 đạt mức 67%, tăng 0,4% so với kết quả điều tra l/4/2012 [34] Hiểu biết các BP TTHĐ và nguồn cung cấp là nhân tố quan trọng giúp cho các cặp vợ chồng quyết định sử dụng BP TTHĐ hay không Thông tin về BP TTHĐ đang được phổ biến ở nước ta như đình sản, tiêm thuốc tránh thai, bao cao su, vòng tránh thai và hai biện pháp truyền thống là tính vòng kinh và xuất tinh ngoài âm đạo.Một thái độ đúng đối với các BP TTHĐ sẽ là điều kiện tiên quyết cho việc sử dụng biện pháp tranh thai thành công Thái độ thích hay không thích sử dụng BP TTHĐ hoặc chỉ quan tâm đến biện pháp tránh thai truyền thống Nếu việc sử dụng các biện pháp tránh thai thất bại cộng với không nạo phá thai dẫn đến việc sinh con ngoài ý muốn và có thể góp phần tăng tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên
Nghiên cứu của Ngô Văn Vinh (năm 2008) và Nguyễn Ngọc Nha (năm 2010) vẫn còn nhiều bà mẹ không hiểu biết và không sử dụng đúng cách biện pháp tránh thai dẫn đến vỡ kế hoạch là nguyên nhân làm tăng tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên Điều này cho thấy sự hạn chế của chất lượng cung cấp dịch vụ DS- KHHGĐ, phụ nữ chưa được tư vấn một cách đầy đủ khi sử dụng BP TTHĐ [22], [41] Mặt khác, ở những phụ nữ khi bị vỡ kế ho ạch, do không nhận biết, hoặc có nhận biết nhưng ngại đến cơ sở dịch vụ hoặc do điều kiện khó khăn không đến được, họ thường để đẻ con, do vậy mặc dầu đã có đủ số con theo ý muốn nhưng họ vẫn đê con thứ ba trở lên Do đó, cần đào tạo lại cho nhân viên y tế cung cấp các dịch vụ DS-KHHGĐ về kiến thức, kỹ năng thực hành và tư vấn trước, trong, sau khi cung cấp dịch vụ DS-KHHGĐ cho
Trang 24khách hàng để tăng hiệu quả sử dụng của các BP TT
Năm 2011, Nguyễn Thế Hùng đã nghiên cứu thực trạng sinh con thứ 3
và các yếu tố liên quan của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại huyện Triệu Phong, Quảng Trị cho rằng các bà mẹ không sinh con thứ 3 trở lên có
sự hiểu biết về BP TTHĐ cao hơn số bà mẹ sinh con thứ 3 trở lên Tỷ lệ những bà mẹ sinh con thứ 3 trở lên có thời gian sử dụng BP TTHĐ không liên tục cao hơn những bà mẹ không sinh con thứ 3 trở lên Tác giả cũng chỉ ra rằng sử dụng BP TTHĐ làm giảm nguy cơ sinh con thứ 3 trở lên [18]
Bên cạnh đó những người phụ nữ có khả năng tiếp cận dịch vụ DS - KHHGĐ một cách dễ dàng thể hiện vai trò tự quyết định trong việc sinh con thứ 3 trở lên cao hơn so với những người vợ khó tiếp cận các dịch vụ này Nhiều nghiên cứu đã cho rằng mức hiểu biết biện pháp tránh thai của người phụ nữ càng thấp thì tỉ lệ sinh con thứ 3 trở lên càng cao Tuy nhiên những nghiên cứu này lại chưa đưa ra được chất lượng của dịch vụ cũng như thái độ của cán bộ làm công tác DS-KHHGĐ ảnh hương như thế nào đến tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên[1], [4], [5],[47]
Tuy nhiên hiện nay việc cung cấp các dịch vụ DS-KHHGĐ không phải
là miễn phí vì vậy sẽ khó khăn trong việc sử dụng các BP TTHĐ nhất là những vùng kinh tế còn khó khăn, người dân nghèo không đủ tiền mua dịch
vụ và thói quen của người sử dụng luôn được miễn phí hoàn toàn Bên cạnh
đó các BP TTHĐ dành cho nam giới tỷ lệ sử dụng còn rất thấp [11] Hiện nay vẫn còn nhiều nam giới không muốn sử dụng các biện pháp tránh thai, không tạo điều kiện cho người vợ sử dụng các biện pháp tránh thai [50] Nhiều phụ
nữ rơi vào tình trạng bị bạo lực gia đình, cưỡng bức và hậu quả của những lần ép buộc tình dục đã làm tăng nguy cơ lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS, mang thai ngoài ý muốn, sẩy thai, đẻ non, thậm chí vô sinh
1.2.2.5 Yếu tố chính sách DS-KHHGĐ
Trang 25Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên ở Châu Á triển khai chuơng trình dân số và kế hoạch hóa gia đình Đảng ta đã ban hành Nghị quyết số 04 về chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình Đồng thời ban hành Pháp lệnh dân số 2008 sửa đổi điều 10 của Pháp lệnh dân số năm 2003 Quyết định số 2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2011 của Thủ tuớng Chính phủ phê duyệt Chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020 [2],[10],[29],[39],[40]
Nghiên cứu Nguyễn Hải (năm 2006) đã chỉ ra rằng có 14,7% người chồng và 19,9% người vợ sinh con thứ 3 trở lên là do chính phủ ban hành Pháp lệnh dân số Có một số cặp vợ chồng hiểu sai hoặc cố tình không hiểu
về Pháp lệnh dân số, những gia đình có vợ hoặc chồng có sinh con thứ 3 là đảng viên chiếm tỷ lệ cao [17], [26]
Theo thống kê của Tổng cục Dân số - Kế hoạch hoá gia đình đầu năm 2008, đối tượng sinh con thứ 3 không chỉ dừng lại ở những hộ nông dân mà gần đây lại có xu hướng xuất hiện ở đối tượng Đảng viên, công chức nhà nước, những gia đình khá giả [4]
Mặc dù chính sách DS-KHHGĐ hiện nay hướng đến mỗi cặp vợ chồng nên sinh đủ 2 con, nhưng người nông dân hiện nay lại quan niệm quy định đó chỉ áp dụng cho cán bộ, Đảng viên còn người nông dân thì có quyền sinh con theo ý muốn Việc cấm thông báo giới tính khi sinh được ban hành một cách chặt chẽ, tuy nhiên tại các phòng khám, viện người ta vẫn dùng những thuật ngữ “giống bố”, “ giống mẹ” hay “tiểu ngồi”, “tiểu đứng” để mục đích thông báo giới tính [19]
Tỉnh Thừa Thiên Huế bàn hành quyết định số 28/QĐ-UBND ngày 30/5/2014 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế Ban hành Quy định một số chính sách về Dân số và kế hoạch hoá gia đình Quy định một số chính sách và biện pháp tổ chức thực hiện công tác DS-KHHGĐ trên địa bàn tỉnh [38] Tuy
Trang 26nhiên theo quy định này những trường hợp sinh con thứ 3 sẽ giao cho cơ quan, đơn vị, làng, xã tự xây dựng quy ước, hương ước vê hình thức xử lý Nên đã có nhiều cán bộ, đảng viên đã cố tình vi phạm vì hình thức kỷ luật chỉ
là không khen thưởng hoặc không đề bạt
1.3 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu
1.3.1 Giới thiệu chung về huyện Ứng Hòa
Ứng Hòa là huyện đồng bằng nằm trong vùng thuộc nền văn minh lúa nước sông Hồng, có điều kiện khí hậu đất đai đa dạng, phù hợp với khả năng phát triển một nền nông nghiệp sinh thái toàn diện, mang đặc trưng của nền sản suất nông nghiệp truyền thống, Ứng Hòa nằm ở phía Nam của thành phố
Hà Nội Phía Bắc giáp huyện Chương Mỹ và Thanh Oai Phía Nam giáp huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam Phía Tây giáp huyện Mỹ Đức Phía Đông giáp huyện Phú Xuyên Diện tích tự nhiên của huyện Ứng Hòa là 18,375,25 ha và dân số là 190,679 người
1.3.2 Tình hình sinh con thứ 3 trở lên và việc thực hiện công tác dân số [36]
Kết quả sinh: (tính đến ngày 31/10/2018)
+ Số sinh trong toàn huyện là: 2.304 trẻ (tăng 154 trẻ so với cùng kỳ)
+ Số sinh con thứ 3 trở lên là: 382 trẻ (tăng 79 trẻ so với cùng kỳ)
Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên tương ứng là:16,58% (tăng 4,25% so với cùng kỳ) + Tỷ số giới khi sinh là: 121,3 trẻ trai/100 trẻ gái (tăng 9,98 % điểm so với cùng kỳ)
+ Sàng lọc trước sinh là: 80,41% (giảm 1,39% so với cùng kỳ)
+ Sàng lọc sơ sinh là: 98,44% (tăng 1,65% so với cùng kỳ)
* Số cán bộ đảng viên sinh con thứ 3 trở lên là 23 trường hợp tăng so với cùng kỳ là 09 trường hợp
* Số sinh và sinh con thứ 3 trở lên cả năm 2018
Trang 27- Số trẻ sinh ra trong toàn huyện là: 2.834 trẻ (tăng 178 trẻ so với năm 2017)
- Trong đó số trẻ là con thứ 3 trở lên 449 trẻ (giảm 105 trẻ so với năm 2017) + Tỷ suất sinh đạt: 13,75‰ (giảm 0,75‰ so với năm 2017), (đạt chỉ tiêu Chỉ tiêu giao năm 2018 giảm 0,2‰ so với năm 2017)
+ Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên đạt 15,84% (tăng 4,42% so với năm 2017)
Kết quả thực hiện các biện pháp tránh thai: (tính đến ngày 31/10/2018)
+ Dụng cụ tử cung: 1.033/1.200 người đạt 86,1% KH năm; Triệt sản: 11/06 người đạt 183% KH năm; Thuốc tiêm TT: 90/60 người đạt 150% KH năm; Thuốc uống TT: 2.779/2.350 người đạt 160,8% KH năm; Bao cao su: 4.673/3.350 người đạt 139,4% KH năm; Thuốc cấy tránh thai: 08/05 người đạt 160% KH năm
* Tỷ số các cặp vợ chồng áp dụng biện pháp tránh thai hiện đại 24.476/34.146= 71,68 % KH năm
Trang 281.4 Khung lý thuyết nghiên cứu
KHUNG LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Yếu tố gia đình chồng
và người chồng
-Sở thích con trai/con gái
-Các dịch vụ về DSKHHGĐ
- Văn hóa vùng miền
Trang 29CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các phụ nữ ở độ tuổi từ 15- 49 tại huyện Ứng Hòa, Hà Nội
* Tiêu chí lựa chọn
- Phụ nữ 15-49 tuổi có chồng, đã sinh con
- Đồng ý tham gia phỏng vấn
* Tiêu chí loại trừ
- Không có khả năng nghe, nói, hiểu biết
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm: huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội
2.2.3 Thời gian
Từ tháng 06/2019 đến tháng 12/2019
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu áp dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp hồi cứu số liệu
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
n: Cỡ mẫu tối thiểu cần nghiên cứu
𝑧1−∝/2: với α = 0,05 thì 𝑧1−∝/2 = 1,96
p: Nghiên cứu sử dụng p = 0,16 dựa vào tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 tại huyện Ứng Hòa năm 2018 là 16,03% [36]
Trang 30tại mỗi xã cho số mẫu tính được (Bảng mô tả chi tiết hệ số k cho từng xã, thị trấn được mô tả tại Phụ lục 2 – trang 82)
Với hệ số k tính được, tại mỗi xã, thị trấn đối tượng đầu tiên sẽ được chọn ngẫu nhiên trong số k người mẹ có số thứ tự từ 1-k đầu danh sách, sau
đó đối tượng tiếp theo sẽ được lấy bằng số thứ tự của người đầu tiên cộng thêm k, thực hiện liên tục tại mỗi xã, thị trấn cho đến khi có đủ đối tượng nghiên cứu
Trang 312.3 Biến số, chỉ số nghiên cứu
Mục tiêu 1: Thực trạng sinh con thứ 3 trở lên cảu đối tượng nghiên cứu
TT Biến số Định nghĩa biến Phân loại
biến Chỉ số Thu thập Thông tin chung
Tuổi của đối tượng được phỏng vấn tính theo năm dương lịch vào thời điểm nghiên cứu
Biến liên tục
Tỷ lệ % đối tượng phân theo tuổi
Phỏng vấn
2 Trình độ học
vấn
Trình độ học vấn cao nhất của đối tượng phỏng vấn
Biến thứ bậc
Tỷ lệ % đối tượng phân theo học vấn
Phỏng vấn
3 Đảng viên
Đối tượng hoặc chồng
là Đảng viên hay không trước thời điểm sinh con thứ 3
Biến nhị phân
Tỷ lệ % đối tượng là Đảng viên
Phỏng vấn
4 Nghề nghiệp
Công việc mang lại thu nhập chính cho đối tượng phỏng vấn thời điểm trước khi sinh con thứ 3
Biến định danh
Tỷ lệ % đối tượng phân theo nghề nghiệp
Phỏng vấn
5 Dân tộc Dân tộc của đối tượng
phỏng vấn
Biến định danh
Tỷ lệ % đối tượng phân theo dân tộc Phỏng vấn
6 Tôn giáo
Tôn giáo mà đối tượng theo
Biến định danh
Tỷ lệ % đối tượng phân theo tôn giáo
Phỏng vấn
Trang 327 Điều kiện kinh
tế gia đình
Điều kiện kinh tế của gia đình đối tượng theo phân loại c ủa địa phưong/nhận định của đối tượng
Biến thứ bậc
Tỷ lệ % đối tượng phân theo ĐK kinh tế Phỏng vấn
8
Thu nhập bình
quân theo đầu
người trong gia
đình
Số tiền trung bình một người trong gia đình kiếm được trong 1
tháng
Biến liên tục
Tỷ lệ % đối tượng phân theo mức thu nhập
Biến thứ bậc
Tỷ lệ % trẻ phân theo tình trạng SK
Biến thứ bậc
Tỷ lệ % trẻ phân theo tình trạng học tập
Biến nhị phân
Tỷ lệ % đối tượng chủ động sinh con thứ 3
trở lên
Biến định tính
Tỷ lệ % đối tượng phân theo lý do
Phỏng vấn
Trang 33Biến định danh
Tỷ lệ % người quyết định sinh con thứ 3
3 trở lên
Biến định danh
Tỷ lệ % người gây áp lực đến việc sinh con thứ 3
Biến định danh
Tỷ lệ % đối tượng nhận được thông tin theo các nguồn
Biến định danh
Tỷ lệ % nguồn thông tin phổ biến nhất theo các nguồn
Phỏng vấn
Trang 34Mục tiêu 2: Một số yếu tố liên quan đến thực trạng sinh con thứ 3 của đối tượng nghiên cứu
p, OR, CI95% giữa tình trạng sinh con thứ 3 và
- Sinh con thứ 3 (PT)
p, OR, CI95% giữa tình trạng sinh con thứ 3 và tình trạng sức khỏe
22
Mối liên quan giữa thứ tự
sinh của người cha và
sinh con thứ 3
- Thứ tự sinh của chồng (Độc lập)
- Sinh con thứ 3 (PT)
p, OR, CI95% giữa tình trạng sinh con thứ 3 và thứ tự sinh của người cha
23
Mối liên quan giữa sở
thích có con trai, con gái
và sinh con thứ 3
- Sở thích con trai/gái (Độc lập)
- Sinh con thứ 3 (PT)
p, OR, CI95% giữa tình trạng sinh con thứ 3 và sở thích có con trai, con gái
24
Mối liên quan giữa số con
mong muốn và sinh con
thứ 3
- Số con mong muốn (Độc lập)
- Sinh con thứ 3 (PT)
p, OR, CI95% giữa tình trạng sinh con thứ 3 và số con mong muốn
- Sinh con thứ 3 (PT)
p, OR, CI95% giữa tình trạng sinh con thứ 3 và thái độ sử dụng BPTT
Trang 3526
Mối liên quan giữa nghề
nghiệp của chồng và sinh
con thứ 3
- Nghề nghiệp chồng (Độc lập)
- Sinh con thứ 3 (PT)
p, OR, CI95% giữa tình trạng sinh con thứ 3 và nghề nghiệp của chồng
- Sinh con thứ 3 (PT)
p, OR, CI95% giữa tình trạng sinh con thứ 3 và trình độ học vấn của
chồng
28
Mối liên quan giữa vai trò
của người chồng trong gia
đình và sinh con thứ 3
- Vai trò người chồng (Độc lập)
- Sinh con thứ 3 (PT)
p, OR, CI95% giữa tình trạng sinh con thứ 3 và vai trò của người chồng trong gia đình
- Sinh con thứ 3 (PT)
p, OR, CI95% giữa tình trạng sinh con thứ 3 và sống cùng nhà với gia đình chồng
30
Mối liên quan giữa mong
muốn của gia đình và sinh
Trang 362.4 Phương pháp thu thập thông tin
2.4.1 Công cụ thu thập thông tin
Bảng hỏi bộ câu hỏi liên quan đến chủ đề nghiên cứu đã được xây dựng sẵn (chi tiết tại phụ lục 1) với những đặc thù cho nghiên cứu và tham khảo các nghiên cứu trước đó Bộ câu hỏi gồm 4 phần
Phần 1: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Phần 2: Thực trạng sinh con thứ 3 trở lên của đối tượng nghiên cứu Phần 3: Lý do sinh con thứ 3 trở lên của các cặp vợ chồng
Phần 4: Một số yếu tố liên quan đến việc sinh con thứ 3 của đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Kỹ thuật thu thập thông tin: Thực hiện phỏng vấn trực tiếp qua bộ câu
hỏi với ĐTNC là các phụ nữ 15 – 49 tuổi có chồng trên 29 xã, thị trấn Huyện Ứng hòa Thành phố Hà Nội Địa điểm phỏng vấn đảm bảo tính riêng tư, người tham gia phỏng vấn cảm thấy dễ chịu, thoải mái
- Người thu thập thông tin là các chuyên trách dân số 29 xã thị trấn và học viên, học viên sẽ thực hiện giám sát chặt chẽ của trong suốt quá trình điều tra
2.4.2 Qui trình thu thập thông tin và sơ đồ nghiên cứu
- Lựa chọn điều tra viên là các cộng tác chuyên trách dân số 29 xã, thị trấn và học viên
- Tập huấn điều tra viên về công cụ nghiên cứu và cách tiếp cận điều tra, thu thập số liệu
- Tổ chức thu thập số liệu thông qua bảng hỏi đã thiết kế
- Lựa chọn đối tượng nghiên cứu dựa vào tiêu chuẩn lựa chọn, nếu đối tượng đạt đủ tiêu chuẩn đưa vào điều tra
- Khi điều tra viên nộp phiếu, nghiên cứu viên kiểm xem phiếu đã được điền đầy đủ chưa, những trường hợp thiếu nhiên cứu viên sẽ yêu cầu điều tra viên bổ sung đầy đủ
Trang 37`
Hình 2.1 Sơ đồ nghiên cứu 2.5 Phương pháp phân tích số liệu
- Kiểm tra lại thông tin ở các phiếu, xử lý các phiếu ghi sai thông tin
- Nhập số liệu vào máy vi tính bằng phần mềm Epidata 3.1, phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0
- Phân tích số liệu dựa vào các test thống kê mô tả tính tỷ lệ %, trung bình, giá trị lớn nhất, nhỏ nhất được áp dụng để mô tả các biến số Xác định mối liên quan giữa các biến bằng các test thống kê phân tích, dựa vào các chỉ số p,
Nhóm sinh con
thứ 3 trở lên
Nhóm không sinh con thứ 3
Trang 38- Sai số nhớ lại hoặc không nhớ chính xác hay không hiểu câu hỏi
- Điều tra viên khi phỏng vấn không diễn đạt hết ý của bộ câu hỏi làm người trả lời không trả lời đúng mục đích nghiên cứu
- Tổ chức điều tra thử 20 bộ câu hỏi trên để làm sáng tỏ bộ câu hỏi và phát hiện vấn đề cần sửa chữa, hoàn thiện Bộ câu hỏi trước khi áp dụng trên thực địa
- Trước khi tiến hành khảo sát, nghiên cứu viên đọc và giải thích rõ ràng cho đối tượng về mục tiêu, cách thức tiến hành nghiên cứu, quyền lợi được đảm bảo bí mật thông tin của đối tượng để đối tượng hoàn toàn yên tâm tham gia nghiên cứu
- Các nghiên cứu viên sắp xếp phỏng vấn đối tượng một cách độc lập Không phỏng vấn đối tượng tại nơi công cộng, nơi đông người
- Giám sát chặt chẽ việc thu thập thông tin tại thực địa
- Làm sạch và mã hóa số liệu trước khi phân tích
2.7 Đạo đức nghiên cứu
- Đề cương nghiên cứu được Hội đồng thông qua đề cương của Trường Đại học Thăng long phê duyệt
- Gặp gỡ trao đổi mục đích và nội dung của nghiên cứu với đối tượng nghiên cứu nhằm giúp họ hiểu và tham gia tự nguyện vào nghiên cứu
Trang 39tượng tự nguyện tham gia
- Thông tin và ý kiến cá nhân của các đối tượng nghiên cứu được giữ bí mật, chỉ sử dụng để tổng hợp, phân tích đưa ra nhận định chung
- Số liệu nghiên cứu được thông báo lại cho các bên liên quan nhằm giúp các
cơ quan chức năng có thêm thông tin trong việc giải quyết các vấn đề có liên quan đến chính sách dân số
- Những thông tin thu được chỉ phục vụ cho nghiên cứu và các mục đích nhằm thực hiện và cải thiện chính sách dân số
2.8 Hạn chế của nghiên cứu
- Nghiên cứu có những hạn chế của một nghiên cứu mô tả cắt ngang là sai số nhớ lại Do khai thác thông tin của đối tượng nghiên cứu trước quá trình mang thai và sinh đẻ nên ĐTNC phải nhớ lại những thông tin cách thời gian thu thập số liệu cũng khá dài (khoảng 1 năm đến hơn 1 năm) điều này ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu
- Nghiên cứu chỉ tiến hành trên người mẹ, nên những khía cạnh liên quan đến gia đình và nguời chồng đuợc các người mẹ trả lời theo hướng chủ quan theo suy nghĩ của đối tượng, tác giả không kiểm tra chéo thông tin này với người chồng hoặc người trong gia đình
- Nghiên cứu về hành vi sinh con thứ 3 của nguời vợ nên chưa khai thác đuợc các khía cạnh có ảnh huởng đến sinh con thứ 3 của nguời chồng
- Quy mô nghiên cứu nhỏ so với dân số học, chưa đánh giá kỹ các đặc điểm riêng về văn hóa - xã hội tại địa bàn nghiên cứu cần nghiên cứu định tính để làm rõ các đặc điểm này
- Thời gian và nguồn lực hạn chế, vì vậy chỉ tiến hành nghiên cứu trên địa bàn huyện Ứng Hòa Kết quả nghiên cứu chỉ mang tính đại diện cho địa bàn nghiên cứu, chỉ là số liệu tham khảo, không cho phép suy rộng ra cho địa phương khác
Trang 40CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Phân nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu (n=1300)
Tuổi của đối tượng nghiên cứu tập chung chủ yếu trong nhóm tuổi từ
30 đến 40 tuổi Trong đó nhóm từ 30-35 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (41,5%) và nhóm dưới 30 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất (13,1%)
Biểu đồ 3.1 Dân tộc của đối tượng nghiên cứu (n=1300)
Phần lớn đối tượng nghiên cứu là dân tộc kinh (88,4%), bên cạnh đó có
88,411,6