luận văn
Trang 1Bé GI¸O DôC Vµ §µO T¹O TR¦êNG §¹I HäC N¤NG NGHIÖP Hµ Néi
- -
TrÇn thÞ hång v©n
“Nghiªn cøu tÝnh mÉn c¶m kh¸ng sinh cña
mét sè loµi vi khuÈn trªn c¸ tra
(Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878)
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Tất cả các số liệu, kết quả đ−ợc nêu trong luận văn là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào khác
Tôi xin cam đoan rằng, tất cả các thông tin tôi trích dẫn trong luận văn này
đều đ3 đ−ợc ghi rõ nguồn gốc của tài liệu
Bắc Ninh, ngày 10 tháng 12 năm 2008
(Ký tên)
Trần Thị Hồng Vân
Trang 3Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đ3 nhận được rất nhiều sự giúp đỡ quý báu và tận tình của các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Bùi Quang Tề, thầy
đ3 dẫn dắt, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các cô chú, anh chị trong phòng sinh học thực nghiệm Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I, phòng chuẩn đoán bệnh động vật thuỷ sản Đồng Tháp đ3 chỉ bảo, giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Qua đây tôi xin được gửi lời cảm ơn đến phòng đào tạo và hợp tác quốc tế- Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thuỷ sản I, trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội đ3 dạy dỗ và dìu dắt tôi trong suốt 2 năm học
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới tất cả các bạn bè, các bạn đồng nghiệp những người đ3 góp ý chân thành và giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng con xin cảm ơn bố mẹ, các anh chị đ3 luôn cổ vũ, động viên con trong những lúc khó khăn nhất giúp con có thêm nghị lực để hoàn thành luận văn này
Tác giả
Trần Thị Hồng Vân
Trang 4Mục lục
Lời cam ơn ii
Danh mục chữ viết tắt v Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vii
Phần 1: Mở đầu 1 Phần 2: Tổng quan tài liệu 3 2 1 Vài nét về đối tượng nghiên cứu 3 2 1.1 Phân loại và phân bố cá Tra nuôi 3
2 1.1.1 Phân loại 3
2.1.1.2 Phân bố 3 2.1.2 Đặc điểm sinh thái và sinh học của cá Tra 4
2.1.2.1 Đặc điểm sinh thái của cá Tra 4
2.1.2.2 Đặc điểm sinh học của cá Tra 4 2.2 Bệnh vi khuẩn gây ra trên cá 5
2 3 Tình hình bệnh vi khuẩn gây ra trên cá Tra 9 2 4 Kháng sinh sử dụng trong nuôi trồng thuỷ sản 12
2.5 Tình hình sử dụng kháng sinh trên thế giới và Việt Nam 13
2.5.1 Tình hình sử dụng kháng sinh trên thế giới 13
2.5.2 Tình hình sử dụng kháng sinh ở Việt Nam 16
2.6 Thành phần hoá học và phương thức tác dụng của một số loại kháng sinh 19
2.7 Tính mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn 21
2.7.1 Tính mẫm cảm kháng sinh của vi khuẩn trong NTTS trên Thế Giới 21
2.7.2 Tính mẫm cảm kháng sinh của vi khuẩn trong nuôi trồng thuỷ sản ở Việt Nam 22
Phần 3: vật liệu và phương pháp nghiên cứu 25
3.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu 25
3.1.1 Thời gian nghiên cứu 25
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 25
3.1.3 Địa điểm thu mẫu 26
3.1.4 Vật liệu nghiên cứu 25
Trang 53.1.5 Đối tượng nghiên cứu 25
3 2 Phương pháp nghiên cứu 25
3 2.1 Phương pháp thu mẫu và nuôi cấy phân lập vi khuẩn 25
3.2.2 Phương pháp phân loại vi khuẩn 27
3.2.2.1 Phương pháp nhuộm vi khuẩn thuần 27
3.2.2.2 Phương pháp thử phản ứng sinh hoá bằng kít thử API- 20 E 28
3.2.2.3 Phân loại 30
3.3 Phương pháp thử kháng sinh đồ 30
3.4 Phương pháp phân tích và sử lý số liệu 31
3.4.1 Xử lý số liệu 31
3.4.2 Phân tích 31
Phần 4: Kết quả và thảo luận 32
4.1 Thành phần loài vi khuẩn thu được trên cá Tra 32
4.2 Kết quả tính mẫm cảm kháng sinh của vi khuẩn 41
4.2.1 Tính mẫm cảm kháng sinh của loài vi khuẩn Aeromonas hydrophyla 42
4.2.2 Tính mẫm cảm kháng sinh của loài vi khuẩn Aeromonas sobria 47
4.2.3 Tính mẫm cảm kháng sinh của loài vi khuẩn Pseudomonas fluorescens 49
4.2.4 Tính mẫm cảm kháng sinh của loài vi khuẩn Streptococcus sp 51
4.3 Thảo luận 54
Phần 5: Kết luận và đề xuất ý kiến 56
5.1 Kết luận 56
2 Đề xuất 56
Tài liệu tham khảo 57
Tiếng Việt 56
Tiếng Anh 59
Phụ Lục 64
Trang 6danh môc Ch÷ viÕt t¾t
ATVS&TYTS: An toµn vÖ sinh vµ thó y thuû s¶n
Trang 7Danh mục các bảng
Bảng 2.1: Một số vi khuẩn gây bệnh trên họ cá Tra (Pangasiidae) ở Châu á 11
Bảng 2.3: Danh mục một số thuốc cấm sử dụng của một số nước trên thế giới 15 Bảng 2.4: Danh mục hoá chất, kháng sinh cấm sử dụng trong sản xuất kinh doanh
Bảng 2.5: Bổ sung danh mục kháng sinh nhóm Fluorquinolones cấm sử dụng trong
Bảng 2.6: So sánh độ nhạy cảm của các loại kháng sinh đối với vi khuẩn Edwardsiella ictaluri phân lập được trên cá Tra bị bệnh gan thận mủ 24 Bảng 2.7: So sánh độ nhạy cảm của các loại kháng sinh đối với vi khuẩn Pseudomonas sp và Aeromonas sp phân lập được trên cá Tra bị bệnh xuất huyết 24
Bảng 4.8: Thành phần loài vi khuẩn thu được trên cá Tra bị bệnh tại Tỉnh Đồng
Bảng 4.10: Tính mẫm cảm kháng sinh của loài vi khuẩn Aeromonas hydrophyla 43 Bảng 4.11: Kết quả đường kính vòng vô khuẩn trung bình của các chủng vi khuẩn
Bảng 4.16: Tính mẫm cảm kháng sinh của loài vi khuẩn Streptococcus sp 51 Bảng 4.17: Kết quả đường kính vòng vô khuẩn trung bình của các chủng vi khuẩn
Trang 8Danh mục các hình
Hình 2: A, B- Cá Tra hượng bị bệnh xuất huyết ( mẫu thu ở Đồng Tháp, 2/2008) 33
Hình 3: Cá Tra giống bị bệnh đỏ đầu ( mẫu thu Đồng Tháp, 3/ 2008) 33
Hình 4: Cá Tra bị chướng bụng (thu được ở Đồng Tháp, 4/2008) 34
Hình 5: Cá Tra bị hoại tử cơ quan nội tạng (thu được ở Đồng Tháp, 5/2008) 34
Hình 6: Dạng vi khuẩn A hydrophyla sau khi nhuộm gram 37
Hình 7: Kết quả kít thử Test API 20 E của vi khuẩn A hydrophyla 37
Hình 8: Dạng vi khuẩn A sobria sau khi nhuộm gram 38
Hình 9 : Kết quả kít thử Test API 20 E của vi khuẩn A sobria 38
Hình 10: Dạng vi khuẩn P fluorescens sau khi nhuộm gram 40
Hình 11: Kết quả kít thử Test API 20 E của vi khuẩn P fluorescens 40
Hình 12: Hình thái vi khuẩn Streptococcus sp khi nhuộm gram 41
Hình 13: Kết quả thử kháng sinh đồ 54
Trang 9Phần 1: Mở đầu
Trong những năm gần đây nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt phát triển khá mạnh Nhiều đối tượng nuôi đo tạo ra sản phẩm hàng hoá và xuất khẩu như cá Tra, cá Ba Sa, cá Rô Phi [2] Theo thống kê năm 2007, giá trị xuất khẩu cá Tra và Ba
Sa đo vươn lên đạt giá trị xấp xỉ 1 tỉ USD, đứng thứ 2 sau mặt hàng tôm đông lạnh (>1,5 tỉ USD) trong danh sách các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam [14]
Cá Tra (Pangasianodon hypophthalmus) là một trong 14 loài được phân bố ở hạ lưu sông Mêkông thuộc địa phận Việt Nam [8] Do cá Tra là một trong những đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao và thị trường xuất khẩu tiềm năng nên phong trào nuôi cá Tra tại đồng bằng sông Cửu Long phát triển một cách ồ ạt thiếu sự kiểm soát
ảnh hưởng tới môi trường và dịch bệnh Theo một số tác giả trong nước và nước ngoài: Tác giả Từ Thanh Dung, M Crumlish và ctv (2002) đo phân lập được tác nhân gây bệnh đốm trắng cho cá Tra là do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri [3]; Tác giả Trần Thị Thanh Tâm và ctv (2003) đo phân lập 3 loài vi khuẩn gây bệnh nhiễm khuẩn cho cá Tra: Aeromonas hydrophila, Hafnia alvey, Plesimonas shigelloides [15]; Bùi Quang Tề và ctv, (2006) đo phân lập 3 loài vi khuẩn trên cá Tra bị bệnh: Aeromonas hydrophila, Hafnia alvey, Edwardsiella tarda [19], Lý Thị Thanh Loan (2006) cũng đo tìm ra được vi khuẩn Aeromonas hydrophila là tác nhân chính gây bệnh trên cá Tra nuôi tại đồng bằng sông Cửu Long [11] Những vi khuẩn gây bệnh cho cá Tra chủ yếu là vi khuẩn gram âm thuộc nhóm vi khuẩn đường ruột (Enterobacteraceae) Để giải quyết vấn đề đó cần phải có nhiều giải pháp khác nhau như xử lý môi trường bằng hoá chất và đặc biệt là dùng thuốc kháng sinh phòng trị bệnh cho cá
Việc sử dụng thuốc kháng sinh trong phòng chữa bệnh cho cá ở những ao nuôi cá Tra với mật độ cao là một trong những vấn đề rất được quan tâm Tuy nhiên
để tìm được loại kháng sinh có hiệu quả tốt trong việc phòng chữa bệnh cho cá là một vấn đề hết sức khó khăn đối với người nuôi Để góp phần quan trọng trong việc tìm ra giải pháp sử dụng thuốc kháng sinh có hiệu quả trong quá trình phòng và trị bệnh cho cá nuôi, tránh việc lạm dụng thuốc quá nhiều trong quá trình nuôi cá, chúng tôi xin thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tính mẫn cảm kháng sinh của một số
Trang 10loài vi khuẩn trên cá Tra (Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878) bị bệnh ở tỉnh Đồng Tháp”
Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá tính mẫn cảm kháng sinh của một số loài vi khuẩn trên cá Tra bị bệnh ở tỉnh Đồng Tháp
Nội dung nghiên cứu
- Phân lập một số vi khuẩn trên cá Tra bị bệnh nuôi tại Đồng Tháp
- Thử nghiệm khả năng mẫn cảm kháng sinh của một số vi khuẩn trên cá Tra
bị bệnh đối với một số loại thuốc sau: Doxycyline, Florfenicol, Erythromycine, Kanamycine
Trang 11Phần 2: Tổng quan tài liệu
2 1 Vài nét về đối t−ợng nghiên cứu
2 1.1 Phân loại và phân bố cá Tra nuôi
2 1.1.1 Phân loại
Họ cá Tra (Pangasiidae) ở châu á có 30 loài thuộc 3 giống Trong đó giống Pangasianodon có 2 loài (P hypophthalmus Sauvage, 1878; P gigas Chevey, 1930) đo đ−ợc phát hiện và định danh tại Việt Nam Tên khoa học của cá Tra nuôi ở Việt Nam đ−ợc định danh là Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878)[5]
Trang 12ở nước ta cá Tra là đối tượng nuôi truyền thống ở các tỉnh đồng bằng Nam
Bộ và trong thời gian gần đây cá Tra đo được di giống thuần hoá ra nuôi ở một số tỉnh miền Bắc Sinh sản nhân tạo cá Tra đo thực hiện thành công ở nước ta năm
1979, hiện nay nguồn giống cung cấp cho người nuôi cá đo được sản xuất từ các trại giống [25]
2.1.2 Đặc điểm sinh thái và sinh học của cá Tra
2.1.2.1 Đặc điểm sinh thái của cá Tra
Cá Tra sống chủ yếu trong nước ngọt, có thể sống được ở vùng nước lợ 14‰ độ mặn) Cá có thể chịu được nước phèn với pH>=4 (pH<1 thì cá bỏ ăn và bị sốc) Cá Tra có thể bị chết ở nhiệt độ dưới 15oC và trên 39oC Cá Tra có cơ quan hô hấp phụ, dễ nuôi, chóng lớn nên có thể sống được ở những ao hồ chặt hẹp, thiếu ôxy
(10-và nuôi được ở mật độ rất cao [9]
2.1.2.2 Đặc điểm sinh học của cá Tra
Đặc điểm sinh học cá Tra được một số tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu
Cá Tra được mô tả đầu tiên ở Campuchia do Sauvage (1878) sau đó là Smith (1945), Koottelat (1984) ở Thái Lan Tyson và Chavalit (1991) ở Việt Nam, Mai
Đình Yên và ctv định loại năm 1992, Nguyễn Văn Hảo (1993), Trương Thủ Khoa và Trần Thu Hương (1993) đo hướng dẫn định loại và định danh lại họ cá Tra ở Châu á [5]
Môi trường sống
Cá Tra có thể nuôi ở ao, hồ, bè, có khả năng chịu được môi trường nước dơ bẩn, hàm lượng ôxy thấp, có thể nuôi được với mật độ dày Trong tự nhiên cá Tra sống chủ yếu ở vùng sông nước chảy [9]
Tính ăn
Cá Tra thuộc nhóm ăn tạp, thiên về ăn động vật, ăn ấu trùng ở nước, cua, tôm, cá con, trai, ốc Cá Tra nuôi có thể cho ăn cám bo, bí đỏ, phân chuồng, phế phẩm, rau quả, bo đậu, thức ăn tự chế, thức ăn công nghiệp…[9]
Trang 13Sinh trưởng
Trong tự nhiên, cá Tra có thể sống trên 20 năm và đạt khối lượng 18 kg, có con dài tới 1,8m Trong ao nuôi khối lượng cá bố mẹ có thể đạt tới 25 kg ở 10 tuổi Cá Tra nuôi trong ao ở năm đầu tiên đạt 1- 1,5 kg/ con, những năm về sau cá tăng trưởng nhanh hơn, có khi đạt tới 5- 6 kg/ năm [9]
Sinh sản
Trước kia cá Tra chỉ sinh sản ngoài tự nhiên, ở vùng nước chảy xiết Boi đẻ tự nhiên quan trọng là biển Hồ (Campuchia), cá bột sau khi nở trôi về vùng hạ lưu Ngư dân vớt cá về nuôi Cá Tra thành thục sau 3 tuổi, trong lượng 3 kg trở lên Tuy nhiên cá thành thục còn phụ thuộc vào môi trường sống Cá Tra là loài đẻ trứng dính
Ngày nay sinh sản nhân tạo cá Tra đo thành công Điều kiện yêu cầu cho sinh sản nhân tạo gồm: Nuôi vỗ cá bố mẹ trong ao có diện tích từ 500m2 trở lên, mức nước từ 1,2- 1,5m Thức ăn nuôi vỗ có hàm lượng đạm cao và bổ sung thêm vitamin
E Nhiệt độ nuôi vỗ thích hợp là 28oC - 32oC
Kích thích sinh sản: Dùng noo thuỳ họ cá Chép, cá Trê, HCG, LRHa, tiêm 1-
3 lần cho cá cái và tiêm 1 lần cho cá đực
Mùa vụ sinh sản: Cá Tra ngoài tự nhiên đẻ sớm hơn cá Tra cho sinh sản nhân tạo từ 1- 2 tháng, cá thành thục từ 3- 8 tháng [8]
2.2 Bệnh vi khuẩn gây ra trên cá
Trong số các bệnh thường gặp trên các đối tượng cá nước ngọt như: vi khuẩn, ký sinh trùng, virus thì vi khuẩn là một trong những nguyên nhân gây thiệt hại lớn nhất, nó có thể gây chết tới 60% [15]
Bệnh xuất huyết trên cá thường do một số nhóm vi khuẩn gây ra Nhóm vi khuẩn gram dương như Renibacterium salmoninarum gây bệnh thận trên cá hồi (Oncorhynchus mykiss) Cá bị bệnh vùng bụng và nội tạng bị xuất huyết có nhiều
điểm hoại tử màu trắng đục ở thận, gan và lách [39] ở cá đuôi vàng (Seriola quinqueradiate) Streptococcus sp gây bệnh hoại tử trên gan, gan nhạt màu, lách sưng to và xuất huyết [32] Theo Bùi Quang Tề (2002), đo cho thấy bệnh xuất huyết
ở cá Rô Phi do vi khuẩn Streptococcus sp gây ra khi cá có triệu chứng xuất huyết ở
Trang 14mắt, mang, nội tạng và cơ xuất huyết, máu loong, thận, gan và lá lách mềm [20]
Đinh Thị Thuỷ (2007) xác định được vi khuẩn Streptococcus sp với tần số xuất hiện cao từ 95- 100% vào mùa khô (tháng 1) và giai đoạn giao mùa (tháng 5, tháng 11) ở trên cá Rô Phi [19] Khi nghiên cứu đặc điểm sinh hoá của nhóm Streptococcus sp một số tác giả cho thấy: Vi khuẩn Streptococcus có hình cầu hoặc hình ô van đường kính nhỏ hơn 2 àm, vi khuẩn thường dính với nhau thành một chuỗi, bắt màu gram dương, không di động, hầu hết yếm khí tuỳ tiện, lên mem trong môi trường glucose Khuẩn lạc có màu vàng nhạt đường kính 0,5 – 1,0 mm [57], [65] Theo tác giả T Kitao (1983), đo xác định được nhiệt độ phát triển thích hợp của nhóm Streptococcus sp là 10 – 30 0C, kích thước khuẩn lạc 0,5- 1,0 mm Thành phần G +
C trong ADN là 32,9% và ông đo phân lập được 2 loài S faecalis và S faecium [48]
Dấu hiệu bệnh lý do vi khuẩn Streptococcus gây ra được biểu hiện như sau: Cá có hiện tượng kém ăn hoặc bỏ ăn, bơi lờ đờ trên tầng mặt Da cá thường đổi màu tối không có ánh bạc, cá mất nhớt, khô ráp Bệnh thường gây hoại tử gan, lá lách và thận những đốm màu trắng nhạt ở cá Rô Phi, trên gan cá Tra và Ba Sa có các khuẩn lạc Streptococcus sp [22]
Nhóm vi khuẩn gram âm như: Aeromonas sp, Psedomonas sp, Edwardsiella
sp Giống Aeromonas thuộc họ Vibrionaceae Trước đây giống Aeromonas chúng
được gọi với nhiều tên khác nhau như Bacillus, Bacterium, Aerobacter và chúng
được phân lập từ cá và ếch bị bệnh [65] Giống Aeromonas được chia ra làm 2 nhóm: Nhóm không di động (A salmonicida) và nhóm di động (A hydrophyla, A caviae, A sobria), nhóm này được Popoff và Veron (1976) phân lập ra và ngày nay vẫn được giữ tên này [65] Đặc tính của chúng là di động nhờ tiên mao, hình dạng hình que, bắt màu gram âm, hai đầu tròn, kích thước 0,5 x 1,0 – 1,5 àm, yếm khí tuỳ tiện, cytochrom dương, khử nitrat, không mẫn cảm với thuốc thử 0/129 [31], [65]
Tỷ lệ C + G trong ADN là 57 – 63%
Dấu hiệu bệnh lý do vi khuẩn Aeromonas gây ra cho động vật thuỷ sản được biểu hiện cụ thể như sau: Cá có hiện tượng kém ăn hoặc bỏ ăn, nổi lờ đờ trên từng mặt Da cá thường đổi màu tối không có ánh bạc, cá mất nhớt, khô ráp Cá xuất hiện các đốm xuất huyết màu đỏ trên thân, các gốc vây, xung quanh miệng, râu xuất huyết hoặc bạc trắng Xuất hiện các vết loét ăn sâu vào cơ, có mùi hôi thối, trên vết loét thường có nấm và ký sinh trùng ký sinh Mắt lồi đục, hậu môn viêm xuất huyết,
Trang 15bụng có thể chướng to, các vây xơ rách, tia vây cụt dần Khi giải phẫu bên trong: Xoang bụng xuất huyết, mô mỡ cá Ba sa và cá Tra xuất huyết nặng Gan tái nhợt, mật xưng to, thận sưng, ruột, dạ dày, tuyến sinh dục, bóng hơi đều xuất huyết, có trường hợp cá Ba Sa và cá Tra 2 đoạn ruột lồng vào nhau, xoang bụng có chứa nhiều dịch nhờn mùi hôi thối [22]
Mitchell và Plumb (1980) đo phân lập được loài A hydrophyla ở trên cá da trơn bị bệnh xuất huyết [53] Roberd (1989) ông đo tìm ra được vi khuẩn A hydrophyla gây bệnh xuất huyết cho cá ở khu vực châu á và ông cho rằng đây là tác nhân gây bệnh chính cho cá [58]
Bonda và et al (1990) đo tìm được ra vi khuẩn A hydrophyla và Flexibacter columnaris từ những vết loét trên thân cá Quả và cá Trê [33]
ở Thổ Nhĩ Kì đo phân lập được vi khuẩn Aeromonas hydrophyla trên cá Chình (Anguilla anguilla), cá Trắm Cỏ (Ctenopharyngodon idella) và cá Chép (Cyprinus carpio) trên cá bộ phận tim, gan, thận, da, mang của cá bị bệnh [37], [50], [64], [70]
Leszek và et al (2004) đo tìm thấy Aeromonas hydrophyla trên cá chép (Cyprius Carpio) bị bệnh xuất huyết [49] Wahli và ctv (2008) tìm ra được Aeromonas sobria gây bệnh lở loét trên cá Rô (Parca fluviatilis) nuôi trong các trang trại ở Châu Âu và nó là tác nhân chính gây lên bệnh [66]
Bùi Quang Tề (2002) đo tìm ra vi khuẩn Aeromonas sp gây bệnh xuất huyết cho cá Rô Phi với biểu hiện bệnh như bụng cá trướng đầy hơi, hậu môn sưng loét đỏ, ruột bị xuất huyết [20] Theo Đinh Thị Thủy (2007) đo tìm thấy vi khuẩn Aeromonas hydrophyla với tần số xuất hiện 100% vào tháng 9 và tháng 11 trên cá Rô Phi [19]
Vi khuẩn Pseudomonas thuộc họ Pseudomonadaceae Vi khuẩn gram âm, hình que hoặc hơi uốn cong, không sinh bào tử, kích thước 0,5- 1,0 x 1,5- 5,0 àm Chúng chuyển động bằng một hoặc nhiều tiên mao Chúng phát triển trong môi trường đơn giản hoặc hiếu khí Đa số chúng có thể oxy hoá hoặc một số ít không oxy hoá và không lên mem trong môi trường O/F glucose Chúng sinh sắc tố màu vàng- xanh hoặc màu xanh, xanh nhạt Giới hạn nhiệt độ phát triển rất rộng từ 4-
430C Thành phần Guamin, Cytozin trong ADN là 55- 64 mol % Chúng phân bố khắp trên môi trường đất, nước và có thể gây bệnh cho người, động vật, thực vật
Trang 16[22] Đặc biệt chúng gây bệnh xuất huyết cho cá Vi khuẩn Pseudomonas sp gồm có
3 loài gây bệnh cho cá: P anguilliseptia, P fluorescens, P chlororaphis được mô tả lần đầu tiên năm 1972 bởi Wakabayashi & Egusa, chúng là tác nhân gây bệnh xuất huyết cho cá Chình Nhật Bản, được phân lập từ gan, tim, lách và máu của cá bị bệnh Chúng là những vi khuẩn gram âm, không hình thành nha bào, chuyển động nhờ một tiêm mao, không lên men glucose, không sinh sắc tố [67]
Dấu hiệu bệnh lý do vi khuẩn Pseudomonas gây da cho cá là: Cá bị xuất huyết một phần hoặc toàn bộ trên da cá, vẩy rụng rõ nhất ở 2 bên thân và phía bụng, gốc vây lưng hoặc toàn bộ vây lưng bị xuất huyết, các tia vây rách lát cụt dần, có lúc ruột xuất huyết hoặc viêm nên được gọi là bệnh xuất huyết Cá bị bệnh thời kì đầu chỗ cán đuôi có một điểm trắng, sau đó lan dần về phía trước cho đến vây lưng và vây hậu môn, cả đoạn thân sau màu trắng Bệnh nặng cá cắm đầu xuống dưới, đuôi hướng lên vuông góc với mặt nước, cá nhanh chóng chết hàng loại Dấu hiệu này thường gặp ở cá hương và cá giống và được gọi là bệnh trắng đuôi
Vi khuẩn P fluorescens được phân lập từ thận và trên các vết loét của cá bị bệnh Chúng phát triển tốt trên môi trường Nutrient agar ở 22 – 250 C, vi khuẩn hình que, kích thước 0,5àm x 1,5 – 4 àm, bắt màu gram âm, di động, cytochrom dương, không lên men glucose
Vi khuẩn Edwardsiella thuộc họ Enterobacteriaceae được phát hiện đầu tiên năm 1962 ở Nhật Bản Tuy nhiên năm 1965 Ewing và ctv mới mô tả và đặt tên là E tarda Vi khuẩn Edwardsiella là vi khuẩn gram âm, hình dạng hình que mảnh kích thước 1 x 2 – 3àm, không sinh nha bào, di chuyển nhờ tiêm mao, catalase dương, oxidase âm, chúng lên mem trong môi trường D- glucose, thành phần G + C trong ADN là 55 – 59 mol% [65]
Dấu hiệu bệnh lý: Cá bị bệnh thường kém ăn hoặc bỏ ăn, gầy yếu, bụng thường chướng to, xung quanh miệng có các đám xuất huyết, góc vây xuất huyết, mắt lồi Khi giải phẫu bên trong cơ quan nội tạng gan, thận bị hoại tử thành những
đốm màu trắng đục đường kính 0,5- 2,5 mm còn được gọi là bệnh đốm trắng [22]
Edwardsiella sp có 2 loài gây bệnh cho cá nước ngọt: E tarda được Hoshinae phát hiện ra năm 1962 và đến năm 1965 được Ewing và công tác viên phân lập ra trên cá nuôi ở nước ngọt [65] E ictaluri được Hawke tìm thấy năm
1979 và đến năm 1981 ông lại tìm thấy nó ở trên cá nuôi nước ngọt [42], [43]
Trang 17E tarda là nguyên nhân gây ra bệnh cho cá nước ấm , cá da trơn và cá Nheo
ở Mĩ và châu á E ictaluri là nguyên nhân chính gây ra bệnh ở cá da trơn, khi dịch bệnh nổ ra nó có thể gây chết từ 10 – 50% [13]
2 3 Tình hình bệnh vi khuẩn gây ra trên cá Tra
Bệnh do vi khuẩn gây ra trên cá Tra hiện nay chiếm tỷ lệ rất cao Theo khảo sát về tình hình dịch bệnh trên cá Tra và cá Basa của cá tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long trong năm 2007 cho thấy bệnh gây thiệt hại lớn nhất cho người nuôi ở đây
là bệnh gan, thận mủ (đốm trắng trên gan, thận) với tần xuất hiện cao (52,8%), kế
đến là bệnh xuất huyết (42,5%), vàng da và thân (21,6%) Riêng gan, thận mủ thì
An Giang chiếm tỷ lệ cao nhất là 66,7%, sau đó là Cần Thơ là 54,89%, Vĩnh Long
là 53,8%, Đồng Tháp là 36% [10]
Một số nhóm vi khuẩn gây thiệt hại lớn trong nuôi cá Tra được báo chí nhắc
đến nhiều nhất đó là: Nhóm vi khuẩn Aeromonas sp Chowdhury (1998) đo xác định
được vi khuẩn Aeromonas sp là tác nhân chính gây bệnh xuất huyết cho cá Tra (P sutchi) ở Bănglađét [34] Subagja và et al (1999) đo phân lập được vi khuẩn A hydrophyla gây bệnh cho cá Tra ở vùng châu á khi ương cá giống [60] Mirdha và
et al (2000) cũng đo phát hiện ra vi khuẩn gây bệnh cho cá Tra là do vi khuẩn Aeromonas sp [52] Diggles và et al (2002) đo phát hiện ra vi khuẩn A hydrophyla
và vi khuẩn A sobria gây bệnh cho cá Tra ở New Zealand [36]
ở Việt Nam, Lê Thanh Hùng và ctv (1998) đo phân lập được vi khuẩn A hydrophila từ mẫu cá bị bệnh và kết luận rằng nó là tác nhân gây bệnh chính làm cho cá Tra giống chết hàng loạt [6] Bùi Quang Tề cũng đo phân lập được vi khuẩn Aeromonas hydrophyla gây bệnh cho cá Tra [23] [24] Trần Thị Thanh Tâm (2003) cũng đo phân lập được vi khuẩn Aeromonas sp trong ao nuôi cá Tra công nghiệp bị bệnh đốm trắng với tần số bắt gặp là 16% [15] Lý Thị Thanh Loan (2006) đo phân lập được vi khuẩn Aeromonas sp trên cá Tra bị bệnh xuất huyết với tần số bắt gặp như sau: A hydrophyla là 51,61%, A Caviea là 6,45%, A Sobria là 6,45%, Aeromonas sp là 22,58% và kết luận rằng vi khuẩn A hydrophyla là một trong những tác nhân chủ yếu gây ra bệnh nhiễm khuẩn trên cá Tra [11]
Nhóm vi khuẩn Edwardsiella sp được tìm thấy đầu tiên năm 1976, nó được xem là tác nhân gây bệnh thứ cấp ở cá Nheo Mỹ [67] Đến năm 2002, Crumlish và
Trang 18ctv cũng đo xác định được vi khuẩn Edwardsiella ictaluri là tác nhân cơ bản gây bệnh cho cá Nheo đốm (Ictalurus punctatus) sống ở lòng sông Bắc Mỹ và cá Tra nuôi ở châu thổ sông Mê Kông Đây là những phát hiện đầu tiên của bệnh do vi khuẩn Edwardsiella sp gây ra trên cá Tra [ 35]
Yuasa và et al (2003) cũng nghiên cứu về bệnh vi khuẩn trên cá và đo phân lập được vi khuẩn Edwardsiella ictaluri gây bệnh cho cá Tra trong những nông trại
ở Inđônêsia [71]
Zilong Tan (2003) cũng đo phân lập được tác nhân gây bệnh hoại tử cơ quan nội tạng (bệnh mủ gan, thận) cho cá Tra ở Việt Nam và Trung Quốc là vi khuẩn Edwardsiella ictaluri và ông cho rằng Edwardsiella ictaluri cũng là tác nhân gây bệnh chính cho cá Tra ở Việt Nam và cá Nheo đốm ở Mỹ [45]
ở Việt Nam, năm 2002 trường Đại học Cần Thơ và trường Đại học Stirling của Anh đo công bố một số kết quả và xác định vi khuẩn Edwardsiella ictaluri là tác nhân chính gây bệnh đốm trắng cho cá Tra [3] [35] Năm 2002 – 2005, đề tài KC –
06 – 12- NN Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I đo tìm ra loài Edwardsiella ictaluri gây bệnh đốm trắng cho cá Tra [23] Nguyễn Hữu Thịnh (2007) và ctv đo phân lập được vi khuẩn Edwardsiella ictaluri là tác nhân chính gây bệnh gan, thận
mủ trên cá Tra nuôi thâm canh ở Cần Thơ, Vĩnh Long, An Giang và Bến Tre tuy nhiên ông cũng thu mẫu tại 4 trại ở Đồng Tháp và phân lập được 12 loài vi khuẩn nhưng không bắt gặp được vi khuẩn Edwardsiella ictaluri trên cá Tra bị bệnh [18] Năm 2006, Bùi Quang Tề và ctv cũng đo tìm ra được vi khuẩn Edwardsiella ictaluri gây bệnh đốm trắng cho cá Tra [26] Lý Thị Thanh Loan (2006) cũng phân lập ra Edwardsiella tara gây bệnh cho cá Tra nuôi ở đồng bằng sông Cửu Long [11]
Nhóm vi khuẩn Pseudomonas sp được tìm thấy ở Bănglađét (1998) nó là tác nhân gây bệnh trên cá Tra (Pangasius sutchi) [34] Năm 2000, Mirdha và ctv cũng phân lập và định danh ra vi khuẩn Pseudomonas sp là tác nhân gây bệnh cho cá Tra (Pangasius sutchi) [52]
Trần Thị Thanh Tâm (2003) đo xác định được vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa với tần số xuất hiện là 11,11% trên cá Tra bị bệnh [15] Lý Thị Thanh Loan (2003) đo tìm thấy vi khuẩn Pseudomonas fluorescens trên cá Tra bị bệnh [12] Lý Thị Thanh Loan (2006) cũng đo phân lập được vi khuẩn Pseudomonas sp gây bệnh cho cá Tra với tần số xuất hiện là 16,13% [11] Bùi Đức Mạnh (2008) đo
Trang 19tìm ra vi khuẩn Pseudomonas putida từ mẫu cá Tra bị bệnh ở đồng bằng sông Cửu Long [13]
Ngoài ra cũng tìm thấy một vài nhóm vi khuẩn khác trên cá Tra bị bệnh nh−: Streptococcus sp, Hafnia alvei gây bệnh hoại tử cơ quan nội tạng (bệnh đốm trắng) cho cá Tra [23] Vi khuẩn Plasiomonas sp trên cá Tra bị bệnh đốm trắng [15], [11] Bảng 2.1: Một số vi khuẩn gây bệnh trên họ cá Tra (Pangasiidae) ở Châu á
Chowdhury, 1998 [34]
Bệnh trên thận
Bănglađét
Mirdha et al 2000 [52]
Chowdhury, 1998 [34]
Mirdha et al 2000 [52]
thấy trên gan, thận, lách
Việt Nam Ferguson et al 2002
[38]
trên da Bănglađét Mirdha et al 2000 [52]
trên da Bănglađét Mirdha et al 2000 [52]
trên da
Bănglađét Mirdha et al 2000
[52]
trên da Bănglađét Mirdha et al 2000 [52]
Edwardsiella tara P hypophthalmus Bệnh đốm
Lý Thị Thanh Loan,
2006 [11]
Trang 20Aeromonas sobria P hypophthalmus Bệnh xuất
Việt Nam Lý Thị Thanh Loan,
Kháng sinh là những chất có nguồn gốc sinh học, tổng hợp và bán tổng hợp
mà ngay ở nồng độ thấp đo có khả năng ức chế hoặc tiêu diệt vi sinh vật nuôi một cách đặc hiệu [4]
Năm 1928, Alexander Fleming nhận thấy rằng vi trùng không thể sống được trong môi trường có loại nấm Penicillium notatum Tuy nhiên, việc nghiên cứu và phát triển kháng sinh mới thực sự bắt đầu từ năm 1936 với việc phát minh ra Sulfonamid; năm 1940 phát minh ra Penicillin; năm 1949: Tetracyclin và Choloramphenicol; năm 1950: Macrolid; năm 1958: Glycopeptid; năm 1962: Steptogramin và Quinolon; năm 1999: Oxazolidinon; năm 2003: Lipopeptid [17]
Trang 21Bảng 2.2: Sự ra đời của kháng sinh
Tác dụng của kháng sinh, kháng sinh diệt vi trùng bằng nhiều cách:
Ngăn cản sự tổng hợp thành của vỏ tế bào vi trùng như Penicillin, Cephalosporin, Vancomycin
ức chế sự chuyển hoá của vi trùng như Sulfamides, Trimethoprim
ức chế sự tổng hợp protein của vi trùng như Tetracyclin, Aminoglycosides và Macrolides
ức chế sự tổng hợp và hoạt động của acid nucleic như Fluoroquinolones và Rifampicin
2.5 Tình hình sử dụng kháng sinh trên thế giới và Việt Nam
2.5.1 Tình hình sử dụng kháng sinh trên thế giới
Trong nuôi trồng thuỷ sản, kháng sinh đo được sử dụng trên nhiều nước nhằm phòng trị bệnh vi khuẩn gây ra Bệnh vi khuẩn thường xuyên xảy ra trong các trang trại nuôi thâm canh, nó có thể gây thiệt hại từ 10 – 90% cho nên kháng sinh
được dùng thường xuyên trong hệ thống này [40]
Nhóm kháng sinh P – lactam gồm có Benzylpenicilin và Amoxycilin đo được
sử dụng rộng roi ở Nhật Bản và Anh Quốc từ những năm 1990 [40]
Trang 22Theo Weston (2000) ở Mỹ đo sử dụng một số loại kháng sinh sau: Flumequine Oytetracuclin, Furazolidone, Ormetoprim, Oxolinic acid, Sulfadiazine, Sulfadimethocine, Trimethoprim [69]
Năm 2002, Indonexia đo sử dụng các loại kháng sinh Oxytetracyclin, Chloramphenicol, Neomycin, Steptomycin, Srythromycin, Prefuran, Terramycin và Enrofloxacin dùng trong nuôi trồng thuỷ sản [61]
Năm 2003, Thái Lan đo sử dụng một số kháng sinh sau: Sulfonamide, Norfloxacin, Enrofloxacin, Ciprofloxacin, Oxolinnic, nhóm Tetramycin, Chloramphenicol [41]
Thuốc kháng sinh nói riêng và hoá chất nói chung được sử dụng trong nuôi trồng thuỷ sản đến nay tương đối là phổ biến Tuy nhiên một vấn đề đặt ra là chưa
có thuốc kháng sinh dùng riêng cho động vật thuỷ sản mà đa phần chúng đều được
sử dụng thuốc kháng sinh của người và gia súc [44]
Việc sử dụng hoá chất và kháng sinh trong phòng trị bệnh đo góp phần cho sự phát triển nhanh về sản lượng và kim ngạch xuất nhập khẩu thuỷ sản Tuy nhiên do quy định ngày càng chặt chẽ của thị trường về hoá chất kháng sinh dùng trong nuôi trồng thuỷ sản và việc gia tăng sản xuất, kinh doanh, lạm dụng hoá chất kháng sinh
đo và đang gây mất an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng trong nước và khó khăn cho xuất khẩu thuỷ sản
Các thị trường nhập khẩu nói chung, đặc biệt thị trường nhập khẩu khối lượng lớn hàng thuỷ sản của Việt Nam như Mỹ, EU và Nhật Bản đang có xu hướng kiểm soát ngày càng chặt chẽ dư lượng hoá chất, kháng sinh trong thực phẩm do nhu cầu ngày một tăng của người tiêu dùng Theo Cục Quản lý chất lượng, ATVS & TYTS (2005), cho biết EU cho phép sử dụng có giới hạn 31 chất và cấm sử dụng 10 chất;
Mỹ cho phép sử dụng có giới hạn 7 chất, cấm sử dụng cho nuôi thuỷ sản 12 chất; Nhật Bản có quy định tương đương với Mỹ
Trang 23Bảng 2.3: Danh mục một số thuốc cấm sử dụng của một số nước trên thế giới
(Theo tài liệu của Cục Quản lý chất lượng, ATVS & TYTS, Bộ Thuỷ Sản (2005)) [1]
Để vượt qua các quy định ngày càng chặt chẽ của thị trường, các nước xuất khẩu thuỷ sản lớn như Thái Lan, ấn Độ, Inđônêxia do không có điều kiện đánh giá rủi ro nên các nước này đo ban hành các chất cấm sử dụng phù hợp với yêu cầu của
Mỹ và EU (hạng mục gồm 17 chất), ấn Độ ngoài việc cấm sử dụng 17 chất trên còn cấm thêm 3 chất khác Neomycin, Nalidixic acid và Sulffamethoxazole
Trang 242.5.2 Tình hình sử dụng kháng sinh ở Việt Nam
ở Việt Nam do việc phát triển nuôi trồng thuỷ sản một cách ồ ạt thêm vào đó trình độ nhận thức của người dân kém, việc áp dụng quy trình kỹ thuật không đúng, bệnh dịch xảy ra tràn nan dẫn đến việc sử dụng thuốc kháng sinh trong nuôi trồng thuỷ sản ngày càng phổ biến trong việc phòng trị bệnh đặc biệt là bệnh do tác nhân
vi khuẩn Đồng thời việc sản xuất, sử dụng, các loại thuốc và hoá chất chưa được chặt chẽ điều đó ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển bền vững trong nuôi trồng thuỷ sản
Theo Bùi Quang Tề và ctv (2002), ở Việt Nam có tới 46 loại kháng sinh được dụng trong nuôi trồng thuỷ sản trong đó kháng sinh được sử dụng nhiều trong nuôi
và sản xuất tôm [21] Chỉ tính riêng các trại sản xuất tôm giống ở Khánh Hoà đo sử dụng 44 loại kháng sinh trong đó có 5 loại kháng sinh dùng để chữa bệnh cho người (Steptomycin, Chloramphenicol, Rifampicin, Furazonidon, Erythromycin) và 6 loại kháng sinh sử dụng cho gia súc, gia cầm (Metro, ZP – 45, AU- 5, AC, VS- 100, A-
70 ) [16]
Phan Thị Vân và ctv (2003) điều tra ở 2 tỉnh Quảng Ninh và Hải Phòng thì phát hiện ra 5 loại kháng sinh bị cấn sử dụng vẫn được dùng phòng trị bệnh cho cá, tôm nuôi là: Clocyte, ND Gentosine, Panamin, Oxytetracyclin và Rifampicin [26]
Năm 2004, theo kết quả điều tra đánh giá hiện trạng sử dụng các loại hoá chất, kháng sinh và chế phẩm sinh học sử dụng trong nuôi trồng thuỷ sản tại khu vực nuôi Quảng Ninh, Hải Phòng, 10 loại thuốc được dùng để phòng trị bệnh trong suốt quá trình nuôi: Oxytetracyclin, Chloramphenicol, Rifampicin, Ampicilin, Clocyte,
ND Gentosine, Panamin, Penicilin, Ripampicin và Tetracyclin Ngoài ra còn sử dụng rất nhiều loại thuốc không rõ nhon mác được nhập lậu từ Trung Quốc [27]
Việc sử dụng bừa boi các loại thuốc, hoá chất trong nuôi trồng thuỷ sản trong việc phòng trị bệnh của người nuôi đo đặt ra một câu hỏi cho các nhà nghiên cứu và các nhà chức trách phải làm sao để ngăn chặn kịp thời việc dùng các loại thuốc cấm
Năm 2003, từ các kết quả tìm hiểu tác dụng và liều lượng của một số thuốc, Bùi Quang Tề nghiên cứu và bước đầu đo lựa chọn được các chất thay thế một số hoá chất và kháng sinh cấm sử dụng trong nuôi trồng thuỷ sản đó là :
1/ Erythromycin thay thế Choramphenicol, Nitrofuran, Furazon được sử dụng
để phòng trị bệnh vi khuẩn gram âm và gram dương với liều lượng 50 – 100mg/kg/ngày
Trang 252/ Rifampin thay thế cho Choramphenicol, Nitrofuran, Furazon được sử dụng
để phòng trị bệnh vi khuẩn gram âm và gram dương với liều lượng 50 – 100mg/kg/ngày
3/ Bactrim thay thế cho Choramphenicol, Nitrofuran, Furazon, Metrodidazole
được sử dụng để phòng trị bệnh vi khuẩn gram âm và gram dương với liều lượng 50 – 100mg/kg/ngày
4/ Doxycycline thay thế cho Choramphenicol, Nitrofuran, Furazon, Metrodidazole được sử dụng để phòng trị bệnh vi khuẩn gram âm và gram dương với liều lượng 20 – 50mg/kg/ngày
5/ Chlortetracyclin thay thế Choramphenicol, Furazolidone được sử dụng để phòng trị bệnh vi khuẩn gram âm và gram dương với liều lượng 50 – 100mg/kg/ngày [21]
Ngày 24/2/2005 quyết định của bộ trưởng Bộ Thuỷ sản về việc ban hành danh mục hoá chất, kháng sinh cấm và hạn chế sử dụng trong sản xuất và kinh doanh thuỷ sản
Trang 26Bảng 2.4: Danh mục hoá chất, kháng sinh cấm sử dụng trong sản xuất kinh doanh thuỷ sản (Ban hành kèm theo Quyết định số 07/2005/QĐ- BTS ngày 24/2/2005 của
Tuy nhiên do quy định ngày càng chặt chẽ của thị trường xuất khẩu về hoá chất kháng sinh dùng trong nuôi trồng thuỷ sản và việc gia tăng sản xuất, kinh doanh và lạm dụng hoá chất kháng sinh đo và đang gây mất an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng trong nước và khó khăn cho thị trường xuất khẩu thuỷ sản Cho nên ngày 18/8/2005 Bộ Thuỷ sản quyết định về việc bổ xung danh mục kháng sinh nhóm Fluorquinolones cấm sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thuỷ sản xuất khẩu vào thị trường Mỹ và Bắc Mỹ
Trang 27Bảng 2.5: Bổ sung danh mục kháng sinh nhóm Fluorquinolones cấm sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thuỷ sản (Ban hành kèm theo Quyết định số 26/2005/QĐ - BTS ngày 18/8/2005 của Bộ trưởng Bộ Thuỷ sản)
Thức ăn, thuốc thú y, hoá chất, chất
sử lý môi trường, chất tẩy rửa khử trùng, chất bảo quả, kem bôi da tay trong tất cả các khâu sản xuất giống, nuôi trồng động thực vật dưới nước
và lưỡng cư, dịch vụ nghề cá và bảo quản, chế biến
2.6 Thành phần hoá học và phương thức tác dụng của một số loại kháng sinh
* Erythromycin
-4-((2,6- Dideoxy- 3- C- methyl- a- L- ribo- hexopyranosyl)- oxy)- 14- ethyl- 7,12,13- trihydroxy- 3,5,7,9,11,13- hexa methyl- 6- ((3,4,6- trideoxy- 3- (dimethylamino)- b- D- xylo- hexopyran osyl) oxy) oxacyclotetradecane- 2,10- dione
Erythromycin nằm trong nhóm Macrolide và được tổng hợp bằng cách nuôi cấy vi khuẩn Streptomyces erythraeus, được sử dụng nhiều trong chăn nuôi thú y, thuỷ sản Năm 2003, Bùi Quang Tề đo dùng Erythromycin để thay thế cho một số loại thuốc cấm như Choramphenicol, Nitrofuran, Furazon [21]
Erythromycin là loại kháng sinh có phổ tác dụng rộng, có thể tiêu diệt được cả vi khuẩn gram âm và gram dương đặc biệt là các vi khuẩn đường ruột bằng cách ngăn cản sự tổng hợp protein ở riboxom trong tế bào của vi khuẩn [56]
* Florfenicol
([R- (R*, S*)]- 2, 2- Dichloro- N- [(- (fluoromethyl)- (- hydroxy- (- 14- (methylsulfonul) ehtyl]- acetamide
Trang 28Hiện nay được sử dụng nhiều trong chăn nuôi thú y, thuỷ sản Nó là một Florfenicol tương tự như Thiamphenicol, Chloramphenicol nhưng nó có sự thay đổi
về mặt cấu chúc phân tử nên nó có tác động đến những vi khuẩn có khả năng kháng lại vi khuẩn Thiamphenicol, Chloramphenicol [28]
Flophenicol là loại kháng sinh có phổ kháng khuẩn rộng, kháng cả vi khuẩn gram âm và gram dương Florfenicol tác động vào vi khuẩn thông qua việc đính vào 50s riboxom, bằng cách này nó sẽ ngăn cản vi khuẩn tổng hợp protein [56]
Hiệu lực của thuốc trong việc sử dụng chống lại vi khuẩn như: Pasteurella piscicida gây bệnh trên cá Diêu Hồng, E tara gây bệnh trên cá Diêu Hồng, E ictaluri rây bệnh trên gan thận cá Tra và cá Basa, V anguillurum gây bệnh trên cá vàng và A sallmonicida trên cá hồi Atlantic
Bùi Quang Tề (2003) đo nghiên cứu và đưa vào thay thế cho một số loại kháng sinh cấm sử dụng như: Choramphenicol, Nitrofuran, Furazon, Metrodidazole [21]
Hiệu lực của thuốc có tác dụng kìm hom hoặc tiêu diệt các loại vi khuẩn gram âm và gram dương đặc biệt là vi khuẩn Vibrio sp, Pseudomonas sp và một số virus loại lớn [21]
* Kanamycin
2- (aminomethyl)- 6- [4,6- diamin 0- 3- [4- amino- 3,5- dihydroxy- 6- (hydroxymethl) tetrahydropyran- 2- yl] oxy- 2- hydroxy- cyclohexoxy]- tetrahydropyran- 3,4,5- triol
Kanamycin được ra đời vào những năm 1957, nó là một Kanamycin nằm trong nhóm Aminoglycosid nên nó tác dụng gần giống với Neomycin và Streptomicin, Kanamycin có thể thay thế Neomycin và Streptomycine để phòng trị những vi khuẩn đo kháng với Neomycin và Streptomycin
Kanamycin là kháng sinh có phổ tác dụng rộng, nó có thể tiêu diệt được cả vi khuẩn gram âm và gram dương đặc biệt là nhạy cảm với các vi khuẩn hiếu khí Cơ
Trang 29chế tác dụng của nó là Kanamycin gắn kết vững chắc với một trong 2 vị trí trên tiểu phần 30s của riboxom, kết quả là thuốc ức chế sự tổng hợp của protein của vi khuẩn Tuy nhiên để đạt được hiệu quả cao nó còn phụ thuộc vào nồng độ của kháng sinh [56]
2.7 Tính mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn
Tính mẫn cảm kháng sinh là gì?
Một khoanh giấy mỏng có chứa lượng kháng sinh nhất định được đặt vào đĩa thạch có chứa vi khuẩn đo phát triển Vi khuẩn đó không phát triển xung quanh khoanh giấy chứa kháng sinh nên người ta gọi đó là tính mẫn cảm kháng sinh [30]
Tính mẫn cảm của kháng sinh được sử dụng mô tả tính nhạy cảm của vi khuẩn đối với kháng sinh Thử nghiệm sự nhạy cảm của kháng sinh được tiến hành thường xuyên để xác định loại kháng sinh tốt nhất để điều trị sự nhiễm khuẩn vào in vivo [30]
2.7.1 Tính mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn trong NTTS trên Thế Giới
Thực tế cho thấy sự mẫn cảm của vi khuẩn đối với các loại kháng sinh ngày càng hẹp dần do nhu cầu sử dụng kháng sinh trong nuôi trồng thuỷ sản ngày một cao cho nên vi khuẩn đo kháng được thuốc Trong vài năm gần đây các nhà nghiên cứu đo liên tục tìm ra các loại thuốc mới để thay thế cho những loại kháng sinh cũ
bị vi khuẩn kháng lại và đồng thời cũng để thay thế cho các loại thuốc bị cấm sử dụng
Một số thí nghiệm chứng minh sự mẫn cảm của vi khuẩn đối với kháng sinh Theo Waltman và Shotts (1986), tỷ lệ chủng Edwardsiella ictaluri phân lập được từ cá nheo Mỹ bị bệnh thì 100% nhạy cảm với Sufamethoxazol/ Trimethoprim [68]
Mizon (1987) đo thử nghiệm tính mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn phân lập
được từ cá bị bệnh và ông thấy rằng vi khuẩn Aeromonas hydrophyla mẫn cảm với Tetracyclin và Kanamycin [59]
ở ấn Độ, D Saha và et al (2002) đo phân lập được vi khuẩn Pseudomonas
sp và Aeromonas sp trên các loài C punctalus, Myslus sp và Puntius sp bị bệnh lở loét Sau đó ông thử nghiệm tính mẫn cảm của vi khuẩn đối với kháng sinh thì thấy tất cả các vi khuẩn phân lập đươc đều mẫn cảm với Oxytetracyclin 75%, Kanamycin 62,5%, Chloramphenicol 68,75%, Norfloxacin 75%, Steptomycin 56,25%, Penicilin
Trang 3012,5%, Gentamycin 62,5%, Erythromycin 6,25%, Co- trimoxazole 43,75%, Amoxycylin 50% và Ampicillin 6,25% Đồng thời Saha và Pal cũng đo chứng minh tất cả các mầm bệnh do Pseudomonas sp và Aeromonas sp đều dễ mẫn cảm với Chloramphenicol, Nalidixic acid và Oxytetracyclin [59]
Theo Anissa và et al (2003) đo thử nghiệm tính mẫn cảm kháng sinh đối với
vi khuẩn gây bệnh trên cá nheo Mỹ thì thấy vi khuẩn nhạy cảm hoàn toàn với kháng sinh Florfenicol và Amoxycylin Nhưng sau một thời gian phát triển nghề nuôi và dịch bệnh xảy ra thường xuyên, người nuôi đo sử dụng nhiều loại kháng sinh để phòng trị bệnh Cho nên tính mẫn cảm của kháng sinh đo có những thay đổi từ 100% xuống 57,5% đối với Florfenicol và còn 51,6% đối với Amicycillin [29]
ở Ba Lan (2004), Leszek Gus và Alicja Kozínska đo phân lập được 2 loài Aeromonas hydrophyla và Aeromonas sobria trên cá Chép bị bệnh và sau đó đo tiến hành thử nghiệm tính mẫn cảm của 2 vi khuẩn này đối với kháng sinh Kết quả cho thấy Aeromonas hydrophyla và Aeromonas sobria mẫn cảm với Trimethoprim- Sulphamides, Oxalinic acid, Flumequine, Chloramphenicol, Norfloxacin, Linkomycin, Pefloxacin và 100% vi khuẩn kháng lại Ampicillin, Penicillin [49]
Truong Thy Ho đo tiến hành nghiên cứu tính mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn phân lập từ cá Tra nuôi trong ao của Việt Nam thì thấy 58 loài vi khuẩn Edwardsiella ictaluri phân lập được đều mẫn cảm với 10 loại kháng sinh Loại kháng sinh mẫn cảm cao nhất là Ciprofloxacin mẫn cảm 91,4%, Ampicillin và Amoxycillin là 84,5%, Florfenicol là 74,1%, Doxycyclin là 68,9% và Oxytetracyclin 63,7% và tất cả loài Edwardsiella ictaluri kháng với Sulphamethoxazole, Erythromycin và Sulphamethoxazole/ Trimethoprim Hai loài Aeromonas hydrophyla phân lập được đều đều mẫn cảm với Sulphamethoxazole, Ciprofloxacin, Oxytetracyclin, Enrofloxacin, Erythromycin, Sulphamethoxazole/ Trimethoprim, Doxycyclin và Florfenicol, kháng lại với Amoxycillin và Ampicillin [63]
2.7.2 Tính mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn trong nuôi trồng thuỷ sản ở Việt Nam
Đo có rất nhiều công trình nghiên cứu tính mẫn cảm kháng sinh đối với vi khuẩn gây bệnh trên cá Theo Từ Thanh Dung và ctv (2003) đo thử nghiệm tính mẫn
Trang 31cảm của kháng sinh đối với vi khuẩn cá Tra cho thấy vi khuẩn Edwardsiella ictaluri mẫn cảm hoàn toàn với Amoxycylin và Florfenicol, 100% kháng với thuốc Oxytetracycline, Oxolinic acid và Sulphonamid [3]
Năm 2003, Lý Thị Thanh Loan nghiên cứu tính mẫn cảm của vi khuẩn A hydrophyla, A sobria, A caviea, Pseudomonas fluorescens và Edwardsiella tarda với kháng sinh Kết quả vi khuẩn A caviea mẫn cảm cao nhất đối với Kanamycin, nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) là 30 (àg), đường kính trung bình 26,06 mm Tiếp sau đó là vi khuẩn A sobria mẫn cảm kháng sinh với đường kính vòng vô khuẩn là 21,90mm, MIC là 20 (àg) Vi khuẩn Edwardsiella tarda với đường kính vòng vô khuẩn là 21,75mm, MIC là 10 (àg) Vi khuẩn A hydrophyla với đường kính vòng vô khuẩn là 21,37mm, MIC là 30 (àg) Vi khuẩn Pseudomonas fluorescens với
đường kính vòng vô khuẩn là 21,20 mm, MIC là 9 (àg) Đối với kháng sinh Erythromycin thì vi khuẩn Edwardsiella tarda có mẫn cảm cao với đường kính vòng vô khuẩn là 29,13mm, MIC là 1 (àg), 4 loại vi khuẩn còn lại có mẫn cảm trung bình với thuốc kháng sinh, vi khuẩn có tính mẫn cảm thấp nhất là vi khuẩn Pseudomonas fluorescens với đường kính vòng vô khuẩn là 15,42 mm [12]
Trần Thị Thanh Tâm (2003) đo kiển tra tính mẫn cảm kháng sinh đối với vi khuẩn gây bệnh đốm trắng cho cá Tra thì thấy vi khuẩn Hafnia alvei và Plesiomonas shigelloides mẫn cảm với kháng sinh Enrofloxacin, Kanamycin, Gentamycin, Amoxycylin, Cephalexin, Neomycin và Norfloxacin [15]
Nguyễn Hữu Thịnh (2007) đo tiến hành thử nghiệm tính mẫn cảm của vi khuẩn Edwardsiella ictaluri gây bệnh trên cá Tra ở Cần Thơ, Vĩnh Long, An Giang, Bến Tre Kết quả cho thấy vi khuẩn mẫn cảm với Doxycyclin là 72,3%, Florfenicol
là 57,5%, Oxytetracycline là 68,1%, Sulphamethoxazole/ Trimethoprim là 0% Ông thấy Florfenicol là loại kháng sinh cho kết quả kháng sinh đồ tốt nhất vì vậy nó
được lựa chọn là loại kháng sinh có khả năng điều trị được bệnh đốm trắng ở cá Tra [18]
Theo Nguyễn Đức Hiền (2008), tiến hành so sánh tính nhạy cảm của kháng sinh đối với vi khuẩn gây bệnh cho cá Tra kết quả như sau:
Trang 32Bảng 2.6: So sánh độ nhạy cảm của các loại kháng sinh đối với vi khuẩn Edwardsiella ictaluri phân lập đ−ợc trên cá Tra bị bệnh gan thận mủ
Độ nhạy (%) các loại kháng sinh khảo sát
Theo Hùng và Kha (2007) thì 60% vi khuẩn Edwardsiella ictaluri phân lập
đ−ợc trên cá Tra bị bệnh đều mẫn cảm với Ciprofloxacin, Amoxycillin, Ampicilin, Florfenicol, Doxycyclin và Oxytetracyclin Trong đó 58 loài phân lập đ−ợc kháng lại với Sulphamethoxazole, Erythromycin, Sulphamethoxazole/ Trimethoprim Một
số chủng kháng lại Oxytetracyclin vởi tỷ lệ 36,2%, Florfenicol là 25,9% và Amoxycillin, Ampicilin là 15,5% Còn đối với vi khuẩn Aeromonas hydrophyla phân lập đ−ợc trên cá Tra bị bệnh thì thấy tất cả đều mẫn cảm với Oxytetracyclin, Sulphamethoxazole/ Trimethoprim, Ciprofloxacin, Erythromycin, Enrofloxacin, Florfenicol, Doxycyclin và kháng lại với Ampicilin, Amoxycilin [46]
Trang 33
Phần 3: vật liệu và phương pháp nghiên cứu
3.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Thời gian nghiên cứu
- Từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2008
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu
- Phòng sinh học thực nghiệm, Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I
- Phòng chẩn đoán bệnh thủy sản Đồng Tháp
3.1.3 Địa điểm thu mẫu
- Khu nuôi cá Tra thương phẩm thuộc tỉnh Đồng Tháp
3.1.4 Vật liệu nghiên cứu
- Cá Tra (Pangasianodon hypophthalamus, Sauvage, 1878) nuôi tại Đồng Tháp
3.1.5 Đối tượng nghiên cứu
- Vi khuẩn trên cá Tra bị bệnh
- Thuốc kháng sinh: Doxycyclin (30àg), Florfenicol (30àg), Erythromycin (15 àg), Kanamycin (30àg) (Nồng độ kháng sinh theo nồng độ đo được thương mại hoá)
3 2 Phương pháp nghiên cứu
3 2.1 Phương pháp thu mẫu và nuôi cấy phân lập vi khuẩn
- Thu mẫu cá biểu hiện bệnh vi khuẩn điển hình (theo các tác giả Bùi Quang
tề, Từ Thanh Dung, Trần Thị Thanh Tâm, Lý Thị Thanh Loan)
- Phân lập theo phương pháp nghiên cứu vi khuẩn ở cá và động vật thuỷ sản của Millar và Frerichs (1993) [51]
Trang 34
Sơ đồ 1: Sơ đồ phân lập vi khuẩn
Phương pháp thu mẫu bệnh cá
- Mẫu là những con cá có dấu hiệu bệnh lý
- Mẫu cá đựơc chuyển về phòng thí nghiệm để kiểm tra, mổ cá lấy gan và thận nuôi cấy vi khuẩn Nếu cá bị nặng không mang về được phòng thí nghiệm phải tiến hành giải phẫu và nuôi cấy mẫu bệnh phẩm ngay tại hiện trường
Phương pháp xử lý mẫu trong phòng thí nghiệm
- Mẫu cá mang về phải được xử lý ngay Trước khi tiến hành phẫu thuật phải ghi chép các thông tin về cân đo và các dấu hiệu bên ngoài
- Chuẩn bị bộ giải phẫu, đèn cồn, que cấy và cồn 70 để xát trùng
- Trước khi mổ, làm cá chết nhanh bằng cách phá tuỷ sống nối với xương
đầu Cá chết, dùng panh, dao, kéo đo khử trùng để tiến hành mổ cá Quan sát và ghi chép các biến đổi bên trong nội tạng của cá
- Dùng que cấy cấy bộ phận gan, thận của cá lên đĩa môi trường Nutrient Agar
Phương pháp cấy và nuôi vi khuẩn
Phương pháp cấy:
- Dùng que lấy mẫu bệnh phẩm, vạch chữ chi trên đĩa môi trường ta được vùng 1 Hơ đỏ que cấy trên ngọn lửa đèn cồn, để que cấy nguội bằng cách ấn đầu qua cấy trên mặt môi trường Đặt que cấy lên vùng 1, vạch đường chữ chi 1/3 đĩa,
được vùng 2 Lại tiếp tục hơ đỏ que cấy như bước trên, đặt que cấy lên vùng 2, vạch
Trang 35đường chữ chi 1/3 đĩa, được vùng 3 Lật ngược đĩa, ghi các thông tin cần thiết, nuôi cấy trong tủ ấm ở nhiệt độ 27- 29oC sau 24- 48h kiểm tra
Kỹ thuật cấy 3 pha trên đĩa lồng Phương pháp nuôi vi khuẩn thuần chủng:
- Sau 24- 48h nuôi cấy, tiến hành kiểm tra đặc điểm hình thái của khuẩn lạc ghi chép đầy đủ, đánh dấu các khuẩn lạc riêng rẽ cần nuôi cấy thuần chủng
- Dùng que cấy vô trùng lấy mẫu từng khuẩn lạc đánh dấu, cấy chuyển sang
đĩa môi trường mới Thực hiện các bước cấy như ở trên phương pháp cấy
3.2.2 Phương pháp phân loại vi khuẩn
3.2.2.1 Phương pháp nhuộm vi khuẩn thuần
Chuẩn bị tiêu bản:
- Dùng que cấy vô trùng lấy khuẩn lạc cho lên lam kính
- Cho thêm nước mối sinh lý vô trùng, dùng đầu que cấy dàn mỏng trên lam kính
- Để mẫu tự khô ở nhiệt độ phòng
- Hơ cao lam kính trên ngọn lửa đèn cồn để cố định và diệt vi khuẩn
- Nhuộm vi khuẩn bằng phương pháp nhuộm gram
Trang 36Phương pháp nhuộm gram:
- Nhỏ dung dịch 1 (tím tinh thể (Crystal violet)) lên tiêu bản, giữ trong 30- 60 giây
- Rửa nhanh bằng nước, vẩy khô
- Nhỏ dung dịch 2 (Lugol), giữ trong 1 phút (tiêu bản có màu đen)
- Rửa nhanh bằng nước, vẩy khô
- Nhỏ dung dịch 3 (cồn- Acetone: 95%/5%) từ đầu lam, nghiêng lam để cồn chạy qua chỗ phết vi khuẩn để tẩy màu
- Rửa nhanh bằng nước, vẩy khô
- Nhỏ dung dịch 4 (Safranin), giữ trong 1- 2 phút
- Rửa nước, để khô (hoặc dùng giấy thấm khô, không để xước mẫu)
- Soi kính hiểm vi bằng vật kính dầu (X 100) Vi khuẩn gram dương có màu xanh tím, vi khuẩn gram âm có màu hồng
3.2.2.2 Phương pháp thử phản ứng sinh hoá bằng kít thử API- 20 E
- Phương pháp này dùng 21 chỉ tiêu sinh hoá cho phép định tên một số loài vi khuẩn hình que, gram âm và thuộc họ Enterobacteraceae
- Kít thử API - 20E gồm các ống nghiệm nhỏ trong có chứa các chất nền đo khử nước Trong quá trình ủ hoạt động của vi khuẩn sẽ làm chuyển màu và làm đục môi trường Sau 24h đọc các phản ứng đối chiếu theo bảng kết quả đo định tên Phương pháp làm:
Các bước tiến hành phân lập vi khuẩn trên kít thử API 20E
Chuẩn bị hộp kít:
- Lấy hộp ủ đo có sẵn và đổ 5ml nước cất (hoặc nước khử khoáng) để lấp đầy các chỗ lõm, tạo hơi ẩm
Trang 37Chuẩn bị mẫu
- Kít thử API 20 E không dùng trực tiếp mẫu bệnh phẩm Sử dụng vi khuẩn
đo thuần chủng nuôi cấy trên môi trường tăng sinh tripton sau 24 đến 48 giờ được dịch huyền phù
- Để test thử API vào trong hộp thử đo cho nước cất
- Dùng 1 pipet lấy dịch huyền phù vi khuẩn cho đầy vào các ống nghiệm
- Đổ 1 lớp dầu lên trên các ống thử có gạch chân ở dưới (ADH, LDC, ODC, H2S, URE) để tạo môi trường yếm khí
- Thử thêm ngoài trên 2 ống OF
- ủ hộp thử phản ứng ở nhiệt độ 27- 29oC thời gian từ 24- 48 giờ
Đọc kết quả:
Đọc kết quả các phản ứng theo bảng đọc và dùng các thuốc thử hiển thị kết quả
- Thử TDA: Cho 1 giọt TDA vào ống thử thấy chuyển sang màu đỏ là dương tính
- Thử INA: Cho 1 giọt JAMES vào ống thử thấy chuyển sang màu hồng là dương tính
- Thử VP: Cho 1 giọt VP1 và 1 giọt VP 2 đợi trong 10 phút nếu chuyển sang màu hồng hoặc màu đỏ là dương tính, nếu có màu hồng nhẹ sau 10 phút là âm tính
- Thử NO2: Cho 1 giọt NIT 1 và 1 giọt NIT 2 vào ống GLU, đợi sau 2 – 5 phút nếu chuyển sang màu đỏ là dương tính, nếu màu vàng có thể chúng khử đến N2(một số trường hợp sinh hơi ở đáy) cho thêm 2- 3 mg Zn vào ống GLU Sau 5 phút
Trang 38nếu ống chuyển màu vàng cho phản ứng sinh khí N2 là dương tính, nếu chuyển từ màu da cam đến màu đỏ là âm tính
3.2.2.3 Phân loại
Các bước định loại vi khuẩn
+ Đảm bảo nuôi cấy đo thuần chủng
+ Đi từ tiêu chuẩn chung họ, giống đến tiêu chuẩn đặc trưng của loài
Dựa và những đặc điểm và kết quả thử phản ứng sinh hoá, phân lập dựa vào bảng phân loại vi khuẩn của Nicky B Buller (2004) [55]
3.3 Phương pháp thử kháng sinh đồ
Xác định số lượng tế bào vi khuẩn để tiến hành thử kháng sinh đồ
ở mỗi mật độ vi khuẩn xác định bằng phương pháp so màu, dùng bộ ống chuẩn MC- Faland đều được tiến hành trang trên đĩa MHA (theo Kock, 1987) nhằm xác định chính xác số lượng vi khuẩn sống để tiến hành thử kháng sinh đồ
Bảng 3.1: Độ đục chuẩn MC- Faland
Bacl2 1% (ml) 0,1 0,2 0,3 0,4 0,5 0,6 0,7 0,8 0.9 1,0
H2SO4 1% (ml) 9,9 9,8 9,7 9,6 9,5 9,4 9,3 9,2 9,1 9,0
Đối với định lượng vi khuẩn sẽ định lượng ở hệ số pha loong 10-6, 10-7, 10-8
Sẽ tiến hành thử kháng sinh đồ đối với mật độ vi khuẩn là 2,8.106TB/ml; 3,4.107TB/ml; 3,2.108TB/ml
Trang 39- Chuẩn bị đĩa giấy kháng sinh cho các loại kháng sinh cần thử nghiệm (hàm lượng kháng sinh trên mỗi đĩa giấy kháng sinh được chuẩn bị theo đĩa giấy kháng sinh đo thương mại hoá)
- Thí nghiệm sẽ được lặp lại 3 lần trên các đĩa petri khác nhau với cùng một loại kháng sinh đối với mỗi mật độ của loài vi khuẩn cần thử nghiệm
- Tiến hành thử riêng kháng sinh đồ đối với vi khuẩn thu được trên cá bệnh
- Môi trường MHA được đổ trên đĩa petri, trang vi khuẩn lên các đĩa petri đo chuẩn bị
- Đặt các khoanh giấy kháng sinh lên, đưa vào tủ ấm 27-29oC
- Đọc kết quả, đo đường kính vòng vô khuẩn sau 24 giờ
Xác định tính mẫn cảm của vi khuẩn với các chất kháng sinh
- Sử dụng phương pháp khuếch tán trong thạch thịt của vi khuẩn với các đĩa giấy kháng sinh tiêu chuẩn (CODE 1334E-OXOID)
- Dựa vào đường kính vòng vô khuẩn, xác định tính mẫn cảm của vi khuẩn với chất kháng sinh
+ Đường kính vòng vô khuẩn >20mm: Vi khuẩn có tính mẫn cảm cao
+ Đường kính vòng vô khuẩn 11-20mm: Vi khuẩn có tính mẫn cảm trung bình
+ Đường kính vòng vô khuẩn <11mm: Vi khuẩn có tính mẫn cảm kém + Đường kính vòng vô khuẩn 0 mm: Vi khuẩn không có tính mẫn cảm
đối xứng, giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất
Kiển tra tính mẫn cảm kháng sinh của các loài vi khuẩn đối với 4 loại thuốc kháng sinh bằng phương pháp so sánh của Tukey, LSD, Ducan bên SPSS
Trang 40Phần 4: Kết quả và thảo luận
4.1 Thành phần loài vi khuẩn thu được trên cá Tra
Từ năm 1998 đến nay, tại các khu nuôi cá Tra tại đồng bằng sông Cửu Long thường xảy ra hiện tượng cá chết rải rác đến hàng loạt Khi cá có hiện tượng bị xuất huyết và bên trong gan, thận bị hoại tử (gan, thận có mủ) thì tỷ lệ sống sót của cá là rất thấp Để nghiên cứu vấn đề này, chúng tôi đo phân lập những mẫu cá Tra có biểu hiện bệnh như của một số tài liệu bệnh cá Tra trong khu vực và trên thế giới Kết quả phân lập đo gặp một số loại vi khuẩn khác nhau như Aeromonas, Pseudomonas, trong đó vi khuẩn Aeromonas được gặp phổ biến nhất Kết quả phân lập vi khuẩn
được ghi ở bảng 4.8
Bảng 4.8: Thành phần loài vi khuẩn thu được trên cá Tra bị bệnh tại Tỉnh Đồng Tháp
Tần số xuất hiện (%) Dấu hiệu bệnh
A hydrophyla A sobria P fluorescens Streptococcus
Cá Tra có biểu hiện xuất huyết (đốm đỏ) khi đưa vào nuôi cấy và phân lập, bắt gặp 3 loài vi khuẩn: A hydrophyla, A sobria, P fluorescens
Cá Tra có biểu hiện gan thận mủ khi đưa vào nuôi cấy và phân lập đo bắt gặp
2 loài vi khuẩn: A hydrophyla, Streptococcus sp
Cá Tra có hiện tượng chướng bụng khi đưa vào nuôi cấy và phân lập bắt gặp
1 loài : A hydrophyla