luận văn
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo
trường đạI học nông nghiệp Hà NộI
đào trọng hùng
NGHIấN CỨU SỰ BIẾN ðỔI TÍNH CHẤT ðẤT MẶN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BèNH QUA QUÁ TRèNH SỬ DỤNG
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, chưa hề ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào và các thông tin trích trong luận văn ñều ñược chỉ rõ nguồn gốc
Người thực hiện luận văn
ðÀO TRỌNG HÙNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin cảm ơn các thầy, cô giáo trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội ñã truyền ñạt những kiến thức bổ ích, quí giá trong thời gian học 2006-2008 tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Hồ Quang ðức (Phó viện trưởng - Viện Thổ nhưỡng Nông hóa) ñã tận tình hướng dẫn giúp
ñỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh ñạo Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, lãnh ñạo và các ñồng nghiệp trong Bộ môn Phát sinh học và Phân loại ñất ñã tạo mọi ñiều kiện, ñộng viên, giúp ñỡ ñể tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn chủ trì ñề tài ”Nghiên cứu thực trạng ñất phèn và ñất mặn ở ñồng bằng sông Cửu Long và ñồng bằng sông Hồng sau 30 năm khai thác và sử dụng” ñã tạo ñiều kiện cho tôi tham gia thực hiện và sử dụng một số mẫu ñất phân tích phục vụ luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn người thân, bạn bè và gia ñình ñã ñộng viên, giúp ñỡ tôi hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày tháng 9 năm 2008
Tác giả
ðÀO TRỌNG HÙNG
Trang 4MỤC LỤC
Trang Lời cam ñoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt vi
Danh sách bảng……… vii
Danh sách hình……… viii
1 Mở ñầu… 1
1.1 Tính cấp thiết của ñề tài 1
1.2 Mục tiêu của ñề tài 3
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn… 3
1.4 Phạm vi và thời gian nghiên cứu……… 3
1.4.1 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4.2 Thời gian nghiên cứu 3
2 Tổng quan tài liệu và cơ sở khoa học của ñề tài 4
2.1 Cơ sở khoa học của ñề tài……… 4
2.1.1 ðặc ñiểm của ñất mặn miền Bắc Việt Nam……… 4
2.1.2 Yếu tố hạn chế của ñất mặn miền Bắc Việt Nam và huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình ……… 5
2.2 Tổng quan nghiên cứu về ñất mặn 6
2.2.1 Tình hình nghiên cứu ñất mặn trên thế giới………6
Trang 52.2.1.1 Phân bố ñất mặn trên thế giới……… 6
2.2.1.2 Nguyên nhân hình thành ñất mặn 7
2.2.1.3 ðặc ñiểm của ñất mặn 8
2.2.1.4 Phân loại về ñất mặn……… 10
2.2.1.5 Cải tạo ñất mặn……… ……12
2.2.1.6 Quản lý và sử dụng ñất mặn……… 14
2.2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ñất mặn trong nước……… 17
2.2.2.1 Phân loại ñất mặn……… ………17
2.2.2.2 Cải tạo ñất mặn……… …19
2.2.2.3 Quản lý và sử dụng ñất mặn……… 23
3 ðối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 32
3.1 ðối tượng nghiên cứu 32
3.2 Nội dung nghiên cứu 32
3.3 Phương pháp nghiên cứu 32
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 32
3.3.2 Phương pháp ñiều tra 33
3.3.3 Phương pháp phân tích mẫu 33
3.3.4 Phương pháp xử lý số liệu… 35
4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 36
4.1 ðặc ñiểm vùng nghiên cứu 36
4.1.1 ðiều kiện tự nhiên……….36
4.1.1.1 Vị trí ñịa lý……… 36
4.1.1.2 ðặc ñiểm các yếu tố khí hậu……… 36
4.1.1.3 ðịa hình, ñịa mạo và ñịa chất……….…38
4.1.1.4 Thủy văn sông ngòi……… ……… 40
4.1.1.5 Hiện trạng sử dụng ñất……… …42
4.1.2 ðiều kiện kinh tế - xã hội……… 43
Trang 64.1.2.1 Dân số và lao ựộngẦẦẦ ẦẦẦ 43
4.1.2.2 Thực trạng phát triển các ngànhẦẦẦ.44
4.2 Kết quả nghiên cứu ựánh giá chất lượng ựất mặn ở huyện Tiền Hải, Thái BìnhẦẦẦ.47
4.2.1 Kết quả ựiều tra thu thập mẫu và phân tắchẦẦẦ 47
4.2.2 đánh giá chất lượng ựất mặn Tiền Hải năm 1987ẦẦẦ 47
4.2.3 đánh giá chất lượng ựất mặn Tiền Hải năm 2007ẦẦẦ.Ầ52
4.3 Kết quả nghiên cứu ựánh giá sự biến ựộng ựất mặn Tiền Hải trong giai ựoạn 1987 Ờ 2007ẦẦẦ59
4.3.1 đánh giá sự biến ựộng về diện tắch của ựất mặnẦẦẦ 59
4.3.2 đánh giá sự biến ựổi tắnh chất ựất mặn ở một số ựiểm nghiên cứuẦ.60 4.3.2.1 đánh giá sự biến ựổi tắnh chất ựất mặn nhiềuẦẦẦ62
4.3.2.2 đánh giá sự biến ựổi tắnh chất ựất mặn trung bình và ắtẦẦẦẦ 63
4.4 đề xuất ựịnh hướng sử dụng ựất mặn ở Tiền Hải, Thái BìnhẦẦẦẦ.72
5 Kết luận và kiến nghị 73
5.1 Kết luận 73
5.2 Kiến nghịẦẦẦ 74
Tài liệu tham khảo 75
Phụ lục 80
Trang 7
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CEC Dung tích hấp thu
Trang 8DANH SÁCH BẢNG
Bảng 3.1 Diện tích ñất mặn qua quá trình sử dụng……….59 Bảng 3.2 Diễn biến tính chất mặn của ñất mặn nhiều……… 62 Bảng 3.3 Diễn biến tính chất mặn của ñất mặn trung bình và ít……… 63 Bảng 3.4 Diễn biến thành phần cấp hạt ñất mặn trung bình và ít………… 66 Bảng 3.5 Diễn biến một số chỉ tiêu hóa học của ñất mặn trung bình và ít Tiền Hải, Thái Bình qua quá trình sử dụng……….68
Trang 9DANH SÁCH HÌNH
Hình 3.1 Diễn biến TSMT của PD TB 104 qua quá trình sử dụng…………64 Hình 3.2 Diễn biến TSMT của PD TB 90 qua quá trình sử dụng………… 64 Hình 3.3 Diễn biến TSMT của PD TB 110 qua quá trình sử dụng…………65 Hình 3.4 Diễn biến ñộ chua pHH2O của ñất mặn trung bình và ít qua quá trình
sử dụng………67 Hình 3.5 Diễn biến ñộ chua pHkcl của ñất mặn trung bình và ít qua quá trình
sử dụng………67
Trang 101 MỞ ðẦU
1.1 Tính cấp thiết của ñề tài
ðất mặn ven biển ñược hình thành do tác ñộng trực tiếp và thường xuyên của thuỷ triều dâng lên, tràn vào hoặc do nước mạch theo mao quản leo lên các lớp mặt hoặc do muối tích luỹ trong ñất từ lâu ñời ñến nay còn lại một phần ðất mặn ñược coi là một trong những loại ñất có vấn ñề Theo thống kê, trên Thế giới ñất mặn có khoảng 785 triệu ha, trong ñó có khoảng 351 triệu ha ñất mặn [42] và 434 triệu ha ñất mặn kiềm (Oldeman và cộng sự 1991)
Ở Việt Nam, ñất mặn có diện tích khoảng gần một triệu ha trong tổng số diện tích ñất nông nghiệp 9,53 triệu ha (khoảng hơn 10%), tập trung chủ yếu
ở hai vùng ñồng bằng lớn là vùng ñồng bằng sông Cửu Long (ðBSCL) và vùng ñồng bằng sông Hồng (ðBSH) ðất mặn vùng ñồng bằng sông Hồng tập trung chủ yếu ở các tỉnh Thái Bình, Nam ðịnh, Ninh Bình, (Viện Thổ nhưỡng Nông hóa 2001); ñược hình thành chủ yếu do bị nhiễm nước mặn bởi thủy triều hoặc do nước mặn từ các dòng chảy ngầm di chuyển lên bề mặt ñất Trong ñất mặn có một số ñộc tố, trong ñó chủ yếu là Na+ với hàm lượng rất cao so với mức chịu ñựng của cây Do ñó gây nên sự thiếu hụt nhiều chất dinh dưỡng cho cây, ñặc biệt là lân dễ tiêu, dẫn ñến sự kìm hãm quá trình sinh trưởng của cây trồng Vì vậy cây trồng thường có năng suất thấp và không ổn ñịnh Nhu cầu sử dụng ñất mặn phục vụ sản xuất nông nghiệp ngày càng trở nên cấp bách hơn ñối với ñất nước chúng ta thì việc nghiên cứu cải tạo hạn chế các yếu tố ñộc hại, tăng cường các yếu tố dinh dưỡng cho cây trồng trên ñất mặn là hết sức cần thiết ñể có ñược năng suất cao, ổn ñịnh
Trang 11Tính chất của ñất nói chung và ñất mặn nói riêng phụ thuộc vào các yếu
tố hình thành ñất: nguồn gốc phát sinh, ñịa hình, thực vật, thời tiết, khí hậu, thời gian và tác ñộng của con người Do vậy việc quản lý và cải tạo ñất mặn phải ñiều tra cụ thể các yếu tố nêu trên, ñặc biệt ñối với yếu tố tác ñộng của con người trong lĩnh vực nông nghiệp Công tác cải tạo ñất mặn cần ñược tính toán chi tiết cụ thể kết hợp các yếu tố về tính chất ñất, chất lượng nước tưới tiêu, ñiều kiện khí hậu thời tiết, kinh tế - xã hội, chính sách và môi trường văn hóa và các hệ thống nông nghiệp Không có phương pháp ñơn lẻ nào có thể ñiều khiển ñược ñộ mặn, ñặc biệt là trong nông nghiệp có tưới (Mashali, 1995) Nhằm hỗ trợ các quốc gia có vấn ñề về ñất mặn, Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO) ñã xúc tiến tăng cường các chương trình thử nghiệm về các hoạt ñộng quản lý ñất phù hợp Từ năm 1990, các dự án hợp tác nhằm phát triển hoạt ñộng quản lý ñất mặn hợp lý ñã ñược thực hiện
Sự tồn tại các tính chất ñất mặn phụ thuộc vào các yếu tố ñã nêu trên cho nên ñể nghiên cứu quy trình cải tạo ñất cho từng vùng Cần thiết phải tiến hành trên từng ñịa bàn cụ thể ñặt ra thì công tác nghiên cứu mới có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Huyện Tiền Hải là ñịa bàn nghiên cứu của ñề tài có diện tích ñất mặn lớn nhất tỉnh Thái Bình ðất mặn của huyện Tiền Hải ñã ñược nghiên cứu thông qua việc ñiều tra, chỉnh lý bản ñồ ñất năm 1987 Từ ñó ñến nay, sau mấy chục năm khai thác sử dụng, sự tác ñộng của các ñiều kiện tự nhiên và con người ñã làm thay ñổi tính chất ñất Do vậy, việc nghiên cứu chi tiết và chính xác sự biến ñổi tính chất ñất mặn qua quá trình sử dụng là rất cần thiết,
vì ñây là căn cứ ñể sử dụng hợp lý ñất vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản và các mục ñích khác, nhằm ñáp ứng ñược yêu cầu phát
triển nông nghiệp hiện tại và tương lai
Trang 12Với những lý do trên, ựề tài ỘNghiên cứu sự biến ựổi tắnh chất ựất mặn
huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình qua quá trình sử dụng Ợ ựược ựặt ra là hết sức
cần thiết, có ý nghĩa cả về khoa học và thực tiễn sản xuất cho ựịa phương
1.2 Mục tiêu của ựề tài
- Xác ựịnh ựược sự biến ựổi tắnh chất ựất mặn huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình qua quá trình sử dụng
- đề xuất ựịnh hướng sử dụng ựất mặn cho các loại hình sử dụng ựất
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ựề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
đề tài bổ sung cơ sở khoa học và kết quả nghiên cứu về tắnh chất ựất mặn ở Việt Nam đó cũng là cơ sở ựể bố trắ loại hình sử dụng ựất hợp lý trên ựất mặn
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của ựề tài là tài liệu tham khảo cho các nhà lãnh ựạo, nhà quản lý tỉnh, huyện xây dựng phương án quy hoạch và chỉ ựạo sản xuất một cách khoa học và chi tiết cho huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
1.4 Phạm vi và thời gian nghiên cứu
1.4.1 Phạm vi nghiến cụu
- Vùng ựất mặn huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
1.4.2 Thời gian nghiên cứu
Tháng 3 năm 2007- tháng 9 năm 2008
Trang 132 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ðỀ TÀI
2.1 Cơ sở khoa học của ñề tài
2.1.1 ðặc ñiểm ñất mặn miền Bắc Việt Nam
ðất mặn ở Việt Nam có diện tích khoảng gần 1 triệu ha ñược hình thành do sự lắng ñọng phù sa sông dọc theo bờ biển với trên 3.000 km ðây là vùng ñất có nhiều tiềm năng kinh tế quan trọng về nông nghiệp và thủy sản, nhưng chưa ñược khai thác triệt ñể
Diện tích của ñất mặn không ngừng tăng thêm Bờ biển Bắc Bộ là nơi
có các bãi bồi ñược hình thành nhiều nhất: vùng Kim Sơn, Ninh Bình hàng năm bãi bồi tiến ra biển từ 150 ÷ 200 m và nâng cao 5 ÷ 10 cm
ðất mặn của Việt Nam có ñộ phì tự nhiên cao Hàm lượng mùn, lân, kali tương ñối cao Tuy nhiên yếu tố hạn chế cũng rất lớn ñó là hàm lượng Na
tự do lớn, các yếu tố về dinh dưỡng dễ tiêu thấp (lân dễ tiêu thấp) Do ñó nếu khắc phục ñược những yếu tố này thì ñây là vùng ñất có nhiều tiềm năng ñể phát triển nông nghiệp và ngư nghiệp
Dưới tác ñộng của con người bằng nhiều công trình thủy lợi, những rừng ñước, bần, cói là những cây chịu mặn tự nhiên ñã dần dần ñược thay thế bằng các loại cây chịu mặn như: Dứa, cói, ñiền thanh nốt sần… và các giống lúa chịu mặn nhằm giảm bớt ñộ mặn ñể trở thành những vùng ñất có ñộ phì thực tế cao
Công lao lớn nhất của con người ở miền Bắc từ thuở xa xưa trong việc cải tạo ñất mặn, lấn biển là Nguyễn Công Trứ thế kỷ 19 Nhờ công lao của ông mà các khu dân cư ven biển như: Tiền Hải (Thái Bình); Giao Thủy, Trực Ninh, Hải Hậu (Nam ðịnh) và Kim Sơn (Ninh Bình) ñược hình thành
Trang 14Những kinh nghiệm cải tạo ñất lấn biển của cha ông ta ñã ñể lại cho
chúng ta những bài học quý giá mang tính chất khoa học và thực tiễn là: “cá
lấn biển, cói lấn cá, lúa lấn cói”
2.1.2.Yếu tố hạn chế của ñất mặn miền Bắc Việt Nam và huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
ðất mặn ở Việt Nam có diện tích lớn và nhiều tiềm năng Tuy nhiên, trong khai thác và sử dụng vùng ñất này còn có những hạn chế do:
- ðất có hàm lượng muối Na hòa tan cao, luôn thay ñổi gây bất lợi cho cây trồng và xây dựng hệ thống thủy lợi nội ñồng;
- Nguồn nước ngọt khó khăn và khan hiếm ñặc biệt về mùa khô, nên không rửa mặn ñược nhiều, chủ yếu ở tầng ñất mặt Do ñó nhiều nơi chỉ cấy ñược một vụ lúa;
- Tính chất của ñất mặn luôn thay ñổi, không ổn ñịnh, phụ thuộc vào thời gian và tác ñộng của con người;
- Năng suất cây trồng thấp bấp bênh, chỉ ñạt 2,0 ÷ 4,0 tấn/ha, phụ thuộc vào từng vùng mặn;
- ðời sống nhân dân trong vùng gặp rất nhiều khó khăn, thu nhập bình quân ñầu người thấp, tỷ lệ tăng dân số cao, trình ñộ văn hóa thấp
ðể ñảm bảo an ninh lương thực quốc gia, việc mở rộng diện tích, thâm canh tăng vụ trên vùng ñất mặn là vấn ñề bức xúc hiện nay Vì vậy cần phải nghiên cứu sự biến ñổi tính chất ñất mặn qua quá trình sử dụng Nhằm xác ñịnh những cơ sở khoa học ñể sử dụng, cải tạo và bảo vệ ñất mặn bền vững
Trang 152.2 Tổng quan nghiên cứu về ñất mặn
2.2.1 Tình hình nghiên cứu ñất mặn trên thế giới
2.2.1.1 Phân bố ñất mặn trên thế giới
ðất mặn xuất hiện trên tất cả các ñại lục, nhưng sự phân bố của chúng thì chưa ñược nghiên cứu chi tiết
Thông báo ñầu tiên về ñất mặn trên thế giới là do F.Massoud [37], [40] thực hiện theo bản ñồ ñất thế giới của FAO/UNESCO Thông báo về ñất mặn
ở các nước Châu Âu là theo tài liệu công bố của Szabolls (1974; 1979) [41], [42]
Szabolls (1979) [42] cũng ñưa ra bản ñồ phân bố của hầu hết các ñại lục Tổng diện tích ñất mặn ở trên thế giới là 351.560.160 ha Phân bố nhiều nhất Châu Á 195.006.300 ha (55,49 %); Châu Mĩ 77.566.000 ha (22,06 %); Châu Phi 53.492.000 ha (15,22 %); Châu ðại Dương 17.597.000 ha (5 %) và ít nhất
là Châu Âu 7.838.000 ha (2,23 %)
Theo Oldeman và cộng sự (1991), trên thế giới hiện nay có 434 triệu ha ñất mặn kiềm ðất mặn kiềm là loại ñất ñược hình thành trên những biển hồ mặn cũ mà muối không có ñường thoát, hoặc muối tan sinh ra trong quá trình phân giải các chất hữu cơ, diện tích này ñặc biệt nhiều ở vùng ñồng cỏ, nhất
là loài cây có lượng tro cao, hoặc ñây là vùng sa mạc Vùng có khí hậu lục ñịa, quanh năm thiếu mưa, cường ñộ bốc hơi rất lớn Vì lượng mưa ít, nên nước thấm từ trên mặt xuống tầng ñất sâu thì ít mà nước từ tầng ñất sâu leo lên rồi bốc hơi ñi lại nhiều Năm này qua năm khác, nước mưa thấm vào ñất hòa tan muối vẫn có trong ñất kéo xuống tầng sâu ðến lúc mặt ñất khô thì nước mặn ñó ở tầng ñất sâu lại leo lên mặt ñất, nước bốc hơi ñi ñể muối ở lại Chiều nước ñi từ dưới lên tương ñối liên tục, nên lượng muối tích tụ mỗi ngày mỗi nhiều, làm cho lớp ñất dưới tầng mặt rất mặn, tầng ñất mặn cũng khá dày
Trang 16Trong 785 triệu ha ñất mặn, không phải toàn bộ diện tích này thuộc ñất trồng trọt nhưng nó bao trùm toàn bộ ñất bị ảnh hưởng của muối ở mức ñộ toàn cầu Trong tổng số 230 triệu ha ñất có tưới, có 45 triệu ha bị mặn (chiếm 19,5 %) và trong 1.500 triệu ha ñất trồng cây trồng cạn thì có 32 triệu ha bị mặn (chiếm 2,1 %) ở các mức ñộ khác nhau
2.2.1.2 Nguyên nhân hình thành ñất mặn
Mặc dù sự phong hóa các ñá và khoáng vật nguyên sinh là nguồn gốc chủ yếu của tất cả các loại muối Tuy nhiên, ñất mặn ít ñược hình thành từ tích tụ muối tại chỗ, mà chủ yếu là do các nguyên nhân sau:
- Do sử dụng nước ngầm có ñộ khoáng hóa cao ñể tưới: Trong trường hợp nước ngầm là nguồn duy nhất, có ñộ mặn cao, làm muối tập trung tầng ñất mặt, ñặc biệt là nếu sử dụng nước tưới không hợp lý, lại không có mạng tưới tiêu nước nội ñồng tốt
- Do thấm nước mặn: Do việc sử dụng ñất, từ thảm thực vật tự nhiên chuyển sang trồng cây ngũ cốc, hoặc có xen những mùa vụ bỏ hóa, lượng bốc-thoát hơi giảm ñi, nên nước thừa thấm qua các vùng trầm tích mặn, bị giữ ñọng lại trong tầng ñất thấm nước và làm hóa mặn ñất ñai của vùng trũng bên cạnh (Doering và Sandral, 1976)
- Do xâm nhập của nước biển: Qua sóng thủy triều hoặc tầng nước dưới ñất, hoặc do gió vận chuyển bụi muối ñến Các muối hòa tan vẫn tiếp tục ñược trao ñổi giữa ñất liền và biển Ở những vùng nửa khô hạn, nơi mà sản xuất nông nghiệp nhờ vào nước tưới, nếu lượng mưa và lượng bốc-thoát hơi xấp xỉ bằng nhau thì vấn ñề mặn càng nặng
- Do mực nước ngầm dâng cao: Ở mỗi lưu vực sông, trước khi thực hiện công việc tưới nước, ñã có sẵn một sự cân bằng nước, giữa một bên là
Trang 17mưa với một bên là dòng chảy mặt, nước dưới ñất, bốc hơi và thoát hơi Sự cân bằng ñó bị phá vỡ khi người ta thực hiện tưới thêm một lượng nước lớn trên ñất nông nghiệp Nước thấm từ các kênh tưới và từ nước tưới lên ruộng tham gia ñáng kể vào nước ngầm Do việc phát triển thêm các diện tích mới, nên ñường tiêu nước bị tắc nghẽn, khi ñó mực nước ngầm bị dâng lên cao, hoặc có thể tạo thành lớp nước ngầm treo Các công trình nghiên cứu của Gardner và Firemen (1958) [14]; Sharma và Prihar (1973) [14] ñã chỉ ra rằng, khi mực nước ngầm chỉ còn cách mặt ñất từ 1 ÷ 2m, thì nó tham gia ñáng kể vào sự bốc hơi mặt ñất Vấn ñề mặn hóa có thể càng nghiêm trọng hơn, nếu nước ngầm có ñộ khoáng hóa cao, như thường thấy ở vùng khô hạn J.N Luthin [14] cho biết, ñể tránh sự tích tụ muối, cần giữ không cho mực nước ngầm leo lên cao cách mặt ñất 4fut (1 fut = 0,3048m)
- Do chuyển ñộng của muối: thường gây nên vấn ñề mặn ở quy mô ñáng kể Các muối hòa tan ñược vận chuyển từ nơi cao ñến nơi thấp, từ nơi
ẩm ñến nơi khô hơn, từ ruộng ñược tưới ñến ruộng không ñược tưới,… Muối cũng có thể tích tụ ở những nơi mà việc tiêu nước hạn chế do việc xây dựng ñường sá và các hoạt ñộng khác Sự bốc hơi vùng ñọng nước cũng có thể ñưa lượng muối ñáng kể lên mặt ñất
2.2.1.3 ðặc ñiểm của ñất mặn
Do tác dụng của ion Na+ nên ñất có ñộ trương co lớn khi gặp nước và giảm thể tích mạnh khi khô, làm cho ñất hay nứt nẻ và có thể tạo thành các váng muối màu trắng trên mặt ñất Hiện tượng trương và co mạnh ñó thường ñược giải thích bằng khả năng tán keo của natri
Hàm lượng muối tan trong ñất thay ñổi khá rộng và có xu thế tăng dần theo chiều sâu: Các anion thường thấy trong ñất mặn là Cl-; SO42-; HCO3- và
Trang 18các cation là Na+; Mg2+; Ca2+…Qua nghiên cứu người ta nhận thấy rằng: Nếu ñất chỉ chứa một loại muối tan sẽ ñộc hơn rất nhiều so với ñất có cùng ñộ mặn, nhưng chứa nhiều loại muối tan khác nhau Hiện tượng này ñược giải thích bằng sự ñối kháng ion [15] Khi nồng ñộ muối càng cao thì hàm lượng muối clorua càng nhiều hơn muối sunfat và hàm lượng magiê càng trội hơn so với canxi
ðộ pH là một ñặc tích của ñất mặn thay ñổi tùy theo loại ñất Phản ứng của ñất có liên quan ñến muối NaCl, H2CO3 và Na+ trao ñổi trong ñất pH có thể tăng lên một ít sau khi rửa mặn một thời gian, kèm theo ñó cũng có tăng
H2CO3 Nhiều tác giả cho rằng sự xuất hiện của H2CO3 có liên quan ñến hô hấp của bộ rễ cây (CO2 + H2O = H2CO3 và xuất hiện NaHCO3 là một muối thủy phân kiềm)
Trong ñất, muối rất có ích cho sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng, một số tham gia vào tổng hợp các chất hữu cơ mới, một số khác sử dụng ñể tạo sự bền vững cơ học của các thớ thực vật Kết quả thí nghiệm [4] cho thấy: Nếu hàm lượng Cl- trong ñất từ 0,004 ÷ 0,008 % thì Cl- có tác dụng kích thích sự sinh trưởng và phát dục của cây; cải thiện ñược tính chất của ñất; làm cho ñất có kết cấu
Ngược lại, theo V.A Kovda, P.A Genkel, B.P Xtragonov, X.N Ruidza (1979) [15] nếu hàm lượng muối trong ñất cao hơn giới hạn cho phép
sẽ ảnh hưởng xấu tới cây trồng Khi hàm lượng muối trong ñất tăng cao, áp suất thẩm thấu của dung dịch ñất tăng theo và tỷ lệ thuận với nồng ñộ muối tan Chênh lệch giữa áp suất thẩm thấu của dung dịch ñất và dung dịch tế bào cây ñến một giới hạn nào ñó, cây trồng không thể hút nước và thức ăn trong ñất ñược Theo các kết quả nghiên cứu [15] khi áp suất thẩm thấu của dung dịch ñất từ 10 ÷ 20 atmốtphe, cây trồng không thể sinh trưởng và phát triển ñược; khi vượt quá 40 atmốtphe cây bị chết
Trang 19Mặt khác, một số ion trong dung dịch ñất sau khi thẩm thấu vào tế bào gây tác hại ngay ñến cây trồng; ion Cl- có thể làm cho hàm lượng diệp lục trong lá cây giảm xuống, do ñó giảm số lượng phấn Sau khi nồng ñộ Cl-trong tế bào cây tăng lên ñến một mức ñộ nhất ñịnh, sự hình thành phấn trong thực vật có thể bị gián ñoạn Nếu nhiều Na+ hoặc Cl- sẽ làm cho quá trình dinh dưỡng chất khoáng trong nhiều loại cây bị phá vỡ [4]
ðất mặn của Việt Nam có ñặc ñiểm:
- Tính chất vật lý như ñất phù sa sông, tỷ lệ sét cao, ñất nặng
- ðất giàu muối hòa tan chủ yếu là muối Cl- và SO42- phổ biến nồng ñộ
Cl- cao hơn so SO42-, lượng chất hữu cơ nhiều ở ñất mặn mangrove và giảm dần khi vào sâu ñất liền ñến loại ñất mặn ít chỉ còn 1,5 ÷ 2,5 % Lượng N tổng số từ 0,1 ÷ 0,25 %, P2O5 tổng số từ 0,05 ÷ 0,10 % Tổng số cation trao ñổi 12÷20 lñl/100g ñất và tỷ lệ Ca++/Mg++<1 Ion Na+ trong dung tích hấp thu chỉ chiếm 5÷10 % tổng số Na có trong ñất [29] Vì bản chất là ñất phù sa nên ñất mặn giàu khoáng Vecmiculit và Illit, do ñó ñất có tỷ lệ K2O cao, từ 1,8 ÷ 2,0 %
2.2.1.4 Phân loại về ñất mặn
Trong tầng ñất canh tác có rất nhiều loại muối dễ hòa tan, khi hàm lượng các loại muối ñó vượt quá giới hạn cho phép và bắt ñầu tác hại ñến sự sinh trưởng của cây trồng thì ñất ñó gọi là ñất mặn
Thành phần muối trong ñất khác nhau rất nhiều, nhưng chủ yếu là hợp chất của 3 loại cation: Na+, Ca2+, Mg2+ và 4 loại anion: Cl-, SO42-, CO32-, HCO32- Từ ñó có thể tạo ra 12 loại muối thường gặp trong ñất mặn: Na2CO3, NaHCO3, NaCl, Na2SO4, MgCl2, MgSO4, MgCO3, Mg(HCO3)2, CaSO4, CaCO3, Ca(HCO3)2 Nhìn chung, cation chủ yếu trong ñất là Na+, anion chủ yếu là Cl-, SO42- [4]
Trang 20Căn cứ vào quá trình phát sinh, tính chất, ñặc ñiểm, mối quan hệ với sự sinh trưởng của cây trồng và theo yêu cầu của sử dụng và cải tạo ñất, chia thành hai loại chính (Syabolls, 1974) [42]
a ðất mặn (Salic Fluvisols)
Là ñất chứa muối tan trung tính, có hại ñối với sự sinh trưởng của hầu hết các loại cây trồng Các muối tan chủ yếu là natri clorua và natri sunfat Tuy nhiên, trong ñất mặn cũng chứa canxi và magiê clorua và sunfat
Một số cách phân loại như sau:
- Theo thành phần và tỷ lệ giữa các loại muối: ðất mặn clorua, ñất mặn sunfat, ñất mặn clorua-sunfat, ñất mặn sunfat-clorua…[29], Maxlov B.B… [17]
- Theo mức ñộ mặn: ðất mặn ít, ñất mặn trung bình, ñất mặn nhiều…[29] Maxlov B.B… [17] Sumacov B.B 1990 [17] FAO, 1994 [29]
- Theo nguồn gốc muối: ðất mặn lục ñịa, ñất mặn ven biển…[17]
- Theo nguyên nhân gây mặn: ðất mặn nguyên sinh (ñất mặn do các yếu tố
tự nhiên gây ra: do mẫu thổ nhưỡng chứa nhiều muối, do nước ngầm ở nông…) và ñất mặn thứ sinh (do tác ñộng không hợp lý của con người gây nên: tưới một lượng nước quá lớn làm dâng mực nước ngầm mặn, dùng nước
lợ, nước mặn ñể tưới ruộng…)[15]
- Theo ñộ pHkcl: ðất mặn trung tính, ñất mặn kiềm [17]
b ðất mặn kiềm (Solonets)
Trước ñây gọi là ñất kiềm (Alkali) là ñất chứa các muối natri thủy phân kiềm, chủ yếu là Na2CO3 Hai loại ñất mặn chính này khác nhau chẳng những
về các tính chất hóa học của chúng, mà còn có sự khác nhau ở sự phân bố ñịa
lý và ñịa hóa, cũng như về các tính chất hóa học và sinh học Hai loại ñất này
Trang 21cần có các biện pháp cải tạo khác nhau Trong tự nhiên, các loại muối Natri không xuất hiện tách biệt nhau hoàn toàn, mà trong hầu hết các trường hợp, hoặc các muối trung tính, hoặc các muối thủy phân kiềm ñóng vai trò quyết ñịnh trong quá trình hình thành ñất và xác ñịnh các tính chất của chúng
ðất mặn kiềm thoái hóa: ðược coi là một giai ñoạn phát triển của ñất
do kết quả của sự trôi muối, có xu hướng làm cho vật chất hữu cơ và sét chuyển xuống dưới phẫu diện, làm hình thành một lớp chặt có màu sẫm, mặt trên có ranh giới rõ rệt Loại này có diện tích lớn ở miền Tây Canada (Toogood và Cairns, 1973; Cairns và Bowsa, 1977) [37], ở Australia (Northcote và Skene, 1972) [37] , Mỹ (Rasmussen và cộng sự, 1964) [37] Một số loại ñất mặn nhẹ: Tùy theo thành phần hóa học, ví dụ ñất giàu canxi clorua, hoặc ñất chứa quá nhiều lượng magiê trao ñổi – xolonet magiê
2.2.1.5 Cải tạo ñất mặn
Cải tạo ñất mặn ñể nâng cao ñộ phì nhiêu của loại ñất này là một nhiệm
vụ hết sức quan trọng trong lĩnh vực cải tạo ñất
ðể cải tạo ñất mặn và giảm nồng ñộ muối trong ñất chúng ta ñã áp dụng rất nhiều biện pháp Biện pháp chỉ trồng trên ñất mặn những loại cây chịu mặn, hút mặn, ñòi hỏi phải có thời gian dài hàng chục năm Ở những nơi
có lớp ñất mặt mỏng, muối chỉ phân bố trên mặt ñất, người ta ñã dùng biện pháp cơ giới ñể nạo lớp ñất mặt ñi Biện pháp này cho những kết quả nhất ñịnh, tuy nhiên chỉ có thể áp dụng ñược trên diện tích canh tác nhỏ chứ không thể tiến hành trên diện tích lớn ñược Nếu là loại ñất mặn nhiều, tầng ñất bị nhiễm mặn sâu thì hình thức cải tạo này mang lại hiệu quả thấp và không thể
áp dụng ñược
Biện pháp dùng tia nước ñể rửa mặn mang lại kết quả rất ít, bởi vì dùng biện pháp này phần lớn muối sẽ ngấm xuống ñất, còn tia nước mang theo ñược rất ít
Trang 22Nhiều kết quả nghiên cứu ñã chỉ ra rằng: Biện pháp cải tạo ñất mặn tốt nhất là biện pháp thủy lợi Nội dung chủ yếu của biện pháp thủy lợi cải tạo ñất mặn là sử dụng công trình ñưa nước ngọt ñến những nơi ñất bị nhiễm mặn, hòa tan các loại muối trong tầng ñất ẩm nuôi cây (thường 1,2 m) Sau ñó mang các loại muối hòa tan này tới những nơi quy ñịnh với mục ñích giảm nồng ñộ muối trong ñất xuống tới nồng ñộ nhất ñịnh bảo ñảm sự phát triển bình thường của cây trồng, ñồng thời ngăn ngừa hiện tượng mặn lại ñất
Ở vùng ñất mặn có chỉ số nước ngầm thấp, ñể giảm bớt mức rửa trong năm ñầu có thể rửa với chiều sâu bé hơn (thường khoảng 0,6 m) Thông thường chiều sâu phải lớn hơn 1m, phụ thuộc vào tầng ñất hoạt ñộng của bộ
rễ cây và khả năng mặn lại trong ñất Chiều sâu dự ñịnh rửa phải bảo ñảm cho
rễ cây có thể hút nước và thức ăn bình thường, ñồng thời với chiều sâu nhất ñịnh rửa ñó, ñất không bị mặn lại
Các kênh trên sâu cố ñịnh, ñược tính toán dựa vào các yêu cầu Kênh thường có chiều sâu 2-3 m với khoảng cách 100 ÷ 800 m Các kênh tiêu nông tạm thời bố trí dày, xây dựng trước khi rửa mặn thì sau khi rửa mặn xong lại lấp ñi Chiều sâu kênh tạm thời 0,6 ÷ 1,0 m, với khoảng cách 10 ÷ 70 m
Ở Liên bang Nga, người ta ñã làm thí nghiệm trên ñất mặn nhiều với các kênh tiêu tạm thời có chiều sâu 3,0 ÷ 3,5 m cách nhau khoảng 200 m với mức rửa từ 39.800 ÷ 62.700 m3/ha Trong thời gian 72 ngày ñã làm thoát ñi một lượng muối 7500 tấn/ha và làm nhạt hóa nước ngầm rất nhiều Nước ngầm ñược nhạt hóa trong thời gian này ñã ngấm sâu 100 m và quá trình nhạt theo thời gian càng tăng dần một cách ổn ñịnh, cũng trong khu vực ñó nếu rửa mặn với mức rửa nhỏ và cường ñộ tiêu nước thấp hơn Kết quả cho thấy, ñể làm nhạt hóa tầng nước ngầm khoảng 6m cần khoảng thời gian là 23 năm với tổng mức rửa 100.000-110.000m3/ha [16]
Trang 232.2.1.6 Quản lý và sử dụng ñất mặn
Tại Hội nghị về quản lý ñất mặn vùng Châu Á-Thái Bình Dương tổ chức tại Thái Lan tháng 8-1987, Tiến sĩ R.B Singh ñã nhấn mạnh rằng, ñất mặn cần ñược quản lý và khai thác ñúng ñắn, bởi lẽ diện tích ñất ñai có thể trồng trọt ñược hầu như ñang bị thu hẹp và việc tăng sản lượng trong tương lai chủ yếu dựa vào việc tăng năng suất cây trồng
Công cuộc chinh phục ñất mặn ñể nâng cao năng suất cây trồng từ trước tới nay ñã ñạt ñược một số kết quả nhất ñịnh về cải tạo ñất, chọn tạo giống cây trồng,…
Tuy nhiên, những nghiên cứu về sự thay ñổi tính chất ñất mặn qua quá trình sử dụng, mối quan hệ giữa nước – hàm lượng muối - chất dinh dưỡng trong các vùng ñất ñã ñược khai phá chưa nhiều [45]
Talati ñã tiến hành các thí nghiệm ñồng ruộng về phân bón cho lúa trên ñất mặn vùng Baramati thuộc Bombay (Ấn ðộ) và rút ra kết luận: Trong những năm ñầu mới khai hóa, việc bón lân và kali là không cần thiết, nhưng sau ñó cần phải xem xét lại Việc tăng lượng ñạm lên 20-25 % so với mức bón bình thường ñã làm tăng năng suất lúa Urê ñược xem là dạng ñạm tốt nhất dùng cho ñất mặn [44]
Trong một thí nghiệm về bón phân cho cỏ, Ashok Kumar và Abrol (1979) ñã ghi nhận rằng: Năng suất chất xanh của cỏ Karanal trồng trên ñất mặn tăng rõ rệt khi bón thêm 30 kgN/ha [38]
Những nghiên cứu của J S P Yadav cho thấy ñộ phì nhiêu của ñất mặn thấp do cường ñộ nitrat hóa bị kìm hãm trong ñiều kiện có hàm lượng muối cao và do ñó ở những loại ñất này cây trồng có phản ứng rõ rệt ñối với viêc dùng ñạm Nhìn chung, kali ở ñất mặn là ñủ ñối với nhu cầu của cây trồng trong khi hàm lượng lân rất khác nhau ở các ñiều kiện ñất ñai khác nhau [43]
Trang 24Trong một số nghiên cứu khác về dạng ựạm và liều lượng ựạm bón, J
S P Yadav cũng ựã chỉ ra rằng trên ựất mặn urea ựược xem là nguồn phân ựạm tốt hơn hẳn sunphat amôn và nitơrat amôn Vùng Canning ở Subderbans thuộc phắa Tây Bengal, năng suất lúa ựạt cao nhất trên ựất mặn khi bón urea với lượng 100 kgN/ha vào hai thời kỳ: Thời kỳ ựẻ nhánh bón 75 % và thời kỳ làm ựòng bón 25 % tổng lượng N [43]
Trong thời gian qua FAO ựã tiến hành thiết lập mạng lưới nghiên cứu ựất mặn ở 22 quốc gia trên thế giới Các thắ nghiệm và mô hình trình diễn ựã ựược tổ chức tại các khu vực sau: (1) Châu Phi (Ghana, Kenya, Nigeria và Tanzania); (2) Châu Á Thái Bình Dương (Bangladesh, Trung Quốc, Indonesia, Pakistan, Philippines, Thailand và Việt Nam); (3) Châu Âu (Hungary, Romania và Thổ Nhĩ Kỳ); (4) Châu Mỹ La Tinh và Caribbean (Argentina, Brazil, Cuba và Mexico); (5) Vùng Cận đông (Egypt, Iran, Syria
và Tunisia) (FAO 2000) Nghiên cứu thử nghiệm cải tạo ựất mặn kiềm ở Yucheng, Shandong, Trung Quốc (Xu Yuexian và Zhang Xingquan, 1979) qua nhiều năm sử dụng và cải tạo ghi nhận rằng diện tắch ựất mặn ựã biến ựổi rất rõ ràng tùy thuộc vào các biện pháp canh tác khác nhau Khu vực thắ nghiệm ựược hình thành năm 1966 với 9.270 ha ựất canh tác, trong ựó có 7.300 ha là ựất mặn Qua một số năm cải tạo diện tắch ựất mặn ựã giảm ựáng
kể nhưng trong một thời gian dài không quan tâm thắch ựáng, diện tắch ựất mặn ở ựây lại mở rộng tới 7.000 ha vào năm 1974 Từ năm 1975 trở ựi, nhờ
áp dụng các chế ựộ tưới tiêu thắch hợp, cải thiện ựặc tắnh ựất bằng cây trồng
và phân bón, tới năm 1970 diện tắch ựất mặn ở ựây chỉ còn lại 2.100 ha
Phát hiện và theo dõi ựất mặn bằng ảnh vệ tinh Landsat ựang ựược nghiên cứu ở Siwa Oasis, Egypt (Madani 2005) Nghiên cứu ựã sử dụng ảnh
vệ tinh Landsat chụp năm 1987 và 1999 ựể khoanh vùng và quản lý ựất mặn ở Siwa Oasis, Western Desert, Egypt Các tác giả ựã xây dựng chỉ số nhiễm
Trang 25mặn (SI) trên các ảnh vệ tinh ñược chụp ở hai thời ñiểm khác nhau và nhận thấy rằng ñất mặn ñã tăng lên gấp ñôi qua 12 năm Nghiên cứu cũng ñã xây dựng ñược một mô hình nhận dạng ñất mặn dựa trên các phép tính toán trên ảnh viễn thám Sử dụng ảnh viễn thám ñể ñánh giá ñất có vấn ñề trong ñó có ñất mặn cũng ñã ñược nghiên cứu ở Inner Mongolia, Trung Quốc (Takashi Kume, Kiyoshi Torii và Toru Mitsuno 2005)
Bên cạnh các nghiên cứu tìm hiểu diễn biến ñất mặn theo thời gian, nhiều nghiên cứu sử dụng và cải tạo ñất mặn cũng ñã ñược triển khai Ở Trung Quốc, Viện Khoa học ðất ñang bắt ñầu nghiên cứu về ảnh hưởng của ñất mặn ñối với cỏ Vetiver, và hiệu quả của việc sử dụng cỏ Vetiver trong việc cải tạo ñất ở Rudong - Jiangsu
(Mạng lưới nghiên cứu cỏ Vetiver- http://www.vetiver.com)
Ở Pakistan, người dân ñã có truyền thống cải tạo ñất mặn bằng cách sử dụng nước ngọt ñể rửa mặn nhưng phương pháp này ñã tiêu thụ một lượng lớn nước có chất lượng tốt mà có thể ñược dùng làm nước tưới Do sự khan hiếm nước ngọt, việc cải thiện hiệu quả rửa mặn ñã ñược tiến hành nghiên cứu (Altaf Ali Siyal 2005) Tác giả ñã tìm ra một phương pháp rửa mặn rất hiệu quả gọi là “Start-Stop” mà có thể tiết kiệm ñược tới 90 % lượng nước sử dụng
(http://www.silsoe.cranfield.ac.uk/)
Ở Thái Lan, Phòng Thí nghiệm Công nghệ Tế bào Thực vật thuộc Trung tâm Công nghệ Gien Quốc gia ở Bangkok sau khi nghiên cứu "Ngân hàng gien lúa" của Thái Lan ñã tìm ra phát hiện một số giống lúa có sức chịu mặn cao và ñang nghiên cứu phát triển giống lúa này ðây là những cây lúa giống
có thể chịu ñược nước chứa 2 – 3 % NaCl hoặc muối tan khác, môi trường này gần giống với môi trường nước biển (Báo Quốc tế ñiện tử 2001)
Trang 262.2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ñất mặn trong nước
Ở nước ta, việc nghiên cứu ñất mặn nói chung còn ít, chỉ từ sau năm
1958 trở ñi V.M Fridland, H Pagel cùng với các nhà thổ nhưỡng Việt Nam mới bắt ñầu nghiên cứu ñất mặn và ñề cập ñến những biện pháp cải tạo loại ñất này [23]
Theo Vũ Cao Thái (1999) [25] : Nước ta không có ñất mặn lục ñịa mà chỉ có ñất mặn ven biển, ñược phân chia theo ñộ mặn xác ñịnh trong lớp ñất
mặt 0-40 cm vào thời gian mùa khô
Các loại ñất mặn: ðất mặn ven biển của Việt Nam ñược phân chia theo
ñộ mặn xác ñịnh trong lớp ñất mặt 0 ÷ 40 cm vào thời gian mùa khô:
- ðất mặn sú vẹt (mangrove) ngập triều mặn ;
- ðất mặn nhiều với tổng muối tan hơn 1 % và Cl- hơn 0,25 % ;
- ðất mặn trung bình với tổng muối tan từ 0,5 ÷ 1 % và Cl- từ 0,15 ÷ 0,25 % ;
- ðất mặn ít với tổng muối tan từ 0,15 ÷ 0,5 % và Cl- từ 0,05 ÷ 0,15 % ;
- ðất rất ít mặn và không mặn với tổng muối tan < 0,15 % và Cl- < 0,05
%
2.2.2.1 Phân loại ñất mặn
ðất nhiễm mặn là loại ñất khá phổ biến ở các vùng ñất bằng phẳng ven biển nước ta, ñặc biệt là ở ðBSH và ðBSCL Quá trình mặn hóa có quan hệ chặt chẽ với vị trí ñịa lý, ñịa hình, sự hình thành và mức ñộ mặn, tác ñộng của dòng chảy và sự xâm lấn của nước biển và các hoạt ñộng sản xuất của con người Ở Việt Nam, ñất mặn ñược hình thành chủ yếu do bị nhiễm nước mặn bởi thủy triều hoặc do nước mặn từ các dòng chảy ngầm di chuyển lên bề mặt
Trang 27ñất Một nguyên nhân khác của sự mặn hóa là sự sử dụng nước mặn từ các kênh tiêu dẫn vào ñồng ruộng khi thiếu nước ngọt Ở một số vùng có các dòng suối nước mặn ngầm rất gần với mặt ñất, sự tăng cường bốc hơi trong canh tác cây trồng cạn cũng là nguyên nhân kéo nước mặn lên làm nhiễm mặn tầng ñất mặt.
Nhóm ñất mặn ở Việt Nam có khoảng gần 1 triệu ha, chiếm 3 % tổng diện tích tự nhiên của cả nước và là một trong 5 nhóm ñất có diện tích lớn trong tổng số 13 nhóm ñất chính Phân bố dọc trên 3000 km bờ biển từ Bắc chí Nam tập trung chủ yếu ở các khu vực ðBSH và ðBSCL
Ngoài ra còn có một ít ñất mặn nội ñịa phân bố ở Ninh Thuận và Bình Thuận, gọi là ñất mặn kiềm
Theo Viện Thổ nhưỡng Nông hóa (2001): Nhóm ñất mặn của Việt Nam ñược chia ra các loại sau:
- ðất mặn sú, vẹt, ñước;
- ðất mặn nhiều;
- ðất mặn trung bình và ít; và
- ðất mặn kiềm
ðất mặn sú, vẹt, ñước (Mangrove): Có khoảng 180 nghìn ha, tập trung
ở ven biển nhưng diện tích lớn nhất là ven biển Nam Bộ (Cà Mau, Bến Tre…) Thành phần của những quần hợp trong rừng ñước, vẹt phụ thuộc vào
ñộ ñầy, ñộ chặt của ñất, ñộ mặn và chu kỳ ngập của nước mặn ðất mặn sú, vẹt, ñước thường ở dạng bùn lỏng, lầy, rất mặn, pH trung tính, nhiều mùn là
do lá, rễ ñước phân hủy ra
ðất mặn nhiều: Có khoảng gần 300 nghìn ha, tập trung ven biển ñồng bằng Bắc Bộ như: Thái Bình, Nam ðịnh, Ninh Bình…và ñồng bằng Nam Bộ: Tiền Giang, Trà Vinh, Bạc Liêu…Nguyên nhân mặn là do muối biển với
Trang 28lượng tổng số muối tan > 0,5 %; lượng Cl- cũng ñạt 0,2 ÷ 0,3 % Muối biển chủ yếu là NaCl theo nước thủy triều hoặc theo nước sông tràn vào ñất, hoặc theo mạch nước ngầm mà bốc mặn lên vào mùa khô ðộ dẫn ñiện thường > 4 dS/m ở 25 0C ðộ no Bazơ thường cao ðộ pH thường trung tính Hàm lượng mùn không cao vì mùn thường ở dạng Na humat dễ tan và trôi mất Về mặt lý tính, ñất mặn nhiều thường không có kết cấu, rất dẻo, dính khi có nước, khi khô thì co lại nứt nẻ…
ðất mặn trung bình và ít: Có diện tích khoảng 700 nghìn ha, tập trung chủ yếu ở ven biển, ở những nơi có ñất mặn nhiều nhưng nằm sâu hơn vào phía ñất liền ðặc ñiểm cơ bản của loại ñất này là ít mặn hơn
ðất mặn kiềm: Chỉ có ở một số vùng thuộc tỉnh Ninh Thuận, Bình
Thuận với diện tích nhỏ Nhân dân ñịa phương gọi là ñất Cà giang Có hai loại: (i) Cà giang muối: Làm thành những ñốm trắng xóa, nổi lên trên ñất khi trời khô nắng thành các váng nên ñồng bào ñịa phương còn gọi là vùng ñất
“cát lồi” Cà giang muối chứa nhiều Na2CO3 (ii) Cà giang dầu: ðen hơn vì chứa nhiều chất hữu cơ
Trang 29quản lý hệ thống công trình kiểm soát lũ vùng Tứ giác Long Xuyên nhằm nâng cao hiệu quả thoát lũ và chủ ñộng phân phối nước ngọt, kiểm soát xâm nhập mặn” (Nguyễn Ân Niên 2004); “Nghiên cứu xâm nhập mặn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ven biển ðBSCL” Lê Sâm 2004); “Nghiên cứu giải pháp KHCN ñánh giá và quản lý nguồn nước hệ thống thủy lợi ðBSCL
có cống ngăn mặn và ñề xuất giải pháp khắc phục” (Tăng ðức Thắng 2005);
“Nghiên cứu thiết kế, chế tạo ñập ngăn mặn di ñộng phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng ven biển ðBSCL” do Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam chủ trì
Dự án “Xây dựng mô hình toán thủy lợi và xâm nhập mặn cho mạng lưới sông kênh rạch và các khu vực ven biển ñồng bằng sông Cửu Long” do Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam thực hiện từ 2004 ñến 2005 ñã xây dựng ñược một cơ sở dữ liệu và bản ñồ về tài nguyên khí hậu, ñất, nước và hệ thống kênh rạch của khu vực
Từ năm 2000 ñến 2002, các công trình kiểm soát và thoát lũ ở vùng Tứ giác Long Xuyên ñã ñem lại hiệu quả ñáng kể Về mùa khô, hệ thống kênh thoát lũ ñã ñưa ñược nước ngọt từ sông Hậu về các vùng hoang hóa, chua phèn, mặn ven biển Nhờ vậy, ñã khai hoang và ñưa thêm 30 nghìn ha vào sản xuất nông nghiệp, 200 nghìn ha có nguồn nước ngọt, 150 nghìn ha ñất phèn ñược cải tạo
Ở vùng ñất mặn Gò Công (Tiền Giang) có hàng trăm ngàn ha gieo trồng
và một phần khá lớn ñất canh tác chuyển sang lập vườn hoặc các cây trồng khác và ñã có dự án thủy lợi phát huy hiệu quả bậc nhất tại ñồng bằng sông Cửu Long hiện nay Ngay sau năm 1975, Tiền Giang ñã thực hiện dự án ngọt hóa Gò Công và ñã giải quyết triệt ñể vấn ñề ngăn mặn, tạo nguồn nước ngọt tưới tiêu phục vụ sản xuất, giúp nông dân chuyển toàn bộ diện tích ñất canh
Trang 30tác lên hai, ba vụ mỗi năm, chuyển ựổi cơ cấu và giống cây trồng rất hiệu quả (Sở Khoa học và Công nghệ Tiền Giang, 2004)
Đất mặn là một trong những loại ựất có vấn ựề ở Việt Nam muốn sử dụng ựất có hiệu quả cao người ta phải tiến hành cải tạo ựất Mục ựắch cải tạo ựất mặn nhằm:
+ Giảm tổng số muối tan ựến mức bình thường cho cây trồng
+ Tăng cường hàm lượng các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng + Từng bước cải thiện tắnh chất vật lý của ựất
Để thực hiện các mục ựắch trên cần phải áp dụng các biện pháp tổng hợp như thủy lợi, canh tác, phân bón trong ựó thủy lợi ựược coi là biện pháp quan trọng hàng ựầu
a) Biện pháp thủy lợi:
Các công trình nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Khoa học Thủy lợi (VNCKHTL): Lại Ngọc điếm, 1978 [6], Lại Ngọc điếm, 1965 [7]; đào Khương, Phạm Trường Thọ, 1970 [10] Nguyễn Thế Lữ, 1970 [12]; Dương Liên Mạch, 1970 [18], [33], [34], [35]Ầựã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của chiều sâu và khoảng cách các kênh trên ựối với ựộng thái muối trong ựất tương ứng với hai cấp chiều sâu kênh 0,6 ọ 0,7 m và 1,2 ọ 1,3 m và 5 khoảng cách kênh: 50 m; 100 m; 150 m; 200 m; 300 m theo các phương pháp:
- Thắ nghiệm trên ruộng: trên ruộng thắ nghiệm của Trạm Nghiên cứu Cải tạo ựất mặn Rạng đông (Nam định) và Hải Phòng, ựồng thời theo dõi diện rộng trên các hợp tác xã
- điều tra tổng kết thực tiễn ở Hải Phòng, Thái Bình và Nam định Viện NCKHTL [33], [34], [35] nghiên cứu thực nghiệm cải tạo ựất mặn
ở Trạm thực nghiệm Cải tạo ựất mặn ở Hải Phòng và Rạng đông (Nam
Trang 31định): đã ựánh giá ựược ảnh hưởng của mỗi phương pháp rửa ựối với ựộng thái muối trong ựất như sau:
- Rửa mặt (rửa mặt là hình thức thoát muối theo các lớp nước trên mặt ruộng và sau ựó tháo ựi, muối sẽ theo nước mà thoát ựi) chỉ có tác dụng với lớp ựất mặt 0 ọ 20 cm, còn các lớp ựất mặn bên dưới không có tác dụng
- Rửa thấm (rửa thấm là hình thức thoát muối theo dòng thấm từ ruộng xuống kênh và xuống nước ngầm): Do tác ựộng của áp suất thủy tĩnh nước chứa muối sẽ thấm dần xuống sâu theo các mạch nước ngầm thoát ra mương tiêu Hình thức này rửa ựược mặn sâu cả ở các tầng ựất bên dưới Tuy nhiên, rửa thấm ựòi hỏi thời gian và lượng nước nhiều Phương pháp này có tác dụng tốt cả tầng mặt lẫn các tầng phắa dưới, tỷ lệ thoát muối khá ựồng ựều
- Rửa kết hợp: là hình thức kết hợp 2 phương pháp rửa trên mặt và rửa thấm trong khoảng thời gian ngắn Tuy nhiên, phương pháp này ựòi hỏi lượng nước lớn, ựầu tư chi phắ caoẦ
Muốn cải tạo cơ bản ựất mặn, nhất thiết phải áp dụng biện pháp rửa thấm là tốt nhất
Tuy nhiên, với lượng mưa hàng năm cao, mạng lưới sông ngòi, mương máng thủy lợi, phương pháp dùng thủy lợi cải tạo ựất mặn ựược áp dụng rộng rãi, ựạt kết quả tốt Nhưng khi rửa các gốc muối Cl-, SO4 , tổng số muối tan giảm xuống thì ựồng thời các chỉ tiêu dinh dưỡng chắnh như: mùn, ựạm, lân, kali, canxi, magiê,Ầcũng bị rửa trôi đây là vấn ựề tồn tại cần ựược giải quyết [23]
b) Biện pháp phân bón:
- Phân hữu cơ có tác dụng rất tốt ựối với ựất mặn ngoài giá trị cung cấp dinh dưỡng, phân hữu cơ dần dần cải thiện kết cấu ựất Một số loại cây phân xanh phát triển tốt trên ựất mặn như bèo dâu, ựiền thanh hạt tròn nên phát triển những cây này ở những vùng ựất mặn
Trang 32- Đối với phân khoáng nên tăng cường ựầu tư N, P, K cho phù hợp với từng loại cây trồng, trong ựó chú ý quan tâm ựến phân lân, yếu tố dinh dưỡng hạn chế ựối với cây trồng ở ựây
c) Biện pháp canh tác:
Cần xây dựng chế ựộ canh tác hợp lý cho vùng ựất mặn Đối với ựất mặn nhiều tốt nhất là ựưa vào trồng các cây có khả năng chịu mặn như cói, phân xanh trong một số năm ựể cải tạo ựộ mặn rồi sau ựó mới trồng lúa hay các loại hoa màu khác Những nơi ựất mặn ắt cần ựưa vào các công thức luân canh hợp lý giữa các cây trồng ựể hạn chế quá trình tắch lũy hay bốc mặn trong ựất Nên thường xuyên duy trì lớp nước trên mặt ruộng Đối với vùng ựất ựã ựược cải tạo cũng không ựược ựể ựất bị hạn, ở những vùng không thuận lợi trong việc tưới do thiếu nước ngọt rửa mặn thì tuyệt nhiên cũng không nên làm ải
2.2.2.3 Quản lý và sử dụng ựất mặn
Quan sát sự thay ựổi diện tắch của ựất mặn từ năm 1980 ựến 1999 cho thấy, diện tắch ựất mặn toàn quốc ựã giảm xuống từ 991.202 ha (năm 1980) còn 959.700 ha (năm 1999) Trải qua 20 năm, diện tắch ựất mặn ựã giảm 31.502 ha, tương ứng với 3,2 % diện tắch ựất mặn ở năm 1980 Hiện tượng giảm diện tắch ựất mặn chủ yếu xảy ra ở các vùng đông Nam Bộ, Nam Trung
Bộ, Bắc Trung Bộ và hiện tượng tăng diện tắch xảy ra ở đBSCL, vùng ven biển Bắc Bộ và ựồng bằng sông Hồng (Cục Môi trường, 2001)
Theo Nguyễn Văn Nhân, 2005 [21]: Diện tắch ựất mặn ở đBSCL năm
2005 so với năm 1977 ở tất cả các tỉnh ven biển có xu hướng thu hẹp lại do: chỉnh lý và phân loại lại ựể tách các dạng ựất mặn có chứa vật liệu sinh phèn
Trang 33khỏi nhóm ựất mặn (vắ dụ ở loại ựất mặn sú, vẹt, ựước trước ựây) nhiều khu vực nhiễm mặn trước ựây ựã ựược ngăn mặn và cải tạo (thắ dụ ở loại ựất mặn nhiều) Tuy nhiên, kết quả chỉnh lý bản ựồ ựất trong phạm vi mỗi tỉnh, ở biến ựộng nói trên có thể khác nhau, trong khi quy mô ựất mặn ở tỉnh Bến Tre bị thu hẹp lại theo xu hướng chung, diện tắch ựất mặn ở tỉnh Kiên Giang lại tăng lên do ựã chuyển một phần diện tắch ựất mặn chua hoặc chua mặn trước ựây (phân loại năm 1977-1978) sang nhóm ựất mặn vì không có vật liệu sinh phèn
Qua các năm 2003-2004, tài nguyên ựất của các tỉnh vùng đBSCL ựã ựược ựiều tra bổ sung và chỉnh lý ở tỷ lệ bản ựồ 1/50.000 và 1/100.000 Kết quả ựiều tra ựã xác ựịnh ựược 9 nhóm ựất chắnh và 29 loại ựất Trong ựó ựất mặn có diện tắch 667.695 ha (16,93 %) phân bố ở 9 tỉnh ven biển đông và vịnh Thái Lan, tập trung nhất ở các tỉnh ven biển đông như: Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre
Thực tiễn sử dụng ựất cho thấy, qua nhiều thập niên, ựặc ựiểm ựất ựai ở đBSCL ựã thay ựổi nhanh chóng dưới tác ựộng của nhiều chương trình khai hoang - cải tạo ựất ựể ngăn mặn - rửa phèn và mở rộng diện tắch canh tác lúa,Ầ ựã làm thay ựổi rõ rệt ựặc ựiểm, ranh giới và quy mô phân bố của nhiều loại ựất
Theo Nguyễn đăng Nghĩa, 2005 [20]: đất mặn ở đBSCL thường có thành phần cơ giới nặng, hàm lượng sét 50 ọ 60 % Vùng ựất mặn thuộc các tỉnh Bến Tre, Cà Mau, Bạc Liêu, các tầng dưới sâu của phẫu diện ựất có thành phần cơ giới nhẹ hơn (sét 35 ọ 48 %) Về mùa khô, ở tầng ựất mặt ựất mặn nhiều có thể ựạt tới Cl- 0,5 ọ 0,7 % và EC: 10 ọ 12 mS/cm Mùa mưa các trị
số này giảm nhanh, Cl- 0,15% và EC: 2 ọ 3 mS/cm, nên có thể trồng lúa ựược Hình thái và ựặc ựiểm lý, hóa học của các loại ựất mặn ở đBSCL có những ựặc ựiểm cơ bản sau :
Trang 34- ðấi mặn sú, vẹt, ñước: ðặc trưng hình thái của các loại ñất này là các
tầng B chưa hình thành rõ, tầng A rất dầy là lớp bùn nhão lẫn nhiều xác lá cây
và vỏ sò hến ðất có thành phần cơ giới là sét pha cát ở tầng mặt, ở sâu hơn 100cm dễ gặp lớp cát xám xanh, mịn lẫn vẩy mica là nguồn gốc của bãi thủy triều cổ Tính chất hóa học nổi bật của loại ñất này là nồng ñộ muối rất cao,
pH (H2O) > 7,0 và Cl- hòa tan 0,65 ÷ 0,79 %, ñộ dẫn ñiện EC ñạt 11÷12 mS/cm Những ñặc tính hóa học trên không cho phép thực hiện các sản xuất nông nghiệp trên loại ñất này
- ðất mặn nhiều (ñất nhiễm mặn nặng vào mùa khô) Xuất hiện ở các
vành ñai ven biển có ñộ mặn 5 ÷ 10 g/l trong các tháng mùa khô, thường tập trung ở khu vực trũng thấp ven sông hay cửa sông, dễ bị ngập hoàn toàn khi
có ñợt triều cường Hình thái phẫu diện loại ñất mặn nhiều có ñặc trưng khác biệt so với các loại ñất khác là: (1) các tầng ñất sâu hơn 50 cm thường có quá trình glây hóa mạnh và có màu xám xanh ñặc trưng hơi phớt tím khi khô, (2)
bề mặt ñất khi khô thường hay có lớp bột muối Na phá hủy các cấu trúc sét thành lớp bột mịn, (3) ñất lầy dính khi bị ẩm ướt và nhanh chóng bị nứt nẻ khi khô ráo Các kết quả phân tích hóa học ñất cho thấy ñất thường có pH từ trung tính ñến kiềm (pH = 6,7 ÷ 7,3) do ảnh hưởng của nước ngầm mặn Hàm lượng hữu cơ cao (2,12 ÷ 4,90 %) Hàm lượng các chất dinh dưỡng cao (N = 0,11 ÷ 0,21 %, P2O5 tổng số = 0,03 ÷ 0,08 %)
- ðất mặn ít và trung bình (dạng bị nhiễm mặn nhẹ vào mùa khô):
Nằm trong vành ñai bị nhiễm mặn 4 ÷ 5 g/l một số tháng trong mùa khô (tháng 3÷5) Nhìn chung, một số tính chất lý, hóa học chính của loại ñất mặn
ít và trung bình cũng tương tự như các loại ñất không nhiễm mặn Tuy nhiên, trong mùa khô ñất trở nên trung tính hay kiềm, pH = 5,3 ÷ 6,8 trên tầng ñất mặt Hàm lượng Cl- trong các tầng ñất tăng cao: 0,09 ÷ 0,14 % tầng ñất mặt
và 0,12 ÷ 0,19 % các tầng ñất sâu Do bị nhiễm mặn ngắn, khả năng rửa mặn
Trang 35trong ñất vào ñầu mùa mưa rất nhanh, các loại ñất này có khả năng canh tác dài vào mùa mưa
Nghiên cứu về bón phân cân ñối cho lúa trên ñất mặn ở ðBSCL:
- ðất mặn nhiều: tiểu vùng này phân bố chủ yếu ở Cần Thơ, Trà Vinh,
Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Bến Tre, Tiền Giang và Long An Hiện nay trong sản xuất trung bình cho một ha lúa hè thu, nông dân thường bón 100÷80 kgN, 30÷20 kgP2O5 và rất ít K2O ðối với lúa mùa, hầu hết nông dân chỉ bón ñạm là chính với mức trung bình 50 kgN/ha Mức phân bón ñề xuất có hiệu quả cao: Lúa hè thu (80÷100)N + (40÷60)P2O5 + 30K2O; lúa mùa (40÷70)N + (20÷40)P2O5 + 0K2O Với mức bón này, năng suất lúa hè thu có thể ñạt trên 4,0 tấn/ha và lúa mùa có thể ñạt trên 3,0 tấn/ha
- ðất mặn trung bình và ít : Lúa ñông xuân (110÷130)N + (20÷40)
P2O5 + (30÷60)K2O; lúa hè thu (90÷110)N + (30÷60)P2O5 + 30 K2O
Cùng với việc nghiên cứu về bón phân cân ñối cho lúa trên ñất mặn, trong thời gian qua, công tác nghiên cứu về hệ thống canh tác trên ñất mặn cũng ñược chú trọng Theo Vũ Cao Thái, 1999 [25]: Với phương châm lợi dụng thiên nhiên là chính, các biện pháp canh tác sử dụng ñất mặn ñã ñược hình thành từ lâu ñời
- Lúa triều – nuôi tôm: ở vùng ñất mặn xa nguồn nước ngọt, người ta ñắp ñê bao nhỏ cho mỗi ô từ 2,0 ñến 4,0 ha, có cống ñiều tiết nước ra vào (ñường kính 0,7÷1,4 m) Với giống lúa chịu mặn trồng trong vụ mưa, năng suất ñạt 2,5÷3,0 tấn/ha (giống IR 42) và tôm ñược nuôi 2 vụ trong mùa khô với nước mặn ñạt năng suất 350÷400 kg/ha
- Lúa một vụ mùa mưa: ở vùng ñất mặn xa nước ngọt và xa cả nước mặn, thường chỉ lợi dụng nước mưa trồng một vụ lúa mùa Mùa khô ñất nứt
nẻ, nước mặn bốc lên mặt kết tinh thành hoa muối ðộ mặn Cl- ñầu vụ cao (0,3 %) giảm xuống còn 0,08 % và cuối vụ SO42- cũng giảm tương ứng từ
Trang 360,15 xuống 0,10 % Năng suất lúa ñạt từ 3,0÷3,5 tấn/ha ðây là phương thức trồng lúa cổ truyền
- Lúa 2 vụ trong mùa mưa: Với vụ mưa kéo dài 150÷190 ngày hai vụ lúa ngắn ngày ñã ñược bố trí thực hiện cùng với kỹ thuật gieo khô ðây là thành tựu mới trong công cuộc phát triển tăng vụ ở ðBSCL Sau vụ mùa năm trước ñất ñược cày bừa ñứt mao quản, muối mặn bốc lên chỉ nằm ở lớp ñế cày Khi mùa mưa sắp ñến, trên ñất ñã có nước, ñộ làm ñất vừa phải (cục ñất
có ñường kính từ 3÷5 cm) và ñược chia thành luống bằng các rãnh nông 20x20 cm, người ta gieo hạt giống không nảy mầm Khi mưa xuống, hoa muối hòa tan ñược rửa ñi theo các rãnh và hạt thóc có nước thì nảy mầm
Vụ thứ 2 kế tiếp vào giữa vụ mưa và thu hoạch vào ñầu vụ khô trên ñất mặn ít với giống lúa ngắn ngày ñã tăng thêm 1 vụ lúa hàng năm
Theo Nguyễn Văn Luật, 2003 [13]: Trên ñất mặn trung bình và ít, trồng lúa mùa giống ñịa phương cũng có thể ñạt 3,0÷4,0 tấn/ha với ñiều kiện thủy lợi ñược cải thiện nhiều như hiện nay; nhiều nơi trồng những giống lúa mới thích hợp cũng có thể ñạt 5,0÷7,0 tấn/ha, như giống OM 1490; OMCS 21; OM 576 và cả IR 64… Sản xuất lúa ở vùng này có ưu việt hơn những vùng khác là giữ ñược phẩm chất gạo ngon của những giống lúa thơm, như: Nàng thơm; Khaodokmali 105; OMCS 21…Tuy nhiên, ở những nơi trồng lúa hiệu quả thấp ñã chuyển sang nuôi trồng thủy sản có lợi hơn, hoặc luân canh một vụ lúa mùa mưa, một vụ tôm ñông xuân
Quai ñê lấn biển ngăn mặn toàn phần:
Phương thức này thường gặp ở ðBSH, nơi có mật ñộ dân cư ñông, thiên tai bão lụt nhiều, những con ñê nhỏ không chống chọi ñược với sóng gió mỗi mùa bão lụt, bắt buộc con người khi muốn khai thác vùng ñất ven biển này phải xây dựng các con ñê lớn và dài, mặt ñê rộng trên 10 m bao quanh
Trang 37hàng chục ngàn ha Song song với ñê là dòng mương lớn tương ứng, ngăn chặn mặn xâm nhập vào ñồng ruộng nội ñê Ở vùng ñất mới này, trồng cây chịu mặn cao (ở thời gian ñầu) như cói, rồi mới ñến lúa (giống chịu mặn) sau
ñó là các giống năng suất cao hơn, chịu mặn kém hơn Từ một vụ lúa mùa mưa, nếu có nước ngọt tưới trong vụ khô thì hình thành hệ canh tác 2 vụ lúa ðất trong nội ñê thường lầy, khó sử dụng máy Bón phân hữu cơ, rơm rạ, trấu, silic hòa tan có hiệu quả tăng năng suất rõ Lúa thường ñạt năng suất 5,0÷7,0 tấn/ha/năm [25]
Trong ñất mặn hướng sử dụng ñất mặn phụ thuộc vào từng loại ñất,
nhiều công trình nghiên cứu ñã ñưa ra kết luận như sau:
ðất mặn sú, vẹt, ñước: ñược sử dụng nuôi trồng thủy sản, trồng rừng chắn gió, chắn sóng, cung cấp củi, gỗ Rừng ngập mặn còn góp phần cố ñịnh ñất bồi tụ Quá trình lắng ñọng phù sa sẽ làm cho ñất cao dần lên, chặt và ổn ñịnh, sau ñó sẽ thoát khỏi ảnh hưởng trực tiếp của thủy triều, ñất sẽ giảm mặn dần và người ta có thể quai ñê, lấn biển, rửa mặn ñể sử dụng vào mục ñích trồng trọt các loại cây trồng nông nghiệp
ðất mặn nhiều: Có thể trồng một vụ lúa vào mùa mưa ñể giải quyết một ít lương thực nhưng hiệu quả thấp hoặc trồng cói, dừa…
ðất mặn trung bình và ít: Về cơ bản ñã ñược cải tạo và phần nhiều nằm trong vùng có ñiều kiện tưới tiêu khá thuận lợi, chủ yếu ñược sử dụng ñể trồng 2 vụ lúa nhằm giải quyết vấn ñề lương thực, ñặc biệt trồng các giống lúa ñặc sản, chất lượng cao
ðất mặn kiềm: Ở Việt Nam diện tích ñất mặn kiềm có diện tích rất ít khoảng 200 ha, không có ý nghĩa nhiều trong quá trình sử dụng Nhưng ñơn
vị ñất này có ý nghĩa rất quan trọng trong nghiên cứu khoa học
Song song với cải tạo và sử dụng ñất mặn, các nhà khoa học cũng có những nghiên cứu về ảnh hưởng của ñộ mặn ñến cây trồng Theo nhận ñịnh
Trang 38của Nguyễn Vi và Trần Khải, 1978 [29] thì sự chịu mặn của cây trồng phụ thuộc nhiều vào mơi trường đất như: ðộ ẩm đất, độ phì,… ðất cĩ độ phì nhiêu cao khi giới hạn độ mặn của đất là 0,61÷ 0,66 % Các tác giả cũng cho rằng thành phần muối trong đất mặn chủ yếu là NaCl, Na2SO4,NaHCO3 và mức độ gây hại của các dạng muối này đối với cây trồng cũng khác nhau, độc nhất là muối Cl-
Cùng với những nghiên cứu về ảnh hưởng của độ mặn đến sinh trưởng, phát triển và năng suất cây trồng, các nghiên cứu về tính chống chịu mặn cũng được tiến hành Bộ mơn Di truyền học, Viện Khoa học Kỹ thuật Nơng nghiệp Việt Nam, 1983 [1] đã nghiên cứu khả năng chịu phèn mặn của tập đồn gồm 245 giống lúa khác nhau, phần lớn là các giống địa phương Từ tập đồn giống trên đã chọn ra một số giống cĩ nhiều triển vọng trên đất phèn, mặn như: IR 2151-96-1-5-3, IR 2153-26-3-5-6,…
Viện Cây lương thực và Thực phẩm, Viện Di truyền Nơng nghiệp cũng
đã tiến hành chọn tạo giống lúa chịu mặn Viện Di truyền Nơng nghiệp đã chọn tạo giống CM1 chịu mặn ở mức Cl- ≈ 0,4 % vẫn cho năng suất 4,0 tấn/ha, trong khi các giống địa phương chịu mặn lâu đời như: Cườm, Chiêm bầu chỉ đạt 1,8÷2,0 tấn/ha [36]
Bên cạnh đĩ cũng cĩ nhiều nghiên cứu đi sâu tìm hiểu bản chất chống chịu mặn của cây trồng làm cơ sở cho việc chọn tạo giống Theo kết luận của Nguyễn Quang Thạch, Phạm Văn Sinh (1981) thì điều kiện mặn NaCl ảnh hưởng âm tính đến sự phát triển của rễ lúa và tỷ lệ nảy mầm của hạt lúa, sức chống chịu phụ thuộc vào nguồn gốc và đặc điểm từng giống [24]
Nhìn chung, những thành quả đạt được trong cơng tác cải tạo đất, chọn tạo giống cây trồng, chịu mặn….là rất đáng trân trọng, đã gĩp phần nâng cao năng suất cây trồng trên đất mặn một cách đáng kể Tuy nhiên, nghiên cứu về
sự thay đổi tính chất của đất mặn qua quá trình sử dụng chưa nhiều
Trang 39Kết quả nghiên cứu trong nhiều năm của Lê Văn Căn về hiệu lực phân hóa học trong ñiều kiện nhiệt ñới ẩm Việt Nam cho thấy: Trên ñất phù sa chua mặn ven biển bón ñạm Clorua cho hiệu suất cao nhất 11,7 kg thóc/1kg
N, tiếp ñến là ñạm sunphát cho 9,4 kg thóc/1 kg N [5]
Nguyễn Trọng Nhưỡng, Võ Minh Kha (1996) khi nghiên cứu hiệu lực bón kali cho lúa trên ñất phèn ñã cải tạo (Vĩnh Bảo, Hải Phòng) cho nhận xét: Phân kali làm tăng năng suất lúa ở mức có ý nghĩa, bội thu sản lượng quy cho 1kg kali làm tăng 3,35÷17,47 kg thóc Nếu bón cùng lượng kali thì hiệu lực ở vụ chiêm xuân cao hơn vụ mùa; bón trên ñất phèn nhẹ hiệu quả cao hơn ñất phèn nặng chứng tỏ quá trình cải tạo ñã rửa trôi bớt kali [22]
Trong một nghiên cứu khác về hiệu lực phân lân trên ñất phèn ñã cải tạo trồng lúa thâm canh ở Vĩnh Bảo, Hải Phòng, Nguyễn Trọng Nhưỡng và
Võ Minh Kha (1996) cho thấy: với mức bón lân cho lúa hiện nay trên ñất phèn ñã cải tạo huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng lân vẫn là yếu tố tăng năng suất lúa Bội thu sản lượng do bón 1 kg P2O5 là 6,59÷47,1 kg thóc Trong ñó bội thu sản lượng do bón lân trong vụ chiêm cao hơn vụ mùa và tăng dần từ ñất phèn nặng ñến ñất phèn trung bình và ñất phèn nhẹ [22]
Năm 1997, Viện Thổ nhưỡng Nông hóa tham gia hợp tác nghiên cứu
và ñã trở thành một trong 22 nước thành viên trong mạng lưới nghiên cứu ñất mặn do FAO chủ trì Một trong những mục tiêu của mạng lưới nghiên cứu là nghiên cứu các yếu tố hạn chế năng suất cây trồng trên ñất mặn
Theo kết quả nghiên cứu của Bộ môn Phát sinh học ñất (Viện Thổ nhưỡng Nông hóa) năm 1997 thì: Trên ñất mặn trung bình ñạm có ảnh hưởng
rõ rệt ñến năng suất lúa, năng suất tăng khi tăng lượng ñạm bón Vụ xuân cấy giống Dâu Ấn ðộ cần chú trọng bón phân chuồng, ñạm; tiếp ñến là lân Lượng ñạm bón thích hợp là 150 kgN/ha Vụ mùa cấy giống Tám thơm cần
Trang 40chú trọng bón phân chuồng, ựối với ựạm và lân nên bón từ mức 120 kgN và
90 kgP2O5 trở xuống cho 1 ha Kali ắt ảnh hưởng ựến năng suất lúa ở cả 2 vụ [2]
Các kết quả nghiên cứu nêu trên, cho thấy quỹ ựất mặn trên thế giới và
ở Việt Nam khá phong phú Người ta ựã và ựang khai thác loại ựất này nhằm
mở rộng diện tắch trồng trọt ựồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng ựất đã có nhiều kết quả nghiên cứu cải tạo, sử dụng, chọn tạo giống chống chịu mặn và các giống ựó ựã chiếm diện tắch lớn ở vùng ựất khó khăn này Tuy nhiên, các nghiên cứu về diễn biến của tắnh chất ựất mặn qua quá trình sử dụng chưa ựược công bố nhiều đây là cơ sở khoa học quan trọng ựể tiến tới xây dựng một nền nông nghiệp bền vững