1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp vùng gò đồi huyện nam đàn, tỉnh nghệ an

112 759 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp vùng gò đồi huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
Tác giả Nguyễn Văn Hiền
Người hướng dẫn PGS. TS. Trần Văn Chính
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý đất đai
Thể loại Luận văn thạc sỹ khoa học
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 11,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

**********

NGUYỄN VĂN HIỀN

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÙNG GÒ ĐỒI HUYỆN NAM ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: Quản lý đất đai

Mã số : 60.62.16 Người hướng dẫn khoa học: PGS TS TRẦN VĂN CHÍNH

Hà Nội, năm 2008

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc./

Tác giả luận văn Nguyễn Văn Hiền

Trang 4

Lời cảm ơn Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình, những ý kiến đóng góp và những lời chỉ bảo quý báu của tập thể và cá nhân trong và ngoài trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc PGS.TS Trần Văn Chính, là người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài và viết luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo khoa Sau Đại học, Tài nguyên và Môi trường, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

Tôi trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nghệ An; Huyện uỷ, UBND huyện Nam Đàn; phòng Tài nguyên và Môi trường; phòng Kinh tế; phòng Thống kê; các phòng ban huyện và UBND các xã của huyện Nam Đàn đã tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu, những thông tin cần thiết để thực hiện luận văn này

Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc tới sự giúp đỡ tận tình, quý báu đó

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Hiền

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt v

Danh mục bảng vi

Danh mục hình vii

1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích và yêu cầu 2

1.3 Ý khoa học và thực tiễn của đề tài 2

2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 3

2.1 Tổng quan về đánh giá và sử dụng đất vùng gò đồi 3

2.2 Tổng quan về đánh giá hiệu quả sử dụng đất 10

3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 31

3.1 Đối tượng nghiên cứu 31

3.2 Nội dung nghiên cứu 31

3.2 Phương pháp nghiên cứu 32

4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 35

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Nam Đàn 35

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 35

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 42

4.2 Đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất 48

4.2.1 Đánh giá tình hình quản lý nhà nước về đất đai 48

4.2.2 Hiện trạng sử dụng các loại đất 51

Trang 6

4.2.3 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp 57

4.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất vùng gò đồi 61

4.3.1 Các loại hình sử dụng đất và kiểu sử dụng đất nông nghiệp 61

4.3.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 68

4.4 Định hướng sử dụng đất vùng gò đồi của huyện Nam Đàn 80

5 Kết luận và đề nghị 85

Tài liệu tham khảo 87

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CNH - HĐH Công nghiệp hoá - hiện đại hoá CPLĐ thuê Chi phí lao động thuê

CPTG Chi phí trung gian

CPBĐ Tổng chi phí biến đổi

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

4.2 Diện tớch, cơ cấu sử dụng đất nụng nghiệp năm 2007 53 4.3 Diện tích, cơ cấu sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2007 55 4.4 Hiện trạng sử dụng đất huyện Nam Đàn và vựng gũ đồi năm 2007 57 4.5 Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính 60 4.6 Một số chỉ tiờu phỏt triển lõm nghiệp vựng gũ đồi huyện

4.12 Lượng phõn bún cho cõy trồng được quy đổi ra lượng (N, P2O5, K2O) và tiờu chuẩn bún phõn cõn đối, hợp lý 75

4.13 Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cho một số cây trồng vùng gò đồi huyện Nam Đàn 77 4.14 Đề xuất diện tớch cỏc loại hỡnh sử dụng đất nụng nghiệp vựng gũ đồi huyện Nam Đàn 82

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

4.1 Diễn biến một số yếu tố khí hậu huyện Nam Đàn 38 4.2 Diện tích, cơ cấu sử dụng đất vùng gò đồi năm 2007 56 4.3 Biến động sử dụng đất nông nghiệp của vùng gò đồi 59 4.4 Cánh đồng lúa vụ xuân trong LUT 2 lúa 64 4.5 Ngô, lạc vụ xuân trong LUT chuyên màu 64

4.8 Cây vải, chanh, cam trong LUT cây ăn quả 66

Trang 10

1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Đất là một phần quan trọng của môi trường, là một tài nguyên vô giá

mà tự nhiên đã ban tặng cho con người Đất là tư liệu sản xuất để phát triển nông, lâm nghiệp, là đối tượng lao động rất đặc thù bởi tính chất độc đáo mà không vật thể tự nhiên nào có thể thay thế được, đó là độ phì nhiêu Chính vì vậy mà các hệ sinh thái và ngay cả cuộc sống của loài người cũng hoàn toàn phụ thuộc vào tính chất này của đất

Đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp có giới hạn về diện tích, có nguy cơ

bị suy thoái dưới tác động của thiên nhiên và sự thiếu ý thức của con người trong quá trình hoạt động sản xuất Trong khi đó, xã hội ngày càng phát triển, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng về lương thực, thực phẩm, các sản phẩm công nghiệp, các nhu cầu văn hoá, xã hội, nhu cầu về đất cho xây dựng v.v Tất cả những cái đó đã tạo nên áp lực ngày càng lớn lên đất đai, làm cho quỹ đất nông nghiệp luôn có nguy cơ bị giảm diện tích, trong khi khả năng khai hoang đất mới lại rất hạn chế Do vậy cần phải có những giải pháp sử dụng đất trên quan điểm thích hợp và phát triển bền vững

Vùng gò đồi Nghệ An nói chung và Nam Đàn nói riêng có địa hình phức tạp, phần lớn là đất dốc, nghèo dinh dưỡng Hơn nữa điều kiện tưới tiêu, hệ thống giao thông gặp nhiều trở ngại Kỹ thuật trồng trọt đặt ra rất khác nhau trong điều kiện địa hình cụ thể Vấn đề đặt ra cho phát triển bền vững vùng gò đồi là việc nâng cao hiệu quả sản xuất, ổn định đời sống dân cư nhưng đồng thời phải bảo vệ tài nguyên môi trường rất rễ bị phá vỡ, suy thoái đất Để góp phần phát triển nông nghiệp vùng gò đồi trong chiến lược phát triển bền vững khu vực

cũng như Nghệ An chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả

sử dụng đất nông nghiệp vùng gò đồi huyện Nam Đàn - tỉnh Nghệ An”

Trang 11

1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU

1.2.1 Mục đích nghiên cứu

Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên vùng nghiên cứu và đề

xuất hướng sử dụng đất theo quan điểm nâng cao hiệu quả kinh tế và bền vững

1.2.2 Yêu cầu của đề tài

- Đánh giá các mặt lợi thế và hạn chế của điều kiện tự nhiên, kinh tế -

xã hội đối với các loại hình sử dụng đất và diện tích đất nông nghiệp

- Các chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá phản ánh đầy đủ nội dung yêu cầu của đánh giá hiệu quả sử dụng đất

- Đề xuất loại hình sử dụng đất có hiệu quả và phù hợp với điều kiện vùng gò đồi ở huyện Nam Đàn

1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

Những kết quả khoa học thu được thông qua thực hiện đề tài sẽ bổ sung

cơ sở thực tiễn để đánh giá hiệu quả sử dụng đất gò đồi vùng Bắc Trung bộ nói chung và Nghệ An nói riêng

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Kết quả của đề tài là cơ sở dữ liệu cho cơ sở khoa học để tiến hành quy hoạch sử dụng đất và các chương trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông

nghiệp của huyện Nam Đàn

Trang 12

2 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT VÙNG GÒ ĐỒI

2.1.1 Khái quát về vùng gò đồi

Để có những can thiệp, tác động lên sản xuất nông nghiệp nói chung và

hệ thống trồng trọt vùng gò đồi nói riêng phải bắt đầu từ những quan niệm đúng và nghiên cứu sâu hơn về nó Hiện nay nhiều tác giả nghiên cứu về vùng

gò đồi nhưng sự phân bố, ranh giới về điều kiện tự nhiên thậm chí cả tên gọi cũng khác nhau

Vùng gò đồi có khi được gọi là vùng trung du, vùng bán sơn địa, vùng đồng bằng xen đồi hay vùng đồi xen đồng bằng Danh từ trung du được dùng trước hết để chỉ vùng chuyển tiếp về địa hình và có thể phân biệt với vùng thượng

du (vùng núi) và vùng hạ du (đồng bằng) Như vậy vùng trung du được xác định bởi một dải không gian chuyển tiếp giữa vùng đồng bằng và vùng núi [35]

Lê Bá Thảo (1990) [31] cho rằng “vùng trung du là một bề mặt san bằng cổ tương đối ổn định về mặt kiến tạo, đã bị xâm thực chia cắt từ lâu và hiện đang nằm trung sự đi xuống của địa hình Sự phát triển đi xuống đó thể hiện ở chỗ các đỉnh đồi ngày càng bị san bằng hơn, các thung lũng mở rộng hơn”

Theo Vũ Tự Lập (1990) [38]: “Đặc điểm chung nhất của đồi là có độ cao tương đồi dưới 500m, do đó tại vùng gò đồi qui luật đai cao chưa có tác dụng quyết định, khiến cho địa hình nói riêng và tự nhiên nói chung mang sắc thái nội chí tuyến, và về cơ bản lãnh thổ Việt Nam mang sắc thái một vùng rộng lớn, trong

đó núi là đỉnh nhô cao”

Lưu Đức Hồng và Cs (1994) [35], đã đưa ra tiêu thức xác định về vùng gò đồi: Về vị trí địa lý ở vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi, về độ cao 25 - 700m so với mặt nước biển, trong đó trên 80% diện tích lãnh thổ dưới 500m

Trang 13

Theo nhà địa mạo Nga I Spiridonov (1970) các chỉ tiêu phân chia đồng bằng, đồi, núi chi tiết như bảng 2.1 dưới đây [21]:

Bảng 2.1 Các chỉ tiêu phân chia cấp địa hình

Ngoại mạo Trắc lượng hình thái Kiểu

Địa mạo Độ chia cắt

sâu (m)

Độ chia cắt ngang km/km 2

Độ dốc sườn không nghiêng (độ) Đồng <10 m Thấp <10 m Bằng phẳng Rất yếu Rất yếu < 30

Sườn thoải vừa

Khối, dãy núi Rất mạnh

Qua những quan điểm trên chúng ta có thể hiểu rằng gò đồi bản thân nó là một vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi, ranh giới giữa gò đồi và đồng bằng, gò đồi và miền núi cũng có tính chuyển tiếp hai khu vực hoàn toàn khác nhau nằm cạnh nhau bao giờ cũng tồn tại một giải chuyển tiếp Khu vực chuyển tiếp tùy theo những đặc điểm tự nhiên cụ thể của từng nơi mà có ranh giới rộng hay hẹp Do đó việc xác định ranh giới không thể vạch theo một đường bình độ nhất định mà phải chú ý đến quá trình hình thành và phát triển tự nhiên của nó, nhất là quá trình hình thành đất, xói mòn, rửa trôi

Trang 14

2.1.2 Đặc trưng chủ yếu của vùng gò đồi ở Việt Nam

2.1.2.1 Địa hình

Vùng gò đồi là vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi nên có địa hình chủ yếu là đồi bát úp hay lượn sóng Xen kẽ giữa các đồi là các thung lũng dọc theo các sông suối tạo thành những cánh đồng nhỏ hẹp từ vài ba đến hàng trăm ha Nhìn chung như vậy, nhưng trên thực tế do vùng gò đồi nước ta kéo dài từ Bắc chí Nam nên địa hình không đồng nhất mà mang tính đa dạng theo các tiểu vùng khác nhau [35]

2.1.2.2 Khí hậu

Khí hậu vùng gò đồi mang tính chuyển tiếp riêng biệt Đặc điểm chung của so với đồng bằng trong vùng là có biên độ nhiệt lớn hơn do sự giảm tốc độ gió và sự phản chiếu bức xạ của sườn đồi núi Nhiệt độ về mùa hè thường thường cao hơn 10và mùa đông thấp hơn 1 - 20 Lượng mưa giảm sút cùng với sự hạ thấp của độ ẩm tương đối Gió địa hình mạnh, ít chịu ảnh hưởng của bão Mỗi tiểu vùng gò đồi nằm trong các miền khí hậu khác nhau vừa mang dấu ấn đặc trưng chung của vùng trung du, vừa mang đặc trưng chung của mỗi vùng

2.1.2.3 Quá trình hình thành đất vùng gò đồi

- Quá trình feralit - laterit hoá

Đây là quá trình đặc trưng và phổ biến của đất nhiệt đới ẩm Quá trình này có thể chia làm hai giai đoạn:

+ Giai đoạn đầu phong hoá phá huỷ các khoáng nguyên sinh của đá mẹ một cách triệt để trong điều kiện nhiệt ẩm cao, phong hoá hoá học chiếm ưu thế Trong giai đoạn này các cation kiềm, kiềm thổ bị giải phóng rửa trôi theo chiều ngang và thẳng đứng Đồng thời các secquioxyt (R2O3 của Fe, Al, Mn ) được tích luỹ ở tầng B của phẫu diện đất

+ Giai đoạn tiếp theo hình thành các khoáng thứ sinh trong môi trường

Trang 15

axit, trong đó khoáng caolinit chiếm ưu thế Tầng B tích luỹ sét màu vàng đỏ được hình thành Tầng mùn A mỏng với hàm lượng mùn thấp, axit fulvic chiếm ưu thế Do phong hoá hoá học triệt để nên các khoáng vật tàn dư nguyên sinh ít Tỷ số SiO2/R2O3 trong keo sét < 2 Hàm lượng limon trong đất rất thấp, các đoàn lạp có độ bền tương đối cao

Trong điều kiện có mạch nước ngầm nâng lên hạ xuống xuất hiện trong mùa mưa và mất trong mùa khô như ở các gò đồi thấp hoặc chân núi thì các secquioxyt (R2O3) được tích luỹ tuyệt đối Các secquioxyt không chỉ hình thành tại chỗ mà còn được đưa tới từ các sườn cao hơn vào trong nước ngầm Nhiều kết von rời rạc được liên kết với nhau tạo thành sản phẩm đá ong (laterit) Quá trình laterit hoá diễn ra liên tục trong nhiều năm có thể tạo thành

đá ong ngăn cách quá trình trao đổi vật chất và năng lượng giữa đá mẹ và tầng đất mặt Theo thời gian tầng đất mặt bị rửa trôi bạc màu nghèo dinh dưỡng, nghèo cả secquioxyt Tầng đất mặt “bạc màu” rất dễ dàng bị nước xói mòn trong mùa mưa làm trơ lộ lớp đá ong kết von đã hình thành trước đó Tầng đá ong lộ trên bề mặt sẽ bị khô cứng lại như gạch đá và tạo ra một vùng “đất chết” Hiện tượng này phổ biến ở vùng thềm đồi, gò chuyển tiếp, nơi tiếp giáp với đồng bằng hoặc ở các bề mặt san bằng trước núi

Quá trình feralit tạo ra các đất vàng đỏ, đỏ vàng (Ferralsols), hoặc đất xám feralit (Feralic Acrisols) Quá trình laterit hoá tạo ra các đất: Đất xám

có tầng loang lổ mạnh (Plinthic Acrisols hay Leptosols)

- Quá trình xói mòn, rửa trôi do nước

Xói mòn đất là một quá trình phá huỷ lớp phủ thổ nhưỡng (bao gồm cả phá huỷ thành phần cơ, lý, hoá, chất dinh dưỡng của đất) dưới tác động của các nhân tố tự nhiên và nhân sinh, làm giảm độ phì nhiêu đất, gây ra bạc màu, thoái hoá đất, laterit hoá, trơ sỏi đá , ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống và phát triển của thảm thực vật rừng, thảm cây trồng khác [22]

Trang 16

Xói mòn được thể hiện 2 dạng: bào mòn theo lớp và xói mòn khe rãnh Dạng đầu phổ biến ở các đỉnh ít dốc và dạng thứ 2 xuất hiện ở các sườn xói mòn và xói mòn ở vùng núi đạt tới hàng trăm tấn/ha/năm Khu vực đồi núi ở Việt Nam, thường có độ dốc > 250 hoặc từ 150-250, điều kiện địa hình đồi núi, chia cắt mạnh, mạng lưới sông suối phát triển dày đặc, tiết diện dọc dốc, chế

độ mưa mùa lại tập trung (lượng mưa trong mùa mưa chiếm 80 - 90% lượng mưa cả năm) do đó xói mòn có điều kiện hoạt động mạnh [22]

Quá trình xói mòn đất không chỉ rửa trôi các cation, các hợp phần vi lượng chất dễ tiêu, mùn ra khỏi tầng đất làm giảm chất dinh dưỡng độ phì nhiêu mà xói mòn còn làm giảm đi độ dày của tầng canh tác một cách rõ rệt Không gian sinh trưởng của bộ rễ bị thu hẹp, độ ẩm đất giảm… Dẫn đến suy giảm tốc độ sinh trưởng của cây trồng

Chiều dài của sườn và lượng mưa hình thành dòng chảy mặt là những yếu tố ảnh hưởng mạnh tới xói mòn, rửa trôi do nước của đất đai vùng đồi núi Vì tại các khu vực địa hình chia cắt mạnh độ dài của sườn lớn, dòng chảy càng mạnh, năng lượng càng lớn và xói mòn đất sẽ tăng, qua nghiên cứu các tác giả cho rằng nếu tăng chiều dài của sườn dốc lên 2 lần thì tổn thất về đất

sẽ tăng lên từ 2 - 7,5 lần và xói mòn trên các sườn lồi tăng 2-3 lần so với sườn thẳng, sườn lõm xói mòn yếu, sườn bậc thang xói mòn không đáng kể Nhìn chung quá trình xói mòn đang xảy ra mạnh mẽ trên các loại đất xám feralit

2.1.2.4 Diện tích và phân bố

Vùng đồi núi nước ta phân bố rộng khắp từ Bắc vào Nam đã tạo nên các điều kiện tự nhiên, hình thành nên các loại đất hết sức phong phú và da dạng Theo bảng phân loại đất Việt Nam năm 1996 của Hội khoa học đất Việt Nam [14], vùng đồi núi Việt Nam có những nhóm đất chính: đất đá bọt, đất đen, đất nâu bán khô hạn, đất tích vôi, đất xám, đất đỏ, đất mùn alit núi cao và đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá Trong đó nhóm đất xám và nhóm đất đỏ có diện tích rất lớn

Trang 17

- Đất đá bọt (RK) - ANDOSOLS (AN) diện tích: 171.402 ha, phân bố ở Tây Nguyên, Đông Nam bộ, Tây Nghệ An

- Đất đen (R) - LUVISOLS (LV) diện tích: 112.939 ha phân bố ở các tỉnh Sơn La, Cao Bằng, Hoà Bình, Hà Giang, Nghệ An, Gia Lai…

- Đất nâu vàng vùng bán khô hạn (XK) - LIXISOLS (LX) diện tích: 42.330 ha, phân bố chủ yếu ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận

- Đất tích vôi (V) - CALCISOLS (CL) diện tích: 5.527 ha, phân bố ở các vùng có đá vôi như Cao Bằng, Hà Giang, Sơn La,…

- Đất xám (X) - ACRISOLS (AC) diện tích: 19.970.642 ha, phân bố rộng khắp ở vùng đồi núi Việt Nam và một phần ở vùng đồng bằng Trong bản đồ đất tỷ lệ 1/100.000 nhóm đất xám có 5 đơn vị sau:

+ Đất xám feralit (Xf) - Ferralic-Acrisols (ACf), diện tích: 14.789.505 ha; + Đất xám mùn trên núi (Xh) - Humic-Acrisols (ACu) diện tích: 3.139.285 ha;

+ Đất xám bạc màu (X) - Haplic Acrisols (ACh), diện tích: 1.791.021 ha; + Đất xám có tầng loang lổ (Xl) - Plinthic-Acrisols (ACp);

+ Đất xám Glây (Xg) - Glâyic-Acrisols (ACg);

- Đất đỏ (F) - FERRASOLS (FR) diện tích: 3.014.594 ha, phân bố ở độ cao tuyệt đối từ 50 - 1000 m chủ yếu phát triển trên đá macma bazơ trung tính

và đá vôi, tập trung nhiều nhất ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ

- Đất mùn Alit núi cao (A) - ALISOLS diện tích: 280.714 ha, gặp ở độ cao trên 2000m, thường nằm ở các đỉnh như Hoàng Liên Sơn, Ngọc Linh, Chử Yang Sin

- Đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá (E) - LEPTOSOLS (LP), diện tích 495.727 ha phân bố ở các tỉnh Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và

Trung du miền núi Bắc bộ

Trang 18

2.1.2.5 Những thuận lợi và khó khăn

- Thuận lợi: Vùng gò đồi có nhiều loại địa hình đất khác nhau có thể thích ứng với nhiều loại cây trồng, vật nuôi khác nhau Do đó, cho phép chuyển dịch nền nông nghiệp độc canh ưu tiên sản xuất lương thực sang cơ cấu nông nghiệp đa canh theo hướng đa dạng hoá sản phẩm trên cơ sở chuyên môn hoá sản xuất kết hợp với phát triển tổng hợp, tập trung hoá sản xuất để tạo ra vùng cây công nghiệp ngắn ngày, các vùng cây công nghiệp dài ngày, các vùng cây ăn quả, các vùng chăn nuôi đại gia súc, các vùng trồng rừng Điều đó cho phép tạo ra một khối lượng nông lâm sản hàng hoá lớn, một thị trường nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông lâm sản và kéo theo sự phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ khác Trên cơ sở đó chuyển nền kinh tế nông thôn thuần nông sang cơ cấu kinh tế theo hướng đa dạng hoá ngành nghề

- Những khó khăn: Bên cạnh những thuận lợi trên, trong việc khai thác vùng gò đồi còn gặp những khó khăn sau

+ Vùng đòi gò bị khai thác bừa bãi, đất gò đồi bị thoái hoá, khả năng sinh lợi thấp, diện tích đất trống đồi trọc tăng lên, dòi hỏi sự đầu tư cải tạo lớn, lựa chọn phương thức sử dụng phức tạp

+ Tổng lượng mưa thấp, 85% lượng mưa cả năm tập trung vào mùa mưa gây nên lũ lụt, xói mòn, thiếu nước nghiêm trọng vào mùa khô Nhiều diện tích hoa màu đồi không đưa vào sử dụng được Nhiều diện tích đồi cây lâu năm bị khô cằn, vì vậy, việc phủ xanh đất trống đồi trọc tạo ra một hệ sinh thái nhiều tầng có ý nghĩa về nhiều mặt đối với môi trường sống

+ Thiếu vốn, thiếu kiến thức khoa học - kỹ thuật và quy trình công nghệ mới, thiếu kiến thức kinh doanh, thiếu hiểu biết về thông tin thị trường trong điều kiện nông thôn đang có sự chuyển dịch về cơ cấu và tổ chức sản xuất theo cơ chế thị trường

Trang 19

+ Cơ sở hạ tầng khá hơn miền núi nhưng nghèo nàn thiếu đồng bộ và yếu kém Giao thông nông thôn còn yếu kém, điện năng mới bắt đầu, thuỷ lợi chưa đảm bảo đủ nước tưới Thông tin liên lạc chưa kịp thời, đô thị chưa phát triển

+ Thảm thực vật và môi trường sinh thái ở vùng gò nói riêng đang thời

kỳ báo động, tỷ lệ che phủ thấp chủ yếu là rừng mới trồng, rừng mới tái sinh

Do đó, việc gìn giữ và điều hoà nguồn nước còn hạn chế, đất đai xói mòn, tầng dày đất canh tác có nguy cơ giảm Việc phục hồi và tái tạo thảm thực vật

để cải tạo môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái là cần thiết

2.2 TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT

2.2.1 Hiệu quả sử dụng đất trong phát triển nông nghiệp bền vững

Trong vài thập kỷ gần đây, do sự bùng nổ dân số cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đã làm biến đổi sâu sắc cảnh quan môi trường Sự mất cân đối nghiêm trọng giữa nhu cầu con người với khả năng cung cấp của tự nhiên đã làm cạn kiệt dần các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong đó có đất Trong sản xuất nông nghiệp, để đáp ứng những nhu cầu về lương thực, thực phẩm con người đã tìm mọi biện pháp để đất đai sản sinh ngày càng nhiều sản phẩm trong đó có cả những biện pháp có hại cho đất Với việc sử dụng ngày một tăng các sản phẩm công nghiệp hoá như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, hoá chất tăng trưởng đã làm cho đất đai bị thoái hoá, không những thế còn kéo theo các thảm họa về môi trường sinh thái nghiêm trọng Nhận thức được nguy cơ đó, thế giới đã có nhiều nghiên cứu nhằm tìm

ra một hướng đi thích hợp trong sử dụng đất nông nghiệp Một trong những quan điểm phổ biến hiện nay là phát triển một nền nông nghiệp bền vững Vậy nông nghiệp bền vững là gì?

Các tác giả Bill Mollison và R.M Slay trong cuốn “Đại cương về nông nghiệp bền vững” cho rằng: “Nông nghiệp bền vững nói về thiết kế những hệ thống định canh lâu bền Đó là triết lý và một cách tiếp cận về sử dụng đất đai, liên kết

Trang 20

tiểu khí hậu, cây trồng hàng năm và lâu năm, vật nuôi, đất, nước và những nhu cầu của con người, xây dựng nên những cộng đồng chặt chẽ và có hiệu quả” [5]

Theo R Morrow thì nông nghiệp bền vững được xây dựng trên nền tảng của sinh thái học, tức là sự nghiên cứu những mối liên hệ và tương quan giữa các cơ thể sống và môi trường của chúng Hiệu quả của một phương pháp mới làm bền vững và phong phú hơn cho cuộc sống mà không gây suy thoái môi trường thiên nhiên và xã hội [27]

Nghiên cứu về nông nghiệp bền vững, có thể thấy những nét chủ yếu là: -Một hệ thống tạo ra những mô hình định canh lâu bền bằng cách kết hợp thiết kế và sinh thái

-Một sự tổng hợp hiểu biết truyền thống với khoa học hiện đại, áp dụng cho cả thành thị và nông thôn

-Nông nghiệp bền vững lấy các hệ thống thiên nhiên làm mẫu và hành động hoà hợp với thiên nhiên nhằm thiết kế những môi trường lâu bền cung cấp những nhu cầu cơ bản cho con người cũng như những hạ tầng xã hội, kinh tế và đảm bảo cho những nhu cầu đó

- Nông nghiệp bền vững thúc đẩy chúng ta tham gia có ý thức vào việc giải quyết nhiều vấn đề đặt ra cho chúng ta ở phạm vi địa phương và toàn cầu [27]

Sử dụng đất đai bền vững đã và đang là nhu cầu cấp bách của nước ta hiện nay Hậu quả mà chúng ta đang phải gánh chịu là hiện tượng sa mạc hoá,

lũ lụt, diện tích đất trống đồi núi trọc gia tăng phải chăng do việc sử dụng đất kém bền vững, làm cho môi trường tự nhiên ngày càng suy thoái

2.2.2 Đánh giá hiệu quả và tính bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp

Trong quá trình nghiên cứu về hiệu quả, do xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, do các điều kiện để tiến hành nghiên cứu khác nhau, nên có nhiều quan điểm và cách nhìn nhận khác nhau về hiệu quả

Trang 21

Theo trung tâm từ điển ngôn ngữ [28], hiệu quả chính là kết quả cũng như yêu cầu của việc làm mang lại

Theo khái niệm trên thì hiệu quả sử dụng phải là kết quả của quá trình sử dụng đất Kết quả ở đây được hiểu là kết quả hữu ích, là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con người mà

ta phải xem xét kết quả đó được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra là bao nhiêu?

Có đưa lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì thế, khi đánh giá kết quả hoạt động sản xuất không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng công tác hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm đó [13]

Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn

là sự mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp [27]

Ngày nay, nhiều nhà khoa học cho rằng: xác định đúng khái niệm, bản chất hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những nhận thức lý luận của lý thuyết hệ thống, tức là phải tiết kiệm thời gian, tài nguyên trong sản xuất, mang lại lợi ích xã hội và phải bảo vệ được môi trường Điều đó có nghĩa là hiệu quả phải được xem xét trên 3 mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường [27]

* Hiệu quả kinh tế

Theo quan điểm tính hiệu quả của C Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một

Trang 22

cách có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau Trên cơ sở thực hiện vấn đề “Tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý thời gian lao động giữa các ngành” Theo quan điểm này thì đó là qui luật “Tiết kiệm”, là “Tăng năng suất lao động xã hội”, hay đó là “Tăng hiệu quả” Ông cho rằng: “Nâng cao năng suất lao động vượt quá nhu cầu cá nhân của người lao động là cơ sở của hết thảy mọi xã hội” Như vậy, theo quan điểm của Mác, tăng hiệu quả phải được hiểu rộng và nó bao hàm cả việc tăng hiệu quả kinh tế và xã hội [14]

Theo các nhà khoa học Đức (Stenien, Hanau, Rusteruyer, Simmerman), hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội

Theo các nhà khoa học kinh tế Samuel - Nordhuas cho rằng: “Hiệu quả có nghĩa là không lãng phí Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội, “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hoá này mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng hoá khác Mọi nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năng năng suất của nó" [14]

Tác giả Đỗ Khắc Thịnh cho rằng: “Thông thường hiệu quả được hiểu như một hiệu số giữa kết quả và chi phí, tuy nhiên trong thực tế đã có trường hợp không thực hiện được phép trừ hoặc phép trừ không có ý nghĩa” Do vậy, nói một cách linh hoạt hơn nên hiểu hiệu quả là một kết quả tốt phù hợp mong muốn và hiệu quả có nghĩa là không lãng phí [17]

Nếu xét trên phương diện so sánh thì hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, chi phí bỏ ra là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào

Trang 23

Như vậy, chúng ta thấy rằng, có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế nhưng đều thống nhất nhau ở bản chất của nó Người sản xuất muốn thu được kết quả phải bỏ ra những chi phí nhất định, những chi phí đó

là nhân lực, vật lực, vốn… So sánh kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó, sẽ là hiệu quả kinh tế Tiêu chuẩn của hiệu quả là sự tối đa hoá kết quả với một lượng chi phí định trước hoặc tối thiểu hoá chi phí để đạt được một kết quả nhất định

Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: bản chất của phạm trù kinh tế

sử dụng đất là với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất, với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội

Hiệu quả kinh tế là khâu trung tâm của tất cả các loại hiệu quả và nó có vai trò quyết định đối với các loại hiệu quả khác Hiệu quả kinh tế là loại hiệu quả có khả năng lượng hoá, được tính toán tương đối chính xác và biểu hiện thông qua hệ thống các chỉ tiêu

* Hiệu quả xã hội

Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra [33] Theo Nguyễn Duy Tính (1995) [34], hiệu quả

về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp

Từ những quan điểm trên cho thấy, hiệu quả xã hội là phạm trù có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế và thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người Chúng là tiền đề của nhau và là một phạm trù thống nhất, phản ánh mối quan hệ giữa kết quả sản xuất và các lợi ích xã hội mang lại Việc lượng hoá các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh bằng các chỉ tiêu mang tính định tính như tạo công ăn việc làm cho lao động, định canh, định cư, xây dựng xã hội lành mạnh, nâng cao mức sống của toàn dân

Trang 24

* Hiệu quả môi trường

Đây là loại hiệu quả môi trường được các nhà môi trường học rất quan tâm trong điều kiện hiện nay Một hoạt động sản xuất được coi là có hiệu quả khi hoạt động đó không có những tác động xấu đến vấn đề môi trường như đất, nước, không khí và hệ sinh học, là hiệu quả đạt được khi quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra không làm cho môi trường xấu đi mà ngược lại quá trình sản xuất đó còn đem lại cho môi trường tốt hơn, làm cho môi trường xanh, sạch đẹp hơn trước [12]

Hiệu quả môi trường được phân theo nguyên nhân gây lên gồm: hiệu quả hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh vật môi trường

Hiệu quả môi trường vừa đảm bảo lợi ích trước mắt vì phải gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng đất vừa đảm bảo lợi ích lâu dài tức là bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái Khi hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội của một loại hình sử dụng đất nào đó được đảm bảo thì hiệu quả môi trường càng được quan tâm

Như vậy, sử dụng đất hợp lý hiệu quả cao và bền vững phải quan tâm tới cả ba loại hiệu quả, trong đó hiệu quả kinh tế là trọng tâm, không có hiệu quả kinh tế không có điều kiện nguồn lực để thực thi hiệu quả xã hội và môi trường, ngược lại, không có hiệu quả xã hội và môi trường hiệu quả kinh tế sẽ không vững chắc [11]

2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

2.2.3.1 Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên

Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết, địa hình, thổ nhưỡng )

có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp [34], vì các yếu tố của điều kiện tự nhiên là tài nguyên để sinh vật tạo nên sinh khối Vì vậy, cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên để trên cơ sở đó xác định cây trồng vật nuôi chủ lực phù hợp, định hướng đầu tư thâm canh đúng

Trang 25

Theo Mác, điều kiện tự nhiên là cơ sở hình thành địa tô chênh lệch I Theo N.Borlang, người được giải Nobel về giải quyết lương thực cho các nước phát triển cho rằng: yếu tố duy nhất quan trọng hạn chế năng suất cây trồng ở tầm cỡ thế giới trong các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nông dân thiếu vốn là độ phì đất [16]

2.2.3.2 Nhóm các yếu tố kinh tế, kỹ thuật canh tác

Biện pháp kỹ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của các quá trình sản xuất để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế Đây là những tác động thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh và sắc sảo [8] Trên cơ sở nghiên cứu các quy luật tự nhiên của sinh vật để lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng các đầu vào nhằm đạt các mục tiêu sử dụng đất đề ra Theo Frank Ellis và Douglass C.North, ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu mới đối với tổ chức sử dụng đất Có nghĩa là ứng dụng công nghiệp sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh Cho đến giữa thế kỷ 21, trong nông nghiệp nước ta, quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến 30% của năng suất kinh tế [16] Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

2.2.3.3 Nhóm các yếu tố kinh tế tổ chức

Nhóm yếu tố này bao gồm:

- Công tác quy hoạch và bố trí sản xuất

Thực hiện phân vùng sinh thái nông nghiệp dựa vào điều kiện tự nhiên,

Trang 26

dựa trên cơ sở phân tích, dự báo và đánh giá nhu cầu của thị trường, gắn với quy hoạch phát triển công nghiệp chế biến, kết cấu hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực

và các thể chế luật pháp về bảo vệ tài nguyên, môi trường Đó là cơ sở để phát triển hệ thống cây trồng vật nuôi và khai thác đất một cách đầy đủ, hợp lý, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư thâm canh và tiến hành tập trung hóa, chuyên môn hoá, hiện đại hoá nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

- Hình thức tổ chức sản xuất

Các hình thức tổ chức sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp [16] Vì thế, cần phát huy thế mạnh của các loại hình tổ chức sử dụng đất trong từng cơ sở sản xuất, thực hiện đa dạng hoá các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, xác lập một hệ thống tổ chức sản xuất phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa các hình thức đó [18]

2.2.3.4 Nhóm các yếu tố xã hội

Nhóm yếu tố này bao gồm :

- Hệ thống thị trường và sự hình thành thị trường đất nông nghiệp, thị trường nông sản phẩm Theo Nguyễn Duy Tính (1995) [34], 3 yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là: năng suất cây trồng, hệ

số quay vòng đất và thị trường cung cấp đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra

- Hệ thống chính sách (đất đai, hỗ trợ, điều chỉnh cơ cấu đầu tư…)

- Sự ổn định chính trị - xã hội và các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp của Nhà nước

- Những kinh nghiệm, tập quán sản xuất nông nghiệp, trình độ năng lực của các chủ thể kinh doanh, trình độ đầu tư

Theo Douglas C.North, sự thay đổi công nghệ và sự thay đổi hợp lý các thể chế là những yếu tố then chốt cho sự tiến triển của kinh tế - xã hội [33]

Trang 27

2.2.4 Đặc điểm, phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

2.2.4.1 Đặc điểm đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Do dân số tăng nhanh đã thúc đẩy nhu cầu của con người về những sản phẩm lấy từ đất ngày càng tăng, trong khi diện tích đất có hạn, vì thế nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là rất cần thiết, có thể xem xét ở các khía cạnh sau:

- Quá trình sản xuất trên đất nông nghiệp phải sử dụng nhiều yếu tố đầu vào kinh tế và không kinh tế (ánh sáng, nhiệt độ, không khí ) Vì thế, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước tiên phải được xác định bằng kết quả thu được trên một đơn vị diện tích cụ thể thường là 1 ha, tính trên 1 đồng chi phí, 1 lao động đầu tư [16]

- Trên đất nông nghiệp có thể bố trí các cây trồng, các hệ thống luân canh, do đó cần phải đánh giá hiệu quả của từng cây trồng, từng hệ thống luân canh trên mỗi vùng đất [5]

- Thâm canh là một biện pháp sử dụng đất nông nghiệp theo chiều sâu, tác động đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước mắt và lâu dài Vì thế cần phải nghiên cứu hiệu quả của việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, nghiên cứu ảnh hưởng của việc tăng đầu tư thâm canh đến quá trình sử dụng đất [4]

- Phát triển nông nghiệp chỉ có thể thích hợp được khi con người biết cách làm cho môi trường không bị phá huỷ gây tác hại đến đời sống xã hội Đồng thời, cần tạo ra môi trường thiên nhiên và xã hội thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp ở giai đoạn hiện tại và mở ra những điều kiện phát triển trong tương lai Do đó, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp đến môi trường xung quanh Cụ thể là khả năng thích hợp của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có phù hợp với đất đai hay không? Việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp có để lại tồn dư hay không?

Trang 28

- Lịch sử nông nghiệp là một quãng đường dài thể hiện sự phát triển mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên Hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội rất sâu sắc Nói đến nông nghiệp không thể không nói đến nông dân, đến các quan hệ sản xuất trong nông thôn Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến những tác động của sản xuất nông nghiệp đến các vấn đề xã hội như: giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ dân trí trong nông thôn [8]

2.2.4.2 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Tuỳ theo nội dung của hiệu quả mà có những tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả khác nhau ở mỗi thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau Theo đa số các nhà kinh tế cho rằng, tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả

là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí các nguồn tài nguyên, sự ổn định lâu dài của hiệu quả

Trên cơ sở đó, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có thể xem xét ở các mặt sau:

+ Đối với nông nghiệp, tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả là mức đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội, môi trường do xã hội đặt ra như: tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng chất lượng và tổng sản phẩm hướng tới thoả mãn tốt nhu cầu nông sản cho thị trường trong nước và tăng xuất khẩu, đồng thời đáp ứng yêu cầu về bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp bền vững [30]

+ Sử dụng đất phải đảm bảo cực tiểu hoá chi phí các yếu tố đầu vào, theo nguyên tắc tiết kiệm khi cần sản xuất ra một lượng nông sản nhất định, hoặc thực hiện cực đại hoá lượng nông sản khi có một lượng nhất định đất nông nghiệp và các yếu tố đầu vào khác [13]

+ Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có đặc thù riêng, trên 1 đơn vị đất nông nghiệp nhất định có thể sản xuất sẽ đạt được kết quả cao nhất với chi phí bỏ ra ít nhất và hạn chế ảnh hưởng môi trường Đó là phản ánh kết

Trang 29

quả quá trình đầu tư sử dụng các nguồn lực thông qua đất, cây trồng, thực hiện quá trình sinh học để tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường xã hội với hiệu quả cao [30]

+ Tiêu chuẩn đảm bảo hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, trong cung cấp tư liệu sản xuất, xử lí chất thải có hiệu quả

+ Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất ngành nông nghiệp, đến hệ thống môi trường sinh thái nông nghiệp, đến những người sống bằng nông nghiệp Vì vậy, đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải theo quan điểm sử dụng đất bền vững hướng vào 3 tiêu chuẩn chung như sau:

• Bền vững về mặt kinh tế: Hệ thống cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao phát triển ổn định, được thị trường chấp nhận Do đó, phát triển sản xuất nông nghiệp là thực hiện tập trung, chuyên canh kết hợp với đa dạng hoá sản phẩm

• Bền vững về mặt xã hội: thu hút nguồn lao động trong nông nghiệp, tăng thu nhập, tăng năng suất lao động, đảm bảo đời sống xã hội

• Bảo vệ về môi trường: loại hình sử dụng đất có hiệu quả cao phải bảo

vệ độ phì đất, ngăn ngừa sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường tự nhiên

2.2.4.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

- Cơ sở để lựa chọn hệ thống các chỉ tiêu đánh giá:

+ Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

+ Nhu cầu của địa phương về phát triển hoặc thay đổi loại hình sử dụng đất nông nghiệp

+ Các khả năng về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và các tiến bộ kỹ thuật mới được đề xuất cho các thay đổi sử dụng đất đó

- Nguyên tắc khi lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp:

Trang 30

+ Hệ thống chỉ tiêu phải có tính thống nhất, tính toàn diện và tính hệ thống Các chỉ tiêu có mối quan hệ hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính so sánh có thang bậc [19]

+ Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định các chỉ tiêu chính, các chỉ tiêu cơ bản, biểu hiện mặt cốt yếu của hiệu quả theo quan điểm và tiêu chuẩn đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu chính, làm cho nội dung kinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn [30]

+ Hệ thống chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả một cách khách quan, chân thật

và đúng đắn nhất theo tiêu chuẩn và quan điểm đã vạch ra ở trên để soi sáng

sự lựa chọn các giải pháp tối ưu và phải gắn với cơ chế quản lý kinh tế, phù hợp với đặc điểm và trình độ hiện tại của nền kinh tế [15]

+ Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại nhất là những sản phẩm có khả năng xuất khẩu

+ Hệ thống chỉ tiêu phải đảm bảo tính khoa học và tính thực tiễn [33]

và phải có tác dụng kích thích sản xuất phát triển

Dựa trên cơ sở khoa học nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi lựa chọn các chỉ tiêu sau:

* Hệ thống chỉ tiêu trong tính toán hiệu quả kinh tế

Có hai cách tính hiệu quả kinh tế sử dụng đất (tính trên 1 ha đất nông nghiệp; 1 đơn vị chi phí và 1 công lao động) biểu hiện bằng hai hệ thống chỉ tiêu sau:

- Cách tính thứ nhất:

+ Giá trị sản xuất (GO): là giá trị toàn bộ sản phẩm sản xuất ra trong kỳ

sử dụng đất (một vụ, một năm, tính cho từng cây trồng và có thể tính cho cả kiểu sử dụng đất hay hệ thống sử dụng đất)

Trang 31

+ Chi phí trung gian (IC): là toàn bộ chi phí vật chất qui ra tiền sử dụng trực tiếp cho quá trình sử dụng đất (giống, phân bón, thuốc hoá học, dụng cụ, nhiên liệu, nguyên liệu… )

Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả:

+ Giá trị gia tăng (VA): là giá trị mới tạo ra trong quá trình sản xuất được xác định bằng: giá trị sản xuất trừ chi phí trung gian

VA = GO - IC Thường tính toán ở 3 góc độ hiệu quả:

VA/1ha đất nông nghiệp

VA/1đơn vị chi phí (1VNĐ, 1USD…)

VA/1công lao động

+ Thu nhập hỗn hợp (MI): là thu nhập sau khi đã trừ các khoản chi phí trung gian, thuế hoặc tiền thuê đất, khấu hao tài sản cố định, chi phí lao đông thuê ngoài

MI = VA - T (thuế) - A (khấu hao) - L (chi công lao động) Thường tính trên 3 góc độ hiệu quả:

MI/1ha đất nông nghiệp

MI/1đơn vị chi phí (1VNĐ, 1USD )

MI/1công lao động

- Cách tính thứ hai:

+ Giá trị sản xuất (GO)

+ Chi phí biến đổi (VC) hay chi phí khả biến: là chi phí thay đổi khi qui

mô năng suất và khối lượng đầu ra thay đổi

Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế:

+ Lãi thô (GM): là phần dôi ra khi so sánh giá trị sản xuất với chi phí biến đổi Tính theo công thức: GM = GO - VC

Trang 32

Thường tính trên 3 góc độ hiệu quả:

GM/1ha đất nông nghiệp

GM/1 đơn vị chi phí biến đổi (1VNĐ, 1USD…)

GM/1 công lao động

+ Chi phí cố định (FC) hay chi phí bất biến: là chi phí không thay đổi khi quy mô năng suất và lượng đầu ra thay đổi

Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế :

+ Lãi ròng (NI) còn gọi là lãi tinh hay lãi thuần: là phần lãi còn lại sau khi trừ toàn bộ chi phí biến đổi và chi phí cố định

NI = GM - FC Thường tính trên 3 góc độ hiệu quả

NI/1ha đất nông nghiệp

NI/1đơn vị tiền tệ chi phí (1VNĐ, 1USD…)

NI/1công lao động

Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, chúng tôi lựa chọn cách tính thứ nhất vì cách tính này thường áp dụng tính cho các hộ nông dân, các trang trại qui mô nhỏ do chưa bóc tách được chi phí lao động

* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội:

Hiệu quả xã hội chính là mối tương quan so sánh giữa kết quả xã hội

và tổng chi phí bỏ ra Cụ thể:

- Mức thu hút lao động, mức độ sử dụng lao động, tạo việc làm, tăng thu nhập

- Trình độ dân trí, trình độ hiểu biết khoa học

* Các chỉ tiêu về hiệu quả môi trường:

Theo Đỗ Nguyên Hải (1999) [12], chỉ tiêu đánh giá chất lượng của môi trường trong quản lý sử dụng đất đai bền vững ở vùng nông nghiệp được tưới là:

Trang 33

- Sự thích hợp với môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất

- Quản lý đối với đất đai rừng đầu nguồn

- Đánh giá các nguồn tài nguyên nước bền vững

- Đánh giá quản lý đất đai

- Đánh giá hệ thống sản xuất cây trồng

- Đánh giá tính bền vững đối với việc duy trì độ phì của đất và bảo vệ cây trồng

- Đánh giá về quản lý và bảo vệ tự nhiên

Việc xác định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sử dụng đất nông nghiệp là rất phức tạp, rất khó định lượng, đòi hỏi phải được nghiên cứu, phân tích trong một thời gian dài Vì vậy, đề tài nghiên cứu chúng tôi chỉ dừng lại ở việc đánh giá hiệu quả môi trường thông qua việc đánh giá thích hợp của các cây trồng đối với điều kiện đất đai hiện tại, thông qua kết quả điều tra về đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và độ che phủ của đất Như vậy, để đánh giá hiệu quả sử dụng đất cần kết hợp chặt chẽ giữa ba

hệ thống chỉ tiêu kinh tế - xã hội và môi trường trong một thể thống nhất Tuy nhiên, tuỳ từng điều kiện cụ thể mà ta có thể nhấn mạnh từng hệ thống chỉ tiêu ở mức độ khác nhau [16]

2.2.5 Những nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất và phát triển sản xuất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam

2.2.5.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Dân số tăng nhanh đã thúc đẩy nhu cầu của con người về những sản phẩm lấy từ đất ngày càng tăng, trong khi diện tích đất có hạn, do đó việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài là vấn đề quan trọng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới Các phương pháp đã được nghiên cứu, áp dụng dùng để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở các nước Đông Nam Á như: phương

Trang 34

pháp chuyên khảo, phương pháp mô phỏng, phương pháp phân tích kinh tế, phương pháp phân tích chuyên gia Bằng những phương pháp đó các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu vào việc đánh giá hiệu quả đối với từng loại cây trồng, từng giống cây trồng trên mỗi loại đất, để từ đó có thể sắp xếp, bố trí lại cơ cấu cây trồng phù hợp nhằm khai thác tốt hơn lợi thế so sánh của vùng Hàng năm, các Viện nghiên cứu nông nghiệp các nước trên thế giới cũng đã đưa ra nhiều giống cây trồng mới, những kiểu sử dụng đất mới giúp cho việc tạo thành một số hình thức sử dụng đất mới ngày càng có hiệu quả cao hơn trước Viện Lúa quốc tế IRRI đã có nhiều thành tựu về lĩnh vực giống lúa và hệ thống cây trồng trên đất canh tác Tạp chí “Farming Japan” của Nhật

ra hàng tháng đã giới thiệu nhiều công trình ở các nước trên thế giới về các hình thức sử dụng đất đai, đặc biệt là của Nhật [9]

Nhà khoa học Nhật Bản Otak Tanakad đã nêu lên những vấn đề cơ bản

về sự hình thành của sinh thái đồng ruộng và từ đó cho rằng yếu tố quyết định của hệ thống nông nghiệp là sự thay đổi về kỹ thuật, kinh tế và xã hội [28] Các nhà khoa học Nhật Bản đã hệ thống tiêu chuẩn hiệu quả sử dụng đất đai thông qua hệ thống cây trồng trên đất canh tác: là sự phối hợp giữa các cây trồng và gia súc, các phương pháp trồng trọt và chăn nuôi, cường độ lao động, vốn đầu tư, tổ chức sản xuất, sản phẩm làm ra, tính chất hàng hoá của sản phẩm [34]

Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy, việc khai thác và sử dụng đất đai là yếu tố quyết định để phát triển kinh tế xã hội nông thôn toàn diện Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra các chính sách quản lý và sử dụng đất đai,

ổn định chế độ sở hữu, giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và tính chủ động sáng tạo của nông dân trong sản xuất Thực hiện chủ trương “Ly nông bất ly hương” đã thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn phát triển toàn diện và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp [29]

Trang 35

Ở Thái Lan, Uỷ ban chính sách Quốc gia đã có nhiều quy chế mới ngoài hợp đồng cho tư nhân thuê đất dài hạn, cấm trồng những cây không thích hợp trên từng loại đất nhằm quản lý việc sử dụng và bảo vệ đất tốt hơn [39] Một trong chính sách tập trung vào hỗ trợ phát triển nông nghiệp quan trọng nhất là đầu tư vào sản xuất nông nghiệp Theo Vũ Thị Phương Thụy (2000) [33], ở Mỹ tổng số tiền trợ cấp là 66,2 tỉ USD, chiếm 28,3% trong tổng thu nhập của nông nghiệp; ở Canađa tương ứng là 5,7 tỉ chiếm 39,1%; ở Ôxtrâylia 1,7 tỉ chiếm 14,5%; ở Nhật Bản là 42,3 tỉ chiếm 68,9%; ở Áo là 1,6 tỉ chiếm 35,3%; cộng đồng châu Âu 67,2 tỉ chiếm 40,1% trong tổng thu nhập của nông nghiệp

2.2.5.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Việt Nam thuộc vùng nhiệt đới ẩm châu Á có nhiều thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, nguồn đất có hạn, dân số lại đông, bình quân đất tự nhiên/người là 0,43 ha, chỉ bằng 1/3 mức bình quân của thế giới, xếp thứ 135/160 nước trên thế giới, xếp thứ 9/10 nước Đông Nam Á Mặt khác, dân

số lại tăng nhanh làm cho bình quân diện tích đất trên người lại càng giảm Theo

dự kiến nếu tốc độ tăng dân số là 1 - 1,2% năm thì dân số Việt Nam sẽ là 100,8 triệu người vào năm 2015 [33] Vì thế, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là yêu cầu cần thiết đối với Việt Nam trong những năm tới [29]

Thực tế, những năm qua nước ta đã quan tâm giải quyết tốt các vấn đề

kỹ thuật và kinh tế, tổ chức trong việc sử dụng đất nông nghiệp, việc nghiên cứu và ứng dụng được tập trung vào các vấn đề như: lai tạo các giống cây trồng mới có năng suất cao, bố trí luân canh cây trồng vật nuôi với từng loại đất, thực hiện thâm canh toàn diện, liên tục trên cơ sở ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất [2]

Trên các phạm vi, các vùng sinh thái khác nhau, có các công trình nghiên cứu khoa học khác nhau, góp phần định hướng cho việc xây dựng các

hệ thống cây trồng và sử dụng đất thích hợp Cụ thể:

Trang 36

Các công trình có giá trị trên phạm vi cả nước phải kể đến công trình nghiên cứu đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền của tác giả Trần An Phong - Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp (1995) [23]; Đánh giá phân hạng toàn quốc của tác giả Tôn Thất Chiểu

và các cộng sự (1986), thực hiện năm 1984 ở tỷ lệ bản đồ 1/500.000 [6]

Vấn đề luân canh bố trí hệ thống cây trồng để tăng vụ, gối vụ, trồng xen

để sử dụng tốt hơn nguồn lực đất đai, khí hậu được nhiều tác giả đề cập đến như: Bùi Huy Đáp (1979), Ngô Thế Dân (1982), Vũ Tuyên Hoàng (1987); Phân vùng sinh thái nông nghiệp vùng ĐBSH của các tác giả Cao liêm, Đào Châu Thu, Trần Thị Tú Ngà (1990) [20]; Hiệu quả sử dụng đất canh tác trên đất phù sa sông Hồng huyện Mỹ Văn - tỉnh Hải Hưng của tác giả Vũ Thị Bình (1993) [3]; Đánh giá kinh tế đất lúa vùng ĐBSH của tác giả Quyền Đình Hà (1993) [11]

Các đề tài nghiên cứu trong chương trình KN-01 (1991 - 1995) do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì đã tiến hành nghiên cứu hệ thống cây trồng trên các vùng sinh thái khác nhau như vùng núi và trung du phía Bắc, vùng đồng bằng sông Cửu Long nhằm đánh giá hiệu quả của các hệ thống cây trồng trên từng vùng đó [34]

Ở vùng đồng bằng Bắc bộ đã xuất hiện nhiều mô hình luân canh cây trồng 3 - 4 vụ một năm đạt hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt ở các vùng sinh thái gần ven đô, tưới tiêu chủ động đã có những điển hình về chuyển đổi hệ thống cây trồng, trong việc bố trí lại và đưa vào những cây trồng có giá trị kinh tế cao như: hoa, cây thực phẩm cao cấp đạt giá trị sản lượng bình quân từ 30 -

35 triệu đồng/năm [34]

Như vậy, có thể nhận thấy rằng các nghiên cứu sâu về đất và sử dụng đất trên đây là những cơ sở cần thiết và có ý nghĩa quan trọng cho các định hướng sử dụng và bảo vệ đất cũng như xác định các chỉ tiêu cho đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp hàng hoá trong điều kiện cụ thể của từng vùng

Trang 37

Tuy nhiên, ở Việt Nam việc nghiên cứu về đất và sử dụng đất mới được thực hiện trên phạm vi vùng không gian rộng, cho nên tính thực tiễn của nó chưa cao Do vậy, trong thời gian tới cần phải có những nghiên cứu về đất và

sử dụng đất mang tính chất cụ thể hơn, thực tiễn hơn cho từng địa phương (như cấp xã, cụm xã, cấp huyện), có như vậy thì mới đem lại hiệu quả sử dụng đất bền vững

2.2.5.3 Các nghiên cứu đánh giá sử dụng đất gò đồi

Theo báo cáo của FAO diện tích đất nông nghiệp trên thế giới có 1.476 triệu ha trong đó có tới 973 triệu ha (chiếm 65,9%) là đất thuộc vùng đồi núi

và có 377 triệu ha đất dốc từ 100 trở lên (chiếm 25,5%) Tại Châu Á và Thái Bình Dương trong tổng số 453 triệu ha đất nông nghiệp có tới 351 triệu ha thuộc vùng đồi núi (chiếm 77%), trong đó đất dốc trên 100 chiếm khoảng 54,4

% Trên thế giới vấn đề sử dụng đất đồi núi ngày càng trở nên bức thiết Hội

nghị quốc tế về quản lý đất đồi núi tại Bắc Kinh kêu gọi: “… một tiềm năng

lớn lao đang nằm trong các vùng cao nhiệt đới, các nước phát triển cũng như đang phát triển cần tăng cường đầu tư và nỗ lực tăng sức sản xuất của vùng cao Điều đó sẽ có lợi không chỉ cho nông dân địa phương mà còn cho cả nhân loại nói chung”[36]

Hiện nay các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng để đáp ứng nhu cầu lương thực đang phải mở rộng phát triển sản xuất nông nghiệp ở vùng đồi núi do diện tích đất đồng bằng hầu như đã bị khai thác hết

Vùng Trung du miền núi của nước ta chiếm hơn 70 % tổng diện tích tự nhiên, ở đây sản xuất lâm nghiệp là chính còn sản xuất nông nghiệp chỉ là thứ yếu Tuy nhiên trong một số thập kỷ gần đây do sức ép gia tăng dân số nên sản xuất nông nghiệp đã phát triển khá mạnh ở vùng này với các cây trồng lâu năm, cây công nghiệp hàng năm, trồng cỏ và chăn nuôi

Trong phát triển nông nghiệp trên đất dốc trước hết cần ưu tiên cây

Trang 38

công nghiệp dài ngày như chè, cà phê, cao su, hồ tiêu…tuỳ theo điều kiện sản xuất từng tiểu vùng sinh thái và thị trường tiêu thụ sản phẩm mới có thể phát triển từng loại cây một cách hiệu quả Những cây công nghiệp ngắn ngày như cây họ đậu, mía, cây có sợi…cũng là những cây trồng có ưu thế phát triển ở vùng đất đồi núi Miền đồi núi cũng là nơi có ưu thế phát triển tập đoàn cây

ăn quả tập trung có giá trị kinh tế cao, và chăn nuôi đại gia súc [37]

Các mô hình cơ cấu cây trồng thích hợp trên đất dốc đã được hình thành và phát triển trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng kinh tế thị trường Có rất nhiều mô hình sử dụng đất có hiệu quả kinh tế song chúng cần được xem xét đánh giá trên các khía cạnh xã hội, môi trường theo hướng phát triển bền vững của sản xuất nông nghiệp trên đất dốc

Theo tổng kết của Trần Đức Viên, Đỗ văn Hoà, Trần Văn Diễn, Trần Quang Tộ (1998) [37] về mô hình cơ cấu cây trồng thích hợp trên đất dốc vùng cao cho thấy một số mô hình có hiệu quả sau:

- Mô hình canh tác nương rẫy du canh làm chậm quá trình thoái hoá đất

Mô hình này với mục tiêu chính là giải quyết lương thực, thực phẩm tại chỗ nằm đảm bảo lương thực, thực phẩm cho vùng cao

- Mô hình canh tác cây công nghiệp, cây ăn quả, cây đặc sản có hiệu quả kinh tế cao

- Mô hình canh tác nông lâm kết hợp có tác dụng nâng cao độ che phủ của đất và nâng cao hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất

- Mô hình tổng hợp sử dụng quỹ đất theo quan điểm hệ thống, mục tiêu nhằm sử dụng quỹ đất có hiệu quả, kết hợp chăn nuôi, trồng trọt chế biến ở khu vực hạ tầng và điều kiện kinh tế xã hội phát triển

Theo Tôn Thất Chiểu và Lê Thái Bạt (1993), Việt Nam có 25 triệu hecta đất dốc trong đó có hơn 13 triệu hecta đất có vấn đề, bị đặt dưới nguy cơ xói

Trang 39

mòn nghiêm trọng Có khoảng 14 triệu hecta sử dụng cho sản xuất nông lâm nghiệp, phân bố theo các cấp độ dốc: Từ 3 - 100: 2.705.400 ha; từ 10 - 150: 5.502.500 ha; từ 15 - 250: 3.469.100 ha và trên 250: 2.323.000 ha Xói mòn là một hiện tượng phổ biến trên đất dốc, làm cho độ dày của tầng đất bị giảm sút, hàm lượng di dưỡng trong đất bị cuốn trôi, cấu tượng đất bị phá hủy, khả năng phát triển của cây trồng bị giảm sút [7]

Xác định những hạn chế trong sử dụng đất vùng trung du và miền núi, các tác giả như Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm [24], [25],[26],[36] đã phân tích những yếu tố hạn chế như độ dốc, suy thoái đất, xói mòn Ngoài ra còn được Nguyễn Văn Thuận và Phạm Tấn Cung (1993) [32] nhấn mạnh thêm rằng: Hạn chế lớn nhất đối với phát triển vùng đồi núi hiện nay là thiếu nước, thiếu độ ẩm đất cho cây trồng sinh sống nhất là trong vụ khô hanh Chính vì vậy các biện pháp chống suy thoái đất và duy trì độ ẩm có ý nghĩa qua trọng trong canh tác vùng gò đồi

Trang 40

3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loại hình sử dụng đất chính vùng gò đồi huyện Nam Đàn - tỉnh Nghệ An và các yếu tố liên quan đến quá trình sử dụng đất nông nghiệp

3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của vùng có liên quan đến sử dụng đất nói riêng và phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp của huyện Nam Đàn

- Điều kiện tự nhiên như: Vị trí địa lý, khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, thuỷ văn, các tài nguyên khác

- Điều kiện kinh tế xã hội bao gồm: Cơ cấu kinh tế, thực trạng phát triển sản xuất nông nghiệp của huyện, tình hình dân số, cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống người dân…

3.2.2 Đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất

- Đánh giá tình hình quản lý đất đai

- Hiện trạng sử dụng các loại đất chính của huyện Nam Đàn

- Hiện trạng sử dụng đất vùng gò đồi

- Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp vùng gò đồi

3.2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp vùng gò đồi huyện Nam Đàn

- Đánh giá hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất

- Đánh giá hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất

- Đánh giá tác động môi trường các loại hình sử dụng đất

3.2.4 Định hướng sử dụng đất vùng gò đồi

- Xác định các loại hình sử dụng đất có hiệu quả và có triển vọng

- Đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp

Ngày đăng: 28/11/2013, 10:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1- Lê Đức An, “Một số đặc điểm địa mạo Việt Nam”, Báo cáo hội nghị khoa học địa chất Việt Nam lần thứ 3, Hà Nội tháng 10/1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm địa mạo Việt Nam
2- Lê Văn Bá (2001), "Tổ chức lại việc sử dụng ruộng đất nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp hàng hoá", Tạp chí Kinh tế và Dự báo, (6), trang 8 - 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức lại việc sử dụng ruộng đất nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp hàng hoá
Tác giả: Lê Văn Bá
Năm: 2001
3- Vũ Thị Bình (1993), "Hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên đất phù sa sông Hồng huyện Mỹ Văn - tỉnh Hải Hưng", Tạp chí nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm, (10), trang 391 - 392 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên đất phù sa sông Hồng huyện Mỹ Văn - tỉnh Hải Hưng
Tác giả: Vũ Thị Bình
Năm: 1993
6- Tôn Thất Chiểu và n.n.k, “Bước đầu nghiên cứu đánh giá phân hạng đất khái quát toàn quốc”, Tập san nghiên cứu khoa học kỹ thuật (1981 - 1985), Viện Khoa học và Thiết kế nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nghiên cứu đánh giá phân hạng đất khái quát toàn quốc
7-Tôn Thất Chiểu, Lê Thái Bạt (1993), “Sử dụng tốt tài nguyên đất để phát triển và bảo v ệ môi trường”, Tạp chí khoa học đất Việt Nam (số 3), tr. 68-74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng tốt tài nguyên đất để phát triển và bảo vệ môi trường
Tác giả: Tôn Thất Chiểu, Lê Thái Bạt
Năm: 1993
9- Vũ Năng Dũng (1997), Đánh giá hiệu quả một số mô hình đa dạng hoá cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả một số mô hình đa dạng hoá cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Vũ Năng Dũng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
12- Đỗ Nguyên Hải (1999), "Xác định các chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường trong quản lý sử dụng đất đai bền vững cho sản xuất nông nghiệp"Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định các chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường trong quản lý sử dụng đất đai bền vững cho sản xuất nông nghiệp
Tác giả: Đỗ Nguyên Hải
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
15- Lê Hội (1996), "Một số phương pháp luận trong việc quản lý và sử dụng đất đai", Tạp chí nghiên cứu kinh tế, (193), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số phương pháp luận trong việc quản lý và sử dụng đất đai
Tác giả: Lê Hội
Năm: 1996
17- Phạm Tiến Hoàng, Đỗ Ánh, Vũ Thị Kim Thoa, Vai trò của phân hữu cơ trong quản lý dinh dưỡng tổng hợp cho cây trồng, Kết quả nghiên cứu khoa học, Viện Thổ nhưỡng Nông hoá, Nxb Nông nghiệp, trang 268-345 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của phân hữu cơ trong quản lý dinh dưỡng tổng hợp cho cây trồng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
18- Đặng H ữu (2000), "Khoa học và công nghệ phục vụ công nghiệ p hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và phát triển nông thôn", Tạp chí Cộng sản, (17), trang 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và công nghệ phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tác giả: Đặng H ữu
Năm: 2000
19- Doãn Khánh (2000), "Xuất khẩu hàng hoá Việt Nam 10 năm qua", Tạp chí cộng sản, (17) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất khẩu hàng hoá Việt Nam 10 năm qua
Tác giả: Doãn Khánh
Năm: 2000
23- Nguyễn Văn Nhân (1996), Đặc điểm đất và đánh giá khả năng sử dụng đất trong sản xuất nông nghiệp của đồng bằng sông Hồng, Luận án Phó Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm đất và đánh giá khả năng sử dụng đất trong sản xuất nông nghiệp của đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Nguyễn Văn Nhân
Nhà XB: Luận án Phó
Năm: 1996
24- Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm (1995), "Tiềm năng phát triển nông nghiệp vùng đồi núi Việt Nam”, Tạp chí HĐKH, (7), trang 11-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiềm năng phát triển nông nghiệp vùng đồi núi Việt Nam
Tác giả: Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm
Năm: 1995
28- Nguyễn Hữu Quán (1984), Phát triển nguồn lợi đậu đỗ và cây bộ đậu nhiệt đới, Nxb khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn lợi đậu đỗ và cây bộ đậu nhiệt đới
Tác giả: Nguyễn Hữu Quán
Nhà XB: Nxb khoa học và kỹ thuật
Năm: 1984
30- Bùi Văn Ten (2000), "Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nông nghiệp Nhà nước", Tạp chí nông nghiệp và phát triển nông thôn, (4), trang 199 – 200 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nông nghiệp Nhà nước
Tác giả: Bùi Văn Ten
Năm: 2000
32- Nguyễn Văn Thuận, Phạm Tấn Cung (1993), “Một số vấn đề sử dụng đất ở trung du - miền núi Bắc bộ”. Tạp chí HĐKH, (8), trang 26-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề sử dụng đất ở trung du - miền núi Bắc bộ
Tác giả: Nguyễn Văn Thuận, Phạm Tấn Cung
Năm: 1993
35- Nguyễn Trần Trọng, Đồng Xuân Ninh, Lưu Đức Hồng, Đào Xuân Cần (1994), Kinh tế gò đồi với phát triển sản xuất hàng hóa, Nxb Nông nghiệp, Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế gò đồi với phát triển sản xuất hàng hóa
Tác giả: Nguyễn Trần Trọng, Đồng Xuân Ninh, Lưu Đức Hồng, Đào Xuân Cần
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1994
39- FAO (1990), Land evaluation and farming system analysis for land use planning, Working document, Italia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Land evaluation and farming system analysis for land use planning
Tác giả: FAO
Năm: 1990
4- Nguyễn Văn Bộ (2000), Bón phân cân đối và hợp lý cho cây trồng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Khác
5- B. Mollison và R.M. Slay. Đại cương về nông nghiệp bền vững. Người dịch: Hoàng Văn Đức. Nxb Nông nghiệp, Hà nội 1994, Tr 1-16 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4.1. Diễn biến một số yếu tố khí hậu huyện Nam Đàn - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp vùng gò đồi huyện nam đàn, tỉnh nghệ an
Hình 4.1. Diễn biến một số yếu tố khí hậu huyện Nam Đàn (Trang 47)
Bảng 4.3. Diện tích, cơ cấu sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2007 - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp vùng gò đồi huyện nam đàn, tỉnh nghệ an
Bảng 4.3. Diện tích, cơ cấu sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2007 (Trang 64)
Bảng 4.4. Hiện trạng sử dụng đất huyện Nam Đàn và vùng gò đồi năm 2007 - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp vùng gò đồi huyện nam đàn, tỉnh nghệ an
Bảng 4.4. Hiện trạng sử dụng đất huyện Nam Đàn và vùng gò đồi năm 2007 (Trang 66)
Hình 4.3. Biến động sử dụng đất nông nghiệp của vùng gò đồi - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp vùng gò đồi huyện nam đàn, tỉnh nghệ an
Hình 4.3. Biến động sử dụng đất nông nghiệp của vùng gò đồi (Trang 68)
Bảng 4.5. Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp vùng gò đồi huyện nam đàn, tỉnh nghệ an
Bảng 4.5. Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính (Trang 69)
Hình 4.4. Cánh đồng lúa vụ xuân trong LUT 2 lúa - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp vùng gò đồi huyện nam đàn, tỉnh nghệ an
Hình 4.4. Cánh đồng lúa vụ xuân trong LUT 2 lúa (Trang 73)
Hình 4.6. Cà chua trong LUT chuyên rau - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp vùng gò đồi huyện nam đàn, tỉnh nghệ an
Hình 4.6. Cà chua trong LUT chuyên rau (Trang 74)
Hình 4.7. Dưa chuột trong LUT chuyên rau - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp vùng gò đồi huyện nam đàn, tỉnh nghệ an
Hình 4.7. Dưa chuột trong LUT chuyên rau (Trang 74)
Hình 4.8. Cây vải, chanh, cam trong LUT cây ăn quả - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp vùng gò đồi huyện nam đàn, tỉnh nghệ an
Hình 4.8. Cây vải, chanh, cam trong LUT cây ăn quả (Trang 76)
Hình 4.9. Cảnh quan rừng thông - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp vùng gò đồi huyện nam đàn, tỉnh nghệ an
Hình 4.9. Cảnh quan rừng thông (Trang 76)
Hình 4.10. Cảnh quan rừng keo, bạch đàn - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp vùng gò đồi huyện nam đàn, tỉnh nghệ an
Hình 4.10. Cảnh quan rừng keo, bạch đàn (Trang 77)
Bảng 4.9. Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất chính - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp vùng gò đồi huyện nam đàn, tỉnh nghệ an
Bảng 4.9. Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất chính (Trang 78)
Hình 4.11. Hiệu quả kinh tế các LUT - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp vùng gò đồi huyện nam đàn, tỉnh nghệ an
Hình 4.11. Hiệu quả kinh tế các LUT (Trang 80)
Bảng 4.12. Lượng phân bón cho cây trồng được quy đổi ra lượng (N, P- - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp vùng gò đồi huyện nam đàn, tỉnh nghệ an
Bảng 4.12. Lượng phân bón cho cây trồng được quy đổi ra lượng (N, P- (Trang 84)
Bảng 4.13. Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cho một số cây trồng - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp vùng gò đồi huyện nam đàn, tỉnh nghệ an
Bảng 4.13. Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cho một số cây trồng (Trang 86)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w