1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn xác định tiềm năng đất đai cho phát triển cây chè tại huyện phú bình tỉnh thái nguyên

90 672 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn xác định tiềm năng đất đai cho phát triển cây chè tại huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại Luận văn
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 3,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 1

1 Mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây chè là cây công nghiệp lâu năm có giá trị kinh tế và giá trị sử dụng cao Hiện nay cây chè được trồng ở nhiều nước trên thế giới và tập trung nhiều

ở các nước Châu á và châu Phi

Việt Nam có điều kiện tự nhiên phù hợp với yêu cầu sinh thái, phát triển của cây chè Đến nay Việt Nam đã có trên 102.000 ha diện tích với sản lượng 97.000 tấn

Cây chè là một loại nước uống phổ biến, được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới Cây chè cũng là một loại cây có tác dụng bảo vệ sức khoẻ cho con người, nước chè chống được lạnh, khắc phục sự mệt mỏi của cơ bắp

và hệ thần kinh, làm tinh thần minh mẫn, thoải mái sau thời gian lao động

Hiện nay nhu cầu của thị trường tiêu thụ sản phẩm chè trong nước và xuất khẩu ra thế giới ngày càng tăng cao, thu nhập từ cây chè ổn định và có nhiều cơ hội phát triển, chính vì vậy mục tiêu phát triển của cây chè đang

được quan tâm Xu hướng hiện nay ngoài mở rộng diện tích là thâm canh tăng năng suất, chất lượng và mở rộng diện tích trên các vùng đất có khả năng phát triển

Cây chè là một loại cây có thể sống và sinh trưởng ở nhiều nơi, tuy nhiên để có năng suất cao và chất lượng tốt thì chỉ tập trung ở các vùng chè như Tân Cương, Suối Giàng… Thái Nguyên là một vùng chè trọng điểm trong cả nước với diện tích 15.700 ha, trong đó có trên 13.000 ha chè kinh doanh với sản lượng hàng năm là 19.000 tấn chè khô Người dân có nhiều kinh nghiệm trong việc trồng và chế biến chè Chè Thái Nguyên nổi tiếng trong cả nước không chỉ về quy mô mà còn do chất lượng ngon đặc trưng của

nó Sản phẩm chè Tân Cương của Thái nguyên đã nổi tiếng trong cả nước và

Trang 2

trên thế giới Hiện nay cây chè đang được coi là cây trồng mũi nhọn của tỉnh Trồng chè không những khai thác tốt tiềm năng vốn có về điều kiện khí hậu,

đất đai của tỉnh mà còn góp phần trong việc xoá đói giảm nghèo, tiến tới làm giàu, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá nông thôn Đồng thời phát triển cây chè góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc, chống xói mòn, rửa trôi, bảo vệ đất và môi trường

Vì lợi ích kinh tế, đã có thời kỳ diện tích chè được mở rộng một cách tự phát, có nơi thành công đem lại lợi nhuận cho người trồng chè, nhưng cũng không hiếm nơi thất bại do nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân do: lựa chọn loại đất trồng chè ít hay không phù hợp, do kỹ thuật canh tác không phù hợp, do điều kiện kinh tế, kỹ thuật của người làm chè… Việc

mở rộng diện tích tự phát như vậy hoàn toàn không phù hợp với nền sản xuất nông nghiệp bền vững và mang tính hàng hoá

Phú Bình là một huyện phía Đông Nam của tỉnh Thái Nguyên với diện tích đất tự nhiên là 24.936,11 ha Sự phát triển của Huyện Phú Bình có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của toàn tỉnh Để hình thành vùng sản xuất chè hàng hoá cho huyện Phú Bình, yêu cầu phải có sự

đánh giá tốt về điều kiện tự nhiên trên từng đơn vị sử dụng đất cụ thể cho sự phát triển cây chè, phát hiện ra những điều kiện thuận lợi và những yếu tố hạn chế, từ đó đề xuất các giải pháp kỹ thuật phù hợp Một trong những điều kiện

tự nhiên hàng đầu là điều kiện về đất đai

Để đáp ứng được yêu cầu mở rộng diện tích đất trồng chè trên địa bàn huyện Phú Bình trước hết cần tập trung nghiên cứu khả năng sản xuất của đất xác định được những khu vực thích hợp có khả năng phát triển diện tích đất trồng cây chè, nhằm mục đích thúc đẩy việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng hiệu quả, phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho người dân

Đồng thời cũng là cơ sở định hướng cho quy hoạch sử dụng đất của huyện trong giai đoạn 2005 - 2015

Trang 3

Xuất phát từ yêu cầu đó chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu :

“Xác định tiềm năng đất đai cho phát triển cây chè tại huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên”

1.2 Mục đích của đề tài

Xác định các loại đất phù hợp cho việc phát triển diện tích đất trồng chè

ở huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên theo hướng sản xuất hàng hoá và phát triển bền vững

1.3 Yêu cầu của đề tài

- Đánh giá ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và đất đai

đến khả năng mở rộng diện tích đất trồng chè của huyện Phú Bình

- ứng dụng quy trình xây dựng bản đồ đơn vị đất đai trong đánh giá đất theo FAO trên diện tích đất vùng gò đồi của huyện, tìm kiếm xác định quỹ đất phù hợp có khả năng phát triển cây chè

- Xác định được các yêu cầu sử dụng đất cuả các đơn vị đất đai đối với cây chè

- Xác định được những thuộc tính của loại hình sử dụng đất trồng chè,

đối chiếu với các yêu cầu sử dụng đất của các LMU để làm cơ sở cho đề xuất phát triển diện tích đất trồng chè

- Xây dựng lên bản đồ các khu vực có khả năng trồng chè từ đó đưa ra

định hướng khuyến cáo đầu tư phù hợp cho từng đơn vị đất đai có khả năng trồng chè tại địa phương

Trang 4

2 Tổng quan

2.1 cây chè và yêu cầu sinh thái của cây chè

2.1.1 Khái quát chung về cây chè

Chè có nguồn gốc từ Trung Quốc được truyền bá khắp thế giới, cây chè

có lịch sử rất lâu đời, từ khi phát hiện, sử dụng, truyền bá và phát triển đến nay

đã có khoảng thời gian gần 5000 năm

Nước chè từ xưa đến nay vẫn là thứ nước uống giải khát phổ biến, của người dân trong nước và trên thế giới Uống chè chống được lạnh, khắc phục

được sự mỏi mệt của cơ bắp và hệ thần kinh trung ương, kích thích vỏ đại não, làm cho tinh thần minh mẫn thoải mái, giảm căng thẳng trong lao động trí óc

và chân tay

Chè có tác dụng bảo vệ sức khoẻ, chữa các bệnh đường ruột (do tanin), kích thích tiêu hoá mỡ, chống béo phì, chống sâu răng…Trong chè có nhiều vitamin C,B,K,E,F và các axit amin cần thiết cho cơ thể Chè xanh còn có chức năng điều hoà sinh lý con người, chất catechin có khả năng phòng trừ ung thư bằng cách củng cố hệ thống miễm dịch, phòng ngừa cao huyết áp, chống lão hoá, hạn chế tăng lượng cholesterol…[12][17][18]

ở Việt Nam cây chè là cây trồng bản địa truyền thống có tác dụng bảo

vệ môi trường Trồng chè đúng quy trình sẽ tạo ra một thảm thực vật có tác dụng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, xây dựng và bảo vệ môi trường sinh thái

Cây chè tạo công ăn, việc làm cho cho người lao động, ổn định đời sống

và tăng thu nhập cho các hộ gia đình nông nghiệp Quy hoạch các vùng chè tập trung góp phần cải thiện điều kiện vật chất và tinh thần cho người dân đặc biệt các khu vực vùng sâu vùng xa, trung du miền núi…

Chè Việt Nam đã có chỗ đứng nhất định trên thị trường chè của hơn 30 nước trên thế giới và từng bước xâm nhập vào các thị trường khó tính như:

Trang 5

Nhật bản, Tây Âu và Bắc Mỹ Chè trở thành sản phẩm hàng hóa xuất khẩu có giá trị góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu

Chè còn thức uống tạo ra nét văn hoá cho con người, tạo ra một thế giới tinh thần, nguồn cảm hướng của thơ ca, các loại hình nghệ thuật … Nhiều nước tạo cho mình một nền văn hoá trà lâu đời, sinh động, phong phú và truyền thống với nét độc đáo riêng cho từng dân tộc [12]

Diễn biến của sản xuất và thị trường chè trong những năm cuối của thế

kỷ XX cho thấy đã xuất hiện những xu thế sau:

- Sản lượng và nhu cầu về chè không phân bổ đều theo địa lý Châu quê hương của chè luôn luôn có tính quyết định quan trọng cho ngành chè toàn cầu

á Do lượng chè được giữ ngày càng nhiều tại các nước sản xuất chè châu á nên lục địa châu Phi như là một xương sống của thị trường xuất khẩu

- Nhu cầu tiêu dùng các loại chè túi nhúng, chè bột, chè hòa tan ngày càng gia tăng, nhất là ở những nước công nghiệp phát triển ở những nước này, chỉ còn khoảng 5 - 10% chè rời được dùng để pha uống

- Thị trường chè thế giới chịu sự cạnh tranh găy gắt giữa chính các nước sản xuất cung ứng chè Hầu hết các nước sản xuất và cung ứng chè đều là những nước đang phát triển Chè vừa là nguồn thu ngoại tệ vừa là cây trồng giải quyết việc làm và đảm bảo cuộc sống tối thiểu cho bộ phận không nhỏ người lao động

- Đối với ngành chè Việt Nam, thị trường chè trong nước còn lớn, thị

Trang 6

trường nước ngoài đang mở rộng nhưng chịu sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt Quá trình hội nhập nền kinh tế khu vực và Quốc tế của nước ta ngày càng diễn mạnh mẽ Đây là một cơ hội nhưng cũng là một thách thức to lớn đối với các ngành sản xuất kinh doanh ở trong nước nói chung, ngành chè nói riêng Trong bối cảnh của thị trường chè thế giới hiện nay, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm chè là vấn đề bức thiết của ngành chè nước ta [4]

2.1.2 Yêu cầu sinh thái cơ bản của cây chè

2.1.2.1 Điều kiện thổ nhưỡng

- Các loại đất trồng chè

Trên thế giới có những loại đất trồng chè chính [12]

+ Đất miền cận nhiệt đới như: đất đỏ, đất vàng, đất potzol (Liên Xô),

đất đỏ , vàng, tím và đất bồi tụ (Trung Quốc)

+ Đất miền nhiệt đới: đất đỏ, vàng phát triển trên đá gnai, hoa cương, phù sa, đất feralit, đỏ vàng bazan và phù sa cổ (Srilanka, ấn Độ)

Những loại đất trồng chè chính ở Việt Nam [10][12]

+ Đất đỏ nâu trên đá vôi

+ Đất đỏ vàng trên phiến thạch sét và biến chất

+ Đất đỏ vàng trên đá bazan

Những loại đất trồng chè chính ở Thái Nguyên [19]

+ Đất đỏ nâu trên đá vôi - Fv

+ Đất đỏ vàng trên đá biến chất - Fi

Trang 7

- Đặc tính vật lý [12]

+ Độ sâu tầng đất: cây chè sinh trưởng trên một vị trí cố định nên bộ rễ phát triển sâu rộng mới hút được nước và chất dinh dưỡng trong đất Tiêu chuẩn chọn độ dày cho đất tối thiêu phải từ 50-100 cm, độ dày tầng đất càng lớn thì cây chè phát triển càng lâu năm

+ Kết cấu đất: viên hạt đất tơi xốp, giữ nước nhiều, thấm nước nhanh, thoát nước tốt có lợi cho sự phát triển của bộ rễ và vi sinh vật trong đất

+ Thành phần cơ giới: đất thịt pha cát đến đất thị nặng, loại đất này có chế độ nước và không khí điều hoà, nên thuận lợi cho các quá trình hoá học và sinh vật trong đất

+ Mực nước ngầm: phải dưới 100 cm, vì cây chè không chịu ngập nước lâu, trồng ở đất trũng sẽ bị chết úng

- Đặc tính hoá học [12]

+ Độ chua (pHKCl) : là chỉ tiêu quyết định đời sống cây chè, ở đất trung tính hay kiềm, chè gieo mọc những chết dần Độ chua thuận lợi nhất cho cây chè là 4,5 - 5,5; giới hạn dưới là 4,0 và giới hạn trên là 6,0 trên toàn bộ độ sâu

rễ chè Cây chè ưu chua những không kỵ vôi, nên đất quá chua có thể bón thêm vôi

+ Mùn: là chỉ tiêu quan trọng, vừa là kho dự trữ dinh dưỡng vừa có tác dụng cải tạo thành phần cơ giới, tăng khả năng hấp thụ và giữ chất dinh dưỡng

+ Chất dinh dưỡng: trong lá chè có 17 nguyên tố hoá học, quan trọng nhất là N,P,K

+ Các yếu tố vi lượng như Mn, Bo, Zn, Cu… đều ảnh hưởng đến chất lượng chè

2.1.2.2 Điều kiện địa hình

- Điều kiện độ cao

Độ cao so với mặt biển có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng chè,

Trang 8

cây chè trồng ở vùng cao có chất lượng cao hơn, ảnh hưởng đến hàm lượng tanin và tinh dầu hương thơm

Kinh nghiệm sản xuất chè lâu đời đã trên thế giới đã chứng minh các loại danh trà nổi tiếng có nhiều ở các vùng núi cao như chè Hoàng sơn mao phong, Thiết Quan an, Thuỷ tiên, Đại bạch trà (Trung Quốc); Nuwara Elya, Talawakele (Srilanka ở độ cao trên 1200m); Darjeeling (Ân Độ ở độ cao 2000m); ở Việt Nam chè có chất lượng cao ở vùng cao như Chè Shan (Hà Giang), Suối Giàng (Yên Bái), Tà Sùa (Sơn La)…ở vùng có độ cao chất lượng chè ngon do là do nhiệt độ không quá cao, ẩm độ lớn, ánh sáng tán xạ, biên độ giao động nhiệt ngày và đêm cao…Tuy nhiên chè ở vùng cao lại cho năng suất thấp, sinh trưởng chậm, nhưng giá trị kinh tế lại rất cao

- Điều kiện địa hình, độ đốc [12]

Địa hình có ảnh hưởng đến tiểu khí hậu vùng chè, xói mòn và sử dụng cơ giới trong canh tác Độ dốc và địa hình hạn chế cơ giới hoá canh tác, thu hoạch và vận chuyển trong vùng chè, vì vậy các vùng chè chủ yếu sử dụng lao

động thủ công

Độ dốc có ý nghĩa nhất định cho cây chè, độ dốc phản ánh điều kiện địa hình thoát nước tốt, không ngập úng, biểu hiện địa hình gò đồi, có nhiều ánh sáng tán xạ Cây chè được trồng càng ở vùng cao so với mặt nước biển thì chất lượng chè càng ngon do cây chè tính luỹ được nhiều chất thơm Địa hình gò

đồi cũng là vùng sinh trưởng phát triển phổ biến của cây chè

2.1.2.3 Điều kiện khí hậu

- Lượng mưa, chế độ nước:

Nước chiếm đến 80% trong tế bào chè, đó là thành phần chính của chất nguyên sinh, nước là điều kiện cho hoạt động sinh lý của cây chè Lượng mưa trung bình năm thích hợp cho sinh trưởng của cây chè là 1500-2000mm Số ngày mưa ảnh hưởng rất lớn đến lao động hái chè, cũng như hoạt động chế biến chè Mưa còn ảnh hưởng đến chất lượng chè, mưa phùn mùa xuân có lợi

Trang 9

cho sinh trưởng chè, mưa rào làm đất bị xói mòn mạnh ảnh hưởng đến bộ rễ chè Mưa ít nhưng phân phối đều, xen kẽ nắng sẽ thúc đẩy cây chè sinh trưởng tốt Độ ẩm không khí cần thiết là 80-85%, độ ẩm phù hợp và ánh sáng tán xạ

là những điều kiện thuận lợi phù hợp cho cây chè

Theo nghiên cứu [7][9][10][12] cho thấy: chè là cây ưu ẩm, nếu lượng mưa yêu cầu khoảng trên 1500mm được phân bổ đều cho các tháng, sẽ là điều kiện thuận lợi để cây chè tích luỹ được nhiều chất polyphenol Các tháng có lượng mưa lớn (tháng 5-10) trên 100mm thu hoạch bút chè đạt trên 10% sản lượng chè cả năm, tháng có lượng mưa trung bình (tháng 3-4) thu hoạch chè

đạt 5-10%, còn các tháng có lượng mưa thấp (tháng11-12), thu hoạch chè chỉ

đạt dưới 5% Mưa (chế độ nước) ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất của cây chè Chính vì vậy, chế độ tưới chủ động, tưới nước kết hợp với tủ gốc giữ ẩm cho chè góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất chè Vấn đề thuỷ lợi cần được chú trọng trong lựa chọn các khu vực trồng chè

- Điều kiện nhiệt độ:

Nhiệt độ không khí thuận lợi cho cây chè sinh trưởng là 22 - 280C, chè sinh trưởng chậm ở nhiệt độ 15 - 180C, và sinh trưởng rất chậm khi dưới 100C

và trên 300C Nếu nhiệt độ trên 400C thì cây chè sẽ khô sém nắng ở bộ phận non Tuy nhiên, khả năng chịu rét tuỳ thuộc vào loại chè, chè Shan thì chịu rét tốt

Các nghiên cứu cho thấy: nhiệt độ ảnh hưởng nhất định đến quá trình nảy chồi của cây chè, giống chè nảy chồi khi lượng tích nhiệt là 4000C đến

5000C Đợt này chồi này tới đợt nảy chồi kế tiếp khi cây chè tích lượng nhiệt hoạt động từ 760 đến 10600C Theo quy luật, nhiệt độ cao khi có nhiều ánh sáng mặt trời sẽ có lợi cho sự trao đổi carbon trong lá chè thúc đẩy quá trình hình thành polyphenol Ngược lại nhiệt độ thấp, ánh sáng yếu đẩy quá trình trao đổi nitơ

Cây chè đòi hỏi nhiệt độ cao, tổng tích ôn hàng năm không thấp hơn

Trang 10

32000C, nếu tổng tích ôn càng cao thì trong lá chè tổng hợp được nhiều chất hữu cơ giá trị Những nương chè ở có biên độ dao động nhiệt độ ngày và đêm lớn là điều kiện cho cây chè tích luỹ được nhiều chất thơm, hàm lượng tamin cao [7][10][12]

- Điều kiện ánh sáng:

Cây chè vốn là một cây rừng, mọc trong điều kiện ẩm ướt, râm mát của vùng khí hậu cận nhiệt đới gió mùa Đông Nam á Về nhu cầu ánh sáng, cây chè là một cây trung tính, trong giai đoạn cây con, cây ưu bóng râm, lớn lên cây chè ưu ánh sáng Đặc biệt ánh sáng tán xạ ở vùng núi cao có tác dụng rất tốt đến phẩm chất chè [7][12]

Việc trồng cây che bóng cho chè rất có ý nghĩa, cây che bóng giúp cây chè có nguôn ánh sáng phù hợp không bị ánh sáng trực xạ, làm cây chè nâng cao năng suất và kéo dài chu kỳ sống và phát triển của cây chè

2.2 khái quát sản xuất chè trên thế giới và ở Việt Nam

2.2.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên thế giới

Cây chè được phân bố rộng khắp trên thế giới, đến nay trên thế giới đã có trên 58 quốc gia phát triển sản xuất chè ở các quy mô khác nhau

Tổng diện tích và tổng sản lượng chè thế giới theo thống kê năm 2004 là 2.460,9 nghìn ha chè và tổng sản lượng đạt 3169 nghìn tấn với năng suất trung bình trên thế giới đạt 12,99 tạ/ha [5]

Cùng với tốc độ tăng trưởng sản xuất chè, tốc độ tiêu thụ sản phẩm, xuất, nhập khẩu chè ngày càng tăng Theo đánh giá của tổ chức FAO, trong thời gian 10 năm (1990-2000), mức tăng sản lượng chè trên thế giới vào khoảng 2,8 - 3,2 %/năm Mức tiêu thụ chè trên thế giới tăng bình quân là 2,9 %/năm Theo đánh giá thị trường chè thế giới bị chi phối bởi một số nước sản xuất mạnh ấn Độ, một nước sản xuất chè nhất chiếm khoảng 30% sản lượng chè toàn cầu, sau đó là Trung Quốc 24%, Sri Lanka 10% Bốn nước sản xuất chè

Trang 11

lớn nhất (ấn Độ,Trung Quốc, Sri Lanka và Kenya) có lượng chè sản xuất chiếm tới 70%, sáu nước lớn nhất chiếm 80 % và 10 nước lớn nhất (trong số này Việt Nam đứng thứ 8) chiếm hơn 90% lượng chè sản xuất toàn thế giới

Điều này hoàn toàn ổn định trong những năm gần đây [4][5]

Châu á vẫn là châu lục sản xuất chè lớn nhất trong các châu lục, chiếm gần 80% mà đại diện bởi 3 người khổng lồ là ấn Độ, Trung Quốc và Sri Lanka Sự xuất hiện của một số nước sản xuất chè mới ở Đông Phi là một hiện tượng hoàn toàn mới trong lịch sử ngành chè và nổi lên như một nhân tố chính trong sản xuất và xuất khẩu chè thế giới

Xét trên phương diện về diện tích trồng chè và sự phong phú về giống, sự

đa dạng của sản phẩm sự tiêu thụ chè trong nhiều nước, thì hiện nay Trung Quốc, ấn Độ, Sri Lanka, Kenia…là những nước sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu chè lớn lớn trên thế giới Các nước này chiếm 66% sản lượng xuất khẩu chè trên toàn thế giới

Theo thống kê, những nước sản xuất chè lớn nhất trên thế giới cũng là nước tiêu thụ nhiều chè nhất Tỷ trọng tiêu dùng chè so với tổng sản lượng của các nước xuất khẩu chủ yếu chiếm trên dưới 50% và có xu hướng tăng tỷ trọng tiêu dùng so với sản lượng sản xuất ra Trung Quốc là nước sản xuất chè lớn trên thế giới nhưng xuất khẩu cũng chỉ chiếm 1/3 tổng sản lượng, năm

1990 xuất khẩu 20,2 vạn tấn đạt 500 triệu USD, ấn Độ xuất khẩu 19,6 vạn tấn

đạt giá trị trên 350 triệu USD… Khách hàng chủ yếu là Anh, Mỹ, Nga,Pháp

và Nhật

Cùng với tốc độ tăng trưởng sản xuất chè, tốc độ tiêu thụ sản phẩm, xuất, nhập khẩu chè ngày càng tăng Theo đánh giá của tổ chức FAO, trong thời gian 10 năm (1990-2000), mức tăng sản lượng chè trên thế giới vào khoảng 2,8 - 3,2 %/năm Mức tiêu thụ chè trên thế giới tăng bình quân là 2,9 %/năm Theo FAO, thì giá chè trên thế giới có xu hướng tăng theo các thời kỳ, nếu giá

Trang 12

xuất giai đoạn 1970-1979 vào khoảng 800-900USD/tấn, thì giai đoạn

1980-1989 là 1.200-1.300 USD/tấn và giai đoạn 1990-1998 là 1.500-1.700 USD/tấn [4][5]

Theo đánh giá của các chuyên gia trong nhóm các nước sản xuất kinh doanh chè thuộc Tổ chức Nông lương Quốc tế, đến cuối những năm của thế

kỷ XX đã có trên một nửa dân số thế giới uống chè Hầu hết các nước đều có người uống chè, trong đó có khoảng 160 nước có nhiều người uống chè Mức tiêu thụ chè bình quân đầu người một năm trên thế giới là 0,5 kg

Thế giới hiện có 131 nước nhập khẩu chè, trong đó phải kể đến các nước nhập khẩu lớn như Anh, Nga 150 - 200 nghìn tấn/năm, Pakistan, Mỹ 100 -

150 nghìn tấn/năm Nhật, Tiểu Vương Quốc ả Rập, Ai Cập 50 - 70 nghìn tấn/năm Iraq, Ba Lan, Đức, Maroco, Thổ Nhĩ Kỳ 20 - 30 nghìn tấn/năm úc, Malaysia, Ucraina, Ireland, Nam Phi, Senegal, Turmenistan trên 10 nghìn tấn/năm

ở Châu Âu, Vương quốc Anh là một trong những quốc gia nhập khẩu chè lớn trên thế giới với sản lượng bình quân 150 nghìn tấn/năm, bằng 10% lượng chè nhập khẩu toàn cầu và nhiều hơn lượng chè nhập khẩu của các quốc gia Châu Âu còn lại Trong những năm gần đây, Nga nổi lên như là một trong những tâm điểm trên thị trường nhập khẩu chè

Có thể thấy, thị trường chè thế giới rất sôi động Nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng, tuy nhiên cũng đòi hỏi chất lượng chè ngày càng cao Đó là những tín hiệu tốt cho ngành chè Việt Nam phát triển, tuy nhiên những đặt ra những yêu cầu về cạnh tranh găy gắt trên thị trường, đòi hỏi sản phẩm chè Việt Nam không ngừng nâng cao chất lượng và thương hiệu của mình

2.1.2 Tình hình phát triển cây chè ở Việt Nam

Cây chè ở nước ta đã có từ lâu đời, sản xuất chè đã trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật có vị trí xứng đáng trong nền kinh tế quốc dân và ngày càng

có uy tín trên thị trường quốc tế

Trang 13

Do điều kiện tự nhiên của vùng trung du và miềm núi nước ta rất thích hợp với sự phát triển của cây chè, thời gian cho búp hàng năm của cây chè từ 9

đến 10 tháng và thậm chí những vùng cho búp quanh năm nếu như điều kiện tưới tiêu chủ động Trong khi nhiều nước trên thế giới điều kiện tự nhiên cho phép trồng chè nhưng thời gian cho búp chỉ từ 5 đến 7 tháng trong năm Điều này chứng tỏ những lợi thế về điều kiện tự nhiên của Việt Nam

Cho đến nay, chè Việt Nam đã được bán ở 59 nước thuộc cả 5 châu lục Trong tổng số trên 90 nghìn tấn chè của cả nước năm 2002, chè xuất khẩu đạt

71 nghìn tấn, chiếm gần 80% Tỷ lệ này đã đưa Việt Nam đứng vào hàng thứ

ba, sau Sri Lanka và Kenya về tỷ trọng xuất khẩu Như vậy, chè Việt Nam đã gia tăng thị phần, dù còn ở mức khiêm tốn (khoảng 6% lượng xuất khẩu toàn cầu) Trong 7 năm (1997-2003), số nước và vùng lãnh thổ nhập chè của Việt Nam đã tăng gấp đôi (năm 1997: 30 nước, 2003: 59 nước), sản lượng xuất khẩu tăng hơn 2 lần Đó là do sản phẩm đã đa dạng hơn, đã xoá bỏ hẳn độc quyền xuất khẩu (hiện có khoảng 140-150 công ty đủ mọi thành phần tham gia xuất khẩu chè) và các nhà xuất khẩu đã năng động hơn trong việc tìm kiếm thị trường [4][5]

Hiện nay ở nước ta, chè được trồng ở trên 34 tỉnh trung du và miền núi, trong đó có 16 tỉnh miền núi phía Bắc, Trong đó có 9 tỉnh được ngành chè xếp vào các tỉnh trọng điểm trồng chè về diện tích, sản lượng, chất lượng, khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật cũng như công nghệ chế biến chè Tổng diện tích chè của 9 tỉnh này đạt 89.682 ha, chiếm 82,8% diện tích chè toàn quốc Theo thống kê diện tích trồng chè của 9 tỉnh trọng điểm, trong 9 tỉnh này thì 8 tỉnh thuộc vùng trung du Miền núi Bắc Bộ, 1 tỉnh thuộc Tây Nguyên Trong đó có 4/9 tỉnh có diện tích trên 10 nghìn ha, Lâm Đồng là tỉnh có diện tích chè lớn nhất nước chiếm 22,86% tổng diện tích chè cả nước Năng suất chè bình quân trên cả nước đạt trên 40 tạ/ha Đây là những vùng chiếm ưu thế

về diện tích, sản lượng và chất lượng so với các vùng chè khác trong cả nước,

Trang 14

đã hình thành nhiều sản phẩm chè đặc sản truyền thống nổi tiếng như chè Tà Sùa, chè Tuyết Shan, chè Suối Giàng, chè Tân Cương

Nguồn: Tổng Cty chè Việt Nam

Chè là cây công nghiệp lâu năm phát triển không bột phát như những cây công nghiệp lâu năm khác như cà phê, cao su, hồ tiêu, cây chè phát triển

ổn định và vững chắc

Đặc biệt từ khi có quyết định số 43/1999/QĐ-TTg ngày 10/3/1999 của Thủ Tướng Chính Phủ về kế hoạch sản xuất chè năm 1999 - 2000 và định hướng phát triển chè đến năm 2005 - 2010 thì ngành chè Việt Nam đã có bước phát triển quan trọng [4][5]

Mục tiêu phát triển của ngành chè là nâng cao chất lượng, sản lượng và tính cạnh tranh của sản phẩm, với giá thành hợp lý, tiêu thụ chè ổn định, được giá, chiếm được tín nhiệm lâu dài trên thị trường xuất khẩu và trong nước, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu, làm tốt nghĩa vụ đối với nhà nước, tích luỹ tái sản xuất mở rộng và nâng cao thu nhập, đời sống vật chất văn hoá, kỹ năng kỹ xảo, nghiệp vụ quản lý và nhiệt tình lao động của những người làm chè, xâyđựng ngành chè Việt Nam phát triển và bền vững

Trang 15

Bảng 02: Diện tích phát triển cây chè thời kỳ 1990 - 2002

Chỉ số phát triển (%)

Nguồn: Tổng Cty chè Việt Nam năm 2002

Theo phương án điều chỉnh quy hoạch sản xuất chè cả nước đến năm 2005 và 2010 đã thống kê và đưa ra một số chỉ tiêu phát triển sản xuất cây chè trong những năm tới nhằm định hướng cho quy hoạch phát triển Ngành chè

Bảng 03: Thực trạng và một số chỉ tiêu phát triển sản xuất chè

đến năm 2005 và 2010 Chỉ tiêu Đơn vị Năm

- Sản lượng xuất khẩu tấn 37.000 71.202 110.000 140.000

- Kim ngạch xuất khẩu Triệu USD 50.1 81,3 125 220

Nguồn: Tổng Cty chè Việt Nam

Mục tiêu phát triển cây chè trong giai đoạn 2006-2010 như sau:

Trang 16

- Thâm canh 124.000 ha chè kinh doanh vào năm 2010

- Đa dạng hoá cây trồng ngoài cây chè như các loại đậu đỗ, cây ăn quả, tinh dầu

- Tổng doanh thu 1 ha trồng chè đạt 15 - 20 triệu đồng/ha [4]

Việt Nam phấn đấu xây dựng Ngành chè thành ngành sản xuất đa dạng sản phẩm cây trồng, tận dụng các loại cây trồng đồ uống để tạo ra nhiều sản phẩm khác nhau cho nước uống

2.1.3 Tình hình phát triển cây chè ở Thái Nguyên

Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè ở Thái Nguyên

Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc, có diện tích tự nhiên là 3.541,1 km2, dân số là 1.083.779 người (niên gián thống kê 2004) Tỉnh Thái Nguyên có 9 đơn vị hành chính cấp huyện với 180 xã, phường Tỉnh

có vị trí thuận lợi, là điểm hàng hội tụ và giao lưu phát triển kinh tế xã hội giữa miền núi phía Bắc và vùng Đồng bằng

Trang 17

Thái Nguyên có điều kiện tự nhiên rất thích hợp cho sự sinh trưởng phát triển cây chè, cây chè xuất hiện từ rất lâu đời trên đất Thái Nguyên Tuy nhiên, chỉ đến thập kỷ 60 - 70 nó mới thực sự phát triển nhanh và mạnh mẽ

Đến năm 2004, tổng diện tích chè ở Thái Nguyên là 15.700 ha, trong đó diện tích chè kinh doanh là 13.000 ha, năng suất bình quân đạt 73,01 tạ/ha, sản lượng đạt 95.000 tấn búp tươi, đứng thứ hai trên cả nước về diện tích và sản lượng, sau Lâm Đồng

Qua bảng 04 có thể thấy, diện tích, năng suất, sản lượng chè Thái Nguyên liên tục tăng qua các năm, đặc biệt là sự tăng nhanh của chỉ tiêu năng suất và sản lượng Điều này cho thấy chủ trương đầu tư phát triển cây chè của tỉnh đã đạt được hiệu quả cao

Trong những năm gần đây, thị trường chè Thái Nguyên tương đối ổn

định và có lợi cho người làm chè Chè Thái Nguyên được tiêu thụ trong cả nước và có uy tín rất cao về sản phẩm chè xanh, thị trường xuất khẩu chính của Thái Nguyên là Đài Loan, Nhật Bản và Nga… Đặc sản chè Tân Cương đã trở thành sản phẩm nổi tiếng

Bảng 04: Diện tích, năng suất, sản lượng chè Thái Nguyên

Năm Tổng diện

tích

Diện tích kinh doanh Năng suất

Sản lượng tươi

Sản lượng khô

ĐVT ha ha tạ/ha tấn tấn

Trang 18

Thái Nguyên có tiềm năng lớn về điều kiện đất đai, khí hậu để phát triển cây chè với diện tích đất rất thích hợp là 9.360 ha và diện tích thích hợp

là 16.720 ha, đặc biệt là diện tích đất đỏ vàng trên phiến thạch sét, đất vàng nhạt trên đá cát và đất nâu vàng trên phù sa cổ thích hợp cho việc sản xuất chè xanh đặc sản, chất lượng cao [19][20]

Cây chè được xác định là loại cây công nghiệp mũi nhọn phát triển nông nghiệp và phát triển kinh tế, là sản phẩm nông nghiệp làm giầu cho nhiều hộ gia đình nông dân, đã và đang được các cấp chính quyền, tổ chức quốc tế và cơ quan nghiên cứu… quan tâm đầu tư, ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất, chế biến

Trong những năm gần đây, thị trường tiêu thụ chè Thái nguyên tương

đối ổn định và đem lại lợi nhuận tương đối cho người trồng chè Hiện nay, chè Thái Nguyên tiêu thụ trong nước là chủ yếu, chiếm 70% tổng sản lượng do chè Thái có uy tín cao về sản phẩm chè xanh Số còn lại được các nhà máy chế biến chè đen và chè xanh xuất khẩu ra các thị trường Đài Loan, Nhật Bản

và Nga Thái nguyên có tiềm năng lớn trong sản xuất chè về điều kiện tự nhiên, khí hậu, về kinh nghiệm sản xuất chế biến… Trong giai đoạn hội nhập tới, cần có đầu tư phát triển sản xuất và mở rộng thị trường xuất khẩu, đẩy mạnh hoạt động sản xuất chè Góp phần đưa nghành chè Việt Nam phát triển hơn nữa

Trang 19

quả hiện nay Việc lựa chọn dựa trên cơ sở nghiên cứu xác định các khu vực thích hợp để phát triển cây chè đang là yêu cầu đặt ra

2.3 cơ sở khoa học và thực tiễn của phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Nghiên cứu về đánh giá đất

2.2.1.1 Sự cần thiết của đánh giá đất

Hiện nay, sự hạn chế về số lượng và sự giới hạn về không gian của nguồn tài nguyên đất đai cũng tạo lên sức ép không nhỏ trong hoạt động kinh

tế - xã hội phát triển sản xuất của xã hội con người Thực tế ở các nước đang phát triển quá trình sử dụng đất một cách tràn lan, chủ quan, tự phát vô hình chung đã và đang gây ra những nguy cơ đối với con người: đất đai bị sử dụng không hiệu quả, thiếu khoa học, không được bảo vệ tu bổ dẫn đến xói mòn rửa trôi, sự mất cân bằng sinh thái vv Các hoạt động khai thác sử dụng đất trực tiếp trong nông nghiệp còn chưa tận dụng hết được những tiềm năng to lớn của đất và có nhiều những tác động tiêu cực thiếu bền vững khác như nạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, khai thác không quan tâm đến bổ sung nguồn dinh dưỡng, bảo vệ tái sản xuất cho đất Điều đó đòi hỏi việc quản lý sử dụng

đất đai phải được đánh giá, quy hoạch hoá dựa trên cơ sở khoa học và điều kiện thực tế, nhằm đảm bảo tính hiệu quả, tính bền vững, đáp ứng những nhu cầu cần thiết cho hiện tại mà không làm phương hại đến sự phát triển trong tương lai

Thực hiện quá trình nghiên cứu đánh giá nguồn tài nguyên đất đai là một trong những yêu cầu cần thiết trong định hướng sản xuất nông nghiệp, tổ chức các loại hình sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay ngành nông nghiệp tiên tiến phát triển trong điều kiện thâm canh cao Đánh giá đất không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất một cách lâu bền mà nó còn được coi là hoạt

động cần thiết giúp người sử dụng đất có những hiểu biết về mặt khoa học đối với tiềm năng của đất đai trong hiện tại và tương lai, tận dụng những khả năng

Trang 20

mang tính lợi thế và hạn chế những những yếu tố bất lợi để hướng tới một nền nông nghiệp nghiệp bền vững Đánh giá đất đai không chỉ là việc đánh giá các yếu tố tự nhiên của đất mà cần phải có sự đánh giá một cách đầy đủ các yếu tố liên quan đến quá trình sử dụng đất hiện tại và trong tương lai, bao gồm các

đặc tính tự nhiên, kinh tế - xã hội, các nhu cầu và mục tiêu của người sử dụng

đất Đánh giá đất đai cung cấp thông tin các thông gắn liền với đất về các yếu

tố tự nhiên kinh tế, nên đánh giá đất được coi là cơ sở thực tế quan trọng cho việc sử dụng đất đai hợp lý và là cơ sở khoa học cho công tác lập quy hoạch sử dụng đất đai

Việc sử dụng phương pháp đánh giá đất của FAO để áp dụng cho các mục đích sử dụng đất nông nghiệp khác nhau, cho những loại cây trồng nhất

định phục vụ cho việc định hướng phát triển, quy hoạch vùng chuyên canh…

là những yêu cầu thực tế cần phát triển và thực hiện trong quá trình tiến tới xây dựng một nền nông nghiệp bền vững

2.2.1.2 Nội dung và yêu cầu đánh giá đất

Nội dung đánh giá đất [25]

Trong những thập niên 60 - 70, nhiều quốc gia trên thế giới có những nghiên cứu phát triển hệ thống phương pháp đánh giá đất cho mình Trong hoàn cảnh đó các nhiều khoa học đất nhận thấy phải có sự thống nhất và tiêu chuẩn hoá hệ thống đánh giá đất trên phạm vị toàn cầu, đông thời nhận thấy sâu sắc được tầm quan trọng của công tác đánh giá đất, phân hạng, đó là cơ sở cho công tác quy hoạch sử dụng đất Tổ chức Nông - Lương của Liên hợp quốc (FAO) đã tập hợp các nhà khoa học đất và các chuyên gia đầu nghành về nông nghiệp để tổng hợp các kết quả và kinh nghiệm đánh giá đất đai của các nước, xây dựng nên tài liệu "Đề cương đánh giá đất đai" (FAO, 1976) Tài liệu này đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm thử nghiệm và vận dụng vào công tác đánh giá đất ở nước mình và được công nhận là phương tiện tốt nhất

để đánh giá đất đất sản xuất nông lâm nghiệp Tiếp theo tài liệu này, hàng loạt

Trang 21

các tài liệu hướng dẫn đánh giá đất đai cho các đối tượng cụ thể được công bố như:

- Đánh giá đất đai cho nông nghiệp nước trời (FAO, 1983)

- Đánh giá đất đai cho vùng đất rừng (FAO, 1984)

- Đánh giá đất đai cho nông nghiệp có tưới (FAO, 1985)

- Đánh giá đất đai vì sự nghiệp phát triển (FAO, 1986)

- Đánh giá đất đai cho đồng cỏ chăn thả (FAO, 1989)

- Đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác cho quy hoạch sử dụng đất (FAO, 1994)

- Đánh giá và phân tích hệ thống canh tác cho quy hoạch sử dụng đất (1992)

Nguyên tắc đánh giá đất của FAO là đánh giá đất luôn gắn liền với loại hình sử dụng đất xác định, có sự so sánh giữa lợi nhuận và đầu tư cần thiết

Đánh giá đất của FAO dựa trên cơ sở so sánh, đối chiếu mức độ thích hợp giữa yêu cầu của các loại hình sử dụng đất với chất lượng đất, kết hợp với điều tra phân tích kinh tế - xã hội, môi trường để từ đó đưa ra hướng sử dụng đất hợp lý nhất theo hướng sử dụng đất bền vững

Năm 1976, FAO đã đề xuất định nghĩa về đất đai: “Đánh giá đất là quá

trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của vạt/khoanh đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại yêu cầu sử dụng đất cần phải có”

Nội dung chính trong đánh giá đất theo FAO gồm 4 vấn đề chính:

- Xác định các chỉ tiêu và quy trình xây dựng bản đồ đơn vị đất đai

- Xác định, mô tả các loại hình sử dụng đất và các yêu cầu sử dụng đất

- Xác định hệ thống cấu trúc phân hạng đất đai

- Phân hạng thích hợp đất đai

Trang 22

Yêu cầu của đánh giá đất

Yêu cầu chính trong đánh giá đất của FAO là gắn liền đánh giá đất với quy hoạch sử dụng đất và là một phần của quy trình quy hoạch sử dụng đất

Do vậy, những yêu cầu cần phải đạt được trong đánh giá đất theo FAO là:

- Thu thập được những thông tin phù hợp về tự nhiên - kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu

- Đánh giá sử dụng đất thích hợp cho các mục tiêu sử dụng khác nhau theo mục đích và nhu cầu của người sử dụng

- Phải xác định được mức độ chi tiết đánh giá đất theo các quy mô và phạm vi quy hoạch khác nhau ở mức toàn quốc, tỉnh, huyện hoặc cơ sở sản xuất

- Mức độ thực hiện đánh giá đất phụ thuộc vào cấp tỷ lệ bản đồ

2.2.1.3 Nghiên cứu đánh giá đất ở vùng trung du, miền núi

Khái niệm và công việc đánh giá đất, phân hạng đất đã xuất hiện từ rất lâu ở nước ta, từ thời kỳ phong kiến để tiến hành việc thu thuế đất đã có sự phân chia “tứ hạng điền - lục hạng thổ”

Sau hoà bình lập lại (1954), vụ Quản lý ruộng đất và Viện nông hoá thổ nhưỡng và sau này Viện quy hoạch thiết kế nông nghiệp đã có những công trình nghiên cứu và quy trình phân hạng đất vùng sản xuất nông nghiệp nhằm tăng cường công tác quản lý đất

Hiện nay, công tác quản lý đất đai trên toàn quốc đã và được đẩy mạnh theo hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế và phát triển nông lâm nghiệp bền vững Chương trình xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội các cấp

đòi hỏi ngành quản lý đất đai phải có những thông tin và dữ liệu về tài nguyên

đất và khả năng khái thác sử dụng bền vững diện tích đất nông lâm nghiệp Công tác đánh giá đất không chỉ dừng ở mức phân hạng chất lượng tự nhiên của đất mà phải chỉ ra được các loại hình sử dụng đất thích hợp cho từng hệ thống sử dụng đất khác nhau với nhiều loại cây trồng nông lâm nghiệp Vì

Trang 23

vậy, các nhà khoa học cùng với các nhà quy hoạch đã tiếp thu các tài liệu

đánh giá đất của FAO, từng bước ứng dụng vào Việt Nam Qua nhiều năm, nhiều dự án nghiên cứu, nhiều chương trình áp dụng quá trình đánh giá đất đã

được thực hiện và đạt kết quả khả quan

Bùi Quang Toản (1970) cùng một số cán bộ khoa học của Viện Thổ nhưỡng Nông hoá như Vũ Cao Thái, Đinh Văn Tĩnh, Nguyễn Văn Thân đã thực hiện công tác nghiên cứu đánh giá đất và phân hạng đất ở 23 huyện, 286 hợp tác xã và 9 vùng chuyên canh Các kết quả bước đầu đã phục vụ thiết thực cho công tác tổ chức lại sản xuất Từ các kết quả nghiên cứu đó, Bùi Quang Toản đã đề xuất quy trình phân hạng đất đai áp dụng cho các hợp tác xã và các cùng chuyên canh gồm 4 bước, các yếu tố chất lượng đất được chia thành yếu tố thuận và yếu tố nghịch, đất đai được chia thành 4 hạng: Rất tốt, tốt, trung bình và kém Quy trình này đã được áp dụng ở nhiều nơi góp phần đáng

kể nâng cao hiệu quả sử dụng đất [28]

Phương pháp đánh giá đất của FAO đã được nhiều nhà khoa học đất Việt Nam bước đầu vận dụng thử nghiệm và đã có những kết quả đóng góp để từng bước hoàn thiện

Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp (1995) đã thực hiện nhiều công trình nghiên cứu đánh giá đất trên phạm vi toàn quốc với 9 vùng sinh thái của cả nước với bản đồ tỷ lệ 1/250.000 bằng phương pháp đánh giá đất của FAO Kết quả đã xác định 372 đơn vị bản đồ đất, 90 loại hình sử dụng đất chính Bước đầu đã xác định được tiềm năng đất đai của các vùng sinh thái và khẳng định: Việc vận dụng nội dung, phương pháp đánh giá đất của FAO theo tiêu chuẩn và điều kiện cụ thể của Việt Nam là phù hợp trong hoàn cảnh hiện nay

- Nghiên cứu đất vùng đồi núi Tây Bắc và trung du phía Bắc:

Tác giả Nguyễn Đình Bồng (1995) đã có những nghiên cứu về Đánh giá tiềm năng sản xuất nông, lâm nghiệp của đất trống đồi núi trọc tỉnh Tuyên

Trang 24

Quang theo phương pháp phân loại đất thích hợp Nhân định tổng quát về quỹ

đất của vùng, phân chia đất đai theo các dạng địa hình gồm 6 nhóm và 24 loại

đất với đặc điểm phát sinh và sử dụng rất đa dạng

Các tác giả Đào Châu Thu – Nguyễn Khang (1995) đã Nghiên cứu xây dựng phương pháp đánh giá tiềm năng đất chưa sử dụng cho các mục đích nông, lâm phù hợp với với địa bàn trung du, miền núi phía Bắc Tác giả Lê Thái Bạt báo cáo tóm tắt về đánh giá và đề xuất sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững vùng Tây Bắc…

- Vùng Tây Nguyên:

Đất đai vùng Tây Nguyên được tập trung qua các công trình nghiên cứu của Nguyễn Khang, Phạm Dương Ưng, Nguyên Văn Tân, Đỗ Đình Đài Các kết quả nghiên cứu đã xác định được Tây Nguyên có 3 vùng, 18 tiểu vùng, 54

đơn vị sinh thái nông nghiệp, đã có những đóng góp to lớn cho việc sử dụng

đất hiệu quả hơn

Trong hội thảo Quốc gia về đánh giá và quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và bền vững (1995) Tác giả Nguyễn Văn Tuyển đã đưa ra Một số kết quả nghiên cứu bước đầu về đánh giá đất ở tỉnh Kom-Tum Các tác giả Nguyễn Khang, Nguyễn Văn Tân có kết quả nghiên cứu về “Đánh giá đất

đai vùng dự án đa mục tiêu EASOUP ĐAKLAK”;

Cùng với những thành tựu lớn đối với vùng, lãnh thổ lớn (phạm vi tỉnh

và lớn hơn) thì công tác nghiên cứu đánh giá đất đai với quy mô lãnh thổ hẹp (phạm vi cấp huyện) trong những năm gần đây cũng đang được đẩy mạnh nhằm phục vụ mục tiêu phát triển nông lâm nghiệp theo hướng đa dạng hoá sản phẩm như các đề tài nghiên cứu như: Tác giả Đoàn Công Quỳ (2000) nghiên cứu Đánh giá đất đai phục vụ quy hoạch sử dụng đất huyện Đại Từ - Tỉnh Thái Nguyên [5]; Tác giả Hà Thị Thanh Bình (2002) nghiên cứu về Kết quả đánh giá đất huyện Lâm Thao - Phú Thọ; Tác giả Vũ Thị Bình (2004) đã tiến hành đề tài Điều tra đánh giá thích hợp đất đai huyện Cao Lộc, Lạng

Trang 25

Sơn… Các tác giả khác thực hiện công tác đánh giá đất tại các địa phương trong các luận văn thạc sỹ như: tác giả Nguyễn Thị Kim Yến (2003) vận dụng phương pháp đánh giá đất theo FAO nhằm định hướng sử dụng đất sản xuất nông lâm nghiệp huyện Điện Biên – Lai Châu…

Có thể thấy, đến nay đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu những công trình về đánh giá đất phục vụ cho nhu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng đất và

định hướng quy hoạch Công tác đánh giá đã mang lại những thành tựu to lớn trong quá trình đưa sản xuất nông nghiệp nước ta theo quan điểm bền vững

2.2.2 Bản đồ đơn vị đất đai

2.2.2.1 Khái quát chung về đơn vị bản đồ đất đai

Đơn vị bản đồ đất đai (Land Mapping Unit - LMU) là một hợp phần của

hệ thống sử dụng đất trong đánh giá đất LMU là một khoanh/vạt đất được xác

định cụ thể trên bản đồ đơn vị đất đai với những đặc tính và tính chất đất đai riêng biệt thích hợp đồng nhất cho từng loại hình sử dụng đất, có cùng một

điều kiện quản lý đất và cùng một khả năng sản xuất, cải tạo đất [25]

Tập hợp các LMU trong cùng khu vực/vùng đánh giá đất được thể hiện bằng bản đồ đơn vị đất đai

Để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai cần phải tuân theo các chỉ dẫn:

- LMU cần đảm bảo tính đồng nhất tối đa hoặc các chỉ tiêu phân cấp phải được xác định rõ Nếu chúng không thể hiện được trên bản đồ thì cũng phải được mô tả chi tiết

- Các LMU phải có ý nghĩa thực tiễn cho các loại hình sử dụng đất sẽ

được đề xuất lựa chọn

- Các LMU phải được vẽ trên bản đồ

- Các LMU phải được xác định một cách đơn giản dựa vào những đặc

điểm quan sát trực tiếp trên đồng ruộng hoặc qua sử dụng kỹ thuật ảnh máy bay, viễn thám

Trang 26

- Các đặc tính và tính chất của các LMU phải là các đặc tính và tính chất khá ổn định vì chúng sẽ là nhu cầu sử dụng đất thích hợp cho các loại hình sử dụng đất trong đánh giá đất

Lựa chọn chỉ tiêu phân cấp và xây dựng bản đồ đơn tính

Các LMU được xác định theo phương pháp tổng hợp nhiều loại bản đồ

đơn tính, bản đồ đơn tính là bản đồ thể hiện các đặc tính và tính chất khác nhau của đất Để xác định được các LMU, người ta tiến hành thao tác chồng ghét các bản đồ đơn tính theo phương pháp thủ công hoặc bằng phương pháp

kỹ thuật xử lý các bản đồ số (digital maps) trên hệ thống máy tính sử dụng công cụ sử lý là các phần mềm hệ thống thông tin địa lý - GIS

Trong phạm vi của đề tài này là xây dựng bản đồ đơn vị đất đai phục vụ công tác phát triển cây chè trên diện tích gò đồi Các chỉ tiêu phân cấp để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai phản ánh được các yêu cầu của loại sử dụng đất trồng chè, từ đó có lựa chọn và định hướng việc sử dụng đất trên các đơn vị bản đồ đất đai phù hợp Trên cơ sở xây dựng bản đồ đơn vị đất đai từ đó xây dựng lên bản đồ định hướng sử dụng đất cho mục tiêu mở rộng diện tích đất trồng chè

Xây dựng và mô tả bản đồ đơn vị đất đai

Bản đồ đơn vị đất đai được xây dựng dựa trên phương pháp chống xếp các bản đồ đơn tính, các bản đồ dơn tính được xây dựng trên cơ sở các chỉ tiêu phân cấp

Trong đánh giá tài nguyên đất của công trình đánh giá đất đai Các đơn

vị đất đai được mô tả theo các chỉ tiêu thể hiện các đặc điểm (tính chất, đặc tính) của đơn vị đất đai tuỳ thuộc vào các chỉ tiêu lựa chọn và phân cấp của mỗi loại bản đồ đất đai Trong khi mô tả bản đồ đơn vị đất đai phải chỉ rõ

được những yêu cầu sau:

- Số đơn vị đất đai, diện tích từng đơn vị

Trang 27

- Số khoanh đất, diện tính từng khoanh đất, mức độ phân tán… của từng

đơn vị đất đai

- Mô tả các đặc điểm (đặc tính, tính chất) của từng đơn vị đất đai

Công tác xây dựng bản đồ đơn vị đất đai là bước đầu tiên mang tính chất kỹ thuật không thể thiếu được trong quá trình đánh giá đất của Việt Nam theo FAO Sản phẩm bản đồ đơn vị đất đai là cơ sở xuất phát điểm cho toàn bộ quá trình đánh giá đất

Tóm lại việc xác định các chỉ tiêu phân cấp xây dựng bản đồ đơn vị đất

đai ở các vùng khác nhau là khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của vùng nghiên cứu, cấp tỷ lệ bản đồ đơn vị đất đai cần xây dựng

ứng dụng GIS trong xây dựng bản đồ đơn vị đất đai

Công nghệ thông tin đang là một trong những ngành khoa học có những bước phát triển mạnh mẽ và được thâm nhập vào hầu hết các ngành, các lĩnh vực khoa học, quản lý và sản xuất, xã hội của các hoạt động trong đời sống thực tiễn hiện nay Sự ra đời của hệ thống thông tin địa lý GIS là một trong những thành tựu quan trọng của việc ứng dụng công nghệ thông tin theo quan

điểm địa lý học hiện đại GIS đang trở thành một công cụ đắc lực trong nghiên cứu và ứng dụng trong các lĩnh vực quản lý tài nguyên, môi trường …

Xu hướng phát triển hiện nay của các ứng dụng GIS là tận dụng các khả năng phát triển nhanh về tốc độ và khả năng xử lý thông tin của các máy tính Khả năng hiện thị dữ liệu không gian ba chiều trên các tập hợp dữ liệu lớn, phức tạp và khả năng kết nối, cập nhật dữ liệu đa phương diện ngày một tạo cho GIS lợi thế trong các nhiệm vụ quản lý tài nguyên và môi trường GIS

được sử dụng để cung cấp thông tin nhanh hơn, hiệu quả hơn cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà khoa học và các nhà quản lý

Trong đánh giá đất, khi chưa có ừng dụng công nghệ GIS thì việc xây dựng bản đồ đơn vị đất đai bằng phương pháp thủ công, chồng xếp các bản đồ giấy đơn tính bằng cách xếp lên trên nhau để đối chiếu phân loại thành bản đồ

Trang 28

đơn vị đất đai Phương pháp này rất khó khăn trong khi chồng xếp cả dữ liệu không gian lẫn thuộc tính Kết quả có độ chính xác không cao, mất nhiều thời gian và công sức Còn bằng kỹ thuật GIS với các phần mềm chuyên dụng có thể tiến hành chồng xếp một cách nhanh chóng và hiệu quả cả dữ liệu không gian và thuộc tính Đồng thời, phương pháp này mang tính chất công nghệ cao

đảm bảo về chất và lượng, tiết kiệm rất nhiều thời gian Đảm bảo các yêu cầu

về kỹ thuật

Hiện nay, việc ứng dụng các phần mền GIS trong đánh giá đất đã được

sử dụng một cách phổ biến, GIS là một công cụ và đã xây dựng lên được những quy trình thực hiện tương đối đầy đủ Có thể thấy công nghệ GIS đang phục vụ một cách tích cực và ngày càng được được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực

2.2.2.2 Một số nghiên cứu lựa chọn chỉ tiêu xác định bản đồ đơn vị đất đai

- Trong nghiên cứu đánh giá đất trên phạm vi toàn quốc của Viện Quy hoạch và thiết kê nông nghiệp (1995) đã xây dựng Bản đồ đơn vị đất đai toàn quốc với 373 đơn vị đất đai Bản đồ đơn vị đất đai toàn quốc lựa chon 7 chỉ tiêu về: thổ nhưỡng (G), tầng dày đất (D), độ dốc (SL), lượng mưa (R), thuỷ văn mặt (ngập – F, xâm nhập mặn - SA), tưới tiêu (I) và nhiệt dộ (T)

- Chỉ tiêu phân cấp bản đồ đơn vị đất đai vùng Tây nguyên với tỷ lệ 1/250.000 bao gồm 7 chỉ tiêu: đất và địa chất, địa mạo (S), độ dốc, độ dày tầng đất, khả năng tưới tiêu, lượng mưa và tổng nhiệt độ

- Đối với vùng đồi núi Tuyên Quang, trong đánh giá tiền năng đất của tác Nguyễn Đình Bồng đã lựa chọn 5 chỉ tiêu để xác định bản đồ đơn vị đất

đai: tổ hợp đất, địa hình - độ dốc, độ dày tầng đất, tổng nhiệt độ, tổng lượng mưa

- Có nhiều luận văn thạc sĩ nghiên cứu khác thành lập bản đồ đơn vị đất

đai phục vụ công tác đánh giá đất ở vùng trung du miền núi phía bắc như: tác giả Phan Thanh Huyền (2004) đã xây dựng bản đồ đơn vị đất đai bằng kỹ

Trang 29

thuật GIS cho đánh giá đất nông nghiệp huyện Phổ Yên-Thái Nguyên, Van Vath (2003) đã Xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu bản đồ đơn vị đất đai dựa trên công nghệ GIS của huyện Yên Châu - tỉnh Sơn La …

Hiện nay để đáp ứng yêu cầu đòi hỏi về quy hoạch sử dụng đất mang tính bền vững, đặc biệt đối với những vùng sản xuất nông lâm nghiệp, thì công tác đánh giá đất trong đó lập bản đồ đơn vị đất đai là khâu quan trọng, làm cơ

sở khoa học cho việc xác định các phương án quy hoạch sử dụng đất

2.2.2 Những nghiên cứu về đất gò đồi

Nước ta với diện tích đất đồi núi chiếm 3/4 tổng diện tích đất, khoảng 23,9 triệu ha, vì vậy sử dụng đất đồi núi sản xuất nông lâm nghiệp chiếm một

vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế Những nghiên cứu về sử dụng đất đồi núi luôn được các nhà khoa học quan tâm

Có nhiều những nghiên cứu để phát triển kinh tế xã hội, về sử dụng đất

và ứng dụng khoa học kỹ thuật mới cho những vùng gò đồi trung du và vùng

đồi núi

Sau những năm hoà bình lập lại, các nhà thổ nhưỡng cùng các chuyên gia Liên xô đã dày công điều tra, phân tích các loại đất vùng đồi núi Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghịêp đã tiến hành phân cấp độ dày tầng đất và

độ dốc các loại đất phục vụ công tác quy hoạch sử dụng đất hiệu quả, lâu bền

Từ những năm 60 đến nay, các cơ quan nghiên cứu về đất như Vụ Quản

lý ruộng đất, Viện nông hoá thổ nhưỡng đã tập trung nghiên cứu nhiều biện pháp canh tác đất dốc, chống xói mòn, bảo vệ đất Nhiều tác giả đã có những nghiên cứu về đất dốc như: Nguyễn Trọng Hà (1962), Bùi Quang Toản (1965), Bùi Nghạch, Nguyễn Xuân Cát (1970-1980), Nguyễn Văn Tiễn (1988), Thái Phiên (1990-1999), Đào Châu Thu, Nguyễn Thế Đặng (1991-2002)…

Rất nhiều công trình khoa học và những nghiên cứu của nhiều tác giả Các tác giả Cao Liêm, Đào Châu Thu (1987) có nghiên cứu về thành phần

Trang 30

khoáng sét của một số loại đất Đặng Ngọc Dinh (1999) nghiên cứu về phát triển kinh tế xã hội vùng gò đồi Bắc trung bộ; Tác giả Trần Đức Viên, Phạm Chí Thành (1996) có những nghiên cứu về Nông nghiệp trên đất dốc – thách thức và tiềm năng Tác giả Lê Thái Bạt (1996) có những nghiên cứu về một số

đặc điểm đất vùng Tây Bắc và hướng sử dụng nông nghịêp; Tác giả Nguyễn Ngọc Tiễn (1994) đưa các biện pháp canh tác trên đất dốc; Tác giả Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên (1993) nghiên cứu về hiệu quả của các biện pháp chống xói mòn và bón phân bảo vệ và năng suất cây trồng trên đất đồi, (1999) nghiên cứu về xác định những yếu tố gây xói mòn và khả năng dự báo xói mòn trên

đất dốc Tác giả Nguyễn Thế Đặng (2001) có nghiên cứu về xây dựng mô hình canh tác đất dốc để sử dụng và bảo vệ đất dốc bền vững,…

Trang 31

3 Đối tượng, địa điểm, Nội dung và phương pháp nghiên cứu

3.1 Đối tượng, phạm vi và địa Điểm nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các loại đất và điều kiện đất trồng chè

- Các thuộc tính của loại hình sử dụng đất sản xuất chè

3.1.2 Phạm vi phạm nghiên cứu

Nghiên cứu diện tích đất nông nghiệp trên vùng gò đồi của huyện Phú Bình

3.1.3 Địa điểm nghiên cứu

Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên

3.2 Nội dung nghiên cứu

3.2.1 Điều tra, đánh giá những yếu tố tự nhiên và kinh tế xã hội có ảnh

hưởng đến khả năng phát triển cây chè

3.2.2 Xây dựng tiêu chuẩn phân chia đơn vị đất đai phục vụ việc xác định

bản đồ đơn vị đất đai xác định quỹ đất trồng chè

3.2.3 Định hướng canh tác trên các hạng đất có khả năng thích hợp cho

việc trồng chè

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp thu thập, phân tích tài liệu, vật liệu

- Thu thập tài liệu, số liệu về đất đai, địa hình, khí hậu, thuỷ văn…, các

số liệu về điều kiện kinh tế xã hội tại các cơ quan phòng ban chức năng

- Thu thập nghiên cứu các loại bản đồ: bản đồ đất, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ địa hình …

- Tổng hợp, phân tích, xử lý, đánh giá các loại số liệu có liên quan

Trang 32

3.3.2 Điều tra khảo sát thực địa

- Điều tra khảo khảo sát trên thực địa các yếu tố đất đai, thuỷ văn, hiện trạng sử dụng đất

- Điều tra hoạt động sản xuất chế biến chè của người dân

3.3.3 Kỹ thuật xây dựng bản đồ

- Số hoá các loại bản đồ bằng phần mềm: Microsation, IRacB

- Biên tập và xây dựng các loại bản đồ bằng các phần mền MapInfo, ArcView

-Xử lý sô liệu thuộc tính bằng các phần mềm Excel, Access

Trang 33

4 kết quả nghiên cứu và thảo luận

4.1 Những yếu tố tự nhiên và kinh tế xã hội ảnh hưởng đến khả năng phát triển cây chè

4.1.1 Vị trí địa lý với vấn đề giao thông và thị trường

Vị trí địa lý

Huyện Phú Bình nằm ở phía Đông Nam tỉnh Thái Nguyên, trung tâm huyện - Thị trấn úc Sơn - cách thành phố Thái Nguyên 30 km và cách thị xã Bắc Ninh 30 km

+ Phía Bắc giáp huyện Đồng Hỷ;

+ Phía Đông giáp tỉnh Bắc Giang;

+ Phía Tây giáp thành phố Thái Nguyên;

+ Phía Nam giáp huyện Phổ Yên

Phú Bình thuộc toạ độ địa lý:

Địa hình, địa mạo

Địa hình của huyện dốc dần từ Bắc xuống Nam Độ chênh cao trung bình

là 1,1 m/km dài, độ cao so với mặt nước biển trung bình là 14m, thấp nhất là 10m thuộc địa phận xã Dương Thành và điểm cao nhất là ở khu vực Đèo Bóp cao 250 m thuộc xã Tân Thành

Trang 34

Toàn huyện được phân chia thành 3 vùng:

- Vùng đồi núi:

Gồm 8 xã: Tân Đức, Tân Hoà, Tân Thành, Tân Kim, Bảo Lý, Tân Khánh,

Bàn Đạt, Hương Sơn vùng Đông Bắc huyện chiếm diện tích 13.799,85 ha

(55,3% diện tích tự nhiên toàn huyện) độ cao trung bình của vùng là 24m,

đỉnh cao nhất trong vùng cao 250 m (đèo Bóp thuộc xã Tân Thành)

- Vùng nước máng sông Cầu:

Gồm 7 xã: Đồng Liên, Đào Xá, Xuân Phương, Lương Phú, Kha Sơn,

Thanh Ninh, Dương Thành và thị trấn úc Sơn, với tổng diện tích là 5.427,34

ha chiếm 21,8% diện tích tự nhiên của huyện

- Vùng nước máng núi Cốc:

Gồm 6 xã: Hà Châu, Nga My, úc Kỳ, Điềm Thuỵ, Thượng Đình, Nhã

Lộng, với tổng diện tích là 5.708,92 ha chiếm 22,9% diện tích tự nhiên

Địa hình của huyện mang đặc trưng của trung du, vùng đồi núi chủ yếu

là đồi bát úp, thoải và thấp, có độ cao dưới 100m

Bảng 05 : Phân loại địa hình theo cấp độ dốc Cấp độ dốc Diện tích chiếm (ha) Tỷ lệ (%)

0 0 -3 0

9.834,19 39,5

3 0 -8 0

7.364,37 29,5

8 0 -15 0

Các xã ở khu vực phía Bắc có địa hình phức tạp hơn, gồm nhiều khu đồi

thấp đan xen với các khu ruộng, hiện trạng các khu vực gò đồi chủ yếu trồng

rừng với các loại cây chủ đạo như bạch đàn và keo Hiệu quả sử dụng đất rất

thấp việc thay đổi cơ cấu sử dụng đất để đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn trên

Trang 35

diện tích đất gò đồi của huyện là vấn đề đặt ra Việc xác định loại cây trồng phù hợp vừa đem lại nguồn lợi về mặt kinh tế vừa đáp ứng được yêu cầu sử

dụng đất bền vững bảo vệ môi trường là rất cần thiết

Hệ thống giao thông

Tuy địa hình của huyện khá phức tạp, nhưng hệ thống giao thông tương

đối thuận lợi với các tuyến đường bộ chạy về đến tận trung tâm các xã, tạo

điều kiện thuận lợi cho việc thông thương, trao đổi và nhu cầu đi lại của người dân Hệ thống giao thông liên xã có các trục chính là:

+ Đường 273 chạy từ xã Bàn Đạt đến cầu Thác Huống (xã Đồng Liên), + Đường 295 chạy từ UBND xã Bàn Đạt đến UBND xã Đào Xá,

+ Đường 297 chạy từ UBND xã Tân Khánh đến UBND xã Bảo Lý, + Đường 271 chạy từ đèo Bóp (xã Tân Thành) đến cầu Mây,

+ Đường 275 chạy từ xã Tân Thành đến xã Kha Sơn,

vụ dân sinh Bên cạnh giao thông đường bộ, Phú Bình còn có lợi thế trong giao thông dường thuỷ trên tuyến sông Cầu đi các tỉnh đồng bằng Bắc bộ

Để phát triển nông nghiệp nói chung và cây chè nói riêng, cần thiết phải cải tạo hệ thống đường ra các khu sản xuất, để có thể vận chuyển bằng cơ giới Hiện nay các tuyến đường liên xóm đã thiết kế cơ bản, nhưng còn nhỏ hẹp, bề mặt dường kém lầy lội khi có mưa lũ, cần cải tạo lại hệ thống các tuyến đường này đáp ứng hoạt động phát triển trong sản xuất nông nghiệp

Như vậy, huyện Phú Bình có một vị trí địa lý hết sức thuận lợi, tiếp giáp với các trung tâm kinh tế, văn hoá lớn, cùng với hệ thống giao thông phát triển

Trang 36

cả về đường bộ và đường sông… có tiềm năng trong quá trình mở rộng thị trường, phát triển giao lưu thương mại và dịch vụ để xây dựng một nền kinh tế hàng hoá đa dạng, hội nhập với thị trường trong khu vực và trong cả nước

Đồng thời đối với khu vực gò đồi, huyện có địa hình phù hợp cho định hướng phát triển diện tích cây chè

4.1.2 Điều kiện khí hậu và thuỷ văn

Khí hậu

Phú Bình cũng có đặc điểm khí hậu phân thành 2 mùa rõ rệt là:

- Mùa đông có thời gian từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau

Khí hậu lạnh, nhiệt độ thấp, thường có các đợt gió mùa, hanh và khô, do

đó thường xảy ra thiếu nước tưới cho cây trồng

- Mùa hè có thời gian tháng 4 đến tháng 10

Mùa hè nóng nực, mưa nhiều và tập trung nên thường gây ra ngập úng ở các xã vùng thấp và làm xuất hiện các hiện tượng xói mòn, rửa trôi ở các xã vùng đồi

Bảng 06: Diễn biến thời tiết trong 10 năm (1992 - 2002) và năm 2002

Năm

2002

BQ 10 năm

Năm

2002

BQ 10 năm

Trang 37

Nhi ệ t độ trung b ì nh trong 10 nă m 1992 - 2002

0 5 10

+ L−ợng m−a trung bình tháng cao nhất 489,2 mm

+L−ợng m−a hàng năm tuy lớn nh−ng phân bố không đều giữa các tháng trong năm, khoảng 65% l−ợng m−a tập trung vào mùa hạ

Trang 38

+ Tháng có số giờ nắng trung bình cao nhất là 185,3 giờ (tháng 9), thấp nhất là 38,2 giờ/năm

- Đoạn sông Cầu chảy qua địa phận Phú Bình có chiều dài 29 km, lòng sông rộng 120m, độ chênh cao là 0.4m/km, có lưu lượng trung bình về mùa mưa là 580 - 610 m3/s và mùa khô là 6,3 - 6,5 m3/s Với 29 km chiều dài này, con sông tạo những điều kiện thuận lợi cho giao thông thủy và cung cấp nguồn nước tưới cho sản xuất nông nghiệp

- Sông Đào với hệ thống dài 33 km chảy từ xã Đồng Liên, qua xã Bảo

Trang 39

- Song song với hệ thống sông Cầu, Phú Bình còn có 2 hệ thống kênh

mương hữu ngạn sông Cầu , sông Đào

- Do địa hình có độ chênh cao thấp, các khu vực các vùng gò đồi đều có

các hệ thống thuỷ lợi để phục vụ nước tưới cho dảy ruộng đất canh tác và có

nhiều hồ đập tự nhiên và nhân tạo, có khả năng cung cấp nguồn nước ổn định

Hệ thống thủy nông:

- Sông Cầu có lưu vực 3480 km2, tưới tiêu ổn định cho khoảng 2.200 ha

đất canh tác của các xã Hà Châu, Nga My, úc Kỳ, Xuân Phương, Nhã Lộng,

Thượng Đình, Bảo Lý, Đào Xá và Đồng Liên

Hệ thống thuỷ nông sông Máng dài 31,0 km, tưới tiêu ổn định cho

khoảng 2.100 ha đất canh tác của các xã Bàn Đạt, Đào Xá, Bảo Lý, Hương

Sơn, Tân Hoà, Lương Phú, Kha Sơn, Tân Đức

Hệ thống kênh mương nội đồng tưới tiêu trực tiếp cho khoảng 1.200 ha

đất canh tác trong huyện

Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn có 21 trạm bơm cùng với hàng trăm

ao, hồ lớn nhỏ phục vụ cho việc tưới tiêu của huyện

Trong những năm qua, do có sự đầu tư nâng cấp hệ thống thuỷ lợi nên

diện tích tưới tiêu chủ động của huyện tăng từ 6.353,46 ha (1995) lên 7.125,15

Trang 40

Qua nghiên cứu và thu thập các thông tin về điều kiện khí hậu cho thấy Phú Bình có điều kiện khí hậu tương đối tương đồng với các khu vực trồng chè

đặc sản của Thái nguyên như huyện Đồng Hỷ, Phổ Yên và Sông Công Đặc biệt khu vực gò đồi huyện Phú Bình có địa hình chia cắt thành những dãy thung lũng, ánh nắng chiếu sáng mắc phải những sườn đồi tạo thành ánh sáng tán xạ rất thích hợp cho cây chè Qua nghiên cứu cho thấy điều kiện sinh trưởng phù hợp cho cây chè là: nhiệt độ thích hợp là 20-300C , lượng mưa bình quân từ 1500-2000mm, độ ẩm không khí là 80-85% Với những tiêu chuẩn trên thì nhìn chung Phú Bình có điều kiện về khí hậu và thuỷ văn là phù hợp cho khả năng phát triển diện tích đất trồng cây chè

4.1.3 Điều kiện về đất đai đối với khả năng trồng chè

Theo kết quả trên bản đồ thổ nhưỡng cho do Viện Nông hoá thổ nhưỡng

xây dựng năm 1993, huyện Phú Bình có các loại đất chính sau:

- Đất feralit vàng đỏ phát triển trên phiến thạch sét - Fs

Loại đất này có diện tích 8.430,57 ha (chiếm 33,8% diện tích đất tự nhiên) Loại đất này có tỷ lệ sét cao, khả năng giữ nước và ẩm tốt, phân bố

chủ yếu ở các xã vùng đồi như: Tân Hoà, Tân Thành, Tân Kim, Tân Khánh,

Bàn Đạt Đất này thích hợp với việc trồng cây lâu năm và trồng rừng

- Đất feralit vàng nhạt phát triển trên phiến sa thạch - Fq

Loại đất này nằm xen kẽ rải rác ở các xã vùng đồi như: Bàn Đạt, Tân

Khánh, Tân Kim, Hương Sơn, Điềm Thuỵ, Nga My Với tổng diện tích

3.853,51 ha (chiếm 15,5% diện tích đất tự nhiên) Đất có thành phần cơ giới nhẹ, khả năng giữ nước và chất dinh dưỡng kém, tỷ lệ mùn thấp (dưới 1,5%), hàm lượng N.P.K thấp Loại đất này thích hợp cho việc trồng lúa, màu và cây công nghiệp ngắn ngày, tuy nhiên rễ bị rửa trôi tầng mặt, thoái hoá Do đó, trong quá trình sử dụng cần chú ý bảo vệ và cải tạo đất

- Đất feralit nâu vàng phát triển trên mẫu chất phù sa cổ - Fp

Ngày đăng: 28/11/2013, 10:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 02:  Diện tích phát triển cây chè thời kỳ 1990 - 2002 - Luận văn xác định tiềm năng đất đai cho phát triển cây chè tại huyện phú bình tỉnh thái nguyên
Bảng 02 Diện tích phát triển cây chè thời kỳ 1990 - 2002 (Trang 15)
Bảng 04: Diện tích, năng suất, sản l−ợng chè Thái Nguyên - Luận văn xác định tiềm năng đất đai cho phát triển cây chè tại huyện phú bình tỉnh thái nguyên
Bảng 04 Diện tích, năng suất, sản l−ợng chè Thái Nguyên (Trang 17)
Bảng 06: Diễn biến thời tiết trong 10 năm (1992 - 2002) và năm 2002 - Luận văn xác định tiềm năng đất đai cho phát triển cây chè tại huyện phú bình tỉnh thái nguyên
Bảng 06 Diễn biến thời tiết trong 10 năm (1992 - 2002) và năm 2002 (Trang 36)
Đồ thị 4.2 : L−ợng m−a trung bình trong 10 năm 1992- 2002 - Luận văn xác định tiềm năng đất đai cho phát triển cây chè tại huyện phú bình tỉnh thái nguyên
th ị 4.2 : L−ợng m−a trung bình trong 10 năm 1992- 2002 (Trang 38)
Bảng 07 : Hiện trạng chế độ tưới tiêu - Luận văn xác định tiềm năng đất đai cho phát triển cây chè tại huyện phú bình tỉnh thái nguyên
Bảng 07 Hiện trạng chế độ tưới tiêu (Trang 39)
Bảng 10 : Cơ cấu và giá trị sản xuất các ngành năm 2004 - Luận văn xác định tiềm năng đất đai cho phát triển cây chè tại huyện phú bình tỉnh thái nguyên
Bảng 10 Cơ cấu và giá trị sản xuất các ngành năm 2004 (Trang 46)
Sơ đồ 4.6: Quy trình thực hiện các bước xây dựng - Luận văn xác định tiềm năng đất đai cho phát triển cây chè tại huyện phú bình tỉnh thái nguyên
Sơ đồ 4.6 Quy trình thực hiện các bước xây dựng (Trang 51)
Bảng 12: Kết quả xây dựng bản đồ loại đất - Luận văn xác định tiềm năng đất đai cho phát triển cây chè tại huyện phú bình tỉnh thái nguyên
Bảng 12 Kết quả xây dựng bản đồ loại đất (Trang 57)
Bảng 18: Kết quả xây dựng bản đồ chế độ tưới - Luận văn xác định tiềm năng đất đai cho phát triển cây chè tại huyện phú bình tỉnh thái nguyên
Bảng 18 Kết quả xây dựng bản đồ chế độ tưới (Trang 60)
Hình 4.1 Bản đồ Đơn vị đất đai - Luận văn xác định tiềm năng đất đai cho phát triển cây chè tại huyện phú bình tỉnh thái nguyên
Hình 4.1 Bản đồ Đơn vị đất đai (Trang 62)
Bảng 20: So sánh hiệu quả kinh tế cây chè với một số cây trồng khác - Luận văn xác định tiềm năng đất đai cho phát triển cây chè tại huyện phú bình tỉnh thái nguyên
Bảng 20 So sánh hiệu quả kinh tế cây chè với một số cây trồng khác (Trang 68)
Bảng 21: Các chỉ tiêu cơ bản về phân loại yêu cầu sinh thái của cây chè - Luận văn xác định tiềm năng đất đai cho phát triển cây chè tại huyện phú bình tỉnh thái nguyên
Bảng 21 Các chỉ tiêu cơ bản về phân loại yêu cầu sinh thái của cây chè (Trang 70)
Bảng 23: Tổng hợp kết quả so sánh mức độ thích hợp của các LMU với loại hình sử dụng đất chè - Luận văn xác định tiềm năng đất đai cho phát triển cây chè tại huyện phú bình tỉnh thái nguyên
Bảng 23 Tổng hợp kết quả so sánh mức độ thích hợp của các LMU với loại hình sử dụng đất chè (Trang 74)
Hình 4.7: Bản đồ định hướng khả năng phát triển cây chè tại huyện Phú Bình - Luận văn xác định tiềm năng đất đai cho phát triển cây chè tại huyện phú bình tỉnh thái nguyên
Hình 4.7 Bản đồ định hướng khả năng phát triển cây chè tại huyện Phú Bình (Trang 77)
Bảng 24: Biện pháp khắc phục yếu tố hạn đất thích hợp trung bình S2 mở rộng diện tích đất trồng chè - Luận văn xác định tiềm năng đất đai cho phát triển cây chè tại huyện phú bình tỉnh thái nguyên
Bảng 24 Biện pháp khắc phục yếu tố hạn đất thích hợp trung bình S2 mở rộng diện tích đất trồng chè (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w