luận văn
Trang 1
nguyễn tiến tráng
Xác định cầu và xây dựng kế hoạch cung nước sạch
trong dài hạn cho thành phố Hải Dương
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số : 5 02 01
Luận văn thạc sỹ khoa học Kinh tế
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Song
Trang 2
nguyễn tiến tráng
Xác định cầu và xây dựng kế hoạch cung nước sạch
trong dài hạn cho thành phố Hải Dương
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số : 5 02 01
Luận văn thạc sỹ khoa học Kinh tế
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Song
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 05 tháng 9 năm 2005
Người cam đoan
Nguyễn Tiến Tráng
Trang 4Tôi xin được trân trọng cảm ơn tập thể cán bộ Phòng thống kê thành phố Hải Dương, văn phòng Công ty cấp nước Hải Dương đặc biệt là cán bộ Phòng kế hoạch - Kinh doanh đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với thầy giáo hướng dẫn TS Nguyễn Văn Song, người đã hưỡng dẫn, chỉ bảo và dìu dắt tôi trong suốt quá trình học tập, công tác, nghiên cứu đề tài
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đối với tất cả các tập thể, các cá nhân, các đồng nghiệp, bạn bè và những người thân đã chỉ bảo, giúp
đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học
Nếu không có những sự giúp đỡ trên thì sự cố gắng của bản thân tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học sẽ không thu được kết quả như mong muốn Một lần nữa xin trân trọng cảm ơn đối với tất cả những sự giúp đỡ đối với tôi
Luận văn này mới chỉ là kết quả bước đầu, bản thân tôi hữa sẽ nỗ lực cố gắng nhiều hơn nữa để không phụ công giúp đỡ của mọi người
Hà Nội, ngày 05 tháng 9 năm 2005
Người cảm ơn
Nguyễn Tiến Tráng
Trang 51.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
2.1.4 Một số lý luận về mô hình kinh tế sử dụng
2.2.1.Thực tiễn cung - cầu nước sạch trên thế giới 162.2.2 Thực tiễn về cầu - cung nước sạch ở Việt Nam 192.2.3 Một số nghiên cứu liên quan đến đề tài 21
3 Địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 24
3.1.2 Đặc điểm điều kiện tự nhiên của thành phố 27
Trang 63.1.3.2 Tình hình dân số của thành phố 313.1.3.3 Kết quả sản xuất kinh doanh một số ngành chính của
3.1.3.4 Cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật của thành phố 36
4.1 Tình hình sản xuất và cung cấp nước sạch của Công ty 444.1.1 Tình hình tiêu thụ nước sạch trên địa bàn thành phố Hải Dương 44
4.1.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty 48
4.2.1 Xác định nhu cầu sử dụng nước sạch đến năm 2020 504.2.2 Phân tích sự tác động của các yếu tố ảnh hưởng cầu nước sạch 604.3 Kế hoạch cung cấp nước sạch trong dài hạn 654.3.1 Giá thành và xây dựng kế hoạch giá tiêu thụ nước sạch 65
4.3.4 Xây dựng kế hoạch về chống thất thu, thất thoát 75 4.4 Cân bằng cầu - cung nước sạch trong dài hạn 784.5 Sự biến động của cầu nước sạch khi thay đổi của một số yếu
4.5.1 Thay đổi cầu khi có sự biến động của yếu tố dân số 804.5.2 Biến động cầu nước sạch khi có sự gia tăng nước cho công nghiệp 824.5.3 Biến động cầu nước sạch khi có sự gia tăng dân số cơ
học, cầu nước sạch cho công nghiệp và công cộng 844.6 Giải pháp để thực hiện kế hoạch trong thời gian tới 87
Trang 7Danh mục các từ viết tắt
ĐVT Đơn vị tính
CNH-HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CN-TTCN Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Trang 8Danh mục các bảng
3.1 Tình hình chung về Công ty cấp nước Hải Dương 263.2 Tình hình đất đai của thành phố Hải Dương 293.3 Tình hình dân số của thành phố Hải Dương 323.4 Kết quả sản xuất và thu nhập của thành phố Hải Dương 353.5 Tình hình cơ sở hạ tầng của thành phố Hải Dương 374.1 Lượng tiêu thụ nước sạch trên địa bàn thành phố Hải Dương 454.2 Tình hình cung cấp nước sạch cho TP Hải Dương theo tháng 474.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty trên địa bàn thành phố 494.4 Tiêu chuẩn cấp nước 524.5 Tiêu chuẩn cấp nước đối với từng loại đô thị 53
4.7 So sánh kết quả của mô hình với dự án của Công ty 584.8 Lượng nước tiêu thụ theo từng tháng trong năm 614.9 Thu nhập và mức tiêu dùng nước sạch 634.10 Giá thành sản xuất cho 1m3 nước sạch năm 2004 664.11 Giá tiêu thụ 1m3 nước sạch 674.12 Chi phí sản xuất nước sạch cho các năm 684.13 Công suất thiết kế theo nhu cầu nước sạch của thành phố 704.14 Kế hoạch vốn để xây dựng hệ thống cấp nước đến năm 2020 734.15 Kế hoạch cấp nước theo tháng trong năm 744.16 Sản lượng cân bằng trong dài hạn 794.17 So sánh phương án 1 với phương án 2 814.18 So sánh phương án 1 với phương án 3 834.19 So sánh phương án 1 với phương án 4 86
Trang 9Danh mục hình
2.1 Mô tả trạng thái cân bằng cầu - cung 83.1 Sự biến động đất đai của thành phố Hải Dương 303.2 Cơ cấu kinh tế của thành phố Hải Dương 353.3 Sơ đồ mô phỏng mô hình hệ thống 413.4 Mô hình cân bằng cầu - cung nước sạch 434.1 Lượng nước tiêu thụ trên địa bàn thành phố Hải Dương 454.2 Lượng thất thoát, lượng tiêu dùng, và thất thoát nước qua các năm 564.3 Biến động về cầu nước sạch ở các tháng cao điểm qua các năm 754.4 Sản lượng cân bằng nước sạch qua các năm 794.5 Sản lượng cân bằng theo kịch bản 4 87
Trang 101 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, cùng với mức sống của người dân được cải thiện thì nhu cầu về nước sạch cũng được đề cập nhiều hơn Với 30% người dân thành thị và trên 54% người dân nông thôn phải sống trong cảnh thiếu nước sạch và trong tương lai con số này còn cao hơn nữa [16], điều này đã nói lên nhu cầu về nước sạch trong thời gian tới là rất lớn Hiện tại, tình trạng thiếu nước sạch trên thế giới đang ở mức độ nghiêm trọng, do đó khẩu hiệu
“Nước - Hai tỷ người đang khao khỏt” đã được Chương trình môi trường
Liên Hiệp Quốc (UNEP) chọn để kỷ niệm ngày môi trường thế giới năm nay
[16] Chính vì vậy, xây dựng kế hoạch sản xuất nước để cung cấp ở hiện tại và trong tương lai là rất cần thiết đối với các tổ chức, các cơ quan mà trực tiếp là các Công ty sản xuất nước sạch trên toàn quốc
Trên thực tế việc xây dựng kế hoạch sản xuất nước đối với các Công ty nước sạch còn nhiều bất cập do chưa xác định cho mình phương pháp xây dựng phù hợp, do đó chưa tính hết được các yếu tố tác động đến nhu cầu và khả năng huy động các nguồn lực để đảm bảo cung cấp đủ nước sạch cho nhu cầu hiện tại và tương lai
Hiện nay, có nhiều phương pháp khác nhau dùng để xây dựng kế hoạch mang lại hiệu quả cao như: phương pháp dự báo, phương pháp mô hình hoá… Tuy nhiên tuỳ thuộc vào điều kiện và trình độ cụ thể của từng Công ty mà lựa chọn cho mình phương pháp xây dựng kế hoạch khác nhau
Công ty cấp nước Hải Dương trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hải Dương, Công ty đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch cho toàn thành phố
Trang 11Năm 1999 Công ty mới chỉ đạt công suất ở mức 33.200m3/ngàyđêm và cấp cho khoảng 80% dân số toàn TP Hải Dương [16] đến năm 2004 Công ty đã nâng công suất lên 38.200m3/ngàyđêm, với tổng số hộ lên tới gần 40.000 hộ
Song vấn đề đặt ra là với mức độ đô thị hoá mạnh mẽ như hiện nay làm cho nhu cầu về nước sạch trong tương lai là rất lớn Vậy với công suất như hiện nay của Công ty có đủ đáp ứng được hay không? Công ty phải làm gì để đáp ứng được nhu cầu này? Làm thế nào để Công ty xác định được nhu cầu về nước sạch trong tương lai? Để góp phần tìm ra đáp án cho các câu hỏi đó
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Xác định cầu và xây dựng kế hoạch cung nước sạch trong dài hạn cho thành phố Hải Dương”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Xác định cầu về nước sạch từ đó xây dựng kế hoạch cung nước sạch tương ứng cho thành phố Hải Dương trong dài hạn
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về cầu, cung và xây
dựng kế hoạch
- Đánh giá thực trạng cầu và cung nước sạch của Công ty
- Xác định cầu nước sạch của thành phố Hải Dương trong thời gian từ nay đến năm 2020
- Trên cơ sở xác định cầu nước sạch trong dài hạn và các yếu tố ảnh hưởng đến cầu nước sạch, xây dựng kế hoạch cung tương ứng, đồng thời đề xuất những giải pháp về kinh tế, xã hội, kỹ thuật để thực hiện kế hoạch cung cấp nước sạch trong dài hạn
Trang 121.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cầu - cung và các yếu tố tác động
đến cầu và cung nước sạch của thành phố Hải Dương trong dài hạn
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi thời gian
- Số liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2002 đến 2004
- Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra, phỏng vấn các hộ tiêu thụ nước sạch năm 2004
*Phạm vi không gian
Đề tài tập trung nghiên cứu trên địa bàn thành phố Hải Dương tỉnh Hải Dương
*Phạm vi nội dung
Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích một số yếu tố ngoại sinh chủ yếu
ảnh hưởng cầu nước sạch như: dân số, công nghiệp, thu nhập và thời tiết Việc nghiên cứu yếu tố giá cả trong dài hạn là vấn đề lớn đòi hỏi có sự nghiên cứu theo chuỗi thời gian, do vậy trong giới hạn phạm vi của đề tài sẽ không nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố giá cả đến cầu Đề tài xác định cầu và xây dựng kế hoạch cung nước sạch tương ứng nước sạch trong thời gian từ nay đến năm 2020
Trang 132 Tổng quan tài liệu
* Cầu về sản phẩm: Là số lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người mua
có khả năng mua và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định [7]
* Cung về sản phẩm: Là số lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người bán có khả năng và sẵn sàng bán ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định [7]
* Mô hình: Là sự mô tả bằng toán học những nét cơ bản nhất của hiện tượng cần nghiên cứu hoặc kết cấu của đối tượng cần nghiên cứu [4 - tr 182]
* Kế hoạch: Là dự án tổng thể các dự đoán và mục tiêu kinh tế - xã hội
ở tầm kinh tế vi mô cùng các biện pháp tương ứng nhằm đảm bảo thực hiện kế hoạch có hiệu quả [13]
2.1.2 Một số vấn đề về cầu - cung
2.1.2.1 Cầu
*Luật cầu
Hầu hết các loại hàng hoá, dịch vụ trên thị trường trong khoảng thời gian nhất định sẽ có cầu tăng lên khi giá giảm và ngược lại khi giá giảm xuống cầu sẽ tăng lên Nguyên nhân của hiện tượng này là do các hàng hoá, dịch vụ đã có các hàng hoá, dịch vụ khác thay thế Người tiêu dùng có khả năng lựa chọn các sản phẩm khác có giá cả hợp lý hơn
Trang 14Trong vài trường hợp đặc biệt, luật cầu không được áp dụng hay nói cách khác là các hàng hoá này không tuân theo luật cầu Tức là khi cầu của hàng hoá tăng sẽ làm cho giá của hàng hoá đó tăng theo như: Sản phẩm điện, nước sạch Vì khi cầu hàng hoá tăng, nếu giảm giá sẽ làm cho cầu tiếp tục tăng trong khi đó cung lại có hạn và sản phẩm cần được phân bổ cho mọi người dân Nâng giá các sản phẩm này khi cầu tăng nhằm hạn chế sử dụng lãng phí, đảm bảo công suất hoạt động, tránh gây ra tình trạng quá tải hệ thống cung cấp
Trong thực tế sản xuất kinh doanh, các đơn vị cần áp dụng linh hoạt luật cầu
để vừa kích cầu vừa đảm bảo được quá trình tái sản xuất được diễn ra liên tục
* Các yếu tố ảnh hưởng tới cầu
- Giá cả hàng hoá dịch vụ:
Giá cả là yếu tố nội sinh ảnh hưởng trực tiếp tới cầu sản phẩm Theo luật cầu thì giá giảm sẽ kích thích được cầu hàng hoá dịch vụ tăng lên, tuy nhiên các đơn vị sản xuất không thể đưa ra mức giá quá thấp do còn phải đảm bảo bù được chi phí bỏ ra và mang laị lợi nhuận cho đơn vị
Hiện nay, khung giá cả của hầu hết các hàng hoá dịch vụ đều được Ban vật giá Chính phủ đưa ra nhằm phát huy tính thống nhất trong quản lý và bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng nhưng nó lại tạo ra khó khăn đối với các đơn vị sản xuất khi áp giá cho sản phẩm của mình
Trang 15một mức Thu nhập tăng làm cho cầu về các loại hàng hoá thông thường tăng, cầu về các hàng hoá thứ cấp giảm
Trong quá trình đưa ra quyết định về giá sản phẩm các đơn vị cần nghiên cứu kỹ mức thu nhập của đối tượng khách hàng sẽ tiêu dùng sản phẩm của mình
- Một yếu tố cũng rất quan trọng đối với cầu đặc biệt là sản phẩm nước sạch là yếu tố thời tiết Cùng với sự thay đổi về thời tiết, nhu cầu cũng thay đổi
theo Với sản phẩm nước sạch, khi thời tiết có nhiệt độ cao làm cho nhu cầu sử dụng nước tăng lên và ngược lại Bên cạnh đó vào thời gian tết, cầu về nước sạch cũng được tăng lên do nhu cầu nước sạch cho sinh hoạt và sản xuất tăng
- Dân số:
Với những hàng hoá thông thường yếu tố dân số mang tính quyết định
và ảnh hưởng lớn tới cầu như: gạo, muối sản phẩm nước sạch sẽ là rất quan trọng và cần thiết với con người đặc biệt là các khu đô thị
Ngoài những yếu tố cơ bản trên vẫn còn nhiều yếu tố khác cũng ảnh hưởng lớn tới cầu như: giá cả của hàng hoá có liên quan, thị hiếu của người tiêu dùng
* Phương pháp xác định cầu
Để xác định được cầu người ta sử dụng một số phương pháp chính sau:
- Phương pháp điều tra và nghiên cứu hành vi người tiêu dùng: thông
qua phương pháp này người ta có thể biết được phản ứng của người tiêu dùng
sẽ như thế nào với những sự thay đổi của sản phẩm mà các nhà sản xuất cung cấp Việc thu thập thông tin có thể thông qua phiếu điều tra, hoặc quan sát hành vi của người tiêu dùng
- Phương pháp phân tích hồi qui: Phương pháp này dùng để ước lượng hàm
cầu Phương pháp này đòi hỏi người thực hiện phải giỏi về toán kinh tế để xây dựng được phương trình hồi qui, xác định các biến độc lập và biến phụ thuộc
Trang 16Phương pháp này được sử dụng tương đối phổ biến trong công tác xây dựng kế hoạch hiện nay
- Phương pháp sử dụng mô hình kinh tế động: Dùng để ước lượng cầu
trong tương lai, mô hình đưa ra kết quả dự báo có tính chính xác cao do có tính đến sự tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến cầu trong trạng thái động Tức là nó tính toán đến cả các yếu tố tác động đến cầu, khi các yếu tố này thay đổi mô hình sẽ cho biết cầu thay đổi tương ứng như thế nào
2.1.2.2 Cung
* Luật cung
- Số lượng hàng hoá được cung trong một khoảng thời gian đã cho tăng lên khi giá của nó tăng lên Điều này có thể dễ dàng nhận thấy bởi giá tăng sẽ làm cho doanh thu và lợi nhuận của các đơn vị sản xuất tăng lên
* Một số yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới cung
Ngoài yếu tố giá của bản thân hàng hoá là yếu tố nội sinh ảnh hưởng
chính đến cung sản phẩm còn nhiều yếu tố khác như:
- Công nghệ sản xuất
Với việc áp dụng các công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất làm cho khối lượng hàng hoá tăng lên, chi phí sản xuất giảm xuống đồng thời làm cho khối lượng sản phẩm tăng lên
- Giá cả các yếu tố đầu vào (hay sự khan hiếm của các yếu tố đầu vào)
Giá cả hay sự khan hiếm của các yếu tố đầu vào có ảnh hưởng trực tiếp
đến chi phí sản xuất tiềm năng của các đơn vị do đó nó ảnh hưởng tới cung sản phẩm như: trữ lượng khoáng sản, nguồn nước ngầm
- Số lượng người sản xuất
Ngoài một số các lĩnh vực sản xuất độc quyền như: ngành sản xuất
điện, bưu chính viễn thông, còn lại các ngành sản xuất khác đều có đối thủ
Trang 17cạnh tranh Sự cạnh tranh này góp phần tích cực trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm giá thành, đa dạng về mẫu mã nhưng nó sẽ làm giảm lợi nhuận và tất yếu sẽ ảnh hưởng tới lượng cung sản phẩm
Bên cạnh các yếu tố trên còn có các yếu tố khác ảnh hưởng tới cung như: Chính sách nhà nước, yếu tố ngoại cảnh
Hình 2.1: Mô tả trạng thái cân bằng cầu - cung
* Mất cân bằng cầu - cung
Là hiện tượng khi lượng cầu vượt quá cung hoặc ngược lại lượng cung vượt quá cầu Trên thực tế hiện tượng mất cân bằng cầu - cung xảy ra thường xuyên, tuỳ theo mức độ mất cân bằng mạnh hay nhẹ mà nó ảnh hưởng tới khối lượng sản phẩm hàng hoá được tung ra trên thị trường Các nhà sản xuất rất
Trang 18quan tâm đến hiện tượng này Nếu họ phát hiện được nguyên nhân làm mất cân bằng trên thị trường, họ sẽ có các giải pháp kịp thời để điều chỉnh khối lượng hàng hoá sản suất ra cân bằng hoặc tương đối cân bằng với lượng cầu thực tế trên thị trường Điều này sẽ giảm bớt lãng phí về chi phí và mang lại hiệu quả trong quá trình sản xuất
2.1.3 Một số vấn đề về kế hoạch
2.1.3.1 Vai trò của xây dựng kế hoạch
Xây dựng kế hoạch có vai trò rất lớn đối với tất cả các ngành, lĩnh vực
và từng công việc Vậy tại sao kế hoạch lại quan trọng như vậy?
- Xây dựng kế hoạch có vai trò tích cực giúp cho chúng ta xem xét tổng thể dự án sản xuất kinh doanh một cách hoàn toàn khách quan, có tính phê phán và không thực hiện theo cảm tính
Khi xem xét khách quan việc kinh doanh chúng ta có thể phát hiện sớm cơ hội từ đó có kế hoạch phù hợp sao cho đạt được mục tiêu đề ra một cách tốt nhất, bên cạnh đó nó còn giúp chúng ta nhận ra các vấn đề trước khi nó trở nên qúa muộn, nó cũng giúp xác định được nguyên nhân và gợi ý cách giải quyết
- Sản phẩm cuối cùng tức là kế hoạch kinh doanh là một công cụ tác nghiệp, nếu dùng hữu ích nó sẽ giúp cho chúng ta điều hành công việc kinh doanh và hoạt
động của doanh nghiệp một cách hiệu quả để đi đến thành công [2]
- Xây dựng được một bản kế hoạch tốt, hoàn chỉnh có tác dụng đưa những ý tưởng của doanh nghiệp tới người khác và cung cấp một nền tảng cơ bản để mọi người có các đề xuất và đóng góp ý kiến dựa vào tiềm lực của doanh nghiệp
- Trong nền kinh tế hiện nay, kế hoạch luôn là một công cụ quan trọng trong quản lý và điều hành mọi quá trình sản xuất Việc xây dựng kế hoạch phù hợp cho từng giai đoạn, từng thời kỳ có vai trò định ra hướng đi đúng đắn, lâu dài cho các đơn vị đạt được các mục tiêu đã đề ra
Trang 19- Xây dựng kế hoạch chỉ rõ ra được khâu nào là khâu chủ đạo của từng
kỳ kế hoạch, từ đó sẽ tập trung các biện pháp cụ thể để giải quyết
- Việc xây dựng kế hoạch nói chung và xây dựng kế hoạch sản xuất nước nói riêng là rất quan trọng để giải quyết các vấn đề bất cập đặt ra trong tương lai Cùng với sự phát triển không ngừng của quá trình đô thị hoá, sự tăng dân số nhanh chóng, nhu cầu cuộc sống ngày càng cao thì nhu cầu về nước sạch ngày càng lớn Tuy nhiên khả năng cung cấp nước sạch hiện nay còn nhiều bất cập như phạm vi cung cấp nước còn nhỏ, giá nước còn cao, khu vực nông thôn vẫn chưa được cung cấp đồng thời nguồn nước để khai thác ngày càng cạn kiệt do khô hạn, ô nhiễm
2.1.3.2 Đặc điểm của kế hoạch
* Tính thời gian: Kế hoạch luôn gắn liền với yếu tố thời gian, tuỳ theo tính
chất của công việc mà người ta chia kế hoạch ra làm nhiều loại như kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn Tính thời gian của kế hoạch là đặc trưng quan trọng,
nó nói nên tính chất và tầm qui mô của công việc sẽ được triển khai thực hiện
* Tính hiệu quả: Mỗi bản kế hoạch đều đưa ra các phương án lựa chọn
khác nhau để tuỳ theo mục đích của nhà hoạch định sẽ lựa chọn cho mình phương án tối ưu Thường thì các phương án đưa ra rất cụ thể, tính toán được các khả năng có thể sảy ra do đó nhà hoạch định rất dễ lựa chọn để mang lại hiệu quả như mong muốn
* Chỉ tiêu: Chỉ tiêu là căn cứ quan trong nhất của kế hoạch Nó là cái
đích cần đạt được của công việc sẽ làm Các chỉ tiêu của kế hoạch đưa ra phải phù hợp với điều kiện nguồn lực thực tế của các đơn vị Xây dựng chỉ tiêu càng sát với thực tế càng dễ thực hiện, hiệu quả càng cao
Trang 20Đặc điểm của kế hoạch năm năm: Thường được áp dụng cho các hoạt
động, các quá trình sản xuất kinh doanh cần có khoảng thời gian nhất định nhưng không quá dài cũng không quá ngắn như: kế hoạch xây dựng khu đô thị, kế hoạch xây dựng các nhà máy Đồng thời, kế hoạch năm năm cũng phù hợp với
sự phát triển của những tiến bộ khoa học kỹ thuật đang thay đổi từng ngày
- Kế hoạch ngắn hạn: là kế hoạch được xây dựng cho thời gian một năm
Kế hoạch hàng năm đề ra các mục tiêu cụ thể cần đạt được trong năm bao gồm những công việc cần thực hiện và giải pháp cụ thể từng bước đạt
được mục tiêu kinh tế xã hội của kế hoạch dài hạn [26]
2.1.3.4 Phương pháp xây dựng kế hoạch
* Phương pháp cân đối
Là phương pháp chủ yếu để lập kế hoạch vì mục đích của lập kế hoạch là phân tích một cách cân đối nhịp nhàng giữa các mặt, các yếu tố sản xuất liên quan
cân đối trước hết là sự thích ứng về số lượng giữa nhu cầu và sản xuất là
sự thích ứng nhịp điệu, phương hướng, tỷ lệ cân xứng giữa ngành sản xuất này với ngành sản xuất khác
Trang 21Nguyên tắc chung: Khi lập bảng cân đối phải lần lượt tính đến 2 phần: Nhu cầu và khả năng phải nhất trí với nhau về số lượng xác định, phải lấy mức bình quân tiên tiến, đồng thời mức đó phải được xây dựng có cơ sở khoa học
và thực tiễn thì kế hoạch đó mới phát huy tác dụng
Nếu nhu cầu lớn hơn khả năng thì tính lại lượng khả năng của kỳ kế hoạch để phát huy mọi khả năng của đơn vị, cuối cùng nếu thấy không còn khả năng thì hạ định mức xuống cho phù hợp với khả năng [22]
Hiện nay, việc sử dụng máy tính điện tử vào các tính toán cân đối chưa
được phổ biến do đó hạn chế rất nhiều đến việc thâu tóm và giải quyết nhanh chóng các khâu trong quá trình sản xuất Bên cạnh đó những tính toán cân đối chủ yếu dựa vào các mô hình tĩnh (mặc dầu đã có các mô hình động), trong khi nền kinh tế ở trạng thái động, điều đó sẽ làm giảm độ tin cậy của các tính toán
Trong việc kế hoạch hoá ngắn hạn, các mô hình tĩnh cần được áp dụng để phân tích và tính toán sơ bộ Các mô hình động phải được coi là hình thức chủ yếu để xây dựng bảng cân đối trong công tác lập kế hoạch dài hạn [11 - tr 88]
Bảng cân đối được lập trên cơ sở hệ thống các tiêu chuẩn và định mức
và được cấp có thẩm quyền phê duyệt Bảng cân đối cũng phải xem xét đến phần dự trữ để đảm bảo cho hoạt động sản xuất và cung cấp được liên tục ngay trong trường hợp nhu cầu có sự thay đổi
* Phương pháp toán kinh tế và kỹ thuật tính toán
Việc áp dụng các phương pháp toán kinh tế và kỹ thuật tính toán là nhân tố quan trọng nhất của việc lập các kế hoạch tối ưu để nâng cao hiệu quả trong sản xuất
Dựa vào máy tính điện tử người ta có thể tính toán được các nhu cầu và xây dựng được kế hoạch cung tương ứng Tuy nhiên để xây dựng phương pháp toán kinh tế và kỹ thuật tính toán cần chú ý những điểm sau:
- Xác định rõ phạm vi ứng dụng
Trang 22- Xử lý tốt các thông tin về kinh tế - xã hội, hoàn thiện hệ thống các
định mức, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả
- Có hệ thống tự động hoá các tính toán kế hoạch để lựa chọn phương
án trong tính toán tối ưu
Theo tác giả Thế Đạt: “Khái niệm trọng tâm trong phương pháp toán kinh tế là mô hình: Mô hình là sự mô tả bằng toán học những nét cơ bản nhất của hiện tượng cần nghiên cứu hoặc kết cấu của đối tượng được nghiên cứu Như vậy hiệu quả của việc sử dụng phương pháp toán kinh tế tuỳ thuộc trực tiếp vào mô hình có phù hợp với hiện tượng hoặc đối tượng được nghiên cứu ở mức độ nào muốn xét hiệu quả đó phải kiểm tra mức độ phù hợp như thế nào bằng cách so sánh sự tính toán bằng mô hình với tình hình thực tế về sự phát triển của hiện tượng hoặc đối tượng được nghiên cứu” [4]
Trong quá trình áp dụng phương pháp toán kinh tế để giải quyết các hoạt động kinh tế nảy sinh ra một số vấn đề khó khăn như: Nó đòi hỏi phải có trình độ dự đoán, trình độ hiểu biết về quản lý kinh tế nhằm đảm bảo tính thực
tế của bài toán; thông tin số liệu và tài liệu về hoạch toán kinh tế ban đầu cần
đầy đủ, kịp thời, chính xác
* Phương pháp dự đoán
Cungc theo tác giả Thế Đạt: “Trong giai đoạn đầu của xây dựng kế hoạch là những công việc được phạm trù dự đoán, kể cả những phương pháp mà dự đoán vận dụng Bản thân một kế hoạch và bất cứ một kế hoạch nào cũng đã là một sự dự
đoán về thực chất rồi” [4]
Bất cứ một dự đoán nào đều là một quy trình tổng hợp phức tạp gồm nhiều công trình nghiên cứu Dự đoán có vai trò cung cấp và trang bị cho các cơ quan chỉ đạo những phương pháp tối ưu, những tài liệu có căn cứ khoa học
và trên cơ sở đó xây dựng và vạch ra những kế hoạch hoạt động cụ thể
Trang 23Việc dự đoán phương hướng phát triển dài hạn là một khâu, một bước
có ý nghĩa quan trọng trong khi làm kế hoạch triển vọng
Việc xác định một hệ thống dự đoán là một vấn đề có tầm quan trọng nhất định đối với xây dựng kế hoạch nó bao gồm:
- Dự đoán về tốc độ phát triển về dân số, phân bố dân cư
- Dự đoán về tốc độ phát triển đô thị hoá
- Dự đoán về mức sống (thu nhập) của nhân dân
- Dự đoán về sự phát triển của kế hoạch và kỹ thuật
Dự đoán là tiền đề phân tích khoa học của kế hoạch hoá Vấn đề chủ yếu trong dự đoán là sự nhận thức những khuynh hướng khách quan của sự phát triển kinh tế
2.1.4 Một số lý luận về mô hình kinh tế sử dụng trong quá trình nghiên cứu
2.1.4.1 Phân loại mô hình
Trong thực tế, người ta sử dụng nhiều loại mô hình khác nhau để đạt
được mục đích và mang lại hiệu quả khác nhau Với mỗi loại mô hình khác nhau sẽ có tác dụng và phạm vi ứng dụng khác nhau Có nhiều cách thức để phân loại mô hình, song về bản chất thì người ta chia mô hình ra làm hai loại
là mô hình phân tích và mô hình mô tả
Với mô hình phân tích người ta chia ra làm hai loại đó là mô hình động
và mô hình tĩnh
- Mô hình tĩnh: mô hình này được sử dụng vào việc mô tả các sự vật
hiện tượng trong một khoảng không gian và thời gian xác định Mô hình này cho phép đi sâu phân tích sự tác động của các sự vật, hiện tượng trong khoảng thời gian xác định, tuy nhiên về mặt dự báo của nó là rất hạn chế
Trang 24- Mô hình động: Các sự vật hiện tượng luôn luôn biến đổi không ngừng
theo thời gian, mô hình động sẽ khắc phục được các nhược điểm của mô hình tĩnh do nó kết hợp được yếu tố thời gian, nó mô tả và phân tích các sự vật hiện tượng trong một khoảng thời gian dài
2.1.4.2 Mô hình kinh tế động và vai trò của nó
* Mô hình kinh tế động
Mô hình kinh tế động là mô hình dùng để mô tả và phân tích sự vận
động của một chuỗi sự vật hiện tượng kinh tế xã hội trong một khoảng thời gian dài, thường từ 10 đến 20 năm
Các hiện tượng kinh tế luôn gắn liền với các yếu tố thời gian và mối liên
hệ của rất nhiều yếu tố có liên quan khác Khi xem xét một hiện tượng kinh tế chúng ta phải đặt nó vào một mối liên hệ và quan hệ có tính chất qui luật trong thực tế Tức là chúng ta đã xem xét chúng trong sự tác động qua lại của các yếu tố để thấy rõ hơn bản chất của chúng
Mô hình kinh tế động là một công cụ hữu ích trong việc phân tích các hiện tượng kinh tế xã hội có tính thời gian Điều này được thể hiện ở chỗ:
- Đánh giá được mức độ tác động qua lại của các yếu tố có liên quan
đến nhau mà người nghiên cứu muốn xem xét
- Khi thay đổi một yếu tố trong mô hình sẽ làm cho các yếu tố khác thay đổi theo Lợi dụng chức năng này các nhà nghiên cứu có thể đưa ra các phương án khác nhau hoặc tác động vào từng yếu tố khác nhau để đạt được mục đích của mình
- Dựa vào các phương án của mô hình đưa ra, giúp chúng ta có được những quyết định tốt nhất trong quá trình quản lý, đặc biệt là trong xây dựng
kế hoạch dài hạn
Trang 252.2 Cơ sở thực tiễn về cầu - cung nước sạch
2.2.1.Thực tiễn cầu - cung nước sạch trên thế giới
Nước sạch đang ngày càng khan hiếm trên thế giới Theo thống kê của UNESCO, 1/4 dân số thế giới đang sử dụng nước uống không an toàn Dự tính
đến năm 2025, 2/3 dân số thế giới sẽ sống ở những nơi không có đủ nước sạch
Phó tổng thư ký Liên Hợp Quốc Hose Antoni Ocampo cho biết trên thế giới hiện có 106 tỷ người sống trong cảnh không có nước sạch, 2 tỷ người sống trong các điều kiện nước mất vệ sinh Đã có nhiều khu vực cải thiện điều kiện cung cấp nước sạch, nhưng với tốc độ như hiện nay, thế giới không thể đạt được mục tiêu phát triển thiên niên kỷ vào năm 2015 giảm 50% số người trên thế giới sống trong điều kiện vệ sinh không đảm bảo và thiếu nước sạch [10]
Tại diễn đàn thế giới lần thứ ba về nước tổ chức tại Tôkyô, các Báo cáo
đề cập nhiều đến vấn đề nước sạch, theo các báo cáo thì nguồn nước sạch toàn cầu đang cạn kiệt một cách đáng lo ngại Theo Tổng Giám đốc Tổ chức văn hoá, khoa học và giáo dục Liên hiệp quốc (LHQ) Koichiro Masuura, nguồn nước đang giảm dần trong khi đó nhu cầu về nước lại đang tăng cao Theo sắp xếp của các báo cáo về chất lượng nước, nguồn nước tốt nhất là Phần Lan, Canada, New Zealand, Anh, Nhật Bản trong đó Bỉ là nước Châu Âu có chất lượng nguồn nước thấp nhất thấp hơn cả các nước đang phát triển Chất lượng nguồn nước tại ấn Độ, Sudan Ruanda cũng đáng lo ngại Báo cáo cũng cho thấy sự chênh lệch lớn về phân bố lượng nước toàn cầu, từ mức thấp với 10
m3/người/năm ở Kowait đến mức cao 812.121 m3/người/năm ở Gana [9]
- Trung Quốc: Trung Quốc là một quốc gia có dân số đông nhất thế
giới do đó nhu cầu về nước sạch ở đây cũng rất cao, song trên thực tế lượng nước sạch cung cấp lại không đủ Đây là vấn đề nóng bỏng mà Chính phủ Trung Quốc cần quan tâm giải quyết
Trang 26Hiện nay, Trung Quốc có tổng lượng tài nguyên nước ngọt 2.800 tỷ m3, chiếm 6% tài nguyên nước toàn cầu, đứng thứ tư về nguồn nước chỉ sau Brazil, Nga, Canada, nhưng lượng nước bình quân đầu người của Trung Quốc chỉ có 2.300m3, bằng 1/4 mức trung bình của thế giới Nếu trừ đi nguồn nước khó sử dụng hoặc phân tán ở các vùng xa xôi thì tổng lượng nước của nước này chỉ ở mức 1.100 tỷ m3, bình quân 900 m3/người Trong 600 thành phố của Trung Quốc có tới hơn 400 thành phố thiếu nước sinh hoạt Theo điều tra mới công
bố nguồn nước ngầm tại nhiều thành phố bị ô nhiễm, đe doạ nguồn nước sinh hoạt, sức khoẻ của con người và ảnh hưởng tới chiến lược phát triển bền vững
Dự đoán tới năm 2030, khi dân số Trung Quốc tăng lên 1,6 tỷ người, khi đó lượng nước tính toán theo đầu người sẽ giảm xuống còn 1.720m3/năm [10]
Để khắc phục tình trạng thiếu nước sinh hoạt trong tương lai, Chính phủ Trung Quốc đã xây dựng cho mình những kế hoạch cung cấp nước cụ thể và hợp lý Một trong những kế hoạch là đầu tư kinh phí cho việc phát triển và mở rộng mạng lưới, bên cạnh đó là thi hành việc phân phối nước trong mùa hè ở
100 thành phố lớn [3]
- Châu Âu: Theo số liệu của Uỷ ban kinh tế Châu Âu, ngay hiện tại đã có ít
nhất 120 triệu dân cư Châu Âu từng ngày từng giờ không có đủ nước sạch để ăn uống
và đảm bảo vệ sinh thông thường Uỷ ban đang ra sức kêu gọi các nước thành viên phải nỗ lực hơn nữa để bảo vệ nguồn nước Tuy nhiên, theo tính toán của Liên hiệp quốc, ít chính phủ nào dám mạo hiểm làm gì nếu không có một hứa hẹn chắc chắn, vì hiện tại, chỉ có vấn đề nước thải thôi mà hàng năm đã tốn của Châu Âu khoảng 10 tỷ USD Theo Trung tâm Năng lượng Nguyên tử Quốc tế cho rằng vẫn còn khoảng 1,1
tỷ người không được sử dụng nước uống và 2,5 tỷ thiếu nước sinh hoạt đúng tiêu chuẩn, 5 triệu người bị chết do các bệnh liên quan đến ô nhiễm nguồn nước mỗi năm Trong khi đó, chỉ vẻn vẹn 3% lượng nước của trái đất là nước sạch; phần lớn lại dự trữ dưới dạng băng ở các cực hoặc quá sâu dưới lòng đất [27]
Trang 27- Châu Phi: ở Châu Phi, 300 triệu người - chiếm 40% dân số - sống
không có các điều kiện vệ sinh cơ bản và không hợp vệ sinh, và từ 1990 đã tăng lên 70 triệu người [23]
ở rất nhiều làng quê ở châu Phi, phụ nữ mỗi ngày phải vác chum, vò, thùng và đi bộ hàng chục kilômét để lấy nước Khi đã tới nơi, họ phải xếp hàng cả giờ đồng hồ mới mong tới lượt [14]
Vừa qua, các quan chức các ban ngành chức năng có liên quan của 22 nước châu Phi đã nhóm họp và kêu gọi cần thiết lập các liên minh khu vực hoặc toàn cầu hoá nhằm giải quyết những vấn đề liên quan đến nước sạch và
vệ sinh Trong số nhiều giải pháp, nổi bật lên gợi ý chuyển đổi nước biển thành nước uống Theo dự báo của UN, một khi cơn “sốt” nước sảy ra, những nước nghèo đặc biệt là các quốc gia phụ thuộc vào nông nghiệp sẽ là những người đầu tiên phải hứng chịu hậu quả [27]
Từ những con số trên, chúng ta có thể nhìn thấy một bức tranh không mấy khả quan về vấn đề nước sạch trong tương lại Nguyên nhân chính là do thời tiết khô hạn kéo dài ở nhiều nơi trên thế giới, do chiến tranh giữa các quốc gia, do ô nhiễm nguồn nước, do sử dụng lãng phí, Tuy nhiên, các tổ chức trên thế giới đã luôn tìm cách để khắc phục tình trạng trên Trong hầu hết các giải pháp, vấn đề tài chính luôn được đặt lên hàng đầu
Theo LHQ, để đạt được mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, các nước thành viên LHQ cần phải đầu tư 33 tỷ USD, gấp đôi mức đầu tư toàn cầu 16 tỷ USD hiện nay nhằm thực thiện các điều kiện vệ sinh và cung cấp nước sạch Chủ tịch Uỷ ban LHQ về phát triển bền vững Boger Brender cho rằng đầu tư cải thiện các điều kiện về nguồn nước sạch sẽ đem lại lợi ích kinh tế cho các nước 63 tỷ USD [10]
Theo tính toán của Uỷ ban thế giới về nước, trong những năm tới, cần một khoản đầu tư 700 tỷ USD cho các công trình tái tạo nước sạch trên hành
Trang 28tinh phục vụ con người, sản xuất lương thực thực phẩm, cá, rừng và cây xanh,
Uỷ ban cho rằng đây là một khoản đầu tư thông minh và có ích cho nhân loại Mặt khác, chính quyền các nước này cần giáo dục dân chúng sử dụng nguồn của cải thiện nhiên này sao cho phù hợp
2.2.2 Thực tiễn về cầu - cung nước sạch ở Việt Nam
Hiện nay, ở Việt Nam công tác xây dựng kế hoạch nói chung và xây dựng kế hoạch cung cấp nước sạch nói riêng vẫn còn nhiều vấn đề bất cập Hầu hết các đơn vị chưa có phương pháp xây dựng kế hoạch mang tính khoa học, nhất là xây dựng các kế hoạch trong dài hạn Thực tế cho thấy các đơn vị mới chỉ xây dựng kế hoạch lấy kết qủa thực hiện của các kỳ trước đó làm căn
cứ Công tác xây dựng kế hoạch cũng chưa áp dụng nhiều các phương pháp mới như phương pháp mô hình, các phương pháp toán, đặc biệt là ứng dựng các phần mềm tin học, do đó tính chính xác và dự báo của kế hoạch không cao Việc xây dựng kế hoạch luôn là nhiệm vụ quan trọng và cần thiết đối với bất kỳ
một hoạt động nào
2.2.2.1 Nhu cầu sử dụng nước sạch
Nước là yếu tố thiết yếu đối với sự phát triển và xoá đói giảm nghèo Khả năng tiếp cận với nước sinh hoạt là nhu cầu căn bản nhất của con người và là trọng tâm của các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ Tuy nhiên, gần 1,1 tỷ người không
được tiếp cận với nguồn cung cấp nước sạch và đại bộ phận trong số này đang sống trong các nước phát triển Theo Chương trình phát triển LHQ (UNDP), tình trạng không được tiếp cận với các dịch vụ cấp nước bền vững là do công tác quản
lý cầu - cung yếu kém chứ không hẳn do khan hiếm nước [18]
Hiện nay ở Việt Nam, thống kê cho thấy chỉ có 46% dân nông thôn
được dùng nước sạch, con số này ở thành thị là 70% Có nhiều ý kiến cho rằng
số liệu này cao so với thực tế bởi khái niệm nước sạch trong quá trình thống
kê có nhiều điểm khác nhau Tuy nhiên, nếu tạm chấp nhận thì số dân Việt
Trang 29Nam không được tiếp cận với nước sạch, hay nói cách khác là đang “khát” đã rất lớn, 54% dân số nông thôn và 30% dân số thành thị
Những nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này, theo Cục Bảo vệ môi trường, do Việt Nam chưa có sự quan tâm đặc biệt đến tài nguyên nước Giá nước hiện không hợp lý Sự quản lý lỏng lẻo dẫn đến tình trạng khai thác bừa bãi,
sử dụng lãng phí nước là những nguyên nhân làm biến đổi số lượng, chất lượng tài nguyên nước trên nhiều vùng lãnh thổ, gây tình trạng thiếu nước [16]
Sự thiếu nước diễn ra ở nhiều vùng trên cả nước Theo Giám đốc sở Giao thông công chính Hà Nội thì trong năm qua, tổng công suất khai thác sản xuất nước sạch đạt 420.000m3/ngàyđêm, so với nhu cầu dùng nước sạch
được tính toán là 600.000 m3/ngàyđêm thì mới chỉ đáp ứng được 70%, thế nên nhiều khu vực trên địa bàn các quận vẫn còn thiếu và chưa có nước sạch Nguyên nhân chủ yếu là do việc tổ chức triển khai phát triển hệ thống cấp nước chưa theo đúng tiến độ của quy hoạch, tốc độ đô thị hoá và nhu cầu sử dụng nước tăng nhanh, nguồn vốn đầu tư cho thực hiện còn khiêm tốn [19]
2.2.2.2 Kế hoạch cung cấp nước sạch ở Việt Nam
Trước nhu cầu bức xúc về nước sạch trong thời gian qua, để thực hiện
được múc tiêu cấp nước sạch cho 85% dân số vào năm 2010 và 100% dân số vào năm 2020, Việt Nam cần phải thực hiện một số công việc sau:
Thứ nhất, Cần phải tập trung đầu tư vốn vào xây dựng và mở rộng hệ
thống mạng lưới cấp nước Theo tính toán của Bộ kế hoạch - Đâu tư, hàng năm phải được đầu tư là 148 triệu USD thì đến năm 2020 mới đạt được mục tiêu
Thứ hai, Xác định được những nơi cần ưu tiên xây dựng các công trình
cấp nước, túc là những nơi có nhu cầu lớn nhất Hiện nay, lượng nước sạch cung cấp không đều giữa các nơi trong cùng một khu vực kể cả các khu vực thành phố Thực chất của công việc này là xác định nhu cầu dùng nước sạch của từng nơi, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch cung cấp cụ thể cho mỗi vùng
Trang 30Thứ ba, Cần có sự phối hợp của nhiều đối tượng tham gia và công tác
quản lý đối với tài nguyên nước ngày càng trở nên khan hiếm Theo ông Vũ Kim Quyên, Hiệp hội cấp thoát nước, chính sách từ trên xuống là chưa đủ mà cần làm sao cho người dân, từ thành thị đến nông thôn được tham gia nhiều hơn vào việc qui hoạch, cấp thoát nước, cũng như định giá nước [6]
2.2.3 Một số nghiên cứu liên quan đến đề tài
1 Đề tài khoa học cấp Bộ: ứ ng dụng mô hình phân tích động, phân tích
xu hướng phát triển dân số, đất đai, lượng thực và chăn nuôi cho tỉnh Hải Dương của TS Nguyễn Văn Song [20] Đề tài sử dụng mô hình phân tích
động nghiên cứu sự biến động của các yếu tố chính trong sản xuất nông nghiệp trong dài hạn, từ đó đề xuất các giải pháp tác động vào các yếu tố nhằm đạt được mục tiêu của tỉnh Hải Dương đề ra
2 Đề tài tốt nghiệp đại học: ứ ng dụng mô hình kinh tế động trong xây dựng chiến lược sử dụng nguồn lực của huyện Quế Võ - tỉnh Bắc Ninh của sinh
viên Nguyễn Thị Hải Ninh [15] Đề tài sử dụng mô hình kinh tế động làm công
cụ chính để phân tích và đưa ra các phương án về sử dụng nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp Trên cơ sở đó, đề tài lựa chọn phương án tối ưu để đề ra chiến lược phát triển phù hợp cho huyện Quế Võ - tỉnh Bắc Ninh
ở cả hai đề tài của TS Nguyễn Văn Song và sinh viên Nguyễn Thị Hải Ninh đã sử dụng linh hoạt và hiệu quả mô hình phân tích động để xác định sự thay
đổi và phát triển của các yếu tố đưa vào mô hình Hai đề tài đã sử dụng mô hình phận tích động làm công cụ chính trong suốt quá trình nghiên cứu Tuy nhiên, cả hai đề tài mới chỉ sử dụng mô hình để nghiên cứu ở lĩnh vực hoạt động nông nghiệp, chưa nghiên cứu đến vấn đề khác trong đó có lĩn vực cầu - cung nước sạch
3 Nghiên cứu: Dịch vụ nước công cộng ở thành phố Huế - Việt Nam của
tác giả Trần Hoài [28] Nghiên cứu đã đề cập đến những vấn đề sau:
Trang 31- Nghiên cứu đã khái quát được thực trạng cung cấp nước ở thành phố Huế nói riêng và ở Việt Nam nói chung
- Nêu ra được chính sách và cách quản lý nguồn nước trong đó có đề cập đến mối quan hệ giữa cầu - cung nước sạch và ảnh hưởng của mối quan hệ này đến việc quản lý và ra quyết định
- Nêu được vai trò của cộng đồng trong việc cung cấp và sử dụng nước sạch
4 Nghiên cứu: Nghèo đói và nhu cầu về nước sinh hoạt ở
Fianarantsoa, Madagascar của các tác giả Ramy Razafindra Lambo, Bart
Minten and Bruce Larson [30] Nghiên cứu đã tập trung đi sâu phân tích ảnh hưởng của thu nhập đến cầu nước sinh hoạt thông qua yếu tố giá cả Nghiên cứu đưa ra kết luận rằng người có thu nhập cao hơn sẽ có nhu cầu sử dụng nước nhiều hơn Thông qua điều tra phỏng vấn, nghiên cứu cũng kết luận được yếu tố trình độ văn hoá của người dân cũng ảng hưởng đến nhu cầu sử dụng nước (những người có trình độ văn hoá cao hơn sẽ có nhu cầu dùng nước sao hơn do muốn đảm bảo sức khoẻ)
Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã dùng phương pháp toán học là các hàm tuyến tính để phân tích ảnh hưởng của yếu tố thu nhập đến cầu nước sinh hoạt
5 Nghiên cứu: Qui định về dịch vụ nước: mức giá và sự thu hồi chi phí
của tác giả Patrick C Mann [29] Nghiên cứu đã đề cập đến các vấn đề liên quan đến chi phí sản xuất nước và mức giá tiêu thụ nước sạch Nghiên cứu đưa
ra một số sáng kiến về đặt giá như: đặt giá theo mùa, theo khu vực
Các nghiên cứu về nước sạch ở trên, một mặt nào đó đã đi sâu nghiên cứu ảnh hưởng hay tác động của một vài yếu tố đến nhu cầu sử dụng nước sạch như thu nhập, mức giá bán… hoặc đề cập một phần nào đó đến thực trạng nhu cầu nước sạch Tuy nhiên các nghiên cứu chưa xác định được lượng cầu nước sạch cụ thể trong dài hạn, do vậy chưa xây dựng được kế hoạch cung tương ứng, phù hợp cho các giai đoạn tiếp theo
Trang 32Để kế thừa có chọn lọc các đề tài đã được nghiên cứu và phát triển thêm những nội dung mới, đề tài nghiên cứu của chúng tôi đã sử dụng mô hình kinh
tế động làm một phương pháp nghiên cứu Đồng thời đề tài xác định được cụ thể cầu về nước sạch trong dài hạn cho thành phố Hải Dương Trên cơ sở lượng cầu xác định được, chúng tôi sẽ xây dựng kế hoạch cung tương ứng Phương pháp xác định cầu và xây dựng kế hoạch cung trong dài hạn của đề tài
có thể áp dụng rộng rãi cho các Công ty cấp nước khác
2.2.4 Một số căn cứ để làm đề tài
- Căn cứ Quyết định số 63/1998/QĐ-TTG ngày 18/3/1998 của Thủ
tướng Chính phủ “Về việc phê duyệt Định hướng phát triển cấp nước đô thị Quốc gia đến năm 2020”
Mục tiêu: Nhằm định hướng cho việc phát triển ngành cấp nước đô thị phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, từ đó lập kế hoạch
đầu tư phù hợp để phát triển hệ thống cấp nước các đô thị một cách ổn định và bền vững trong từng giai đoạn Đến năm 2020 phấn đấu đạt chỉ tiêu cấp nước như sau: 100% dân số đô thị được cấp nước sạch với tiêu chuẩn 120 - 150 lít/người/ngày; đối với các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, phấn đấu đạt tiêu chuẩn 180 - 200 lít/người/ngày [17]
- Căn cứ Qui hoạch tổng thể và chi tiết công tác xây dựng toàn tỉnh từ nay đến năm 2020: Xây dựng phát triển các vùng miền, qui hoạch phát triển ngành, qui hoạch phát triển xây dựng thành phố Hải Dương, Qui hoạch phát triển các khu đô thị, khu công nghiệp, khu văn hoá du lịch…
Trang 333 địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm Công ty
3.1.1.1 Sơ lược lịch sử ra đời và phát triển Công ty cấp nước Hải Dương
Năm 1936 Nhà máy nước được xây dựng tại thôn Phương Độ - Phường Cẩm Thượng - Thành phố Hải Dương với công suất ban đầu là 1.000m3/ngày, tổng chiều dài đường ống khoảng 2km đến nay vẫn còn hoạt động Trong một khoảng thời gian dài từ năm 1945 đến năm 1954 Nhà máy nước tạm ngừng hoạt động, đến tận năm 1957 Nhà máy nước được quyết định khôi phục lại
Năm 1978 Nhà máy đã xây dựng thêm hệ thống xử lý nước mới theo công nghệ của Liên Xô nâng Công suất lên 21.000m3/ngày Mạng đường ống hơn 100km từ Φ100 đến Φ600, có 65% dân được cấp nước sạch
Tháng 12/1993, Nhà máy nước Hải Dương được đổi tên thành Công ty cấp nước Hải Dương Năm 2002, các Nhà máy nước các huyện được sáp nhập làm cho qui mô của Công ty được mở rộng đáng kể, nâng công suất toàn Công
ty lên:35.700m3/ngày, với tổng số hộ lên tới hơn 31.000 hộ
Đến nay, trải qua gần 70 năm xây dựng và phát triển công ty đã không ngừng phát triển điều này được khẳng định qua các kết quả về sản lượng tiêu thụ và số hộ tiêu thụ năm sau cao hơn năm trước Góp phần vào kết quả đó phải kể đến công tác xây dựng kế hoạch của Công ty
Trong thời gian tới từ nay đến năm 2010, cùng với sự phát triển của quá trình đô thị hoá và phát triển công nghiệp Công ty cấp nước Hải Dương cũng phải xác định cho mình nhu cầu sử dụng nước từ đó xây dựng kế hoạch cung cấp nước cho phù hợp
Trang 34Theo dự kiến của Công ty, nhu cầu dùng nước trung bình của thành phố Hải Dương năm 2005 là: 27.000m3/ngàyđêm, năm 2010 là 40.000m3/ngàyđêm
Để đạt được công suất trên cần phải tập trung cải tạo nâng cấp và mở rộng mạng
đường ống cấp nước [24]
3.1.1.2 Cơ sở vật chất của Công ty
Công ty cấp nước Hải Dương là một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc sở xây dựng Hải Dương, với chức năng nhiệm vụ được giao xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển cấp nước và sản xuất kinh doanh phục vụ cấp nước của các đô thị trên địa bàn tỉnh Hải Dương, khảo sát nguồn nước, xây dựng các dự án cấp nước, thiết kế thi công các công trình cấp nước và hợp tác sản xuất cung ứng vật tư ngành nước, thi công các công trình dân dụng và công nghiệp
Hiện nay, toàn Công ty có 418 cán bộ công nhân viên - lao động, trên
địa bàn thành phố Hải Dương là 363 người chiếm 86,8%, số người có trình độ
từ trung cấp trở nên là 120 người chiếm 28,7%, số còn lại đều đã qua đào tạo nghề Với số lượng và trình độ của cán bộ công nhân viên - lao động như trên
đã đảm bảo được cho quá trình sản xuất kinh doanh ở hiện tại, trong những năm tới cùng với sự gia tăng về nhu cầu nước sạch tăng lên và đổi mới công nghệ đòi hỏi phải tăng cả số lượng và chất lượng của đội ngũ cán bộ công nhân viên của Công ty
Sau nhiều năm xây dựng, cải tạo và mở rộng hệ thống cấp nước, hiện nay, công suất thiết kế toàn công ty đã đạt được là 38.200m3/ngàyđêm, bên cạnh đó mạng đường ống được đầu tư mở rộng ra nhiều khu vực đặc biệt là trên địa bàn toàn thành phố Hải Dương như: phường Bình Hàn, phường Quang Trung, phía Bắc quốc lộ 5A, các khu đô thị mới, khu công nghiệp
Mạng đường ống được mở rộng nhằm đáp ứng nhu cầu dùng nước sạch sinh hoạt và công nghiệp trong thời gian tới Mặc dù số lượng khách hàng được phát triển tăng lên rõ rệt từ 28.443 hộ năm 2002 đến năm 2004 số lượng khách
Trang 35Bảng 3.1: Tình hình chung về Công ty cấp nước Hải Dương
II Tổng chiều dài tuyến ống (trên
địa bàn TP Hải Dương
III Công suất nhà máy
VIII Tổng số hộ tiêu thụ trên TPHD 28.443 29.155 32.945
Trang 36hàng đã tăng lên 37.000 hộ, trên địa bàn thành phố Hải Dương là 32.945 hộ, song đây mới chủ yếu là khách hành dùng nước sinh hoạt, lượng nước tiêu thụ không cao như các khối cơ quan Đây chính là nguyên nhân phản ánh con số công suất thực tế mới chỉ đạt 76% so với công suất thiết kế Trong một hai năm tới khi các khu công nghiệp và khu đô thị mới được đi vào hoạt động công suất thực tế sẽ tăng lên rất nhiều
Trong năm 2004, công ty cấp nước Hải Dương tăng giá bán nước cho tất cả các hình thức sử dụng Tăng cao nhất là khối hành chính sự nghiệp từ 3.300-5.500 đồng/m3 Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến sản lượng nước
tiêu thụ của khách hàng trong năm
3.1.2 Đặc điểm điều kiện tự nhiên của thành phố
* Về vị trí địa lý
Thành phố Hải Dương là một trung tâm kinh tế - chính trị, văn hoá - xã hội của tỉnh Hải Dương, là một thành phố trực thuộc tỉnh
- Phía Đông giáp với huyện Thanh Hà, một phần giáp với huyện Nam Sách;
- Phía Tây giáp với huyện Cẩm Giàng;
- Phía Nam giáp với huyện Gia Lộc, Tứ Kỳ;
- Phía Bắc giáp với huyện Nam Sách
Thành phố Hải Dương nằm ở vị trí trọng điểm của 2 thành phố lớn là
Hà Nội và Hải Phòng đồng thời là trọng điểm của vùng đồng bằng Sông Hồng, có hệ thống giao thông thuận lợi: giao thông đường thuỷ là sông Thái Bình bao quanh phía Đông và phía Bắc thành phố, có đường sắt Hà Nội - Hải Phòng chạy qua và trên 10 km đường quốc lộ 5 nối liền các thành phố Hà Nội
- Hải Phòng đi Quảng Ninh, từ đặc điểm này đã tạo điều kiện thuận tiện cho việc giao lưu phát triển kinh tế
Trang 37* Địa hình
Thành phố Hải Dương nằm trong vùng địa hình bằng phẳng và thấp trũng, cao độ nền đất chênh lệch từ +3,0m đến dưới 1,0m Phân bổ theo hướng dốc về sông Thái Bình và sông Sặt Địa hình bị chia cắt bởi ao hồ kênh rạch tự nhiên và nhân tạo trong quá trình phát triển đô thị Đây là vấn đề khó khăn, phức tạp và tốn kém trong việc khắc phục phát triển nền địa hình thành phố
* Thời tiết, khí hậu và thuỷ văn
Thành phố Hải Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mưa nắng nhiều, với hai mùa mưa nắng rõ rệt, lượng mưa trung bình từ 1.500-1.700mm, nhiệt độ trung bình 23,50c Thành phố Hải Dương có 3 phía được bao bọc bởi sông Thái Bình và sông Sặt, thuộc hệ thống thuỷ lợi Bắc Hưng Hải Mực nước mùa lũ của hai sông đếu cao hơn nền thành phố và vùng xung quanh Vì vậy, vào các mùa mưa, một số nơi trong thành phố luôn bị ngập lụt Hàng năm, thành phố phải sử dụng bơm tiêu nước ra các sông theo từng khu vực nhỏ, tình trạng này tồn tại trong suốt quá trình phát triển đô thị hoá Tuy nhiên, với lượng nước của các con sông luôn lớn, tạo điều kiện rất thuận cho quá trình sản suất nước sạch phục vụ cho thành phố
3.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội
3.1.3.1 Tình hình đất đai của thành phố
Tình hình đất đai của thành phố Hải Dương được thể hiện thông qua số liệu ở bảng 3.2 Tổng diện tích đất theo địa giới hành chính của thành phố là 3.623,53 ha, chỉ chiếm 2,2% tổng diện tích toàn tỉnh
Mặc dù diện tích đất tự nhiên ít song đất nông nghiệp lại chiếm tỷ lệ rất cao Trong một vài năm gần đây diện tích đất nông nghiệp có xu hướng giảm từ 1.647,56 ha năm 2002 xuống còn 1.184,30 ha năm 2004, giảm trung bình là 16,32% năm Sở dĩ diện tích đất nông nghiệp giảm là do bị thu hồi chuyển sang xây dựng các khu công nghiệp, các khu đô thị mới, làm đường giao thông
Trang 38Bảng 3.2: Tình hình đất đai của thành phố Hải Dương
1 Tổng diện tích đất nông nghiệp ha 1.647,56 45,47 1.227,66 33,88 1.184,30 32,69 74,51 96,47 84.78
2 Tổng diện tích đất chuyên dùng ha 1.010,65 27,89 1.346,45 37,16 1.383,69 38,18 133,22 102,76 115,01
Trang 39Diện tích đất chuyên dùng là một chỉ tiêu đáng chú ý của một thành phố Tổng diện tích đất chuyên dụng của thành phố Hải Dương năm 2004 là 1.383,69 ha tăng 36,91% so với năm 2001 Từ năm 2002, thành phố Hải Dương có chính sách tạo điều kiện cho phát triển công nghiệp và mở rộng đô thị theo qui hoạch Đất xây dựng tăng lên 2 lần từ năm 2002 đến năm 2004,
đất giao thông cũng được tăng lên tương ứng để phù hợp với phát triển qui hoạch của thành phố
Trong những năm qua, diện tích đất của thành phố có sự chuyển dịch
đáng kể (hình 3.1) Cụ thể là chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang đất chuyên dùng Sự chuyển đổi này hợp với qui luật phát triển kinh tế - xã hội hiện nay
Đây là hướng đi đúng để đẩy nhanh quá trình đô thị hoá Tuy nhiên, trong quá trình chuyển dịch cần chú ý đến mức độ cân đối giữa các loại đất, tránh tình trạng phát triển mất cân bằng và không theo qui hoạch đã định trước
độ tăng bình quân từ năm 2002 đến năm 2004 là 7,73% Qua con số này,
Trang 40thành phố cần thấy được tầm quan trọng của việc gia tăng dân số ảnh hưởng
đến các vấn đề kinh tế - xã hội của thành phố trong tương lai, do đó cần phải
có các biện pháp để giữ mức phát triển dân số ở mức ổn định
Một điểm cần chú ý trong vấn đề sử dụng đất của thành phố Hải Dương
là diện tích đất chưa sử dụng còn rất nhiều, mức độ sử dụng qua các năm không đáng kể Đến năm 2004, lượng đất này vẫn còn 380,72 ha chiếm 10,51% tổng diện tích đất tự nhiên
Từ vấn đề sử dụng đất đai của thành phố cho thấy đã có những bước chuyển biến tích cực, song trong thời gian tới thành phố cần có kế hoạch cụ thể hơn nữa để sử dụng số diện tích đất chưa sử dụng vào mục đích có hiệu qủa lâu dài nhất
- Phường Quang Trung
- Phường Nguyễn Trãi
Và 2 xã: Xã Việt Hoà và xã Tứ Minh
Năm 2004 tổng dân số của thành phố là 140.396 người tăng so với năm
2002 là 8.257 người tăng gần 6,25% Tỷ lệ sinh hàng năm bình quân là 0,9%
và tăng cơ học bình quân là 3,6% Tốc độ tăng dân số của thành phố tương đối nhanh đặc biệt là trong những năm tới khi các khu đô thị mới sắp được hoàn thành như khu đô thị phía Tây, khu đô thị phía Đông, và một số khu dân cư
đang được qui hoạch