luận văn
Trang 11 Mở Đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, trong những năm qua, đặc biệt là 5 năm năm gần đây nông nghiệp Việt Nam đã đạt những thành tựu đáng kể, tốc độ tăng trưởng được duy trì bền vững và giữ vững an ninh lương thực quốc gia xét trên những tiêu chí cơ bản, nhưng ngành chăn nuôi chưa đạt được mức tăng trưởng tương xứng với tiềm năng của nó
Mặc dù trong điều kiện hiện nay, phát triển chăn nuôi có rất nhiều điều kiện thuận lợi do tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ sinh học đã tạo ra những giống vật nuôi cho năng suất cao, phẩm chất tốt Mặt khác, cùng với các chính sách phát triển kinh tế nói chung, Đảng và Nhà nước cũng có rất nhiều chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi Tuy nhiên kết quả sản xuất ngành chăn nuôi nước ta vẫn còn nhiều hạn chế Tỷ trọng GDP của ngành chăn nuôi còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu đối với ngành Vì vậy việc nghiên cứu về phát triển chăn nuôi đang được các cấp lãnh đạo và các nhà khoa học quan tâm
Lợn là loại gia súc được nuôi phổ biến ở nước ta cũng như trên thế giới Thịt lợn chiếm 77% tổng lượng thịt sản xuất và cung ứng trên thị trường Những năm qua, ngành chăn nuôi lợn ở nước ta đã đạt được những thành tựu
đáng kể, đặc biệt là từ khi chúng ta thực hiện quá trình đổi mới chuyển nền kinh tế sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN Thịt lợn sản xuất
ra vừa được tiêu dùng trong nước vừa xuất khẩu, tuy nhiên số lượng xuất khẩu còn ở mức hạn chế và thị trường chưa ổn định Vì thế, việc tăng sản lượng sản phẩm chăn nuôi đặc biệt là thịt lợn là việc làm cấp thiết hiện nay cần được các cấp, các ngành quan tâm giải quyết
Trang 2Hà Tây nói chung và huyện Chương Mỹ nói riêng được đánh giá là địa phương có nhiều điều kiện thuận lợi trong phát triển kinh tế Với thế mạnh là gần thị trường tiêu thụ lớn là thành phố Hà Nội, sự tham gia của các công ty chế biến thức ăn gia súc, cùng với sự quan tâm của các cấp lãnh đạo tỉnh, huyện, chăn nuôi của huyện Chương Mỹ đã đạt được tốc độ tăng trưởng khá,
đặc biệt là chăn nuôi lợn Đã bắt đầu xuất hiện mô hình chăn nuôi lợn quy mô lớn, số hộ chăn nuôi từ 5 - 10 con/lứa ngày càng tăng [19] Điều đó đã chứng
tỏ sự tác động tích cực của các chính sách đổi mới của Đảng trong lĩnh vực nông nghiệp nói chung và ngành chăn nuôi nói riêng Tuy nhiên chăn nuôi lợn
của huyện đang đứng trước những khó khăn thách thức sau đây:
- Quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, manh mún, tính ổn định chưa cao;
- Năng suất, chất lượng sản phẩm thấp, sức cạnh tranh trên thị trường còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng;
- Công nghệ chế biến chưa phát triển;
- Sự tiếp cận với thị trường của nông dân còn yếu;
- Cơ sở vật chất phục vụ sản xuất nghèo nàn;
Trước bối cảnh nền kinh tế nước ta đã và đang trên con đường hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, tính cạnh tranh về thị trường hàng hoá nói chung và sản phẩm thịt lợn nói riêng là rất gay gắt Quá trình hội nhập khu vực và quốc
tế sẽ ảnh hưởng trực tiếp việc chăn nuôi lợn thông qua giá sản phẩm đầu ra,
đến ngành chế biến thức ăn gia súc và ngành sản xuất nguyên liệu chế biến thức ăn chăn nuôi, ảnh hưởng đến cuộc sống của người chăn nuôi Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng
để tìm ra hướng đi đúng đắn trong nền kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập là rất cần thiết
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển chăn nuôi lợn ở huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây
Trang 31.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá đúng thực trạng phát triển chăn nuôi lợn, xác định được tiềm năng phát triển chăn nuôi lợn của huyện từ đó làm cơ sở đề xuất các giải pháp phù hợp phát triển chăn nuôi lợn của huyện Chương Mỹ
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển chăn nuôi lợn
- Đánh giá thực trạng phát triển chăn nuôi lợn ở huyện Chương Mỹ
- Phát hiện những thuận lợi, khó khăn và tiềm năng phát triển chăn nuôi lợn của địa phương
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển chăn nuôi lợn ở huyện Chương Mỹ trong thời gian tới
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Phát triển chăn nuôi lợn là vấn đề phức tạp liên quan đến nhiều đối tượng Tuy nhiên, với điều kiện thời gian cho phép, trong đề tài này chúng tôi tập trung nghiên cứu các vấn đề chủ yếu liên quan đến quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây
Trang 4+ Định hướng và các giải pháp dự kiến cho giai đoạn 2005- 2010
- Về không gian
Nghiên cứu tình hình phát triển chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây, đi sâu khảo sát các nội dung chủ yếu về tình hình chăn nuôi lợn ở một số hộ nông dân được chọn ra từ các xã đại diện
- Về nội dung
Nghiên cứu những vấn đề chủ yếu về phát triển chăn nuôi lợn như quy mô, cơ cấu, tốc độ phát triển, kết quả, hiệu quả chăn nuôi lợn, các yếu tố ảnh hưởng và những thuận lợi, khó khăn trong phát triển chăn nuôi lợn của huyện
Từ đó, đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển chăn nuôi lợn trong thời gian tới
1.4 Các vấn đề cần tập trung nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu chúng tôi tập trung giải quyết các vấn đề nhằm trả lời các câu hỏi sau:
1) Tình hình chăn nuôi lợn ở huyện Chương Mỹ thời gian qua có những đặc trưng gì?
2) Kết quả và hiệu quả chăn nuôi lợn của huyện như thế nào và và các yếu
tố ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi lợn của huyện?
3) Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển chăn nuôi lợn?
4) Huyện Chương Mỹ có những tiềm năng gì trong phát triển chăn nuôi lợn 5) Để phát triển chăn nuôi lợn ở huyện Chương Mỹ cần tập trung vào những giải pháp nào?
Trang 52 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Sự phát triển về nghĩa hẹp đó là sự mở rộng, khuếch trương, phát đạt, mở mang của sự vật, hiện tượng hoặc ý tưởng tư duy trong đời sống một cách tương
đối hoàn chỉnh trong một giai đoạn nhất định Phát triển theo nghĩa rộng là thuộc tính cơ bản của phép biện chứng, là sự diễn biến của hiện tượng luôn đúng theo quy luật trong các thế giới vô sinh, hữu sinh và loài người Trong xã hội loài người phát triển gắn liền với sự thay đổi hình thái kinh tế xã hội
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng (tăng thêm) về quy mô sản lượng sản
phẩm hàng hoá dịch vụ của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) [6]
Để biểu thị sự tăng trưởng của nền kinh tế người ta thường dùng chỉ tiêu mức tăng thêm của nền kinh tế thời kỳ sau so với thời kỳ trước Nó được biểu hiện trên hai mặt: mức tăng tuyệt đối là chênh lệch về lượng tuyệt đối của sản lượng kỳ sau so với kỳ trước; mức tăng trưởng tương đối là kết quả so sánh giữa mức tăng tuyệt đối với sản lượng của kỳ trước, còn gọi là tốc độ tăng trưởng
Phát triển kinh tế là quá trình biến đổi về chất của nền kinh tế trong
một thời kỳ nhất định theo hướng tiến bộ (không chỉ bao gồm sự gia tăng về
Trang 6quy mô sản lượng mà còn tạo ra sự biến đổi cơ cấu kinh tế, về dân cư theo hướng tiến bộ)
Một định nghĩa ngắn gọn không thể phản ánh hết được nội dung của phát triển kinh tế Tuy nhiên những vấn đề cơ bản nhất định về phát triển kinh
tế có thể hiểu như sau: phát triển thể hiện sự tăng lên cả về số lượng và chất lượng, nó thể hiện xu hướng tiến bộ, phù hợp với quy luật Đó là sự tăng trưởng cộng thêm các thay đổi cơ bản trong cơ cấu của nền kinh tế, sự tăng lên của sản phẩm quốc dân do ngành công nghiệp tạo ra, sự đô thị hóa, sự tham gia của các dân tộc của một quốc gia trong quá trình tạo ra các thay đổi nói trên là những nội dung của phát triển Phát triển kinh tế là sự nâng cao phúc lợi cho người dân, nâng cao các tiêu chuẩn sống, cải thiện giáo dục, sức khoẻ và
+ Một là các chỉ tiêu thể hiện quy mô phát triển kinh tế
+ Hai là các chỉ tiêu thể hiện sự tiến bộ về cơ cấu
Kinh tế phát triển nhanh hay chậm phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, nhưng các yếu tố sau có thể coi là các yếu tố chủ yếu: + Vốn sản xuất (nhiều hay ít)
+ Lao động (bao gồm cả số lượng và chất lượng lao động)
+ Các nguồn tài nguyên thiên nhiên
+ Trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ
+ Hình thức tổ chức sản xuất và phương thức quản lý
+ Môi trường kinh tế và xã hội liên quan
Trang 7Bởi vậy, mỗi quốc gia, mỗi vùng, mỗi địa phương muốn đẩy nhanh nhịp
độ phát triển kinh tế của mình cần phải nghiên cứu đánh giá một cách đúng
đắn các nhân tố đó, cần phải xem xét cái nào đã có, cái nào chưa có, cái nào mạnh, cái nào yếu… từ đó có biện pháp phù hợp phát huy thế mạnh và hạn chế những mặt yếu kém làm cho nền kinh tế phát triển nhanh và vững chắc
2.1.1.2 Mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển
Hai khái niệm tăng trưởng và phát triển khác nhau nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Thể hiện ở chỗ:
- Tăng trưởng là điều kiện và là kết quả của phát triển, tăng trưởng là nội dung của phát triển Chỉ có dựa trên cơ sở phát triển bền vững mới tạo ra sự tăng trưởng lâu dài
- Giữa tăng trưởng và phát triển có những mặt độc lập, thậm chí mâu thuẫn với nhau Thể hiện ở chỗ: để bảo đảm tăng trưởng kinh tế, phải huy động mọi nguồn lực cho phát triển Điều đó nếu ở mức độ thái quá sẽ có thể hy sinh phát triển cho tăng trưởng: phân bố nhiều ngân sách cho tăng trưởng sẽ thiếu hụt ngân sách cho các vấn đề khác, gây ra cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường… dẫn đến tác động có hại cho phát triển
- Ngược lại, trong điều kiện nguồn lực có hạn, nếu như được phân bổ
đồng đều giữa các ngành, các vùng, các nhiệm vụ kinh tế - xã hội… thì sẽ dẫn
đến chỗ làm giảm tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế (phân tán nguồn lực)
Trang 8Điều quan trọng của phát triển bền vững là không phải sản xuất ít đi mà sản xuất khác đi, sản xuất phải đi đôi với việc tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường [5]
Phát triển nông nghiệp bền vững: có nhiều định nghĩa về phát triển nông nghiệp bền vững Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp thế giới (FAO) năm 1992 quan niệm rằng: “Phát triển nông nghiệp bền vững là sự quản lý và bảo tồn sự thay đổi về tổ chức và kỹ thuật nhằm đảm bảo thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người cả cho hiện tại và mai sau Sự phát triển như vậy của nền nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản), sẽ đảm bảo không tổn hại đến môi trường, không giảm cấp tài nguyên, sẽ phù hợp về
kỹ thuật và công nghệ, có hiệu quả về kinh tế và được chấp nhận về phương diện xã hội”[dẫn theo 5]
Theo Uỷ ban kỹ thuật của FAO, nền nông nghiệp bền vững bao gồm việc quản lý có hiệu quả nguồn lực để thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người mà vẫn duy trì hay làm tăng thêm chất lượng của môi trường và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên
Như vậy trên quan điểm phát triển, sự phát triển nông nghiệp một cách bền vững vừa đảm bảo thoả mãn nhu cầu hiện tại ngày càng tăng về sản phẩm nông nghiệp vừa không giảm khả năng đáp ứng những nhu cầu của nhân loại trong tương lai Mặt khác phát triển nông nghiệp bền vững vừa theo hướng đạt năng suất nông nghiệp cao hơn, vừa bảo vệ và gìn giữ tài nguyên thiên nhiên
đảm bảo sự cân bằng có lợi về môi trường Phát triển nông nghiệp bền vững
làm tăng sự công bằng giữa các thế hệ và hoàn thiện chất lượng cuộc sống
Lý luận tăng trưởng, phát triển và phát triển bền vững cũng được áp dụng để đánh giá đối với từng vùng, từng địa phương và từng ngành sản xuất
cụ thể
2.1.2 Phát triển chăn nuôi lợn và ý nghĩa của nó trong nền kinh tế
Trang 92.1.2.1 Vai trò của chăn nuôi lợn trong nông nghiệp và trong nền kinh tế
Lợn là loại gia súc có nhiều đặc tính sinh vật học phù hợp với đòi hỏi của con người và là loài vật dễ thích nghi với điều kiện sống nên trong thực tế lợn được nuôi rất phổ biến và là nguồn cung cấp thực phẩm chủ yếu có giá trị dinh dưỡng cao cho đời sống con người
Chăn nuôi lợn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và sản phẩm xuất khẩu
Ngoài ra, chăn nuôi lợn có tác dụng lớn thúc đẩy ngành trồng trọt phát triển Thực tế hiện nay chăn nuôi lợn chủ yếu tồn tại dưới hình thức chăn nuôi
hộ gia đình nông dân gắn liền với phát triển trồng trọt Ngoài mục đích kinh doanh lấy lãi, nhiều hộ còn xác định chăn nuôi lợn với mục đích để lấy phân bón ruộng
2.1.2 2 Phát triển chăn nuôi lợn
Theo quan điểm phát triển, phát triển chăn nuôi lợn là sự tăng lên về mặt số lượng với cơ cấu tiến bộ, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển nông nghiệp nói riêng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội về sản phẩm chăn nuôi lợn
* Quan điểm phát triển chăn nuôi lợn trong giai đoạn hiện nay
1) Phát triển chăn nuôi lợn phải đảm bảo hiệu quả cả về kinh tế, xã hội
và môi trường
+ Về mặt hiệu quả kinh tế: Phát triển chăn nuôi lợn nhằm đảm bảo sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm với giá thành hạ, chất lượng sản phẩm tăng, nâng cao năng suất lao động của người chăn nuôi trên cơ sở đó nâng cao thu nhập cho người lao động
+ Hiệu quả xã hội: Phát triển chăn nuôi lợn nhằm tạo việc làm, tận dụng lao động nông nhàn, tạo cơ hội tăng nguồn thu nhập, không ngừng cải thiện mức sống cho người nông dân
Trang 10+ Hiệu quả môi trường sinh thái: Phát triển chăn nuôi lợn phải quan tâm
đến việc bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ nguồn nước, tránh tình trạng ô nhiễm môi trường do việc phát triển chăn nuôi quy mô lớn
2) Phát triển chăn nuôi theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước: Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, phát triển chăn nuôi nói chung
và chăn nuôi lợn nói riêng phải theo hướng phát triển sản xuất hàng hoá Do
đó, đi đôi với việc phát triển sản xuất cần phải chú ý mở rộng thị trường, trong
đó bao gồm cả thị trường vốn, lao động, thị trường vật tư (đầu vào như giống, thức ăn gia súc…) và thị trường tiêu thụ sản phẩm (đầu ra) cùng hệ thống các dịch vụ khác như dịch vụ thú y, dịch vụ khoa học kỹ thuật…
3) Phát triển chăn nuôi lợn phải tính đến việc khai thác lợi thế so sánh: Phát triển chăn nuôi lợn được đặt trong sự phát triển tổng thể kinh tế nói chung và phát triển chăn nuôi của vùng, của địa phương vì vậy đẩy mạnh phát triển ngành nào, loại gia súc nào, hoặc sản phẩm nào, tốc độ tăng trưởng bao nhiêu? cần thiết phải tính đến lợi thế so sánh của nó, có như vậy mới phát huy
được tiềm năng của vùng của địa phương, mặt khác mới nâng cao được tính hiệu quả và bền vững của việc phát triển kinh tế
4) Phát triển chăn nuôi lợn phải theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá: Chăn nuôi lợn không thể phát triển nếu chỉ dựa trên phương thức chăn nuôi truyền thống với quy mô nhỏ, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng lạc hậu mà cần phải hướng tới sản xuất hàng hoá theo quy mô phù hợp với trình độ thâm canh cao, kỹ thuật - công nghệ chăn nuôi tiên tiến như giống mới, thức ăn, thuốc thú y mới… cho phép tăng năng suất, tiết kiệm chi phí và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng trong nước và đủ tiêu chuẩn xuất khẩu
* Nội dung phát triển chăn nuôi lợn:
Trang 11Phát triển chăn nuôi lợn bao gồm nhiều nội dung kinh tế - kỹ thuật và nó nằm trong chiến lược phát triển kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng của mỗi nước, mỗi địa phương Tuy nhiên, nội dung chủ yếu của phát
triển chăn nuôi lợn có thể được hiểu là quá trình Chuyển dịch cơ cấu chăn nuôi lợn theo hướng tiến bộ phù hợp với điều kiện thực tế, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội cả về số lượng và chất lượng sản phẩm
Cơ cấu chăn nuôi là nhân tố quan trọng hàng đầu để phát triển chăn nuôi lợn một cách bền vững Nó quyết định việc khai thác có hiệu quả nguồn lực của mỗi địa phương; quyết định chiều hướng và tốc độ phát triển chăn nuôi lợn
từ hình thái tự cung tự cấp chuyển sang sản xuất hàng hoá Cơ cấu chăn nuôi lợn được xét theo nhiều tiêu thức khác nhau
- Cơ cấu chăn nuôi xét theo phương thức chăn nuôi có chăn nuôi theo phương thức truyền thống, chăn nuôi công nghiệp (thâm canh) và chăn nuôi bán công nghiệp (bán thâm canh)
+ Chăn nuôi theo phương thức truyền thống (TT) là phương thức chăn nuôi được lưu truyền từ xa xưa ngày nay vẫn còn tồn tại khá phổ biến nhất là ở những vùng kinh tế khó khăn, ít có điều kiện tiếp thu khoa học kỹ thuật Với yêu cầu chuồng trại đơn giản, nguồn thức ăn chủ yếu tận dụng thức ăn dư thừa của con người hoặc sản phẩm phụ của ngành trồng trọt và chế biến thực phẩm Các giống lợn được nuôi phù hợp là giống lợn nội như lợn ỉ, Móng Cái… và một số giống lợn lai F1 Đặc điểm của phương thức chăn nuôi này là thời gian chăn nuôi kéo dài, năng suất, chất lượng sản phẩm thấp, không đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng cả về số lượng và chất lượng
+ Phương thức chăn nuôi công nghiệp (CN) là phương thức chăn nuôi dựa trên cơ sở thâm canh tăng năng suất sản phẩm, sử dụng các giống lợn cao sản cho năng suất chất lượng sản phẩm thịt tốt như các giống lợn lai F1: lai “2 máu” giữa giống lợn nội và giống lợn ngoại; F2 lai “3 máu”: nội x ngoại x ngoại hoặc giống thuần ngoại Đặc điểm của phương thức chăn nuôi này là yêu cầu đầu tư vốn lớn, chuồng trại phải đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ giới
Trang 12hoá các khâu trong quy trình chăn nuôi, thức ăn hỗn hợp được chế biến theo quy trình công nghiệp, năng suất sản phẩm cao, thời gian của một chu kỳ chăn nuôi ngắn, phù hợp với chăn nuôi quy mô lớn Đây là phương thức chăn nuôi
đã được áp dụng phổ biến đối với các nước có nền công nghiệp phát triển như Nhật, Pháp, Mỹ nhưng ở Việt Nam chưa được áp dụng rộng rãi trong chăn nuôi quy mô hộ gia đình
+ Phương thức chăn nuôi bán công nghiệp (BCN) là phương thức chăn nuôi kết hợp giữa kinh nghiệm nuôi truyền thống với áp dụng quy trình chăn nuôi tiên tiến Sử dụng nguồn thức ăn sẵn có như cám gạo, ngô, khoai, sắn kết hợp với thức ăn đậm đặc pha trộn, đảm bảo chế độ dinh dưỡng cho lợn Giống lợn được sử dụng chủ yếu là các giống lai, phương thức này tương đối phù hợp với hình thức chăn nuôi hộ gia đình ở nước ta hiện nay và là phương thức được người nông dân áp dụng phổ biến
- Cơ cấu chăn nuôi xét theo quy mô chăn nuôi: Khác với trước đây, mỗi
hộ nông dân thường chỉ nuôi 1-2 con lợn với mục đích chủ yếu là tận dụng phế phụ phẩm của ngành trồng trọt và lấy phân bón ruộng Hiện nay khi nền kinh
tế đã có sự thay đổi, cùng với sự tiến bộ của khoa học - công nghệ, chăn nuôi theo hướng hàng hoá đã dần được hình thành và phát triển Tuỳ theo điều kiện của các hộ nông dân (vốn, lao động, đất đai, mục đích kinh doanh ) khác nhau mà quy mô chăn nuôi cũng rất khác nhau
+ Quy mô nhỏ (QMN) là quy mô chăn nuôi thường gắn liền với phương thức chăn nuôi truyền thống của hộ gia đình nông dân Đó là các hộ
có mức độ chăn nuôi dưới 5 con lợn thịt/lứa Mỗi năm một hộ nuôi được từ
2-3 lứa, vậy tổng số đầu lợn thịt xuất chuồng nhỏ hơn 15 con/năm Đối với lợn nái 1 - 3 con/năm
+ Quy mô lớn (QML): Đây là quy mô chăn nuôi gắn liền với sự đầu tư tương đối lớn về chuồng trại, lao động, vốn và chủ hộ là những người năng
động, họ thường nuôi trên 20 con lợn thịt/lứa, một năm nuôi được 3 - 4 lứa,
Trang 13tổng số con xuất chuồng trên 60 con hoặc nuôi bình quân 10 lợn nái/năm trở lên Những hộ này nếu có điều kiện sẽ phát triển thành trang trại chăn nuôi lợn Đây là hình thức chăn nuôi chưa được phổ biến nhưng đang được nhà nước khuyến khích phát triển
+ Quy mô vừa (QMV): Các hộ chăn nuôi lợn thịt có tổng số đầu lợn thịt xuất chuồng từ 15 đến 60 con/năm; hộ chăn nuôi lợn nái có từ 4 đến dưới 10 nái/năm hoặc chăn nuôi hỗn hợp có số con quy đổi tương ứng được coi là quy mô vừa Đây là quy mô chăn nuôi phù hợp với hình thức chăn nuôi hộ gia đình
và đang có xu hướng phát triển nhanh trong giai đoạn hiện nay
- Cơ cấu chăn nuôi xét theo hướng chăn nuôi có hộ chăn nuôi lợn thịt,
hộ chăn nuôi lợn nái, hộ chăn nuôi lợn choai và hộ chăn nuôi hỗn hợp
+ Hộ chăn nuôi lợn thịt là những hộ chuyên nuôi một loại lợn cho thịt, sản phẩm của nó là trọng lượng thịt hơi xuất chuồng được đem bán cho lò mổ, công ty chế biến, hộ buôn lợn hơi hoặc các đối tượng khác
+ Hộ chăn nuôi lợn nái là những hộ chuyên chăn nuôi lợn nái sinh sản, sản phẩm của quá trình chăn nuôi là trọng lượng lợn con bán cho người chăn nuôi sử dụng làm giống hoặc bán cho lái buôn, cơ sở chế biến lợn sữa đông lạnh xuất khẩu tuỳ thuộc vào điều kiện chăn nuôi và thị trường tiêu thụ ở từng địa phương
+ Hộ chăn nuôi lợn choai: Đây là hướng chăn nuôi mà sản phẩm của
nó là trọng lượng thịt hơi của những con gia súc nhỡ có trọng lượng khoảng
25 - 45 kg/con, phục vụ cho nhu cầu chế biến thực phẩm hoặc được bán cho người chăn nuôi để tiếp tục quá trình chăn nuôi lợn thịt tiếp theo
+ Chăn nuôi hỗn hợp là loại hình chăn nuôi mà trong đó hộ chăn nuôi theo đuổi 2 hướng chăn nuôi trở lên
- Cơ cấu chăn nuôi xét theo hình thức tổ chức chăn nuôi: có chăn nuôi theo hình thức hộ gia đình, trang trại, các hợp tác xã,…
Trang 14Tuỳ từng điều kiện tự nhiên, kinh tế và tập quán sản xuất của mỗi vùng,
mỗi địa phương mà cơ cấu chăn nuôi cụ thể rất khác nhau Tuy nhiên phương hướng chung trong phát triển chăn nuôi lợn là chuyển dịch cơ cấu chăn nuôi theo hướng: Giảm dần tỷ trọng phương thức chăn nuôi truyền thống với quy mô nhỏ, manh mún, kỹ thuật lạc hậu, tăng dần tỷ trọng phương thức chăn nuôi bán công nghiệp và công nghiệp với quy mô phù hợp
Thực tế thời gian qua, cùng với sự tiến bộ của khoa học công nghệ, chăn nuôi lợn đã có những thay đổi căn bản Công nghệ sinh học phát triển đã tạo ra
được những con giống có năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt Công nghệ chế biến thức ăn gia súc ngày càng tạo ra nhiều loại thức ăn tiên tiến giúp cho người chăn nuôi có thể thay đổi phương thức chăn nuôi truyền thống, không những nâng cao năng suất, sản lượng trên một đơn vị diện tích chăn nuôi mà còn nâng cao chất lượng sản phẩm vật nuôi, ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội
2.1.2.3 ý nghĩa của việc phát triển chăn nuôi lợn trong nông nghiệp và trong nền kinh tế
1/ Phát triển chăn nuôi lợn đảm bảo cung cấp nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho đời sống xã hội
Trong việc giải quyết vấn đề thực phẩm ở nước ta từ trước tới nay và sắp tới, thịt lợn vẫn giữ vị trí hàng đầu Sản lượng thịt lợn hàng năm thường chiếm 70-75%, có năm tới 80% sản lượng thịt trên thị trường [10] Thịt lợn là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, thích hợp cho cả những bữa ăn hàng ngày
và các dịp lễ tết Dân số cũng như thu nhập của dân cư có xu hướng ngày càng cao, vì vậy, nhu cầu của xã hội về thực phẩm cũng ngày càng tăng lên không những về số lượng mà cả về chất lượng, đòi hỏi ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng không ngừng áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ
Trang 15mới để tạo ra này càng nhiều sản phẩm với chất lượng cao đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cho đời sống xã hội
2/ Phát triển chăn nuôi lợn thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất quan trọng trong nông nghiệp, chăn nuôi và trồng trọt luôn tồn tại đồng hành và gắn bó chặt chẽ với nhau, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau và cùng với các ngành kinh tế khác trên địa bàn nông thôn tạo thành cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn thống nhất
Trong nông thôn, lợn là loại vật nuôi thường được xếp vị trí hàng đầu, chiếm tỷ trọng cao cả về số đầu con và giá trị sản phẩm Phát triển chăn nuôi lợn sẽ có tác dụng thúc đẩy trồng trọt phát triển, mặt khác, kéo theo sự phát triển của các hoạt động khác như các hoạt động dịch vụ phục vụ chăn nuôi, công nghiệp chế biến thức ăn gia súc, chế biến sản phẩm thịt, các hoạt động buôn bán sản phẩm trên địa bàn dân cư Phát triển chăn nuôi lợn góp phần quan trọng trong việc nâng cao tỷ trọng GDP chăn nuôi trong nông nghiệp, làm cho kinh tế nông thôn ngày càng đa dạng phong phú theo hướng tích cực
và như vậy nó sẽ góp phần làm thay đổi bộ mặt kinh tế nông thôn
3/ Phát triển chăn nuôi lợn tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao
động, góp phần xoá đói giảm nghèo trong nông nghiệp, nông thôn
Lợn là loại gia súc dễ nuôi, không đòi hỏi kỹ thuật chăn nuôi phức tạp
và có thể tận dụng phế phụ phẩm của ngành trồng trọt Trong điều kiện khí hậu nước ta, lợn có thể nuôi ở tất cả các vùng nông thôn trên phạm vi cả nước Thực tế hiện nay, tình trạng thiếu việc làm trong nông nghiệp nông thôn đang
là vấn đề bức xúc Nông thôn có địa bàn rộng lớn, đa dạng và phong phú, lao
động dồi dào, vì vậy phát triển chăn nuôi lợn sẽ cho phép khai thác những tiềm năng sẵn có trong dân cư, thu hút được lực lượng lao động đông đảo, tạo việc
Trang 16làm, tăng thu nhập đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất và đời sống nông thôn
2.1.3 Đặc điểm sinh vật học của lợn
Lợn là loại gia súc có những đặc tính sinh vật học phù hợp với yêu cầu của con người, những đặc tính ấy cần phải có điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng hợp lý mới có thể phát huy một cách đầy đủ nhất
- Lợn là loại gia súc sinh sản nhiều
Lợn là loại gia súc đa thai Đẻ từ 8 -14 con/lứa, cá biệt 14 - 16 con Lợn mang thai 114 - 116 ngày Thành thục sớm, lợn có thể chửa khi 4 - 5 tháng tuổi Nuôi con khoảng 60 ngày Một số vùng ở nước ta cai sữa sớm khoảng 28 ngày nên một năm có thể đẻ 2 lứa dễ dàng Thế giới cai sữa sớm 21 ngày tuổi nên một năm có thể đẻ 2,4 - 2,5 lứa, một năm sản xuất từ 2 - 2,5 tấn thịt lợn hơi (nước ta khoảng 1,2 tấn) [9]
- Lợn là loại gia súc cho sản phẩm có giá trị cao
So với các gia súc khác như bò, cừu,… lợn có phẩm chất thịt cao hơn
Tỷ lệ thịt xẻ đối với lợn là 70 - 75% trong khi bò là 55 - 60%, cừu: 50 - 55%
Tỷ lệ chất khô ăn được so với trọng lượng thịt xẻ ở lợn là 63%; Cừu: 37%; Bò: 33% Năng lượng 1 kg thịt lợn 2700 calo trong khi đó thịt bò: 1580 calo; thịt cừu: 1430 calo [10] Vì vậy thịt lợn là loại thức ăn được ưa thích của số đông dân cư và chăn nuôi lợn đang được thế giới quan tâm
- Lợn là loại gia súc ăn tạp, tận dụng thức ăn tốt
Lợn có khả năng sử dụng nhiều loại thức ăn thô xanh, củ, quả, phụ phế phẩm công, nông nghiệp, chế biến thực phẩm Cứ sử dụng 4 - 5 kg thức ăn sản xuất 1 kg thịt; 7 - 9 kg thức ăn, lợn nái sản xuất 1 kg lợn con giống [9]
Lợn có thể sử dụng nhiều loại thức ăn, nhiều chế độ ăn khác nhau nên
được nuôi rất phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam
- Lợn có khả năng thích nghi cao, dễ huấn luyện: lợn có khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu rét, nóng Do đó sự phân bố lợn trên thế giới tương
Trang 17đối rộng Lợn tích luỹ mỡ tốt hơn các gia súc khác nên có khả năng chống lạnh tốt Trái lại ở những vùng khí hậu nóng lợn tăng cường hô hấp để tản nhiệt bảo
Lợn Móng Cái có khoảng 12 - 14 vú Trọng lượng cai sữa thấp khoảng 7 kg/con Lợn nái đẻ 1,7 - 2 lứa/năm Nuôi 8 - 10 tháng tuổi đạt trọng lượng khoảng 60-75 kg Tỷ lệ thịt xẻ 71 - 73%, tỷ lệ nạc thấp 34 - 35%, tỷ lệ mỡ cao
41 - 42% Chi phí 5 - 6 kg thức ăn cho 1 kg tăng trọng, 9 - 10 kg thức ăn cho 1
kg lợn con giống Giống lợn này trước kia được nuôi phổ biến nhưng hiện nay (1996 trở lại đây) chủ yếu làm nái nền
+ Giống lợn ỉ: Trước đây giống lợn này được ưa chuộng ở miền Bắc, nhưng hiện nay rất ít được sử dụng chủ yếu chỉ dùng làm nái nền, được xếp thứ
2 sau Móng Cái vì năng suất thịt, tỷ lệ đẻ nuôi con sống thấp, thị hiếu về con lai cũng không được ưa thích bằng Móng Cái lai với các giống khác
Có hai loại ỉ: ỉ mỡ và ỉ pha nhưng dù loại ỉ nào toàn thân đều là màu đen, tầm vóc nhỏ, chân ngắn, mõm ngắn cong hoặc thẳng Lưng võng, bụng xệ, 4 chân yếu Thành thục sớm Lợn thịt 8 - 10 tháng tuổi đạt 40 - 50 kg Tiêu tốn 6 -
7 kg thức ăn Tỷ lệ thịt xẻ 63% Tỷ lệ mỡ 48% Nếu tiếp tục nuôi béo đến 12 tháng tuổi trở lên, tỷ lệ tiêu tốn thức ăn rất cao 8-10 kg/1 kg tăng trọng [9]
* Các giống lợn ngoại nhập đã được thuần dưỡng ở nước ta
- Lợn hướng nạc:
Trang 18+ Giống lợn Landrat: xuất xứ từ Đan Mạch Toàn thân lông, da màu trắng, mặt dài thẳng, mõm không cong, tai to, dài che phủ mặt Lưng dài, sườn tròn, bụng gọn, phần sau rất phát triển, mông xuôi thể hiện rõ hướng nạc Lợn
có 14 vú trở lên, đẻ từ 10 - 11 con/ lứa, một năm 2 - 2,2 lứa Lợn nuôi thịt tăng trọng nhanh, 6 tháng tuổi đạt 100 kg Có tỷ lệ nạc cao hơn tất cả các giống lợn hiện có 56 - 57% Chi phí thức ăn cho 1 kg tăng trọng 3,0 - 3,5 kg
Đây là giống lợn ngoại được nuôi phổ biến nhất cả đực và một phần nái + Giống lợn Duroc: xuất xứ từ vùng Đông Bắc nước Mỹ Màu lông nâu sẫm, thân hình chắc chắn, mặt hơi cong, tai xụ từ nửa vành phía trước Lợn Duroc thiên về nạc, phẩm chất thịt rất tốt Lợn chóng lớn, nuôi 143 - 172 ngày tuổi trọng lượng có thể đạt 100 kg Giống lợn này đẻ ít con hơn, bình quân 9,78 con/lứa Dùng đực Duroc lai với các giống khác nuôi mau lớn, nhiều nạc
Giống lợn này chủ yếu được nuôi ở các cơ sở giống, cung cấp con đực cho lai kinh tế nhiều nạc ở nhiều vùng trong cả nước
- Lợn kiêm dụng, hướng sản xuất nạc - mỡ
+ Giống lợn Yóoc-sai (Yorkshire) Đây là loại lợn kiêm dụng, hướng nạc, mỡ Bao gồm các loại sau:
Lợn Yóoc-sai Miền Nam: Toàn thân màu trắng, đầu to trán rộng, mõm dài hơi cong, tai đứng nghiêng về phái trước Số con sơ sinh từ 8 - 9,5 con/lứa
Lợn Đại Bạch (Liên xô cũ), toàn thân màu trắng, lông dày mềm, tai thẳng đứng, vai đầy đặn, ngực sâu, mình dài, 4 chân khoẻ Đẻ 11 - 12 con/lứa Lợn thịt 10 tháng tuổi đạt 126 kg
Lợn Yóoc-sai Cu Ba có lưng cong, các đặc điểm khác giống như lợn Yóoc-sai Miền Nam Lợn nuôi thịt 6 - 7 tháng tuổi đạt trọng lượng 100kg Tiêu tốn thức ăn 3,42 - 4 kg, tỷ lệ nạc 51 - 52% Đây là giống lợn đang được nuôi phổ biến nhất ở nước ta
+ Giống lợn DE (Edel của Đức) Hướng sản xuất chính ở Đức là thị nạc Song ở Việt Nam do thức ăn chưa tốt nên thường được nuôi theo hướng kiêm dụng nạc mỡ
Trang 19DE sinh sản cao đẻ từ 10 - 12 con/lứa Một năm đẻ 2 - 2,2 lứa Cai sữa
15 - 18 kg/con Tiêu tốn 3,1 kg thức ăn cho một kg tăng trọng Nếu dùng đực
DE cho lai với Móng Cái cho lợn thịt có tỷ lệ nạc 35 - 45%
* Các giống lợn cải tiến
- Giống lợn ĐBI - 81 Đây là giống lợn trắng được lai tạo ở Viện chăn
nuôi, được công nhận giống năm 1987
- Lợn Đại Bạch - ỉ Đầu to vừa phải, ít nhăn, mõm dài vừa phải Lưng
thẳng, bụng gọn và không xệ, 4 chân vững chắc Lợn con 69 ngày tuổi đạt 10 kg/ con Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng: 4,5 kg, nuôi đến 10 tháng tuổi
đạt 85 kg Tỷ lệ nạc 37,76%
* Giống lợn lai thương phẩm
Là những con lai nuôi để giết thịt, không nuôi làm giống.Tuỳ công thức lai, phương thức nuôi lợn cho tỷ lệ nạc khác nhau
- Lai 2 máu (nội x ngoại)
- Lai 3 máu ( nội x ngoại x ngoại )
- Lai lợn ngoại với lợn ngoại
Kết quả nghiên cứu và thực tiễn sản xuất cho thấy, muốn lợn lai nuôi thịt 6 - 7 tháng tuổi đạt trọng lượng 95 - 100 kg, tỷ lệ nạc trên 46% phải cho lợn ăn với khẩu phần ăn có năng lượng cao và giàu hàm lượng Protein
2.2 Thực trạng chăn nuôi lợn trên thế giới và trong nước
Trang 208,691 1.720 2.216 17.600 1.530 42.400 1.245 1.475 83.682
8,714 1.808 2.341 17.800 1.555 43.202 1.123 1.586 85.166
101,1 105,0 102,2 100,1 102,0 105,2 98,1 106,9 102,9
100,3 105,1 105,6 101,1 101,6 101,9 90,2 101,5 101,8
100,7 105,1 107,9 100,6 101,8 103,5 94,1 107,2 102,3
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trung Quốc là nước có đàn lợn lớn nhất, thứ nhì là Mỹ, tiếp đến là Brazin Liên bang Nga, Nước có đàn lợn ít nhất là Helena (châu Phi) chỉ có khoảng 1000 con lợn, Ma Cau (châu á) Tokelau (châu úc) cũng có khoảng
1000 con lợn Theo đánh giá chăn nuôi thâm canh ở các nước, người ta lấy tổng trọng lượng thịt hơi xuất chuồng chia cho tổng số đầu con xuất chuồng
Đứng đầu là Nhật Bản (125 kg/con), tiếp đến là các nước như Cộng hoà Sec (115 kg/con), Italia (109 kg/con)… Việt Nam: 68kg/con Pháp có số đầu lợn
đứng thứ 12 trên thế giới nhưng có sản lượng đứng thứ 5 vì Pháp có trình độ thâm canh cao, lợn nái đẻ 2,2 – 2,3 lứa/năm, một lợn nái có thể cho 21 - 23 lợn
con/năm [11]
2.2.2 Tình hình chăn nuôi lợn ở Việt Nam
Chăn nuôi lợn ở Việt Nam có từ rất lâu đời và đã trở thành tập quán sản xuất của nhân dân Trải qua nhiều giai đoạn phát triển của nền kinh tế, chăn nuôi lợn cũng có những thăng trầm trong quá trình phát triển Từ hình thức sản
Trang 21xuất tập trung, quy mô lớn dưới dạng các trại chăn nuôi, đến hình thức nuôi gia công cho nhà nước tại các hộ gia đình và từ khi có các chính sách đổi mới quản lý kinh tế trong nông nghiệp nông thôn, chăn nuôi lợn được tồn tại dưới hình thức chăn nuôi tại hộ gia đình Trong khu vực nông thôn các hộ gia đình nông dân hầu như đều có nuôi lợn Tuy nhiên, phương thức chăn nuôi chủ yếu
là chăn nuôi theo phương thức truyền thống, thức ăn tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp, giống lợn địa phương, vì vậy năng suất chất lượng sản phẩm thấp
và sản phẩm sản xuất ra mới chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội bộ Tỷ trọng GDP chăn nuôi trong nông nghiệp rất thấp, sản lượng thịt bình quân đầu người thấp và tăng chậm
Trang 22Bảng 2.2 Sản lượng sản phẩm thịt ngành chăn nuôi ở Việt Nam qua 10 năm
Sản lượng thịt hơi các loại
Năm
Tổng sản lượng (000 tấn)
Nguồn: Niên giám thống kê 2000
Những năm gần đây, với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự tác
động mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ về giống, công nghệ chế biến thức ăn gia súc Ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng ở nước ta đã có những thay đổi căn bản, với những thành tựu đáng kể: tỷ trọng GDP ngành chăn nuôi trong nông nghiệp ngày càng tăng (từ 13% lên 18%) Tổng sản lượng thịt đàn gia súc, gia cầm tăng bình quân gần 7%, trong đó sản lượng thịt lợn chiếm trên 75% và tăng bình quân hàng năm với tốc độ nhanh: giai đoạn 1990-1995 tăng 8,9%; giai đoạn 1995-2000 tăng 7% Tuy nhiên, sản lượng thịt lợn sản xuất ra mới chủ yếu đáp ứng nhu cầu tiêu thụ
trong nước, sản lượng thịt xuất khẩu còn rất hạn chế, thị trường không ổn định
Thịt lợn là một trong những mặt hàng được đánh giá là có tiềm năng cạnh
Trang 23tranh nhưng thực tế hiện nay, sản phẩm thịt lợn của ta đang đứng trước những
thách thức lớn về khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới thậm chí ngay cả
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2001
Nhìn chung, sản lượng thịt lợn xuất khẩu của ta còn nhiều hạn chế, Nga
và Hongkong có sản lượng nhập khẩu thịt lợn lớn và là thị trường tiềm năng
của Việt Nam Hiện nay, sản lượng thịt xuất khẩu của ta không ổn định và có
xu thế giảm dần do sự cạnh tranh gay gắt với các nước khác, đặc biệt là Trung
Quốc
Với xu hướng thu nhập của dân cư ngày càng cao, dân số không ngừng
tăng lên, công nghệ chế biến ngày càng phát triển có thể tạo ra nhiều dạng
sản phẩm có giá trị dinh dưỡng và độ hấp dẫn khác nhau, đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng ngày càng phong phú của xã hội, điều đó đòi hỏi ngành chăn nuôi
nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng, không ngừng đẩy nhanh tốc độ phát
triển đáp ứng nhu cầu không những cho tiêu dùng trong nước mà còn phục vụ
xuất khẩu
* Những thành tựu trong phát triển chăn nuôi lợn thời gian qua
Về công tác giống: Hệ thống giống lợn 3 cấp từ Trung ương đến địa
phương đã được hình thành từ năm 1972 Nhờ có hệ thống giống ra đời công
Trang 24tác nhân giống, chọn lọc và kiểm tra năng suất đàn lợn nội nước ta có những tiến bộ đáng kể về tầm vóc, năng suất, mức tiêu tốn thức ăn và mức tăng trọng bình quân cũng được cải thiện, số lứa đẻ và tổng số con cai sữa/nái/năm cũng
được tăng lên Việc nuôi thích nghi lợn ngoại ở ta cũng đạt kết quả tốt Đã xây dựng được đàn nái nền York Shire (YS) ở nhiều tỉnh, tổ chức nhân thuần và tạo
điều kiện cho lai kinh tế cho con lai có tỷ lệ nạc cao Đến nay đã xác định
được cặp lai nội x ngoại (2 máu): Móng Cái x YS; ngoại x ngoại: YS X LD; Lai 3 máu: YS x LD x DR; YS x LD x YS là những cặp lai mang lại hiệu quả kinh tế cao trong chăn nuôi lợn Đây là những giống lợn vừa có khả năng thích nghi tốt điều kiện ở nước ta vừa có khả năng cho năng suất cao, phẩm chất thịt tốt (tỷ lệ nạc cao 44 - 49%) [11]
Hệ thống thức ăn chăn nuôi phát triển mạnh, đa dạng và nhiều chủng loại, nhiều đơn vị, xí nghiệp nhà nước, các cơ sở sản xuất tư nhân và đặc biệt
có sự tham gia của các công ty liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài đã sản xuất ra nhiều loại thức ăn và được tiêu thụ rộng rãi qua hệ thống đại lý phân
phối thức ăn gia súc rộng khắp, phục vụ mọi đối tượng chăn nuôi
Công tác thú y trong chăn nuôi được tuyên truyền và phát triển rộng khắp các địa phương, đội ngũ cán bộ thú y ngày càng được nâng cao trình độ tay nghề, nhiều loại thuốc mới được ra đời, bảo đảm công tác phòng và trị bệnh kịp thời Hệ thống dịch vụ thuốc thú y phát triển nhanh chóng, rộng khắp, phục vụ tại chỗ, tận tay người tiêu dùng
* Những tồn tại:
- Chăn nuôi chủ yếu là quy mô nhỏ, phân tán Mặc dù số đầu con và sản lượng thịt xuất chuồng qua các năm đều tăng lên đáng kể nhưng quy mô sản xuất nhỏ lẻ, phân tán đã hạn chế việc chuyển giao khoa học - công nghệ mới trong phát triển chăn nuôi lợn
- Phương thức chăn nuôi phổ biến theo phương thức chăn nuôi TT, tận dụng phụ phẩm ngành trồng trọt, năng suất chất lượng thịt thấp, vệ sinh thực phẩm không đảm bảo, hạn chế khả năng xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài
Trang 25- Nguồn thức ăn trên thị trường đa dạng, phong phú, nhiều chủng loại nhưng chưa có hệ thống kiểm tra chặt chẽ về giá cả và chất lượng nên có ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả chăn nuôi lợn trong thời gian qua
2.2.3 Những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến phát triển chăn nuôi lợn
Với mục tiêu phấn đấu đưa chăn nuôi phát triển nhanh và trở thành ngành sản xuất chính trong nông nghiệp, những năm gần đây, cùng với các chính sách đổi mới quản lý kinh tế nói chung, cũng đã có nhiều những chủ trương, chính sách nhằm phát triển chăn nuôi, trong đó có các chính sách liên quan đến phát triển chăn nuôi lợn [1]:
- Quyết định 166/2001/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 26/10/1001 về một số biện pháp và chính sách chăn nuôi lợn xuất khẩu giai
đoạn 2001 -2010 Quyết định này nêu rõ “Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi lợn hàng hoá đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, tạo việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho nông dân Đến năm 2005 xuất khẩu 80.000 tấn/năm, tiến tới mỗi năm xuất khẩu trên 100.000 tấn thịt lợn các loại Quyết
định này còn có tác dụng khuyến khích mọi tổ chức, hộ gia đình thuộc các thành phần kinh tế, các nhà đầu tư nước ngoài phát triển chăn nuôi lợn giống
đạt tiêu chuẩn xuất khẩu
- Quyết định số 225/1999/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 10/12/2000 về hỗ trợ giống cho chăn nuôi lợn thời kỳ 2000- 2005
- Quyết định số 65/2001/QĐ - BTC ngày 20/10/2001 của Bộ Tài chính
về công bố 4 loại hàng hoá xuất khẩu trong đó có thịt lợn
2.2.4 Các công trình nghiên cứu chăn nuôi lợn
Lợn là loại gia súc được nuôi phổ biến ở nhiều nước trên thế giới đặc biệt là các nước châu á, thịt lợn không những là loại thực phẩm có giá trị cao
mà nó còn là mặt hàng xuất khẩu quan trọng đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn
Trang 26cho một số nước Đối với nước ta, chăn nuôi lợn có vị trí rất quan trọng trong
đời sống sinh hoạt và trong sản xuất Sản phẩm thịt lợn của nước ta được đánh giá là một trong những mặt hàng xuất khẩu có tiềm năng cạnh tranh Thực tế
đã có rất nhiều công trình, đề tài nghiên cứu khoa học về chăn nuôi lợn
1) Đề tài: "Nghiên cứu chọn lọc, nhập nội, nhân thuần chủng và xác
định công thức lai thích hợp cho lợn cao sản, đạt tỷ lệ nạc 50-55%" [15]
Đề tài này điều tra xác định hiện trạng chất lượng thịt xẻ ở các vùng chăn nuôi chính của Việt Nam và kết luận 80% thịt xẻ có chất lượng thấp, tỷ lệ nạc dưới 50%
Đề tài đã có những kết luận có giá trị:
- Đánh giá giá trị giống, chỉ số chọn lọc trong tuyển chọn xây dựng dần hạt nhân từ đó đã tuyển chọn được 135 nái hạt nhân giống Yorkshire và 29 nái hạt nhân giống Landrace Tất cả đều có chỉ số sản xuất cao hơn giống lợn Yorkshire và Landrace đang có trong sản xuất
- Đàn bố mẹ lai giữa 2 con gống nói trên đạt chỉ số cao về số con sơ sinh sống/lứa (9,8- 10,4 con/lứa), số con cai sữa là 9,26 con, trọng lượng con sau 60 ngày tuổi đạt 18,7 - 19,3 kg/con Tiêu tốn thức ăn sản xuất ra 1 kg lợn con lúc
60 ngày tuổi là 3,1- 3,4 kg, thời gian nuôi thịt đạt 90 kg lúc xuất chuồng là 180 ngày, giảm được 30 ngày so với hiện tại
- Kiểm tra năng suất cá thể phân loại chọn lọc đàn giống lợn thịt cho thấy: Tăng trọng bình quân 571,0 - 627,1g/ngày; tiêu tốn thức ăn bình quân 2,9 - 3,1 kg/1 kg tăng trọng
Đề tài này cũng đã xây dựng được nhiều mô hình chăn nuôi lợn cao sản quy mô hộ gia đình ở các địa phương, góp phần thúc đẩy chăn nuôi lợn xuất khẩu
2) Đề tài: "Sử dụng lợn nái lai F1 (ĐB x MC) cho giao phối với đực Đại Bạch và Landrace để sản xuất lợn lai nuôi thịt có năng suất và tỷ lệ nạc cao trong điều kiện chăn nuôi nông hộ ở Hà Tây" [12]
Đề tài đưa ra một số kết luận sau:
Trang 27Nái F1 (ĐB x MC) phối với đực Đại Bạch ở lứa 1-2 có số con đẻ ra nuôi sống 10 con; số con cai sữa 9,63 con; khối lượng toàn ổ cai sữa 115,8 kg ở lứa 3 - 7 có các kết quả tương ứng là 11,8; 10,54 và 129,99
Nái F1 (ĐB x MC) phối với đực Lr ở lứa 1-2 có số con đẻ ra nuôi sống 10,25 con; số con cai sữa 9,74 con; khối lượng toàn ổ cai sữa 118,64 kg ở lứa 3-7 có các kết quả tương ứng là 11,16; 10,37 và 126,88
- Nhìn chung lợn 3/4 máu ngoại trong điều kiện chăn nuôi nông hộ mang lại hiệu quả kinh tế cao Lợn ĐB x (ĐB x MC) lãi trung bình đạt 86.772
đồng/con Lợn Lr x (ĐB x MC) lãi trung bình đạt 79.556 đồng/con
Kết quả nghiên cứu cho thấy đưa lợn nái F1 và lợn nuôi thịt 3/4 máu ngoại vào chăn nuôi nông hộ là phù hợp với thực tế sản xuất, mang lại hiệu quả kinh tế cao
Nhìn chung đã có nhiều đề tài nghiên cứu về chăn nuôi lợn trên phạm vi cả nước và trên địa bàn tỉnh Hà Tây Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách toàn diện về thực trạng phát triển chăn nuôi lợn của tỉnh cũng như chưa đưa ra được các giải phát triển chăn nuôi lợn một cách đầy đủ, phù hợp,
đặc biệt là đối với huyện Chương Mỹ, nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển chăn nuôi lợn là chưa có
Trang 283 Đặc điểm địa bàn và Phương pháp nghiên cứu
lộ 6, cách trung tâm tỉnh (thị xã Hà Đông) 9 km và cách thủ đô Hà Nội khoảng
20 km về phía Tây Đây là điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi, giao lưu, buôn bán và tiếp thu tiến bộ kỹ thuật phát triển sản xuất của huyện Địa bàn huyện Chương Mỹ khá rộng lớn, tiếp giáp với các huyện Quốc Oai, Hoài Đức, Thanh Oai, ứng Hoà, Mỹ Đức, chạy vòng từ Bắc xuống phía Nam, phía Tây tiếp giáp huyện Lương Sơn tỉnh Hoà Bình
Với tổng diện tích đất tự nhiên là 229,78 km2 được chia làm 2 vùng rõ rệt: vùng đồng bằng gồm các xã ven sông Đáy, thuận lợi cho phát triển sản xuất trồng trọt như lúa, rau màu và chăn nuôi lợn, cá; vùng đồi gò bao gồm các xã nằm về phía Tây của huyện, giáp tỉnh Hoà Bình, thuận lợi cho phát triển sản xuất lúa, ngô, sắn và chăn nuôi đại gia súc, gia cầm
- Khí hậu thời tiết:
Khí hậu thời tiết của huyện Chương Mỹ mang những đặc điểm chung của khí hậu Đồng bằng Bắc Bộ Tuy nhiên, là huyện nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng, Chương Mỹ chịu ảnh hưởng của khí hậu vùng gò đồi Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23 - 24,5 0C Lượng mưa trung bình năm từ 2.3000 - 2.400 mm, cao hơn vùng đồng bằng và phân bố không
đều ở vùng gò đồi Nhìn chung điều kiện thời tiết khí hậu rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp nói chung và chăn nuôi nói riêng
Trang 293.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
- Tập quán sản xuất
Tiến bộ khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển mạnh mẽ đã có tác dụng làm thay đổi ít nhiều tư tưởng, tập quán canh tác cũ, lạc hậu của nông dân nói chung và nông dân huyện Chương Mỹ nói riêng Việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất đã làm thay đổi cấu trúc truyền thống trong nông nghiệp, bước
đầu thoát khỏi tình trạng độc canh, tự cung, tự cấp Tuy nhiên sản xuất hàng hoá vẫn còn ở trình độ thấp, hiệu quả kinh tế chưa cao, ngành nghề phi nông nghiệp mới bước đầu phát triển còn ở mức hạn chế Ngành trồng trọt, cây lúa nước vẫn chiếm vị trí trọng yếu, chăn nuôi tương đối đa dạng, phong phú, bước
đầu đã có sự chuyển biến trong việc tăng quy mô và áp dụng tiến bộ kỹ thuật tiên tiến
- Đất đai:
Hiện trạng tổng diện tích đất tự nhiên của toàn huyện là 22.978 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 14.439 ha bằng 62,8% Với 11.132 ha đất canh tác chủ yếu được bố trí trồng cây lúa nước (997 ha chiếm 89,6%) Bình quân đất canh tác đầu người năm 2003 đạt 458,3 m2 và có xu hướng giảm dần
do áp lực tăng dân số và phát triển cơ sở hạ tầng Đây cũng là vấn đề đang
được đặt ra cho lãnh đạo huyện Chương Mỹ trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh
tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng: tăng tỷ trọng GDP ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trong tổng GDP toàn huyện, ngành nông nghiệp cần đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, tăng thu nhập trên 1 ha canh tác phấn đấu năm 2005 đạt mức bình quân 30 triệu đồng/ha
- Nhân khẩu và lao động:
Với dân số năm 2003 là 273.379 người có xu hướng tăng lên qua các năm với tỷ lệ tăng bình quân 1,6%/năm, Chương Mỹ là một huyện có mật độ dân số khá cao của tỉnh Hà Tây: 1.180 người/km2 (bình quân toàn tỉnh là 1.083 người/km2)
Trang 30Nguồn lao động trong nông thôn huyện Chương Mỹ rất dồi dào với 142.619 người năm 2003 và hàng năm có trên 3.000 người bước vào độ tuổi lao động, trong đó gần 2.000 người ở lại địa phương lao động, tạo nên một sức
ép lớn về nhu cầu việc làm Lao động nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao trong tổng số
và mới sử dụng hết khoảng 70% thời gian (8) Đặc điểm này đang trở thành vấn
đề bức xúc trong giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người nông dân Thực
tế những năm gần đây, do có sự đa dạng hoá trong phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn như đẩy mạnh ngành nghề truyền thống, đa dạng hóa cây trồng vật nuôi đã tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho người lao động Tuy nhiên, thực tế đời sống kinh tế của huyện vẫn còn ở mức thấp và chuyển biến chậm Nhu cầu về việc làm và tăng thu nhập cho nông dân đang là vấn đề cần
được quan tâm giải quyết
Bảng 3.1 Tình hình đất đai lao động của huyện Chương Mỹ qua 3 năm
(2001 -2003)
So sánh (%) Các chỉ tiêu
hộ
hộ người người
lần
22.978 14.438 12.050 264.229 242.163 54.235 52.065 131.586 69.163
497,5 2,3
22.978 14.431 11.943 269.871 249.600 57.106 54.321 138.197 70.100
478,5 2,35
22.978 14.427 11.897 273.379 259.592 58.945 55.516 142.619 71.712
458,3 2,38
100,0 99,95 99,11 102,13 103,07 105,29 104,33 105,02 101,35
96,18
-
100,0 99,97 99,61 101,23 104,00 103,22 102,20 103,20 102.30
95,78
-
Nguồn: phòng thống kê huyện Chương Mỹ
Trang 31được nâng cấp rải nhựa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông hàng hóa Tuy nhiên đối với một số xã vùng bán sơn địa (phía Đông Nam của huyện), việc đi lại, lưu thông hàng hoá còn gặp nhiều khó khăn do hệ thống đường sá yếu kém
Thuỷ lợi là biện pháp hàng đầu trong nông nghiệp nên những năm qua huyện đã có sự đầu tư xây dựng nâng cấp nhiều trạm bơm tưới tiêu phân bổ ở các điểm trọng yếu của huyện với 23 km kênh mương tưới, tiêu đã được kiên
cố hoá, phần nào đã đáp ứng được nhu cầu tưới tiêu của sản xuất nông nghiệp
Hệ thống điện với 5 trạm biến áp lớn và hàng trăm km đường hạ thế đã
đảm bảo cho 100% số xã có điện lưới và đáp ứng nhu cầu về điện phục cho
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn của huyện
3.1.3 Tình hình sản xuất kinh doanh
- Ngành trồng trọt:
Ngành trồng trọt mấy năm gần đây phát triển tốt, diện tích năng suất sản lượng các loại cây trồng liên tục tăng lên Trong đó, cây lúa chiếm vị trí chủ yếu, mặc dù diện tích có xu hướng giảm xuống nhưng năng suất, sản lượng liên tục tăng lên với tốc độ nhanh Năm 2003, năng suất lúa đạt mức bình quân 63 tạ/ha, sản lượng đạt trên 100 nghìn tấn
Ngô, đậu tương là 2 loại cây trồng được xác định là chủ lực trong quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng của huyện Tuy nhiên diện tích còn thấp, qua
3 năm tăng chậm
Trang 32Bảng 3.2 Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính
Với đặc điểm địa bàn huyện Chương Mỹ có nhiều thuận lợi trong phát
triển kinh tế nói chung và chăn nuôi nói riêng, những năm qua cùng với sự
phát triển của ngành trồng trọt, chăn nuôi của huyện đã đạt được kết quả tương
đối cao, số lượng tổng đàn và trọng lượng thịt hơi đều tăng lên với tốc độ khá
Riêng đàn gia cầm phát triển với tốc độ nhanh nhất do mấy năm gần đây xuất
hiện hình thức các hộ nông dân nuôi gà gia công cho công ty Charooen Pokphan (CP)
Hầu hết đàn trâu bò của địa phương được nuôi với mục đích phục vụ cày
kéo, sản lượng giết mổ không đáng kể Tuy nhiên, với mục tiêu công nghiệp
hoá hiện đại hoá nông nghiệp nên thời gian qua hầu hết khâu làm đất đã được
cơ giới hoá vì vậy đàn trâu bò có xu hướng giảm xuống Riêng đàn bò từ năm
2002 huyện bắt đầu có chủ trương phát triển đàn bò sữa nên số lượng bò trong
toàn huyện đã dần được tăng lên
Trang 33Bảng 3.3 Tình hình chăn nuôi của huyện Chương Mỹ qua 3 năm 2001 - 2003 ( thời điểm 1/10 hàng năm)
1000 con tấn
con tấn
triệu con tấn
tr đồng
101,7 9.422
106,7 10.401
13,2
306
3,6 215,4
1,53 3.377 1789,6
112,3 12.829
14,3 255,3
3,1 168,2
1,67 3.988 1846,4
105,0 110,4
92,3 221,7
83,7 121,0
111,6 112,0 102,9
105,2 123,3
107,6 83,3
86,1 78,1
109,2 118,1 103,2
Nguồn: phòng Thống kê huyện Chương Mỹ
Lợn là loại gia súc được nuôi phổ biến, chiếm tỷ trọng về số đầu con và sản lượng thịt xuất chuồng cao nhất Số lượng đàn lợn tăng lên hàng năm với tốc độ ổn định, bình quân tăng là 5,1%/năm
- Kết quả sản xuất kinh doanh của huyện
Nhìn chung những năm qua kết quả sản xuất kinh doanh của huyện Chương Mỹ liên tục được tăng lên Tổng giá trị sản xuất toàn huyện năm
2001 tính theo giá cố định năm 1994 là 1175 tỷ đồng, qua 3 năm tăng lên với tốc độ bình quân 12,8%/năm Cơ cấu kinh tế của huyện năm 2001 với tỷ trọng giá trị sản xuất các ngành: N.LN và TS: 34,4 %; CN-TTCN và XDCB: 42,7%; TM - DL - DV: 22,9%, qua 3 năm chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và ngành du lịch,
Trang 34dịch vụ, tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tương đối cao và có xu hướng giảm dần còn 31,8% năm 2003
Bảng 3.4 Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của huyện Chương Mỹ qua 3 năm
III GTSX/ha canh tác
(theo giá hiện hành)
1347,0 464,0 34,4 438,5 282,9 64,5 144,6 33,0 11,0 9,5 16,0 583,0 300,0 114,6 109,2 24,65
1498 476,8 31,8 448,5 280,2 62,5 154,3 34,4 14,0 10,8 17,5 691,2 330,0 107,6 100,9 24,70
114,6 114,9
- 115,3 113,5
- 118,3
- 110,0 105,6 110,3 116,0 111,5 115,5 115,0
x
111,2 102,8
- 102,3 98,1
- 106,7
- 127,3 113,7 109,0 118,5 110,0 94,0 92,4,
x
112,8 108,7
- 108,6 105,5
- 112,4
- 118,3 109,6 109,9 117,2 110,7 109,2 102,9
x
Nguồn: phòng Thống kê huyện Chương Mỹ
Trong nông nghiệp, trồng trọt vẫn chiếm vị trí quan trọng, chiếm tỷ trọng giá trị sản xuất cao (năm 2001: 65,2%) Chăn nuôi phát triển nhanh với tốc độ phát triển bình quân qua 3 năm là 112,4%/năm, cao hơn so với tốc độ phát triển ngành trồng trọt, do đó, tỷ trọng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi có xu hướng được cải thiện tốt, từ 32,1% năm 2001 tăng lên đến 34,4% năm 2003
Chương Mỹ là một trong số ít huyện trong tỉnh Hà Tây đạt chỉ tiêu sản lượng lương thực trên 100.000 tấn/năm, trong đó chủ yếu là thóc chiếm trên
Trang 3595% sản lượng lương thực Đây là vấn đề cần xem xét trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng của địa phương hiện nay với chỉ tiêu lương thực bình quân
đầu người đạt mức cao, lượng và giá gạo xuất khẩu của ta còn hạn chế, trong khi nguyên liệu chế biến thức ăn chăn nuôi khan hiếm, phải nhập khẩu với giá cao, ảnh hưởng rất lớn đến phát triển chăn nuôi nói chung trong đó có chăn nuôi lợn
3.1.4 Đánh giá chung
Với những đặc điểm tình hình cơ bản của huyện Chương Mỹ đã phân tích như trên, chúng tôi thấy đây là một huyện có nhiều thuận lợi trong phát triển kinh tế Mấy năm gần đây, kinh tế địa phương có nhiều khởi sắc, các chỉ tiêu kinh tế xã hội liên tục được tăng lên, tuy nhiên thực tế đời sống nông dân trong huyện còn gặp nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân, đặt ra cho các cấp lãnh đạo cần phải có các biện pháp nhằm đẩy nhanh quá trình phát triển kinh
tế, nâng cao mức sống của người dân Qua tìm hiểu chúng tôi thấy, huyện Chương Mỹ có những thế mạnh trong phát triển kinh tế đó là:
- Khí hậu thời tiết thích hợp cho phát triển sản xuất nông nghiệp đa dạng
- Vị trí địa lý thuận lợi trong giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội
- Lực lượng lao động trong nông thôn dồi dào, với đức tính cần cù, chịu khó và có xu hướng ngày càng tăng lên
- Đặc biệt với vị trí gần thị trường tiêu thụ sản phẩm lớn là thành phố
Hà Nội cùng với sự xuất hiện các công ty chế biến thức ăn gia súc, công ty thuốc thú y trên địa bàn huyện và các địa bàn lân cận là điều kiện rất thuận lợi trong việc phát triển ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
* Thu thập số liệu thứ cấp
Trang 36Số liệu thứ cấp được thu thập từ các Sở, Ban, Ngành của tỉnh Hà tây; các Phòng, Ban của huyện Chương Mỹ và các tài liệu sách báo, công trình nghiên cứu, báo cáo khoa học có liên quan đến đề tài
* Thu thập số liệu sơ cấp
Tổ chức điều tra chọn mẫu để thu thập số liệu thông qua phương pháp phỏng vấn trực tiếp các hộ đại diện tại các xã được chọn theo bảng câu hỏi đã
được chuẩn bị sẵn, kết hợp với việc quan sát thực tế và lấy ý kiến của những người có kinh nghiệm trong lĩnh vực chăn nuôi lợn
- Chọn đơn vị điều tra
Chăn nuôi lợn ở huyện Chương Mỹ chủ yếu nuôi phân tán ở các hộ gia
đình nông dân Trên địa bàn huyện hầu như không có cơ sở chăn nuôi tập trung như các doanh nghiệp, công ty… Vì vậy để phản ánh thực trạng phát triển chăn nuôi lợn của huyện chúng tôi chọn các hộ chăn nuôi lợn làm đơn vị
điều tra Với đặc điểm địa bàn rộng lớn, số hộ chăn nuôi lợn được phân bố khắp các xã trong huyện, do đó căn cứ vào điều kiện về thời gian và nhân lực cho phép, qua trao đổi và lấy ý kiến của cán bộ phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đặc biệt là cán bộ ban Chăn nuôi của huyện chúng tôi tiến hành chọn ra 3 xã đại diện sau:
1) Xã Thuỷ Xuân Tiên đại diện cho vùng gò đồi phát triển mạnh chăn nuôi lợn nái
2) Xã Thụy Hương đại diện cho vùng lúa, màu: Chăn nuôi phát triển chủ yếu lợn thịt
3) Xã Đông Phương Yên đại diện cho các xã dọc đường quốc lộ 6, nằm giữa thị trấn Xuân Mai và thị trấn Chúc Sơn, phát triển chăn nuôi lợn thịt và mạng lưới buôn bán lợn hơi và giết mổ tương đối phong phú
Trong mỗi xã chúng tôi chọn ra 40 hộ đại diện để thu thập số liệu thực
tế về tình hình chăn nuôi lợn Các hộ này được chọn ra ngẫu nhiên từ các nhóm hộ chăn nuôi với các hướng chăn nuôi khác nhau: Chăn nuôi lợn thịt, chăn nuôi lợn nái và chăn nuôi hỗn hợp
Trang 37Cụ thể, số xã và số hộ được chọn thể hiện trên bảng sau:
Bảng 3.5 Tổng hợp số xã và số hộ chăn nuôi được chọn điều tra
(ĐVT: hộ) Chia ra theo hướng chăn nuôi Diễn giải Tổng số hộ
- Nội dung điều tra: Nội dung điều tra được soạn thảo bằng các câu hỏi
thể hiện trong các phiếu điều tra, bao gồm các nội dung chính sau:
1) Tình hình cơ bản của hộ: Các thông tin chung về chủ hộ; điều kiện
sản xuất của hộ; tình hình thu nhập của hộ; tình hình chăn nuôi ngoài lợn của
hộ…
2) Tình hình chăn nuôi lợn năm 2003 của hộ:
+ Tình hình sản xuất sản phẩm chăn nuôi:
Đối với chăn nuôi lợn thịt: Số đầu con xuất chuồng, trọng lượng xuất
chuồng trong năm; giống lợn nuôi; phương thức chăn nuôi; chi phí chăn nuôi
lợn thịt…
Đối với chăn nuôi lợn nái: Số nái chăn nuôi trong năm; số con cai sữa,
xuất bán bình quân/ lứa; số lứa đẻ trong năm; trọng lượng một con xuất bán;
chi phí chăn nuôi lợn nái…
+ Tình hình tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi của hộ: Thời điểm bán, bán
cho ai, trọng lượng bán, giá bán…
+ Những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
chăn nuôi của hộ
+ Các ý kiến, nguyện vọng của hộ đối với các cấp chính quyền địa
phương và Nhà nước
Trang 38Ngoài ra để làm rõ hơn tình hình tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi lợn, chúng tôi còn tiến hành khảo sát 20 hộ giết mổ và 10 hộ buôn lợn hơi trên cùng địa bàn các xã được chọn
- Tổ chức điều tra
Thời gian bắt đầu tiến hành điều tra 12/2003 - 01/2004 với lực lượng
điều tra là các sinh viên năm thứ 3 khoa Kinh tế trường Cao đẳng Cộng đồng
Hà Tây đã được tập huấn kỹ về mục đích, yêu cầu nội dung và phương pháp
điều tra cùng với sự hướng dẫn chặt chẽ của giáo viên khoa Kinh tế và sự giúp
đỡ của các cán bộ địa phương nơi điều tra
* Xử lý số liệu
Sau khi thu thập được số liệu, chúng tôi tiến hành kiểm tra đánh giá và
điều tra bổ sung, thay thế một số phiếu điều tra không đạt yêu cầu Số liệu điều tra được nhập vào máy vi tính (Phần mềm EXCEL) để xử lý theo nội dung đã
được xác định Trong đó việc phân tổ tài liệu được căn cứ vào 2 tiêu thức chủ yếu là quy mô chăn nuôi và phương thức chăn nuôi như sau:
- Phân theo quy mô chăn nuôi
+ Chăn nuôi quy mô nhỏ (QMN) là các hộ chăn nuôi có số đầu lợn thịt xuất chuồng trong năm <15 con Đối với lợn nái 1 - 3 con/năm
+ Quy mô lớn (QML) là những hộ chăn nuôi lợn thịt có tổng số con xuất chuồng từ 60 con trở lên, hoặc nuôi lợn nái bình quân 10 con/năm trở lên
+ Quy mô vừa (QMV): Các hộ chăn nuôi lợn thịt có tổng số đầu lợn thịt xuất chuồng từ 15 dưới 60 con/năm; Hộ chăn nuôi lợn nái có từ 4 đến dưới 10 nái/năm hoặc chăn nuôi hỗn hợp có số con quy đổi tương ứng được coi là quy mô vừa
- Phân theo phương thức chăn nuôi:
+ Chăn nuôi theo phương thức truyền thống (TT)
+ Chăn nuôi theo phương thức công nghiệp (CN)
+ Chăn nuôi theo phương thức bán công nghiệp (BCN)
Trang 393.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp phân tích thống kê mô tả là phương pháp cơ bản được sử
dụng để phân tích số liệu Bằng việc sử dụng các chỉ tiêu số tuyệt đối, số tương
đối, số bình quân, dãy số thời gian kết hợp với việc so sánh giữa các nhóm để phân tích, nêu lên mức độ của hiện tượng (quy mô, cơ cấu đàn lợn, năng suất sản phẩm ), tình hình biến động của hiện tượng và mối quan hệ qua lại giữa
Y = AX1 α1 X2α2 Xnαn eγD (A = eα0 )
LnY = α0 + α 1LnX1 + α 2LnX2 + α nLnXn +γD
Trong đó :
Y: Kết quả sản xuất;
α 1 , α 2 α n : Hệ số co giãn của Y theo Xi ;
X1, X2, Xn Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả sản xuất;
γ: Mức độ ảnh hưởng của biến định tính D
3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
3.3.1 Các chỉ tiêu thể hiện quy mô, cơ cấu, tình biến động chăn nuôi lợn
Tổng số đầu con; tổng trọng lượng xuất chuồng; tốc độ phát triển
3.3.2 Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật chăn nuôi lợn
Trang 40Đối với chăn nuôi lợn thịt: thời gian nuôi đến khi xuất chuồng; trọng lượng bình quân 1 con xuất chuồng; mức tăng trọng bình quân/tháng
Đối với chăn nuôi lợn nái: Số lứa đẻ bình quân/1 năm/1 nái sinh sản; Số con đẻ ra bình quân 1 lứa; trọng lượng bình quân 1 con cai sữa
3.3.3 Các chỉ tiêu thể hiện tình hình đầu tư chi phí chăn nuôi lợn
3.3.4 Các chỉ tiêu thể hiện kết quả và hiệu quả chăn nuôi
* Các chỉ tiêu thể hiện kết quả
- Giá trị sản xuất (GO) là giá trị toàn bộ sản phẩm vật chất và dịch vụ do chăn nuôi lợn tạo ra trong năm
Giá trị sản xuất chăn nuôi lợn trong hộ gia đình chúng tôi tính toán như sau: Đối với chăn nuôi lợn thịt GO = Σ trọng lượng thịt hơi xuất chuồng x giá bán + giá trị sản phẩm phụ thực tế có sử dụng
Đối với chăn nuôi lợn nái GO = Σ trọng lượng lợn con xuất bán x giá bán + giá trị sản phẩm phụ
Giá bán được tính theo giá thực tế tại thời điểm tiêu thụ sản phẩm
Giá trị sản phụ được xác định như sau: do chăn nuôi của hộ gia đình nông dân thường gắn liền với trồng trọt vì vậy sản phẩm phụ (phân chuồng) của chăn nuôi lợn chủ yếu được dùng làm phân bón cho trồng trọt, một số ít hộ
có hố Biogas sản xuất chất đốt Việc xác định lượng phân chuồng cụ thể rất phức tạp nên chúng tôi căn cứ vào khả năng sản xuất phân nguyên chất của từng loại lợn, tình hình sử dụng phân chuồng của hộ từ đó tính ra giá trị sản phẩm phụ
- Chi phí trung gian (IC) là toàn bộ chi phí vật chất và dịch vụ thường xuyên để sản xuất ra sản phẩm trong kỳ Đối với chăn nuôi lợn chi phí trung gian được tính bằng tổng các khoản chi về giống, thức ăn, thuốc thú y, thuốc tăng trọng, công cụ, dụng cụ sản xuất… không tính khấu hao tài sản cố định vào chỉ tiêu này
- Giá trị gia tăng (VA) là chênh lệch giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian trong kỳ chăn nuôi VA = GO - IC